Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Hồi Ức Kẻ Sát Nhân - Amelie Nothomb

Cái tin nhà văn từng đoạt giải Nobel Prétextat Tach chỉ còn hai tháng nữa là qua đời khiến báo giới xôn sao đổ xô đi đăng ký phỏng vấn ông. Trong số năm phóng viên ít ỏi được chọn, bốn người thất bại ra về trong tình trạng kiệt quệ tinh thần và sức lực. Chỉ có Nina, cô phóng viên thứ năm là kiên quyết đối đầu đến cùng, không chút khoan nhượng với tiểu thuyết gia phì nộn, liệt bại, bí ẩn, căm thù phụ nữ, kinh tởm và bệnh hoạn này, để rốt cuộc cũng buộc ông ta phải lộ mặt, tự thú quá khứ đen tối, đầy ám ảnh của mình. Xuyên suốt cuốn tiểu thuyết, hầu hết là những đoạn đối thoại liên tục, dồn dập khiến người ta có cảm giác như đang tham dự những cuộc hỏi cung gay cấn, căng thẳng, vô cùng hồi hộp. Để rồi bất ngờ đến bàng hoàng với kết thúc kỳ lạ của câu chuyện… *** - “Hồi ức kẻ sát nhân đến với thế giới văn học không khác gì một trái bom nhỏ đột nhiên được thả xuống, khiến người ta không khỏi sửng sốt bởi sự bất ngờ, tiếng vang và cả ảnh hưởng của nó” – L’Express - “Độc giả sẽ không thể dứt khỏi những đoạn hội thoại liên tục đầy lôi cuốn. Ngòi bút kỳ diệu của Nothomb khiến người ta vừa ghê tởm nhân vật Prétextat Tach lại vừa tò mò ngốn ngấu từng lời nói, từng biến đổi tâm trạng của ông ta. Một cuốn tiểu thuyết vô cùnghấp dẫn” – www.evene.fr - “Cuốn tiểu thuyết khiến người ta sững sờ. Rồi choáng váng. Amélie Nothomb đã đưa độc giả đến một nơi rất gần sự chết bằng câu chuyện tự nhiên nhưng điên cuồng, ngây thơ nhưng tai ác và từ đó chỉ ra bộ mặt mà mỗi người có thể cất giấu sâu thẳm trong mình” – Le Figaro. - “Hồi ức kẻ sát nhân là tác phẩm đầu tay của Nothomb đồng thời cũng là tác phẩm tiêu biểu mở màn cho một loạt các tiểu thuyết mang đậm văn phong bí ẩn và lôi cuốn của Nothomb, khiến cô xứng đáng với danh hiệu nhà văn của sự im lặng” – Lire *** Amélie Nothomb sinh ngày 13/8/1983 là người Bỉ, nhưng Amélie Nothomb lại chào đời và trải qua một phần tuổi thơ tại Nhật Bản. Từ sau cuốn tiểu thuyết đầu tay Hồi ức kẻ sát nhân xuất bản năm 1992 đến nay, mỗi năm cô cho ra mắt bạn đọc thế giới một tác phẩm mới. Trong đó phải kể đến Phá ngầm tình tứ (1993) với các Giải thưởng Vocation và Chardonne; Sững sờ và run rẩy (1999) với Giải thưởng Lớn của Viện Hàn lâm Văn học Pháp; Không Adam cũng chẳng Eva (2007) với Giải thưởng Flore. CÙNG MỘT TÁC GIẢ: - Phá ngầm tình tứ, 1993. - Những chất dễ cháy, 1994. - Những bài châm biếm, 1995. - Xiêm y, 1996. - Mưu sát, 1997. - Thủy ngân, 1998. - Sững sờ và run rẩy, 1999. (Tác phẩm đoạt giải thưởng lớn của Viện Hàn lâm Pháp). - Lý luận trừu tượng về điện thoại, 2000. - Thuốc xức tóc của kẻ thù, 2001 - Từ điển Robert về danh từ riêng, 2002. - Kẻ phản Chúa, 2003. - Tiểu sử của cơn đói, 2004. - Axit sunfuric, 2005. - Không Adam cũng chẳng Eva (2007) *** Khi đông đảo công chúng biết tin Prétextat Tach chỉ còn hai tháng nữa sẽ tạ thế, các phóng viên từ khắp nơi trên thế giới liền khẩn khoản xin được trao đổi riêng với văn sĩ tuổi ngoài tám mươi này. Hẳn là nhà văn lão thành đã tạo dựng được một uy tín lớn, thế nhưng người ta vẫn không khỏi kinh ngạc khi thấy đổ xô đến đầu giường bệnh của tiểu thuyết gia sáng tác bằng tiếng Pháp các phóng viên thường trú của những nhật báo nổi tiếng như (chúng tôi xin mạo muội tạm dịch) Những tin đồn từ Nankin và Ngườiquan sát Bangladesh. Như thế, hai tháng trước khi qua đời, Tach đã có thể hình dung đôi chút về danh tiếng của mình. Thư ký riêng của nhà văn chịu trách nhiệm chọn lọc cẩn thận những đề nghị phỏng vấn: người này loại ra tất cảnhững tờ báo không sử dụng tiếng Pháp bởi vì người bệnh đang hấp hối chỉ nói ngôn ngữ này và không tin tưởng vào bất cứ phiên dịch nào; anh ta cũng từ chối những phóng viên da màu, bởi lẽ dần dà khi đã có tuổi, nhà văn bắt đầu có những phát ngôn mang tính phân biệt chủng tộc, những lời lẽ không trùng khớp với quan điểm thực sự của ông - các chuyên gia nghiên cứu về Tach hết sức lúng túng bởi họ nhìn thấy trong những câu chữ này biểu hiện của mong muốn gây công phẫn nảy sinh theo tuổi tác; cuối cùng, viên thư ký lịch sự từ chối lời đề nghị thiết tha của các kênh truyền hình, các tạp chí dành cho phái nữ, những tờ báo được đánh giá là quá thiên về chính trị và nhất là những tạp chí y khoa chuyên ngành muốn biết làm thế nào mà con người vĩ đại này mắc phải một chứng ung thư hiếm gặp đến vậy. Tach không phải là không tự hào khi biết mình mắc phải hội chứng Elzenveiverplatz đáng sợ, tên thường gọi là"chứng ung thư sụn", được đặt theo tên nhà bác học vào thế kỷ XIX đã tìm ra triệu chứng căn bệnh trên khoảng chục trường hợp bệnh nhân vốn là tù khổ sai tại Cayenne, chịu án giam vì phạm tội cưỡng dâm rồi thủ tiêu nạn nhân, và kể từ đó trở đi, người ta không còn phát hiện thêm một trường hợp phát bệnh nào nữa.Tiểu thuyết gia cảm thấy sự chẩn bệnh lần này giống như một sự phong tước vượt quá sức mong đợi: với cơ thể phì nộn không chút râu ria, ở ông hội tụ tất cả những đặc điểm nhận dạng của một viên quan hoạn, chỉ trừ có giọng nói, ông đang sợ sẽ phải chết vì chứng tim mạch ngớ ngẩn. Khi thảo ra nhữngdòng rồi đây sẽ khắc trên mộ chí của mình, ông không quên nhắc đến cái họ quý tộc của vị bác sĩ người gốc Teuton, nhờ cái họ ấy ông mới có thể từ giã cõi đời này một cách hiển hách. Nói đúng ra, việc lão già phì nộncứ suốt ngày ru rú trong nhà thọ được đến tuổi tám mươi ba đã khiến giới y họ chiện đại phải bối rối. Người đàn ông này béo đến nỗi từ nhiều năm nay, ông thú nhận là không còn khả năng đi bộ; ông đã lờ tịt những lời căn dặn của các bác sĩ chuyên khoa dinh dưỡng và ăn vô độ. Ngoài ra, ông còn hút chừng hai mươi điếu xì gà La Habana mỗi ngày. Nhưng ông lại uống rất điều độ và đã từ lâu không còn duy trì sinh hoạt tình dục: các bác sĩ không tìm ra cách giải thích nào kháccho sự vận hành trơn tru của trái tim bị mỡ bóp nghẹt ấy. Sự sống sót của ông không hề kém phần bí hiểm, cũng giống như nguồn gốc của chứng bệnh sẽ kết thúcnó. Không một cơ quan truyền thôngnào là không công phẫn khi cái chết kề cận này bị đem ra câu khách. Ý kiến phản hồi từ phía độc giả cũng hưởng ứng nhiệt liệt những nỗ lực tự phê bình ấy củabáo chí. Chính vì thế, loạt phóng sự của một số ít phóng viên được chọn lựa lạicàng được mong đợi hơn bao giờ hết, hợp với quy luật của thông tin hiện đại. Các nhà viết tiểu sử chưa chi đãtỏ ra hết sức thận trọng. Giới xuất bản trang bị đầy đủ khí giới cho đội quân của mình. Hẳn cũng đã có một vài trí thức tự hỏi, phải chăng thành công lạ lùng này đã bị thổi phồng quá mức: phải chăng Prétextat Tach đã thực sự tạo ra một bước cách tân? Phải chăng ông không chỉ kế nghiệp tài tình một số nhà canh tân còn chưa được đánh giá đúng mức? Và để chứng minh, họ kể ra một vài tác giả mang những cái tên bí hiểm mà chính họ cũng chưa hề đọc trọn bộ tác phẩm, điều ấy cho phép họ luận bàn với vẻ am hiểu. Tất cả những nhân tố nói trên đều góp phần đảm bảo cho quãng thời gian trước khi từ giã cõi đời này một tiếng tăm đặc biệt lừng lẫy. Không còn nghi ngờ gì nữa, đó là một thành công. Tác giả, người đã có đến hai mươi hai cuốn tiểu thuyết thành công, sống trong căn hộ tầng trệt của một tòa chung cư giản dị: ông cần một chỗ ở nơi mà mọi vật dụng đều đặt ngang tầm với, bởi lẽ ông di chuyển bằng xe lăn. Ông sống đơn độc và không có lấy một con vật nuôi làm bạn. Ngày nào cũng vậy, một nữ hộ lý rất nhiệt thành đến tắm rửa cho ôngvào lúc năm giờ chiều. Nhà văn không chịu để người khác đi mua sắm thay mình:ông đích thân tìm đến cửa hàng thực phẩm của khu phố để mua đồ ăn dự trữ. Viênthư ký riêng, Ernest Gravelin, sống cách căn hộ của ông bốn tầng nhà nhưng cũng hết sức tránh chạm mặt nhà văn; anh ta đều đặn liên lạc với ông chủ bằng điện thoại và Tach không bao giờ bỏ lỡ dịp để bắt đầu cuộc trò chuyện bằng câu:"Tiếc quá, Ernest thân mến, tôi hãy còn sống nhăn đây." Tuy nhiên, Gravelin vẫn nhắc đi nhắc lại với những phóng viên được chọn rằng nhà văn già vô cùng hào hiệp:chẳng phải năm nào ông cũng trích tặng nửa phần thu nhập của mình cho một tổ chức từ thiện đó sao? Chẳng lẽ người ta không mơ hồ cảm nhận được lòng độ lượng kín đáo này qua một vài nhân vật xuất hiện trong các tác phẩm của ông hay sao?"Tất nhiên rồi, ông ấy khiến tất cả chúng ta, mà nhất là tôi đây, phát hoảng,nhưng tôi khẳng định rằng vẻ hằn học bề ngoài này chỉ là một cách làm đỏm: ông ấy thích đóng vai một lão già phì nộn điềm tĩnh và khe khắt nhằm che giấu một tính cách nhạy cảm cực độ." Vả chăng, những lời lẽ này không đủ làm yên lòng các phóng viên phụ trách mục thời luận đang không muốn từ bỏ một nỗi sợ vốn khiến kẻ khác phải phát ghen với họ: nỗi sợ ấy đem lại cho họ một vầng hào quang vẻ vang của những phóng viên thời chiến. Tin tức về cái chết đang rình rậplan truyền vào ngày 10 tháng Giêng. Nhà báo đầu tiên có thể gặp nhà văn vàongày 14. Anh ta bước vào giữa căn hộ tối om, tối đến mức phải mất một lúc anh ta mới nhận ra cái bóng hộ pháp đang tọa trên chiếc xe lăn ở chính giữa phòng khách. Giọng nói ồm ồm của ông lão tám mươi chỉ thốt lên một câu "Chào cậu" vô cảm để giúp anh ta thoải mái, câu nói ấy càng khiến anh chàng khốn khổ co rúm người lại. - Hân hạnh được gặp ngài, ngàiTach. Đây là một vinh dự lớn đối với cá nhân tôi. Chiếc máy thu âm chuyên dụng đã được bật lên, rình chộp lời lẽ của lão già đang câm bặt. - Xin thứ lỗi, ngài Tach, tôi có thể bật đèn chứ? Tôi không nhìn rõ khuôn mặt ngài. - Anh bạn, lúc này là mười giờ sáng, tôi không bật đèn vào thời điểm này trong ngày. Vả lại, cậu sẽ sớm nhìn thấy tôi thôi, ngay khi mắt đã quen với bóng tối. Vậy nên hãy tận dụng khoảng thời gian miễn xá được ban cho mình và bằng lòng với việc nghe thấy giọng nói của tôi, đó là thứ đẹp nhất tôi có được. - Quả là ngài có một chất giọng đẹp. - Đúng vậy. Vị khách không mời mà đến chỉ còn biết im lặng bối rối, anh ta ghi vào sổ tay: "T. có một sự im lặng cay độc. Cố tránh hết sức có thể." - Ngài Tach, cả thế giới thán phục quyết tâm của ngài, quyết tâm từ chối không nhập viện điều trị, bất chấp lệnh bác sĩ đưa ra. Vậy nên câu hỏi đầu tiên nhất thiết phải thế này: ngài cảm thấy trong người thế nào? ... Mời các bạn đón đọc Hồi Ức Kẻ Sát Nhân của tác giả Amelie Nothomb.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Đêm Đen Buông Xuống - Dean Koontz
Dean Koontz, sinh ngày 9 tháng 7 năm 1954 tại Everett, Pennsylvania, Hoa Kỳ. Ông tốt nghiệp Đại học Shippensburg Pennsylvania vào năm 1967, sau đó ông là giáo viên dạy tiếng Anh tại trường trung học Mechanicsburg ở Mechanicsburg, Pennsylvania. Là nhà văn chuyên viết về thể loại li kì, khoa học viễn tưởng. Ông viết viết tiểu thuyết để người đọc quên mình và rơi vào thế giới đầy mạo hiểm và kinh dị, giao dịch với thế giới khoa học viễn tưởng, du lịch vượt thời gian, đồng hành cùng kẻ giết người... Một số tiểu thuyết của Dean Koontz được New York Times đánh giá là một trong những sách bán chạy nhất (Lightning, Midnight, Cold Fire, Hideaway, Dragon Tears, Intensity và Sole Survivor)... Sớm nổi tiếng trong sự nghiệp của mình, Dean Koontz đã viết dưới nhiều bút danh, bao gồm: Deanna Dwyer, K. R. Dwyer, Aaron Wolfe, David Axton, Brian Coffey, John Hill, Leigh Nichols, Owen West, Richard Paige, Leonard Everett. Có thể cái tên Dean Koontz không đủ để gợi nhắc cho người đọc biết ông là ai, nhưng những cuốn sách của ông lại vô cùng quen thuộc với độc giả. Dean Koontz có một sự nghiệp văn học đồ sộ với hàng chục tiểu thuyết và truyện ngắn, bao gồm cả tiểu thuyết viễn tưởng. Những tác phẩm của ông đã bán được hơn 450 triệu bản trên toàn thế giới kể từ lần xuất bản đầu tiên năm 1968. Những tác phẩm đã xuất bản tại Việt Nam: Frankenstein, Giao Lộ Sinh Tử (Odd Thomas #1), Bóng Ma Trong Gương (The Face), Đêm Đen Buông Xuống (Dark Fall) Thập Đại Tùng Thư - 10 Đại Hoàng Đế Thế Giới *** 1 giờ 12’ sáng thứ tư ngày 8 tháng 12. Penny Dawson thức giấc và nghe trong đêm có một tiếng động vụng trộm lén lút. Bé tưởng mình vẫn đang mơ. Lúc nãy, trong giấc ngủ bé đã mơ thấy các chú ngựa và đó là giấc mơ tuyệt vời nhất trong suốt quãng đời ngắn ngủi mười một năm của bé. Bé cố ngủ lại để trở về với giấc mơ dịu dàng đó, nhưng tiếng động lạ thường làm bé khiếp sợ. bé thầm nghĩ: Hẳn đó chỉ là tiếng động gây ra bởi con ngựa trong giấc mơ của bé hoặc tiếng rơm rạ trong chuồng ngựa và chẳng có gì để phải hốt hoảng. Tuy vậy, ý nghĩ đó không làm bé an tâm; bé không thể tin cái tiếng động lạ lùng đó xuất phát từ giấc mơ và vì thế bé sực tỉnh hẳn. Tiếng động đó xuất phát từ giường Davey ở cuối căn phòng! Nhưng đó chẳng phải là tiếng khò khè của đứa bé trai đang ngủ sau bữa ăn tối no nê. Đó là thứ tiếng xuẫn động, vờ vĩnh. Rõ ràng là thế. Penny thầm nghĩ: Không biết thằng bé đang giở trò gì đây? Cô bé ngồi dậy và nhướng mắt nhìn vào bóng đêm dày đặc nhưng không thể trông thấy gì. Bé ngẩng đầu, lắng tai nghe ngóng. Sự tĩnh mịch của đêm bị phá vỡ bởi tiếng rì rào, một tiếng thở dài. Rồi im bặt. Penny nín thở, cố lắng tai nghe cho rõ. Một tiếng rít. Rồi một thứ tiếng giống như tiếng cào hoặc tiếng cọ xát. Tối đen như mực, nhưng cửa phòng vẫn để hé mở. Hai đứa bé luôn để cửa mở khi ngủ để cha chúng có thể nghe thấy tiếng, trong trường hợp chúng thức giấc và gọi bố. Tuy nhiên, mọi ngọn đèn trong căn hộ đều tắt cả. Penny gọi nhỏ: — Davey? Không có tiếng trả lời. — Davey, em đó hả? Hou-Hou. Hou-Hou... — Thôi đi Davey! Vẫn không có tiếng trả lời. Penny thầm nghĩ: Bọn nhóc bảy tuổi quá tinh nghịch đến mức không thể chịu nổi. cô bé nói: — Nếu em còn tiếp tục chơi cái trò ngu xuẩn đó thì em sẽ biết tay chị! Một tiếng động khô khốc, tựa như chiếc lá vàng bị bàn chân ai giẫm và thứ tiếng động đó đang tiến gần lại. — Này Davey, chớ có làm trò quỷ quái! Và tiếng động lại càng gần hơn! Một cái gì đó đang đi ngang qua căn phòng, hướng về cái giường. Penny biết đó không phải Davey bởi thằng bé còn quá nhỏ để có thể đùa dai ở mức độ tài tình như vậy. Tim Penny đập nhanh trong lồng ngực khi cô bé cho rằng đây có thể là mơ, tựa như giấc mơ về ngựa ban nãy, nhưng lần này thì không êm ái chút nào. Nhưng đồng thời Penny biết rõ mình đang tỉnh. Cô bé chảy nước mắt khi nhìn chăm chăm vào bóng tối. Bé đưa tay bật cây đèn ngủ ở đầu giường nhưng trong một lúc lâu, bé không tìm được công tắc. Bé vô vọng sờ soạng trong bóng tối. Giờ đây, có thứ âm thanh êm nhẹ đang phát ra cạnh giường bé. Cái vật đó đang ở rất gần! Cuối cùng, bàn tay bé đã chạm được công tắc đèn. Ánh sáng tỏa xuống giường và sàn nhà. Chẳng thấy một sinh vật đáng sợ nào trong vùng sáng cả. Tuy sánh sáng không đủ mạnh để đẩy lùi toàn bộ bóng tối nhưng cũng đủ để Penny hiểu rằng chẳng có gì nguy hiểm và đáng sợ. Ở giường bên kia, Davey đang ngủ ngon lành. Penny không còn nghe thấy tiếng động lạ nữa. Nhưng bé đã biết đây không phải mình tưởng tượng và bé cũng không phải loại người chỉ biết tắt đèn rồi trùm kín chăn để quên đi mọi chuyện. Bố thường bảo bé là người tò mò nhất trên đời mà! Và thế là bé tung chăn, ra khỏi giường và đứng lặng im để nghe ngóng. Không một tiếng động. Penny bước về phía giường Davey để nhìn kỹ thằng bé hơn. Ở đây tuy không sáng lắm, nhưng đủ để bé thấy Davey đang ngủ say. Penny cúi người để xem đôi mi của Davey có xao động không và cô bé biết thằng bé không hề giả vờ ngủ. Tiếng động lại phát ra từ phía sau Penny. Cô bé quay phắt lại. Lúc này, tiếng động phát ra từ dưới giường. Đó là thứ tiếng nghe như tiếng rít, tiếng cào cào hoặc như tiếng cái lúc lắc ngân lên nhè nhẹ, không ồn lắm những cũng chẳng êm tai. Cái vật dưới giường hình như hiểu rõ Penny đang nghĩ gì và nó cố ý gây ra tiếng động để trêu chọc, dọa dẫm bé! Penny nghĩ thầm: Hẳn vật đó không phải ông Ba Bị đi. Chuyện ông ba bị chỉ mỗi Davey mới tin...chứ Penny này thì lớn rồi mà. Chắc là con chuột. Đúng vậy! Penny cảm thấy đôi chút nhẹ nhõm. Bé không thích chuột, nhất là khi chúng chui xuống giường để phá phách. Nhưng một chú chuột nhắt thì không việc gì phải sợ chứ! Penny đứng như thế một lúc, tự hỏi bây giờ mình nên làm gì. Cuối cùng bé nghĩ đến bố. Penny không muốn đánh thức bố dậy khi mà bé chưa biết chắc đó có phải chuột hay không. Nếu bố sang mà không nhìn thấy con chuột nào chẳng phải mất mặt lắm sao? Trong hai tháng nữa, bé sẽ được mười hai tuổi và điều mà bé ghét nhất là bị xem như con nít. Bé biết mình không thể nhìn xuống dưới giường bởi dưới đó quá tối, đã vậy còn bị chăn mền che khuất. Vật dưới giường (hay con chuột) rít lên rồi phát ra tiếng ùng ục như tiếng người, thứ tiếng khàn đục, lạnh lùng, hung dữ, như muốn nói với Penny bằng một thứ ngôn ngữ mà cô bé không thể hiểu. Penny thắc mắc, không biết con chuột có thể gây ra tiếng động như vậy chăng? Rồi bé nhìn sang Davey. Thằng nhóc đang ngủ, nơi góc tường cạnh giường nó là cây gậy bóng chày bằng nhựa. Penny cầm lấy. Dưới giường, cái tiếng động lạ lùng khó chịu đó – thứ tiếng rít – cào – cọ xát – vẫn liên tục vang lên. Penny đi về phía giường và quỳ xuống. Bé cầm gậy bóng chày trong tay, hất mớ chăn mền lên. Không thể nhìn thấy gì: dưới giường tối thui như hang động. Tiếng động ngưng hẳn. Penny cảm thấy khiếp đảm. Bé tưởng chừng như có cái gì đó núp trong bóng tối rình rập bé ... một cái gì đó không phải chuột ... Một cái gì đó biết rằng bé chỉ là đứa bé gái nhỏ ... Một cái gì đó quỷ quái, xảo trá, có thể vồ lấy bé mà nuốt chửng! Rồi bé thầm nghĩ: Đó chỉ là ý tưởng của một đứa con nít! Bé cắn môi, dứt khoát không thể cam chịu như vậy. Rồi bé dùng gậy bóng chày quơ lung tung dưới giường nhằm để con chuột kêu lên hoặc buộc nó phải chạy ra. Khổ nỗi, có cái gì đó đã bấu vào đầu cây gậy! Penny cố đẩy nó ra nhưng không thể được. Bé cố lắc mạnh cây gậy, vặn vẹo đủ kiểu nhưng không bứt ra được. Thế rồi bỗng nhiên, cây gậy vuột khỏi tầm tay bé và biến mất dưới giường trong một tiếng động khô đục. Penny ngã bật ra sau, chạm vào giường Davey, vậy mà bé tưởng mình bất động. chỉ mới vài giây trước, bé đã quỳ bên giường Davey nhìn thằng nhóc ngủ. Vậy mà bây giờ, đầu bé đập xuống trên tấm nệm của giường nó. Trong giấc ngủ, Davey ú ớ vài tiếng, thở dài rồi lại tiếp tục say ngủ. Dưới giường Penny, chẳng còn một tiếng động nào nữa. Giờ đây, Penny đang nghĩ đến chuyện kêu cứu bố. Cô bé gào lên nhưng tiếng kêu chỉ vang vang trong tâm trí. ‘Ba, ba, ba ơi!’, không một thanh âm nào thoát ra. Trong phút chốc bé hoàn toàn chết lặng. Ánh đèn bỗng dưng nhấp nháy. Sợi dây đèn được cắm vào một ổ điện phía sau giường và cái vật đó đang tìm cách rút sợi dây. “Ba!” Penny rốt cuộc thốt lên nhưng chỉ là tiếng thì thào bị bóp nghẹn. Cây đèn nhấp nháy một lúc rồi tắt ngấm. Một lần nữa, căn phòng lại chìm vào bóng tối. Penny nghe có sự chuyển động. Cái vật đó đã ra khỏi gầm giường và chạy trên sàn. “Ba ơi!”, Penny lại gào lên. Nhưng vẫn chỉ là tiếng thều thào. Cổ họng cô bé khô khốc. Bé cố nuốt nước bọt để cổ họng thông thoáng. Có tiếng ken két. Nhìn chăm chăm vào bóng đèn bằng đôi mắt sợ hãi, Penny bắt đầu run rẩy và thốt lên những tiếng kêu nho nhỏ. Thế rồi bé hiểu ra rằng tiếng ken két là tiếng cái bản lề cửa bị khô dầu. Bé đoán rằng cái cửa đang chuyển động tuy không nhìn thấy, cánh cửa vốn hé mở và giờ đây, nó được mở toang. Không còn tiếng ken két cũng như cái tiếng rít – cào bí ẩn đó đang xa dần. Dẫu sao, cái vật đó sẽ không tấn công bé. Bây giờ, nó đang ở ngưỡng cửa. Bây giờ, nó đang ở ngoài hành lang. Bây giờ, nó đang cách cánh khoảng ba bốn bước. Và ... nó đi rồi! Những giây phút trôi qua chậm như cả thế kỷ. Đó không phải chuột, cũng không phải mơ. Thế thì là cái gì nhỉ? Cuối cùng, Penny nhổm dậy. Đôi chân bé mềm nhũn. Bé bước đi, dò dẫm trong bóng tối để tìm cây đèn ngủ ở đầu giường Davey. Công tắc phát ra tiếng kêu “tách" và ánh sáng tỏa xuống đứa bé trai đang ngủ. Penny vội vàng đưa tay đẩy chụp đèn sang một bên. Rồi bé đi về phía cửa, đứng im mà lắng nghe. Tất cả đều im lặng. Vẫn còn run rẩy, bé đóng cửa lại rồi chùi hai tay ướt đẫm mồ hôi vào áo ngủ. Giờ đây căn phòng đã đủ sáng để bé có thể trở lại giường. Bé khom người nhìn xuống dưới giường một lần nữa. Chẳng còn gì đáng sợ nữa rồi. Bé cầm lấy cây gậy bóng chày: đầu cây gậy đã bị khoét sâu bởi những lỗ nhỏ. Penny thắc mắc không hiểu nó bị đục thủng bởi cái gì? Móng vuốt à? Penny vặn người để cắm lại sợi dây đèn đã bị rời ra khỏi ổ. Rồi bé tắt cây đèn ngủ trên đầu giường Davey. Ngồi ở đầu giường, bé nhìn chăm chăm cái cửa đang đóng kín một lúc. Cuối cùng bé thốt lên: “Chuyện gì đã xảy ra vậy nhỉ?" Càng suy nghĩ bé càng thấy sự việc vừa xảy ra thật không thực tế. Có thể cây gậy bóng chày đã bị vướng trong giắt lò xo giường và bị mớ đinh ốc ở đó đâm thủng chăng? Còn cái cửa có thể bị gió đẩy ra cũng không chừng? Có thể lắm chứ ... Cuối cùng, không dằn được sự tò mò, bé đứng dậy, đi ra hành lang, bật đèn sáng rồi cẩn thận đóng cửa lại. Yên lặng ... Như thường lệ, cánh cửa phòng bố vẫn mở hé. Bé thò đầu vào nghe ngóng. Có tiếng ngáy đều đều của bố, ngoài ra chẳng còn tiếng động gì khác lạ. Một lần nữa, bé nghĩ liệu mình có nên đánh thức bố dậy không. Bố là sỹ quan cảnh sát: trung úy Jack Dawson. Và bố có súng. Nếu thực sự căn hộ này bị xâm nhập thì bố sẽ bắn kẻ thù ngay. Nhưng nếu bé đánh thức bố rồi sau đó không phát hiện được gì thì bố sẽ xem bé như trẻ con cho xem. Nếu thế thì xấu hổ lắm! Nghĩ đến đó, bé thở dài và trở về phòng. Hồi hộp, bé đi dọc hành lang, đến cửa chính để kiểm tra: cửa đã khóa kỹ. Nơi mắc áo gắn trên tường, gằn cửa, có treo cây dù. Bé cầm lấy nó, chĩa cái mũi nhọn về phía trước, đi vào phòng khách, bật sáng đèn và quan sát mọi nơi. Rồi bé sang phòng ăn và căn bếp nhỏ hình chữ L. Không có gì khác thường cả. Phía trên bồn rửa chén, cửa sổ để mở. Không khí lạnh tháng mười hai len qua khe hở khoảng vài chục phân thổi vào. Penny biết rõ cái cửa sổ này đã được đóng lại và cài chốt lúc chập tối, trước khi cô bé đi ngủ. Bé biết chắc như thế. Nếu sau đó bố có mở ra để hít thở đôi chút khí trời thì hẳn bố đã đóng lại rồi. Kéo chiếc ghế lại gần bồn rửa chén, bé leo lên đẩy cửa để có thể nghiêng người nhìn ra ngoài. Cơn gió lạnh buốt khiến bé nhăn mặt. Mọi vật đều yên tĩnh. Dọc theo tòa nhà, gần cửa sổ phòng ngủ, có một cái thang cấp cứu bằng sắt chạy thẳng xuống con hẻm. Nhưng phía căn bếp thì chẳng có thang cũng chẳng có mép tường. Chẳng một phương tiện khả dĩ để cho kẻ trộm có thể leo lên hoặc bám vào để xâm nhập cả. Bé biết thứ tiếng động phát ra lúc nãy không phải do trộm bởi hắn không thể nào núp dưới giường của bé được. Penny đóng cửa sổ lại, đặt chiếc ghế vào chỗ cũ. Bé miễn cưỡng cất cây dù. Luyến tiếc phải rời bỏ vũ khí, bé tắt đèn và không dám nhìn về khoảng tối đằng sau. Bé về phòng, nằm xuống giường và kéo chăn lên cổ. Davey vẫn ngon giấc. Bên ngoài cửa sổ, gió đêm rít lên từng cơn. Xa xa có tiếng còi hụ thê lương của một xe cấp cứu. Penny ngồi dậy, tựa người vào gối kê, dưới vùng sáng che chở của ngọn đèn ngủ. Bé cảm thấy thiu thiu, muốn ngả lưng xuống nhưng lại sợ phải tắt đèn. Nỗi sợ làm bé khó chịu. Bé thầm nghĩ: Ta đã lớn rồi chứ? Kể từ khi mẹ mất, ta đã là người nội trợ cai quản gia đình mà. Khoảng mười phút sau, tự ái nổi lên, bé tắt đèn và ngã người xuống giường. Tuy vậy, tâm trí bé vẫn còn ray rứt. Bé thầm nghĩ: Đó là cái gì chứ? Bé chờ đợi ... Im lặng ... Rồi bé chìm vào giấc ngủ. ... Mời các bạn đón đọc Đêm Đen Buông Xuống của tác giả Dean Koontz.
Vị Khách Phòng 44 - Khang Tĩnh Văn
Hàng loạt vụ án mạng rùng rợn liên tiếp xảy ra trong một tiểu khu cao cấp dành cho giới trí thức, mang đến nỗi ám ảnh kinh hoàng không chỉ cho người dân mà còn cho cả chính quyền thành phố. Những bóng ma vật vờ, những xác chết kì bí, những bộ phận cơ thể người thối rữa thoắt ẩn thoắt hiện, tựa như đốm lửa ma trơi ngày ngày ám ảnh tâm trí người dân, làm đau đầu đội cảnh sát hình sự. Vị khách phòng 44 là ai? Tại sao cô luôn bị tiếng mèo kêu lúc nửa đêm đánh thức, luôn là người đầu tiên phát hiện ra những xác chết không toàn thây? Liệu trong tiểu khu này có thực sự tồn tại thứ gọi là ma quỷ hay đơn giản chỉ là âm mưu giết người của một tên bệnh hoạn? Sau khi bí mật được vén màn, bóng ma lộ diện, nỗi ám ảnh kinh hoàng liệu đã thực sự kết thúc? Không một ai biết, cho đến khi, tiếng mèo kêu lại lần nữa vang lên giữa màn đêm mờ mịt… *** Màn đêm mịt mù buông xuống, ngoài ánh đèn hắt ra từ tiểu khu, khắp nơi đều chìm trong một dải tối đen như mực, không thể nhìn thấy bất cứ thứ gì. Hà Tích Mộ khoác một chiếc áo ngoài mỏng manh, cầm theo đèn pin, đi ra phía ngoài tiểu khu. Thục ra, cô chẳng muốn đi chút nào, nhưng không biết tiếng mèo đáng ghét ở đâu cứ kêu liên hồi, thứ âm thanh đó quả thực rất kì quái, giống hệt tiếng khóc của một đứa trẻ. Mặc dù đã cố gắng trấn định tâm trí, rằng không nên nghe hay nghĩ đến nó nữa, thậm chí còn cố tình nằm cuộn tròn, kéo chăn lên đỉnh đầu, thế nhưng âm thanh đó vẫn chiến thắng lí trí của cô. Từ khi mua căn nhà này, Hà Tích Mộ cảm thấy không có lúc nào được thảnh thơi. Ngay từ khi bắt đầu bày biện đồ đạc đã có rất nhiều sự việc kì quái xảy ra, khi ấy cô còn cho rằng đó chẳng qua chỉ là những chuyện tình cờ. Hai tháng sau, khi bắt đầu vào ở, cô mới phát hiện những chuyện kì quái đó không đơn giản chỉ là những sự trùng hợp ngẫu nhiên. Đặc biệt là tiếng mèo kêu lúc nửa đêm. Hà Tích Mộ không ghét mèo, chỉ là âm thanh này ngày nào cũng lặp đi lặp lại lúc nửa đêm đã giày vò cô đến mức nhức nhối khắp người, hầu như sáng nào cũng đi làm với cặp mắt thâm quầng như mắt gấu trúc. Không những thế, vì không ngủ đủ giấc nên cô đã gây ra không ít sai sót trong công việc, tạo cơ hội cho người quản lý tóm được điểm sơ hở, mỗi lần đến gặp cô đều mang theo cả xe tải những lời quở trách khiến cô vô cùng khó chịu. Hà Tích Mộ phát điên, hận bản thân không thể biến thành một con mèo để cào cấu, cắn xé con mèo đáng ghét kia một trận. Nhưng cô không có khả năng đó, cũng chẳng có nhiều thời gian và sức lực đến vậy. Sau vài đêm bị tiếng mèo kêu làm cho mất ngủ, Hà Tích Mộ bất đắc dĩ phải bò ra khỏi giường, muốn xem xem rốt cuộc chuyện gì đang xảy ra. Hà Tích Mộ vốn là người hài hước, nhưng sau mười ngày sống ở tiểu khu, trải qua một số chuyện kì quái, tâm trạng vui vẻ của cô bỗng tan biến như mây khói. Ví dụ như, chỉ cần đặt chân đến nơi này là phanh xe của cô sẽ không hoạt động như bình thường nữa, từng có mấy lần suýt thì xảy ra tai nạn, may mà cô phản ứng kịp. Còn có lần, một chậu hoa vô duyên vô cớ bay thẳng vào trán cô, sưng một cục to tướng...Đương nhiên những chuyện kì quái đó đều xảy ra trước khi cô dọn đến ở. Điều quan trọng là mỗi lần đến tiểu khu này, Hà Tích Mộ luôn cảm thấy hình như có người nào đó đang nhìn chằm chằm về phía mình, nhưng khi cô quay đầu nhìn về hướng đó thì lại chẳng thấy bất cứ thứ gì. Lúc đầu, Hà Tích Mộ còn tự an ủi mình, cho rằng mình chỉ bị ảnh hưởng tâm lý, nhưng sau vài lần thấp thoáng thấy có chiếc bóng đằng sau lưng mình, cô thực sự tin rằng có người đang ở phía sau. Sau khi rời khỏi phạm vi ánh đèn chiếu rọi trong tiểu khu, Hà Tích Mộ thở hổn hển, mỗi bước chân đều phải dè chừng, cuối cùng thì cô cũng hiểu thế nào là cảm giác “như bước trên ... Mời các bạn đón đọc Vị Khách Phòng 44 của tác giả Khang Tĩnh Văn.
Thiên Linh Cái - Trương Thanh Thùy
Thiên Linh cái của là một loại bùa ngải, mà ở một giai đoạn, đã có những con người vin vào sự mê muội của những người quanh mình để đồn thổi về quyền năng, hòng lợi dụng họ để cống nạp từ tiền tài, vật chất, đến sự kiêng dè, kính nể. Trong truyện Thiên Linh Cái, Hai Tưng là nhân vật có thật, đã bị xử tử vì tội giết người trong quá trình luyện Thiên Linh cái. Tác giả Trương Thanh Thùy đã kể lại câu chuyện này bằng văn học, để nghiệm về cuộc đời, khi con người ở cùng cực của sự đau khổ, hoặc đẩy mình vào tận cùng ngõ tối của lòng tham, họ khiến mình si mê, ngu muội và tự huyễn hoặc mình bởi những thứ siêu linh không thật. Câu chuyện có những tình tiết đáng sợ đến ám ảnh, rùng mình, nhưng sự thật tàn độc của những kẻ luyện Thiên Linh cái là như thế, mà con người vì hai chữ dị đoan chỉ nhìn bề ngoài rồi tin, rồi chạy theo một cách không suy nghĩ, để đem đến đau khổ cho người thân của mình và cả cho chính bản thân mình. Không cần hô hào chống lại mê tín dị đoan, tác giả dùng thuật tả của văn mình để phơi bày ra một sự thật phũ phàng và những hệ lụy đáng tiếc mà những ai đã, đang và sẽ phải chịu đựng khi để tâm hồn mình chạy theo những mong cầu không có thật. Điều đáng nói ở tác phẩm này, tuy độc giả khó tìm thấy tính nhân văn trong một câu chuyện toàn máu và ám ảnh, nhưng sự thật là tác giả đã nhân văn với cả nhân vật Hai Tưng của mình. Cho hắn một lý do để phạm tội, dẫu cho ngày phải đền trả lại. Thiên Linh cái hoàn toàn không có nhân vật “phản diện” hay “chính diện” mà chỉ là câu chuyện đấu tranh giữa tốt - xấu trong tự mỗi con người và nếu sa vào sai lầm thì do chính bản thân họ đã cùng với hoàn cảnh khiến sự yếu đuối của mình đưa mình đi. Đằng sau mỗi con người là một cuộc đời, một câu chuyện không chắc ai cũng biết, nên, đừng vội vàng lên tiếng đả kích ai, khi bản thân chúng ta chưa bao giờ hoàn hảo. *** "Hai Tưng" là một trong hai nhân vật liên quan đến truyền bá mê tín dị đoan làm tôi phải lưu tâm nhất ở thời kỳ làm báo. "Hai Tưng" khiến tôi từng cảm thấy căm ghét vô cùng – theo cái cách tôi tự nhắc nhở mình không bao giờ được "ngó lơ", được mặc kệ với những điều xấu trong xã hội khi còn cầm bút. Tôi đã đọc đi đọc lại vụ án về "Hai Tưng" đến hàng trăm lần như một kiểu để buộc mình phải nhớ, ngoài kia, còn lắm kẻ lợi dụng lòng tin của kẻ khác làm lời, và, bản thân mình không bao giờ được chùn bước, chùn bút. Để đến khi, tôi bắt đầu đuổi theo chữ nghĩa ở nghiệp văn chương, tôi vẫn không thể nào thôi cái nỗi ám ảnh về nhân vật này. Tôi trở lại viết về "Hai Tưng", như tôi từng lật lại vụ án đúng thời điểm "Hai Tưng" bị xử tử để viết một bài báo khác, bằng một góc nhìn khác, bằng trái tim đập những nhịp khác. Tôi tin, con người – bất kể là ai – có làm gì, cũng có một nguyên nhân, một động cơ cả! Khi "Hai Tưng" trở thành nhân vật văn học của tôi, tôi yêu hắn theo cái cách lạ lắm – không thể thay đổi kết cuộc, vì, cho dù thế nào thì tội ác vẫn là tội ác và vẫn phải trả giá, nhưng, chí ít tôi muốn người khác nhìn thấy mặt "con người" của Hai Tưng, cũng hỉ – nộ – ái – ố, cũng đau khổ, cũng dằn vặt. Tôi muốn gửi gắm đến độc giả của mình – những người đã luôn quan tâm, ủng hộ tôi, những người đã luôn đồng cảm với tôi – rằng, số phận nằm ở bàn tay chúng ta, đừng tự huyễn hoặc mình vào những điều siêu linh để mong cầu những thứ vốn không thật sự thuộc về mình. Vì, như thế, ắt, chúng ta sẽ chỉ thêm đau khổ! ... Mời các bạn đón đọc Thiên Linh Cái của tác giả Trương Thanh Thùy.
Đảo Trị Liệu Bí Ẩn - Sebastian Fitzek
Em Josy mười hai tuổi mắc phải một bệnh kỳ lạ, vì thế mà cha của em, nhà tâm lý học nổi tiếng, bác sĩ Viktor Larenz cố gắng tìm người chữa trị cho em. Vào một ngày nào đó, ông ngồi chờ Josy trong phòng khám của bác sĩ Grohlke, thế nhưng con gái của ông đột ngột biến mất. Điều kỳ lạ là cả người giúp việc lẫn bác sĩ Grohlke đều nói rằng họ không nhìn thấy Josy. *** Điều đầu tiên tôi cảm nhận được là nó có không khí giống với Shutter Island. Chầm chậm và rờn rợn. -- NQK *** Nửa tiếng trôi qua, và ông biết rằng ông sẽ không bao giờ được nhìn lại con gái của mình nữa. Cô bé mở cửa, ngoảnh lại thoáng nhìn ông và rồi bước vào đến chỗ người đàn ông già. Nhưng Josephine, cô con gái bé bỏng mười hai tuổi của ông, sẽ không bao giờ bước ra nữa. Ông chắc chắn là như vậy. Cô bé sẽ mãi mãi không bao giờ nhìn ông cười rạng rỡ khi ông ru con ngủ nữa. Ông sẽ mãi mãi không bao giờ được tắt chiếc đèn ngủ sặc sỡ khi con gái ông đã thiếp ngủ nữa. Và mãi mãi không bao giờ ông bị đánh thức bởi tiếng thét hãi hùng của con trong đêm khuya nữa. Niềm tin này ập vào ông với sức dập mạnh bất thình lình của một tai nạn ô-tô đâm nhau. Khi ông đứng lên, cơ thể ông muốn ngồi lại trên chiếc ghế nhựa lung lay. Ông sẽ không ngạc nhiên nếu như đôi chân khuỵu xuống. Nếu như ông cứ đơn giản ngã xuống và nằm lại trên cái sàn gỗ cũ kỹ của phòng chờ. Ngay giữa người phụ nữ nội trợ đẫy đà bị vẩy nến và cái bàn nhỏ với những tờ tạp chí cũ. Nhưng ông không nhận được lòng khoan dung của cơn ngất xỉu. Ông vẫn còn tỉnh táo. Bệnh nhân không được chữa trị theo thời điểm đến mà theo tính khẩn cấp. Tấm biển chỉ dẫn trên cánh cửa trắng bọc da vào phòng chữa bệnh của người bác sĩ dị ứng nhòa đi trong mắt ông. Bác sĩ Grohlke là một người bạn của gia đình và là người bác sĩ thứ hai mươi hai. Viktor Larenz đã lập một danh sách. Hai mươi mốt người bác sĩ trước đó không tìm thấy gì. Hoàn toàn không. Người đầu tiên, một bác sĩ cấp cứu, đã đến cơ ngơi của gia đình ở Schwanenwerder vào ngày Lễ Giáng Sinh thứ hai. Cách đây đúng mười một tháng. Đầu tiên, tất cả họ đều nghĩ rằng Josephine chỉ bị trúng thực món fondue vào ngày lễ. Cô bé đã nôn mửa nhiều lần trong đêm và rồi bị tiêu chảy. Isabell vợ ông đã gọi bác sĩ cấp cứu tư, và Viktor đã bế Josy trong chiếc áo ngủ bằng vải lanh xuống phòng khách. Mãi cho đến ngày hôm nay, ông vẫn còn cảm nhận được đôi cánh tay gầy nhỏ bé của con khi ông nhớ lại. Một cánh tay đặt quanh cổ ông tìm nơi nương tựa, tay kia kẹp chặt con thú nhồi bông mà cô bé thích nhất, con mèo xanh Nepomuk. Dưới những ánh mắt nghiêm khắc của họ hàng đang có mặt, ông bác sĩ đã nghe lồng ngực bé nhỏ của em, truyền nước biển và kê một loại thuốc vi lượng đồng cân. ‘Nhiễm trùng đường ruột nhẹ thôi. Đang có dịch trong thành phố mà. Nhưng không sao! Tất cả sẽ tốt thôi.’ Đó là những từ mà người bác sĩ nói khi từ giã. Tất cả sẽ tốt thôi. Ông ấy đã nói dối. Viktor đứng ngay trước cửa vào phòng điều trị của bác sĩ Grohlke. Khi muốn mở cánh cửa nặng nề ra, ông không thể xoay tay nắm cửa được. Lúc đầu ông nghĩ rằng căng thẳng của những giờ vừa qua đã cướp đi hết sức lực của ông. Nhưng rồi ông nhận ra cửa đã khóa. Có ai đó đã cài then ở bên trong. Chuyện gì đang xảy ra ở đây? Ông quay phắt người lại và có cảm giác như đang nhìn mọi vật xung quanh trong một quyển sách lật trang. Tất cả những gì ông nhìn thấy đều vào đến bộ não của ông với tốc độ chậm đi, trong những tấm ảnh đứt quãng: những tấm ảnh chụp phong cảnh Ireland trên tường của phòng khám, cái cây cao su phủ đầy bụi ở hốc cửa sổ, người phụ nữ bị vẩy nến đang ngồi trên ghế. Larenz lay cửa một lần cuối cùng rồi lê bước qua phòng chờ đến lối đi bên ngoài. Hành lang vẫn còn đầy người. Cứ như bác sĩ Grohlke là người bác sĩ duy nhất trong Berlin. Viktor bước chậm chạp ra phía trước đến quầy tiếp tân. Một thiếu niên có nhiều vấn đề về mụn trứng cá đến mức (không thể không nhìn thấy được) đang đứng chờ nhận toa thuốc, nhưng Larenz đẩy anh ta sang bên một cách thô lỗ và bắt đầu nói với cô tiếp viên ngay lập tức. Ông biết Maria từ những lần trước. Trước đây nửa giờ, khi ông cùng với Josy bước vào phòng khám thì cô còn chưa có ở đây. Bây giờ thì ông mừng vì người mà cô thay thế rõ ràng là đang nghỉ giải lao hay đang ở một nơi khác. Maria chỉ vừa trên hai mươi tuổi và nhìn trông giống như một nữ thủ môn bóng đá. Nhưng cô ấy cũng có một đứa con gái nhỏ. Cô ấy sẽ giúp ông. “Tôi rất cần vào gặp con tôi,” ông nói to hơn mình muốn. “Ô, xin chào, bác sĩ Larenz, rất vui khi gặp lại ông.” Maria nhận ra người bác sĩ tâm lý ngay lập tức. Đã lâu ông không còn đến phòng khám bệnh này, nhưng cô đã nhiều lần nhìn thấy khuôn mặt sắc sảo nổi bật của ông trên truyền hình và trong nhiều tạp chí. Ông là một khách mời được ưa thích trong các chương trình đàm luận. Không chỉ vì diện mạo đẹp và cách nói cởi mở của ông trong lúc giải thích những vấn đề tâm lý phức tạp cho người không chuyên môn. Nhưng hôm nay ông ấy nói thật khó hiểu. “Tôi phải vào gặp con gái tôi ngay lập tức!” Chàng thiếu niên bị ông đẩy sang bên cảm nhận theo bản năng rằng người đàn ông này có cái gì đó không ổn, và bước sang bên thêm một bước. Maria cũng cảm thấy bất an và cố giữ nụ cười giả tạo đã luyện tập trước của cô. “Thật không hiểu bác sĩ Larenz muốn nói gì ạ,” cô nói và hồi hộp sờ vào chân mày màu nâu của mắt phải. Cô xỏ lỗ ở đấy, và cô hay giật vào đấy khi cô hồi hộp. Nhưng sếp của cô, bác sĩ Grohlke, là người bảo thủ, vì thế mà cô phải lấy thanh bạc cắm ở đấy ra khi có bệnh nhân trong phòng khám bệnh. “Hôm nay Josephine có hẹn khám bệnh à?” ... Mời các bạn đón đọc Đảo Trị Liệu Bí Ẩn của tác giả Sebastian Fitzek.