Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Trăng Trên Thung Lũng Jerusalem

Bản dịch Nguyễn Thu Hồng SHMUEL YOSEF AGNON (1888-1970)SHMUEL YOSEF AGNON sinh năm 1888 1 và lớn lên trong một gia đình gồm những học giả tại Buczacz thuộc miền Đông Galicia (nay là vùng Tây Ukraina). Buczacz là một cộng đồng Do-thái không quá tám ngàn người và cũng là một trung tâm đào tạo các rabbi (thầy cả) Do-thái giáo. Agnon đã được hấp thụ nền văn hóa cổ truyền của Do-thái do thân phụ ông đích thân truyền dạy. Galicia lúc đó là một trong những trung tâm của nền văn chương tân Hy-bá. Ngay từ nhỏ Agnon đã khởi sự văn nghiệp trên báo chí tiếng Hy-bá và tiếng Yiddish 2 ở địa phương. Và kể từ năm 1907 tức là năm ông trở về Palestine, ông thôi không viết bằng tiếng Yiddish nữa. Việc Agnon từ đó chuyên sáng tác bằng tiếng Hy-bá có lẽ phần nào đã do ảnh hưởng của phong trào phục quốc Zion của người Do-thái mà ông đã tham gia. Nếu nhìn vào số ngôn ngữ được sử dụng tại Israel ngày nay người ta sẽ thấy trong số hơn hai triệu dân, đã có tới một triệu tám sử dụng ngôn ngữ chính thức là tiếng Hy-bá. Lớp di dân đầu tiên từ các ngả trên thế giới trở về Israel còn nói hoặc hiểu được tiếng Yiddish và một số ngôn ngữ dùng trong các nghi lễ Do-thái giáo, nhưng hiện nay số thanh niên Israel chỉ dùng có ngôn ngữ Hy-bá ngày càng thêm đông đảo. Tuy vậy, thứ tiếng Hy-bá của Agnon không hẳn là thứ tiếng mà thế hệ trẻ hơn của Israel hiện sử dụng. Đúng hơn đó là ngôn ngữ của nền văn chương truyền thống Hy-bá với những nhà văn tiêu biểu như Bialik, Tchernichowsky và Shneur. Đứng giữa ngôn ngữ văn chương cổ truyền của dân tộc và tiếng Hy-bá hiện đại hóa, Agnon đã quyết định nối kết các thế hệ Do-thái bằng một nội dung đề cao truyền thống dân tộc, nhưng trong khi chờ đợi một nền văn chương ổn cố của ngôn ngữ Hy-bá hiện đại, ông đã lựa chọn diễn tả bằng thứ ngôn ngữ trang trọng của nền văn chương Hy-bá cổ truyền (xuất hiện từ thế kỷ XI và còn kéo dài cho đến ngày nay). Agnon làm thơ từ năm lên 9 và bài thơ đầu tiên của ông được đăng vào năm ông mười sáu tuổi. Câu chuyện đầu tay của ông in tại Palestine là truyện "Agunot". Ngay từ năm 1913, Shalom Streit đã nói về tác phẩm này: “Một luồng điện chạy qua toàn thể cộng đồng chúng tôi khi đọc truyện ấy.” Cùng với "Agunot" có nghĩa là cô đơn, trơ trọi hoặc đơn độc, 3 ông khởi sự dùng bút hiệu Agnon thay vì tên thực là Czaczkes. Khi được hỏi là bút hiệu này có liên hệ với truyện trên hay không, Agnon đã xác nhận là có. 4 Những năm kế đó, tuần báo Hapo’el Hatza’ir của nhóm xã hội chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Tolstoi và những tư tưởng địa dân (narodniki) đã đăng tải cuốn sách đầu của Agnon nhan đề Vehaya he’akov lemishor (Và những nơi cong queo sẽ được uốn ngay lại). Tác phẩm dài này đã làm say mê độc giả Do-thái đương thời không ít đến nỗi Joseph Haim Brenner đã phải dốc cạn túi tiền để xuất bản thành sách (1912). Đối với một người vô thần như Brenner thì đây là “tác phẩm đầu tiên của nền văn chương thế tục Hy-bá trong đó truyền thống đã trở thành phương tiện diễn đạt nghệ thuật thuần túy...” Năm 1913 Agnon qua Đức. Ông định ở lại vài năm nhưng vì chiến tranh 5 nên mãi tới năm 1924 ông mới trở lại Jerusalem được. Tuy nhiên những năm ở Đức đã ảnh hưởng lớn lao đến văn nghiệp ông sau này. Ông tiếp xúc với văn chương châu Âu và yêu chuộng sự hoàn hảo đến độ các truyện sáng tác thường viết đi viết lại tới sáu, bảy lần. Trong thời kỳ này ông xuất bản rất ít, chỉ chăm lo sửa chữa các tác phẩm cũ và viết những truyện mới. Ông cũng làm khá nhiều thơ và viết một cuốn tiểu thuyết tự sự. Nhưng tới tháng Sáu năm 1924, căn nhà ông ở tại Homburg gần Frankfurt bị hỏa hoạn 6 và toàn bộ bản thảo, giấy tờ và tủ sách Hy-bá do ông sưu tập được đều biến ra tro. Biến cố này đã thay đổi hẳn con người Agnon. Ông thôi không sáng tác thi ca nữa và không bao giờ viết lại tác phẩm tự sự trên. Năm 1929, sau khi ông đã trở về Palestine, căn nhà ông tại ngoại ô Jerusalem lại bị người Ả-rập cướp phá. 7 Lần này ông trở lại Galicia trong một chuyến thăm viếng ngắn ngủi và ở lại Đức tới gần một năm để chứng kiến bốn cuốn đầu gồm các tác phẩm mà ông đã thu thập, sửa chữa trong năm năm trời được ấn hành tại đây. Cũng nên ghi nhận là Agnon là một nhà biên soạn các tuyển tập văn chương rất có tài. Trong những năm ở Đức, ông đã biên soạn hai tuyển tập bằng Đức ngữ. Ở Jerusalem ông đã bỏ khá nhiều ngày giờ để biên soạn ba tuyển tập văn chương. Trong tuyển tập đầu nhan đề Những ngày kinh sợ, gồm một kho tàng những chuyện cổ dân tộc, ông đã hài hước sắp thêm vào đó những mẩu truyện trích trong một tác phẩm tưởng tượng được mệnh danh là Kol Dodi (Tiếng nói của người tôi yêu dấu) và ghi chú rất tự nhiên ở phần thư mục là “một bản thảo mà tác giả hiện giữ”. Trong ý định soạn những tuyển tập Do-thái này, Agnon cũng đã đồng ý cộng tác với một triết gia Do-thái là Martin Buber nhưng về sau tác phẩm chung của hai người bị thiêu hủy và Agnon không soạn lại tác phẩm đó nữa. Công cuộc soạn thảo các tuyển tập này đã ảnh hưởng tới Agnon. Trong một số truyện, nhân vật chính của Agnon cũng là những học giả. Hình như hình ảnh tận tụy vô vọng của các học giả có một sức thôi miên tột độ đối với Agnon. "Trăng trên thung lũng Jerusalem" (Ido và Eynam) 8cũng là một câu chuyện của một học giả; sự say mê tìm kiếm một thứ ngôn ngữ và những ca khúc mà thế nhân đã để lạc mất trong vô tận của sa mạc thời gian tưởng chừng như một việc phù phiếm, nhưng dưới ngòi bút của Agnon lại mang những ẩn dụ sâu sắc và tế nhị (luôn luôn dựa trên một sự hiểu biết căn bản về Do-thái giáo), gợi ra được cái khát vọng vô biên của những con người sống trong một thế giới Babel hiện đại, và có một sức chiêu dụ đến mê hoặc tột độ. Gabriel Gamzou, nhân vật khó quên trong truyện này đã phản ảnh phần nào tác giả, một tâm hồn xao xuyến luôn khát vọng hợp nhất, sẵn sàng đương đầu với những tiếng nói của ngày Phán xét cuối cùng, như sách đã viết: “Ngay từ tiền sảnh, con hãy sửa soạn để đi vào phòng khách”. Với "Trăng trên thung lũng Jerusalem", câu chuyện thường được coi như là truyện ngắn đẹp nhất của Agnon, người đọc có thể tìm thấy qui tụ lại nhiều khía cạnh của tài năng Agnon và những chủ đề chính của ông: sự thiếu quân bình của cái hiện tại còn hoài niệm một thời đại vàng son khi mà “người Do-thái còn biết cầu nguyện và ngợi ca Chúa trong một niềm tin ngây thơ và chân thành”; sự xao xuyến cô đơn và nỗi sợ hãi phải mất nơi cư ngụ thể chất là mái nhà, hoặc nơi cư ngụ tinh thần là nhà nguyện; sau rốt là giấc mơ như một dự cảm hay sức hấp dẫn huyền diệu, mê hoặc, giữa sự sống và sự chết... Quả thật, như giáo sư Gershom Scholem của viện Đại học Hy-bá ở Jerusalem đã viết, “Agnon đã khởi sự văn nghiệp bằng cách viết những truyện ngắn, và chính trong lối sáng tác này ông đã đạt được một sự hoàn hảo khiến người đọc phải theo rõi đến đứt hơi thở”. "Trăng trên thung lũng Jerusalem" cùng với một số truyện ngắn khác của Agnon đã trở thành những tác phẩm cổ điển châu báu của dân tộc Israel ngay trong thế kỷ 20. Bí quyết chính của sự hoàn hảo này là Agnon đã khéo léo phong phú hóa tác phẩm bằng vô vàn chi tiết lọc lựa hết sức nghệ thuật trong một hình thức văn chương vô cùng giới hạn. Trong tác phẩm của Agnon, những đam mê của con người chiếm phần quan trọng chính, nhưng Agnon có một lối viết, một ngôn ngữ diễn đạt điềm tĩnh lạ thường, khác hẳn thứ ngôn ngữ đầy xúc cảm của những nhà văn Hy-bá trước ông. Agnon cũng thường lưu tâm tới những con người hèn mọn, bình thường, mà cuộc sống với muôn vẻ đều bày ra những cảnh tượng hết sức thực mà đồng thời lại đầy những mầu sắc huyền bí. Bởi thế mà rất nhiều khi trong truyện của Agnon một nỗi buồn khôn tả thường đi đôi với một niềm an ủi siêu nhiên. Trong một truyện ngắn của Agnon, một công nhân nghèo khổ nọ, một người đơn độc trơ trọi trên đời, đã cần mẫn dành dụm chút tiền để có thể trở về “Đất Thánh”. Nhưng không biết giấu tiền ở đâu cho chắc dạ, bác đã bỏ tiền vào một hộp lạc quyên đặt bên dưới cây thập tự ngoài đường lộ. Sau cùng, khi tìm đến lấy lại món tiền đã giấu thì bác bị bắt về tội ăn trộm của thánh. Bác bị tù và bị kết án tử hình, nhưng trong ngục bác được “Người” tới thăm viếng – trong tiếng Hy-bá “Người” đây chỉ Jésus – và đưa tới thành thánh Jerusalem nơi đồng bào bác nhận thấy bác đã chết. Sau khi trở lại Jerusalem, 9 Agnon đã sáng tác một số tiểu thuyết dài. Những tác phẩm xuất sắc nhất của ông hợp thành một bộ ba cuốn mô tả đời sống Do-thái trong một trăm năm từ 1830 đến 1930. Ấy là những cuốn Của hồi môn của nàng dâu (1931), Người khách trọ một đêm (1940) và Cách đây không lâu (Tmol shilshom, 1946). Của hồi môn của nàng dâu (Hakhnasat Kalla) kể lại những cuộc phiêu lưu của Thầy cả Jude Hasid, người đã phải lang thang khắp vùng Đông Galicia để thu thập chút của hồi môn cho ba cô con gái đi lấy chồng. Trong tác phẩm này Agnon không những đã mô tả tục lệ phải lo của hồi môn cho con đi lấy chồng của Do-thái mà còn vẽ lại một cách chính xác và đầy màu sắc lối sống thuần túy Do-thái ở thế kỷ 19, trước khi va chạm với thời hiện tại. Tám mươi năm sau khung cảnh đã hoàn toàn thay đổi hẳn. Yitzhak Kummer, vai chính của Cách đây không lâu, là cháu của Thầy cả Judel. Tuy nhiên lý tưởng của thế hệ trẻ là xây dựng một xã hội mới, là tái tạo một dân tộc Do-thái nơi cố hương. Trong thời kỳ này, những nền tảng của xã hội cũ như tôn giáo, truyền thống đều bị lung lay. Mọi sự đều ở trong giai đoạn chuyển tiếp, bất ổn. Kummer tha thiết với ý tưởng phục quốc nhưng anh cũng không muốn chối bỏ truyền thống. Anh không tìm thấy chỗ đứng của mình giữa xã hội cũ ở Jerusalem và xã hội mới ở Tel Aviv và những nông trại. Anh luôn luôn cố gắng nối kết cuộc sống hiện tại với thế giới truyền thống đầy hứa hẹn an ủi nhưng mọi cố gắng dường như đều vô ích. Cuộc sống mới mà phong trào phục quốc Zion đề xướng chưa đạt được những kết quả mong muốn. Và lối sống cũ, với những vinh quang quá khứ, thì không sao tìm thấy đường về với hiện tại. Các truyện ngắn và tiểu thuyết của Agnon thường đi lại giữa hai thái cực không sao đạt tới được này. Ở cuối tác phẩm Cách đây không lâu, Agnon có hứa hẹn sẽ viết về đời sống của thế hệ trẻ ở Israel hiện tại, lẽ dĩ nhiên với những hình thái tích cực hơn của xã hội mới. Tuy nhiên cuốn tiểu thuyết này chưa xuất hiện. Người khách trọ một đêm dường như là tác phẩm sầu muộn nhất của Agnon, một người sùng thượng thế giới đẹp đẽ cổ truyền của dân tộc ông. Ngược lại với Kummer đi tìm thế giới mới và chỉ gặp thấy trống rỗng trong sinh hoạt ở phần đất Palestine của Israel, người kể truyện trong Người khách trọ một đêm từ thế giới mới trở về thăm thế giới cũ của thị trấn Szybuscz sau hai mươi năm trời xa vắng. Và nơi chôn nhau cắt rốn giờ đây chỉ là một nơi khốn khổ, hoang tàn, thoi thóp những phút cuối cùng của đổ nát. Tất cả những cố gắng tái tạo dĩ vãng dường như cũng hoài công, vô vọng. Và trong dĩ vãng ấy của cố hương, người kể chuyện chỉ là một “khách trọ qua đêm”. Trong truyện nhân vật chính đã phải thốt ra như sau: “Khi còn trẻ tôi có thể thấy trong trí tất cả những gì tôi ao ước thấy; ngày nay tôi không thấy cả những gì tôi ao ước thấy lẫn những gì người ta chỉ cho tôi”. Với một tâm hồn yêu mến quá khứ như Agnon, nỗi buồn kia đã trở thành một ám ảnh vô cùng đau đớn. Trong viễn tượng ấy của những khát vọng trần thế, những năm gần đây, Agnon đã khởi sự viết một tác phẩm tự sự thật kỳ lạ. Trong tác phẩm mới ông đã ngược dòng thời gian đến cả hàng ngàn năm và kể lại những cuộc thiên cư của tâm hồn ông qua mọi giai đoạn quan trọng của lịch sử kể từ những ngày Sáng thế. Tác phẩm tự sự có tích chất lịch sử-siêu hình này mang nhan đề là Hadom ve-Kissei(Ghế và Ngai) 10 cho đến nay vẫn chưa hoàn tất, tuy nhiên nhiều đoạn dài đã được trích đăng. Năm 1934, Agnon được tặng giải thưởng Bialik nhờ cuốn Của hồi môn của nàng dâu. Và giải thưởng Ussischkin cũng đã về tay ông với tác phẩm Cách đây không lâu. Năm 1954, Agnon được bầu làm nhân viên Hàn lâm viện Hy-bá và cùng năm đó, toàn bộ tác phẩm của Agnon đã được giải thưởng Văn chương cao nhất của Do thái, Giải ISRAEL. Agnon thường được coi như một nhà văn kiệt xuất đã nối kết được thế hệ đi tiền phong trong phong trào phục quốc Do-thái và thế hệ đương lên hiện tại ở Israel bằng một nội dung thâm trầm và sâu sắc nêu cao truyền thống dân tộc trong mọi tác phẩm. Năm 1966, Agnon đã được Hàn lâm viện Thụy điển trao tặng giải thưởng Nobel văn chương cùng với nữ văn sĩ Nelly Sachs. Tác phẩm của ông đã được phiên dịch ra chừng 15 thứ ngôn ngữ trên thế giới. Shmuel Yosef Agnon 11 không những là một nhà văn lớn của Israel mà còn là của toàn thế giới – như Edmund Wilson, người đã đề nghị trao tặng giải Nobel cho ông, đã nói: “... điều làm cho Agnon đáng kể như vậy và xứng đáng với giải thưởng Nobel là ở chỗ ông đã có thể thể hiện tới mức ấy trong thế giới Do-thái của ông, cái nhân loại tính chung của chúng ta...” Mời các bạn đón đọc Trăng Trên Thung Lũng Jerusalem của tác giả ShmuelYosef Agnon & Nguyễn Thu Hồng (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Istanbul - Hồi Ức và Thành Phố
“Tôi nghĩ tôi sẽ viết “Hồi ức và Thành Phố” trong sáu tháng, nhưng lại mất đến một năm để hoàn thành nó. Và tôi đã làm việc 12 tiếng mỗi ngày, chỉ đọc và làm việc. Cuộc đời của tôi, vì rất nhiều nguyên do, đang ở trong cơn khủng hoảng. Tôi không muốn đi sâu vào từng chi tiết: ly hôn, cha tôi chết, vấn đề chuyên môn, rắc rối chỗ này, rắc rối chỗ kia, mọi thứ đều tệ. Tôi nghĩ nếu lúc đó tôi yếu đuối, có lẽ tôi đã rơi vào trầm cảm. Nhưng mỗi ngày tôi đều dậy và tắm nước lạnh và ngồi xuống và nhớ lại và viết, tôi luôn chú ý đến vẻ đẹp của cuốn sách. Thành thực mà nói, có lẽ tôi đã làm tổn thương mẹ tôi, gia đình tôi. Cha tôi đã chết, nhưng mẹ tôi còn sống. Nhưng tôi không thể quan tâm đến điều đó, tôi phải quan tâm đến vẻ đẹp của cuốn sách.” Orhan Pamuk đã trả lời với tờ Wild River Review như vậy khi nói về khoảng thời gian ông viết quyển “Istanbul: Hồi ức và Thành Phố” – một quyển kí dày, 37 chương, về thành phố của ông. Orhan Pamuk viết lại tất cả những gì của chính ông, từ năm ông ra đời (1952), với những gì ông nhìn thấy, sự thay đổi xung quanh, người ông gặp, cuộc trò chuyện với mẹ, sự yên lặng của bà hay những bữa tiệc buồn tẻ nào đó. Ở giữa các chương viết, Orhan Pamuk phác thảo lại toàn bộ Istanbul của ông, từ hàng trăm năm trước, qua tay các nhà thơ, nhà báo, qua tay những người bán hàng, qua vịnh Bosphorus, từ những tiểu tiết trên tranh vẽ. “Istanbul” chứa tư liệu đầy ắp, so sánh liên tục, các ý tưởng sắp xếp cực kì ngăn nắp, chú thích rạch ròi trong từng đoạn viết. Orhan viết về vịnh Bosphorus của ông, một vịnh biển khi nhìn ra có thể thấy những dinh thự bằng gỗ đẹp tuyệt vời, nơi xưa kia là chốn ngự của những pasha quyền lực cai quản thành phố. Các toà nhà ấy cũ dần đi, mủn đi, trong kí ức có cả những người hàng rong lái thuyền đi bán trái cây, các món đồ thú vị… và Bosphorus nơi người ta đang phá dần đi và xây nên những toà nhà mới kiểu Tây, hào nhoáng, lấp lánh. Orhan lúc ấy chỉ còn là một đứa bé, nhớ rằng bác sĩ dặn mẹ hãy đưa mình ra vịnh để thở khí trong lành và khỏi bệnh. Sau tất cả những khắc hoạ chi tiết, tư liệu lịch sử, ông viết rằng: “… có một chuyện chẳng hề thay đổi: chỗ mà Bosphorus chiếm ngự ở trong trái tim cộng đồng của chúng tôi. Như khi còn nhỏ, chúng tôi vẫn coi nó như là một sự đảm bảo cho sức khoẻ tốt lành, một thứ linh dược khi lâm bịnh, một suối nguồn vô tận của điều tốt điều thiện, những gì gìn giữ thành phố và các cư dân của nó.” Trong suốt quyển sách, người đọc có thể tìm thấy Orhan tả vịnh Bosphorus, tả giáo đường Suleymaniye, tả ngoại ô Istanbul, tả bến cảng với thuyền đi qua ban đêm, tả những ngôi nhà yah đẹp huy hoàng một thời, những ngõ hẻm, trời tối… và khi đọc, người ta có thể tưởng tượng ra hình ảnh như thể ta đứng đó, với cảm giác của ông, với các chi tiết rõ ràng, mạch lạc, với cả mùi hơi nước, mùi khói, hay khí lạnh… Bên cạnh các chương kể về thành phố, Orhan Pamuk viết về những người đã biến Istanbul thành một vẻ đẹp có lịch sử, bằng tranh vẽ, thơ ca, văn học hay các bài báo. Có rất nhiều phần trong sách, Orhan nói lên nỗi khốn khổ của những nhà nghệ sĩ này. Họ ở một thành phố kì quặc, có một nửa Tây hẳn và một nửa mang đầy khí chất phương Đông. Orhan tả lại nỗi khổ sở của nhà thơ Yayah Kemal, nhà văn Abdulhak Sinasi Hisar, nhà văn Ahmet Hamdi Tanpinar, nhà sử học Resat Ekrem Kocu khi họ phải chọn cho mình một phong cách sáng tác. Họ học cái hay của các nhà thơ, nhà văn Pháp, họ thử viết, họ thấy không hợp với cái mùi phương Đông của Istanbul, rồi họ chọn cho mình một thứ: nỗi buồn của Istanbul và cứ thế xoáy sâu vào nó và được lưu danh vì những gì họ giữ lại cho thành phố này sau hàng chục năm phôi pha và biến đổi. Ông cũng nói về nỗi đau khổ của họ, những người bị nền Cộng Hoà kiểm duyệt gọi tên là “phản động” rồi kết thúc cuộc đời trong bi kịch: “… cả bốn ông nhà văn này buồn bã này sống và chết, một mình, chẳng bao giờ lấy vợ. Ngoại trừ Yayah Kemal, ba ông kia chết mà không thực hiện được giấc mơ của họ. Không chỉ là chuyện họ để lại đằng sau những tác phẩm chưa hoàn tất, mà ngay cả những cuốn sách được xuất bản khi họ còn sống cũng chẳng bao giờ với tới được các độc giả mà những nhà văn này tìm kiếm. Riêng Yayah Kemal, nhà thơ lớn lao nhất và ảnh hưởng nhiều nhất của thành phố Istanbul, suốt cuộc đời, ông từ chối cho xuất bản bất cứ tác phẩm nào của ông.” Dường như bóng ma kiểm duyệt của nền Cộng Hoà đã xâm lấn và huỷ hoại rất nhiều nghệ sĩ yêu thành phố này. Nhưng ở chương 15, Orhan lại nói về Ahmet Rasim, một người giữ chuyên mục báo đã viết về Istanbul bằng một thái độ vui vẻ, bình thản, trước sự kiểm duyệt tàn nhẫn đến đau lòng của nền chính trị. Ahmet Rasim dành 50 năm để viết về những gì xảy ra ở Istanbul, từ những tay nghiện rượu, đến dân bán hàng rong, khu phố nghèo, cửa hàng tạp hoá, phiên chợ, các món hàng… Ahmet Rasim từng nói: “Nếu những cấm đoán chính trị và sự thiển cận khiến bạn không tìm ra thứ gì để nói, hãy nói về hội đồng thành phố và cuộc sống ở thành phố, bởi vì mọi người luôn thích đọc mấy thứ này.” Orhan đã dành rất nhiều bài viết để ca ngợi những con người lao động miệt mài, bình tĩnh, người vẽ tranh, người viết từ điển, nhà thơ, nhà báo… đã kiên trì và bình tĩnh sống để viết về Istanbul trong sự ngột ngạt và đau đớn của nó. Có người kháng cự, có người ẩn nấp, có người cự tuyệt, lại có người cười khẩy vào mặt nó… nhưng tất cả họ đều cặm cụi sáng tác, nghiên cứu, viết để giữ lại một Istanbul đang dần đổ lụi vì những toà dinh thự đã quá cũ kĩ, vì thành phố đang méo mó đi bởi những kẻ xây dựng nó một cách kì quái và thô bạo. Orhan viết những điều này trong một nỗi buồn trong suốt và xuyên qua cả trang viết. “Chẳng làm gì có những tàn dư đế chế vĩ đại như vậy ở các đô thị Tây phương, được gìn giữ như viện bảo tàng lịch sử và được trưng bày một cách hãnh diện. Người dân của Istanbul cứ thế mà sống giữa những điêu tàn, hoang phế. Nhiều nhà văn, nhà du lịch Tây phương coi đây là một điều dễ thương vô cùng. Nhưng đối với những cư dân mẫn cảm, thân quen hơn, các tàn dư đế chế nhắc nhở họ rằng thành phố hiện nay quá nghèo, quá xô bồ, và thật vô phương nếu mơ ước sẽ có một ngày lại hiển hách như xưa, về những mặt giàu sang quyền uy và văn hoá. Thật khó mà tự hào về những căn nhà xiêu vẹo, đổ nát, bị bỏ bê, dơ dáy, bùn và bụi bám đầy, và thật đẹp làm sao, khi còn là một đứa nhỏ, những lần tôi đứng nhìn chúng bị lửa thiêu rụi từng chiếc một.” hay: “Bởi vì hình ảnh mà người dân Istanbul ôm ấp trong mình về thành phố thân yêu trong thế kỷ đã qua là hình ảnh một đứa trẻ nghèo đói, bị thất trận, bị tủi nhục, và cái còn lại chỉ là điêu tàn. Khi tôi mười lăm tuổi, tập tành vẽ những bức hoạ đầu tiên của mình, nhất là khi vẽ những con phố nhỏ của thành phố, tôi cảm thấy xốn xang tự hỏi nỗi buồn của chúng tôi sẽ dẫn dắt chúng tôi tới mãi đâu.”    Một phần khác được Orhan viết là những chuyện riêng của ông. Ông viết về cha mẹ mình, bà nội, cô chú, ngôi nhà yah sang trọng của dòng họ quý tộc nhà ông (đã hết thời) giờ chỉ là những cái hốc được ngăn ra cho cả dòng họ đu bám vào – gọi là nhà ổ chuột. Ở đó Orhan thấy cha mẹ cãi nhau, cha đi với mấy cô bồ, thấy bà nội ôm ấp mình, thấy cả cái tuổi dậy thì kì quặc của mình nảy mầm trong cơ thể. Ông mô tả những tính cách và suy nghĩ của người xung quanh ông. Người giàu Istanbul làm gì trong những buổi tiệc trà, khi có một đống tiền? – Họ đi mua nhà kiểu Tây, bất chấp căn nhà đó có vẻ vô cùng bất tiện và họ chẳng thích. Những chàng trai trẻ như Orhan làm gì? – Họ chạy như điên đầy phấn khích ra khỏi nhà mỗi khi có một dinh thự bùng lên trong ngọn lửa hay khi những chiếc tàu hàng khổng lồ đâm nhau ngoài vịnh Bosphorus và bốc cháy ra tro. Cảm xúc ấy được ông miêu tả:“Nhưng với những người trong số chúng tôi, đã từng nhìn thấy các yah cuối cùng của thành phố, những biệt thự, những khu nhà gỗ bị thiêu rụi vào thập niên 1950 và 1960, nỗi thích thú của chúng tôi có được bắt nguồn từ một trạng thái tinh thần khác hẳn các pasha thời kì Ottoman, những người thuần tuý thưởng thức cảnh tượng; niềm thích thú của chúng tôi còn bao gồm cảm giác tội lỗi, mất mát và ghen tức, trước sự huỷ diệt bất thình lình những dấu vết cuối cùng của một nền văn hoá lớn và một nền văn minh lớn mà chúng tôi không xứng hợp hay chưa được sửa soạn để mà thừa hưởng, trong khi chúng tôi điên cuồng biến Istanbul thành một thành phố hạng hai bắt chước một đô thị Tây phương nhợt nhạt, nghèo đói.” *** Orhan Pamuk, “một trong những tiếng nói mới mẻ và độc đáo nhất trong văn chương đương đại” như lời Independent on Sunday nhận xét, đã viết nhiều cuốn sách trong đó có Pháo đài trắng và Cuộc đời mới. Năm 2003, ông nhận giải International IMPAC Dublin cho cuốn Tên tôi là Đỏ, và năm 2004, Faber ấn hành bản dịch tiếng Anh cuốn Tuyết của ông, được Margaret Atwood ca ngợi là “cuốn sách không thể thiếu của thời đại chúng ta”. Istanbul, một ghi chép của ông về cuộc sống nơi thành phố này, đã được đề cử giải Samuel Johnson của BBC4, được Katie Hickman trong New Statesman gọi là “đẹp đẽ một cách phi thường và siêu việt”. Orhan Pamuk hiện đang sống ở Istanbul. *** Orhan Pamuk là một nhà văn người Thổ Nhĩ Kỳ, sinh ngày 7 tháng 1 năm 1952 tại Istanbul. Ông là tác giả của nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn, tiểu luận và tác phẩm phê bình văn học. Pamuk đã được trao giải Nobel Văn học năm 2006, trở thành nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ đầu tiên nhận được giải thưởng này. Pamuk sinh ra trong một gia đình tư sản giàu có ở Istanbul. Ông theo học ngành Kiến trúc tại Đại học Istanbul, nhưng sau đó chuyển sang học Văn học Anh. Sau khi tốt nghiệp đại học, Pamuk bắt đầu viết văn và xuất bản tác phẩm đầu tay, "Cevdet Bey ve Oğulları" (Cevdet Bey và các con trai) vào năm 1982. Tác phẩm của Pamuk thường đề cập đến các chủ đề như bản sắc, lịch sử, văn hóa và tôn giáo. Ông đã khám phá những chủ đề này theo nhiều cách khác nhau, từ sử dụng các thủ pháp hậu hiện đại đến tái hiện lịch sử Thổ Nhĩ Kỳ. Tóm tắt một số tác phẩm "Cevdet Bey ve Oğulları" (Cevdet Bey và các con trai) (1982): Cuốn tiểu thuyết kể về câu chuyện của Cevdet Bey, một doanh nhân thành đạt ở Istanbul. Ông có ba người con trai, mỗi người đại diện cho một thế hệ khác nhau của Thổ Nhĩ Kỳ. Cuốn tiểu thuyết khám phá những thay đổi xã hội và chính trị ở Thổ Nhĩ Kỳ trong thế kỷ 20. "Kara Kitap" (Sách đen) (1990): Cuốn tiểu thuyết kể về câu chuyện của Kemal, một người đàn ông trẻ tuổi sống ở Istanbul. Kemal đang tìm kiếm sự thật về cái chết của cha mình, người đã bị giết bởi một nhóm cực đoan. Cuốn tiểu thuyết khám phá những xung đột giữa các giá trị truyền thống và hiện đại ở Thổ Nhĩ Kỳ. "Masumiyet Müzesi" (Bảo tàng sự trong trắng) (2008): Cuốn tiểu thuyết kể về câu chuyện của Kemal và Füsun, hai người trẻ tuổi yêu nhau ở Istanbul những năm 1970. Tuy nhiên, mối tình của họ bị ngăn cấm bởi gia đình của họ. Cuốn tiểu thuyết khám phá những phức tạp của tình yêu và sự mất mát. "Kar" (Tuyết) (2002): Cuốn tiểu thuyết kể về câu chuyện của Ka, một nhà văn trẻ tuổi đến Kars, một thị trấn nhỏ ở miền đông Thổ Nhĩ Kỳ. Ka được giao nhiệm vụ viết một bài báo về một vụ tự thiêu của một cô gái trẻ. Tuy nhiên, anh sớm bị cuốn vào một cuộc xung đột giữa các nhóm cực đoan. Cuốn tiểu thuyết khám phá những căng thẳng chính trị và sắc tộc ở Thổ Nhĩ Kỳ. "Kırmızı Saçlı Kadın" (Người phụ nữ tóc đỏ) (2016): Cuốn tiểu thuyết kể về câu chuyện của Mevlut, một người đàn ông bán bánh mì ở Istanbul. Mevlut đã kết hôn và có ba con, nhưng anh vẫn nhớ đến một người phụ nữ tóc đỏ mà anh đã gặp khi còn trẻ. Cuốn tiểu thuyết khám phá chủ đề tình yêu và mất mát trong bối cảnh của Istanbul đương đại. Tác phẩm của Orhan Pamuk đã được dịch ra hơn 60 thứ tiếng và được nhiều nhà phê bình đánh giá cao. Ông là một trong những nhà văn đương đại nổi tiếng nhất thế giới. Mời các bạn đón đọc Istanbul - Hồi ức và Thành phố của tác giả Orhan Pamuk.
Chú Xấu Xa Biết Thả Thính
Truyện kể về cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa một kẻ trộm và người bị cướp, nhưng họ lại phải sống chung nhà với nhau. Cuộc sống của nhân vật chính thay đổi khi có một bé nhóc con đến ở chung với họ. Câu chuyện đầy hài hước xoay quanh việc hắn phải nuôi dạy và chiều chuộng cậu bé bướng bỉnh và mê trai.  Nếu bạn yêu thích thể loại ngôn tình, hãy đọc thêm Động Tình hoặc Độc Sủng Cô Vợ Ấm Áp. *** “Cướp đây! Không được nhúc nhích!” “Cướp? Có ăn được không ạ?” Ngân từ trên giường nhảy lên xuống kéo lấy chân hắn. Hắn cúi xuống nói: “Không ăn được nhé! Nào, nhóc con ngồi lên giường, chú hành động một tí sẽ đi ngay” Ý gì đây? Sao lại chơi hành động mà không cho cô chơi cùng? Cô dỗi...!Ngân vẫn không hề có ý định bỏ tay khỏi chân hắn, thậm chí tay có phần siết chặt hơn. Nói đến vậy mà nhóc con vẫn không bỏ tay khỏi chân mình, hắn ngồi xổm xuống, bế nhóc con đi về phía giường. Trong vòng tay hắn, cô ôm chặt lấy cổ hắn làm mặt hắn tái đi, hắn ngồi bệt xuống thảm trải sàn, ho khù khụ. Ngân ngạc nhiên quay lại hỏi: "Chú, chú có sao không?" Ranh con, thấy ta ho khù khụ thế này mà còn hỏi "có sao không" à? Nhưng mà bây giờ mà to tiếng với nhóc con này thì sẽ bị phát hiện mất, mọi chuyện sẽ đổ sông, đổ bể cả...!Hắn vỗ vỗ lưng của cô, dịu dàng nói: "Haha...chú ổn..." Thực ra là cố tỏ ra là mình ổn nhưng sâu bên trong nước mắt là biển rộng...! Ngân vùi đầu vào hõm cổ của hắn, thì thầm nói: "Chú, chú cho cháu đi cùng với!" "Nhóc con ở nhà lầu xe hơi không thích, lại thích ở cùng với một thằng cướp như chú hả?" "Bởi vì cháu thấy chú rất ấm áp" Nhà lầu xe hơi thì ai chả thích nhưng mà cô thì không. Từ khi mẹ ruột qua đời vì bệnh tật, ba thay tính đổi nết hẳn...!Ba không còn chơi và yêu thương cô như ngày xưa nữa kể từ khi ba dắt người đàn bà kia về. Bà ta sinh cho ba 1 trai, 1 gái và ba chỉ yêu thương và chơi cùng họ thôi... Người đàn bà kia cũng chẳng yêu thương gì cô, thậm chí còn đánh đập cô rất đau nữa, làm sao cô chịu nổi chứ...? Hai người em cùng cha khác mẹ kia thì luôn hắt hủi, đuổi đánh cô... Thật sự bề ngoài là cuộc sống nhung lụa của công chúa nhưng bên trong là cuộc sống cực khổ của lọ lem! "Nhóc con tìm người khác đi, chú không biết nuôi trẻ" "Không sao, cháu lớn rồi!" "Cháu mấy tuổi mà kêu lớn?" "Cháu được 9 tuổi rồi đấy!" Hắn chợt bật cười ha hả làm Ngân ngượng chín cả mặt. 9 tuổi thì sao chứ? Vẻ bề ngoài bé nhỏ thì bị coi là trẻ con à? Vẻ bề ngoài quan trọng đến thế sao? Ngân vừa dỗi, vừa giận đấm liên hồi vào lưng hắn, cho chú chết vì dám cười cháu này. Bị bàn tay nhỏ xíu của cô đấm liên hồi vào lưng mà hắn cảm thấy sung sướng. Mấy hôm nay hoạt động nhiều nên tay chân với các bộ phận cơ thể khác cứ gọi là rã rời, hôm nay lại được con của chủ nhà đấm lưng cho mà thấy thoải mái vô cùng. [...] "Chú..." Hắn chuẩn bị nhảy ra khỏi phòng từ cửa sổ thì cô từ trên giường chạy xuống bám chặt lấy chân làm hắn chẳng thể thực hiện được mục tiêu. Hắn quay lại, ngồi xuống hỏi: "Sao thế? Nuối tiếc chú hả?" Ngân sà vào lòng hắn, ôm chặt lấy eo hắn sợ hắn có thể biến mất ngay lập tức. Cô mếu máo nói: "Chú, cháu...có thể đi cùng chú...được không?" A, đau! Rốt cuộc con nhóc này có tập karate hoặc boxing gì hay không mà ra tay mạnh thế? Hắn nén đau, khổ sở đưa tay lên xoa nhẹ đầu cô, nói: "Nhóc con, chú rất tiếc! Chú..." "Aaaaaa..." Đột nhiên Ngân hét ầm lên làm cho hắn giật bắn mình. Nhóc con này, điên rồi? Mất mấy giây sau hắn mới loading được hành động hâm hâm, dở dở của cô là có ý gì... "Chết tiệt!" ..... "Nhóc con, mi giỏi lắm...hộc...hộc..." Hắn dựa người vào bức tường sâu trong một con hẻm, thở mà không ra hơi...!Hoá ra nhóc con này cũng biết bày mưu, bày kế để khiến hắn sập bẫy. Đám vệ sĩ trong biệt thự khi nghe thấy tiếng hét phát ra từ phòng cô thì lập tức ào lên bảo vệ, lúc bấy giờ vì hoảng quá hắn vơ luôn cô cùng với đống cướp được chạy luôn... "Cũng may là chú thông minh, chứ nếu mà chú bị bắt thì ăn cơm tù còn nhiều hơn cơm nhà!" "Láo toét! Chưa cưới được vợ thì chú còn lâu mới đi tù..." "Hoá ra chú chưa có vợ hả? Chú, chú cưới cháu đi!".   Mời các bạn mượn đọc sách Chú Xấu Xa Biết Thả Thính của tác giả Serein.
Tiểu Thư Kiêu Ngạo Và Thiếu Gia Sát Gái
Lời tác giả - Casting 1) Lời tác giả: Xin chào các bạn, mình là Gia Hân, đây là câu chuyện đầu tay của mình mong các bạn đón đọc và ném đá thẳng tay để mình sữa chửa. - Về nội dung: có một vài chi tiết sẽ giống với trong phim Người Thừa Kế nhưng cốt truyện hoàn toàn khác  - Về trang phục: trang phục của các nhân vật là do mình tham khảo của các sao Hàn, hàng hiệu có, bình dân cũng có. có gì sai sót thì cho mình xin lỗi các anh chị bên Hàn 2) Casting Nữ chính: Nó: Phạm Vương Khánh An (Andrena): 17 tuổi, ba là chủ tịch tập đoàn thời trang Empire lớn nhất TG, mẹ đã mất, xinh đẹp như nữ thần nhưng tính cách thì thất thường không ai đoán được, cao 1m73, IQ 500/500 Huỳnh Văn Hải Yến (Emily): 17 tuổi, người kế vị tập đoàn thời trang CL, mẹ cũng đã mất, có mốt nét đẹp dịu hiền đầm thấm, nữ công gia chánh thành thạo, quan tâm bạn bè, cao 1m69, IQ 500/500 Dương Nguyễn Khánh Trân (Mindy): 17 tuổi, con gái của chủ tịch tập đoàn thời trang MJ, mẹ cũng mất giống hai người bạn, là một cô nàng dễ thương, đôi lúc hơi đỏng đảnh, cao 1m70, IQ 500/500 Nguyễn Lập Bích Thy (Jenny): 17 tuổi, ba là chủ hãng thời trang RS nổi tiếng, cũng mất mẹ từ nhỏ, là cô tiểu thư điệu đà luôn chăm chút sắc đẹp, giỏi cua trai, đường cong mê người, cao 1m71, IQ 500/500 Cả 4 tập đoàn của tụi nó hợp lại tạo thành một khối vững chắc khó đánh bại, trụ sở chính là ở Anh Quốc. Nam chính: Hắn: Hoàng Dương Khởi Phong (Harry): 17 tuổi, con trai của chủ tịch tập đoàn đá quý Jae Guk lớn nhất TG, rất đẹp trai và cũng rất sát gái, body 6 múi, xài tiền phung phí, hotboy trường The Heirs, cao 1m83, bang chủ bang Devil, IQ 500/500 Phạm Vương Hoàng Khải (Aubrey): 17 tuổi, mẹ anh sắp kết hôn với ba nó nên có thể gọi là anh nó, công tử tập đoàn khách sạn Zeus, hóng hách nhưng rất thương nó, ghét con gái, cao 1m80, phó bang Devil, IQ 500/500 Trần Lâm Minh Khánh (Jason): 17 tuổi, ba mẹ là ca sĩ diễn viên nổi tiếng sỡ hữu tài sản kếch xù bao người mơ ước, có nụ cười tỏa nắng, hiền lành tinh nghịch, hotboy The Heirs, cao 1m81, bang phó bang Devil, IQ 500/500 Trương Lê Gia Kiệt (Edward): 17 tuổi, thiếu gia tập đoàn xe hơi PR lớn nhất TG, là một người lạnh lùng dù rất sát gái, hiểu được cảm xúc của người khác, coldboy The Heirs, cao 1m82,bang phó bang Devil, IQ 500/500 Còn nhiều nhân vật khác nhưng mình sẽ giới thiệu sao, xin lưu ý, truyện của mình sẽ không kịch tính cho lắm. *** Sáng: 6h30 tại biệt thự nhà nó ở thành phố San Francisco, Bang California, Hoa Kỳ Tin ba nó và bà Vương- chủ tịch tập đoàn Zeus lấy nhau đã làm kinh động giới kinh doanh trên toàn thế giới, khỏi nói cũng biết nó sốc thế nào rồi, nhìn mặt mình trong gương, nó cười - một nụ cười như tự chế giễu bản thân mình, bước xuống nhà với gương mặt lạnh như tiền và ánh mắt như muốn thiêu đốt tất cả, ba nó định tiến lại thì _đừng đến đây- nó hét _con gái à... _tôi không phải con ông- nó lạnh lùng _ba xin lỗi vì đã không giữ được lời hứa với con, nhưng con biết đấy, bà ấy là người luôn chăm sóc con khi ba vắng nhà và con cũng rất yêu quý bà ấy mà- ba nó cố gắng khuyên giải  _chăm sóc tôi, tôi cảm ơn nhưng không phải với tư cách một người mẹ- nó gằn từng chữ _dù con có nói gì đi nữa thì ta cũng sẽ không thay đổi quyết định- ba nó nghiêm nghị _Andrena.... _bà không có quyền gọi tên tôi- nó cắt ngang _được, ta sẽ không gọi, ta cũng chỉ vì yêu thương con thôi, con hãy hiểu cho ta- bà Vương khẩn cầu _đương nhiên là tôi hiểu chứ, suốt bao năm qua bà cũng đã vất vả vì tôi rất nhiều rồi, nhưng không đời nào Andrena này chấp nhận bà làm mẹ tôi- nó nói _con hãy suy nghĩ kĩ đi- ba nó nhìn thẳng vào mắt nó nói _không bao giờ tôi đồng ý, bà ta đã cướp đi người đàn ông của mẹ tôi thì lí nào.... Chát Một cái tát giáng xuống khuôn mặt xinh đẹp của nó, sững sờ, thất vọng, khinh bỉ chính là chuỗi tâm trạng của nó bây giờ, từ nhỏ đến lớn, một câu la mắng nó cũng chưa từng nghe qua từ miệng ông, vậy mà... _đánh hay lắm, tôi cũng không ngờ người ba này lại có thể vì một người dưng mà đánh con gái mình, rồi ông sẽ hối hận- nó quay bước đi _đứng lại- ba nó gằn _sao đây thưa ba kính mến?- nó khinh khỉnh _con hãy về Việt Nam đi- ba nó nghiêm túc _woa, bây giờ còn đuổi tôi đi cho khuất mắt nữa sao? Định sản xuất cho tôi thêm một người em nữa hả?- nó cười lạnh _ăn nói cho cẩn trọng, anh con sẽ đón con ở sân bay- ông nói _anh? ra là người bạn cũ đó sao? từ bạn mà giờ thành anh em rồi, không biết tôi có nên quyến rũ anh ta để phá vỡ cuộc hôn nhân này hay không đây?- nó cười đểu _cứ tự nhiên nếu con muốn- ông cũng không vừa _hừ- nó hừ lạnh và bỏ đi _em đừng để bụng, rồi nó sẽ phải ngoan ngoãn chấp nhận thôi- ông xoay qua an ủi vợ khi con gái yêu đã khuất sau cánh cổng _không đâu- bà Vương cười hiền rồi cả hai cùng lên lầu Trở lại với nó, nó đang đi à không nói đúng hơn là nó đang lết từng bước trên con đường dài lê thê, không phải nó không yêu thương bà Vương nhưng có lẽ đối với một cô nhóc 17 tuổi hiểu hết mọi sự đời, hiểu được mặt xấu mặt tốt của xã hội như nó thì đó là một chấn động lớn trong cuộc đời. Đang suy nghĩ miên man về những việc vừa xảy ra nên nó không chú ý và thế là *rầm*, nó và phải ai đó, định lên tiếng xin lỗi thì _đi đứng kiểu gì thế hả? hỏng hết cả váy mới của tôi rồi- một giọng nói chanh chua vang lên _kiểu Mĩ- nó đốp lại _cô...hừ, có biết tôi là ai không hả?- ả đó hóng hách _gái điếm?- nó khiêu khích _cô...được lắm, tôi là tiểu thư của tập đoàn BB, lo mà xin lỗi, nếu không thì cô ra đường ở- ả kiêu ngạo _BB, luật sư Park, cắt mọi hợp đồng với tập đoàn BB và cho họ phá sản đi- nó móc điện thoại ra gọi 1' sau _sao ạ? nhà ta phá sản sao? con đắc tội với tiểu thư của họ- ả nhận điện thoại từ ba _hừ, đó là cái giá phải trả cho cô khi đụng đến tôi- nó đi lướt qua ả Ha Ha Ha   Mời các bạn mượn đọc sách Tiểu Thư Kiêu Ngạo Và Thiếu Gia Sát Gái của tác giả Gia Hân.
Không Của Ai Cả Nhưng Của Em
Kế hoạch: Tiến sĩ vật lý thiên tài Jane Darlington cực kỳ mong muốn có một đứa con. Nhưng tìm được một người cha thích hợp lại không phải là chuyện dễ dàng. Vì sự thông minh siêu dẳng của mình khiến Jane như một kẻ lập dị thời niên thiếu, và cô quyết tâm tìm mọi cách để đứa con tương lai của mình không phải chịu cảnh như vậy. Điều đó có nghĩa là cô phải tìm được một người cha thật đặt biệt, một ai đó cực kỳ, cực kỳ ngu ngốc… Mục tiêu: Cal Bonner, tiền vệ huyền thoại của đội Chicago Star, đẹp trai, thể chất tốt và chỉ số IQ thấp là một lựa chọn hoàn hảo. Chỉ có một điều mà Jane không ngờ tới, đó là Cal không thật sự ngu ngốc như cô nghĩ… Vậy mọi chuyện cuối cùng sẽ ra sao? Liệu Jane có thể có được đứa con mà cô hằng ao ước? Liệu Cal sẽ phản ứng ra sao khi biết mình là một người cha bất đắc dĩ?   *** Bộ sách Chicago Stars gồm có: It Had to Be You (Vì đó là em) [Chicago Stars #1] - Susan Elizabeth Phillips Heaven, Texas [Chicago Stars #2] - Susan Elizabeth Phillips Nobody's baby but mine Không Của Ai Cả Nhưng Của Em [Chicago Stars #3] - Susan Elizabeth Phillips Dream a Little Dream [Chicago Stars #4] - Susan Elizabeth Phillips This Heart of Mine [Chicago Stars #5] - Susan Elizabeth Phillips Mai mối cho tôi nếu em có thể [Chicago Stars #6] - Susan Elizabeth Phillips *** Susan Elizabeth Phillips sinh tại Ohio (Hoa Kỳ), tốt nghiệp ngành Nghệ thuật Sân khấu tại Đại học Ohio, rồi dạy kịch nghệ và tiếng Anh tại một trường phổ thông cho đến khi sinh con đầu lòng và trở thành bà nội trợ. Từng cùng bạn thân Claire Lafkowitz hợp tác viết một tiểu thuyết lãng mạn lịch sử, nhưng sau đó Phillips độc lập sáng tác và thu được thành công rực rỡ. Các tiểu thuyết của bà đều nằm trong danh sách bestseller của tờ USA Today và New York Times. Bà là tác giả duy nhất năm lần đoạt giải Sách của năm và chủ nhân giải Thành tựu trọn đời do Hội các nhà văn lãng mạn Mỹ trao. Hiện bà sống tại ngoại ô Chicago với chồng và hai con trai lớn. *** Cal phải nghe rồi, bởi vì anh đã phải chịu mọi thử thách gay go suốt cả tháng qua, cố gắng làm hài lòng cô khi cô trở nên to hơn một ngôi nhà và cáu kỉnh như gấu mẹ. (Ở đây tác giả dùng jump through hoops vừa có nghĩa là chịu đựng thử thách cam go, vừa có nghĩa là nhảy qua những cái vòng, tưởng tượng cảnh Cal nhảy qua mấy cái vòng để làm hài lòng Jane). Thậm chí ngay lúc này, cô muốn đánh mạnh vào đầu anh một cú, chỉ là theo nguyên tắc thông thường thôi. Nhưng cô yêu anh quá nhiều. Thế nên thay vào đó cô bằng lòng với việc rúc vào cánh tay to lớn của anh. Họ ngồi trong khoang sau của chiếc limousine màu đen hướng thẳng lên HeartacheMountain. Hàng cây xếp hàng dọc hai bên đường đã ngả sang màu của tháng Mười: vàng, cam và đỏ. Đây là mùa thu đầu tiên trên núi của cô, và cô nhức nhối muốn được nhìn thấy nó, cũng như nối lại tình thân với những người bạn cô đã quen trước khi họ phải rời Salvation. Cal và gia đình anh đã lôi kéo cô đến mọi buổi lễ quan trọng, và không lâu sau sự thù địch của người dân trong thị trấn đối với cô đã biến mất. Khi chiếc limo tới gần Salvation, sự đoán trước của cô tăng lên. Cal đã thuê chiếc xe này vì chấn thương gân kheo khiến anh phải ngồi ngoài lề sân bóng trong vài tuần tới cũng khiến anh không thể lái xe được, và anh không để cô ngồi sau tay lái cho đến sau khi đứa bé dược sinh. Lưng cô gần như giết chết cô với những cái ghế máy bay khủng khiếp, và cô cảm thấy quá mập mạp để tập trung vào con đường núi. Cô đã có những cơn co thắt Braxton-Hicks từ vài tuần trước đây, những cơn co thắt giả để dẫn tới những cơn co thắt thật, nhưng chúng trở nên tệ hơn bình thường vào chiều nay. (Co thắt Braxton-Hicks, còn gọi là co thắt tử cung giả, thường bắt đầu vào khoảng giữa thai kỳ. Khi các cơn co thắt này gần nhau và kéo dài hơn, nghĩa là sản phụ bắt đầu chuyển dạ.) Anh hôn đỉnh đầu cô. Cô thở dài và rúc vào gần hơn. Nếu cô cần bất cứ cái gì nhiều hơn để khiến cho cô tin vào tình yêu của Cal, mấy tuần qua đã chứng minh nó rồi. Khi tình trạng bầu bí của cô càng đến gần những tuần cuối, cô càng trở nên đòi hỏi, tâm trạng tồi tệ, nói chung là cực kỳ ác ý. Đáp lại, anh trừu mến một cách vô tận và hài hước một cách kinh tởm. Một vài lần cô cố châm vào tính nóng giận của anh chỉ vì thấy thách thức phải làm thế, nhưng thay vì đuổi theo mồi câu, anh cười với cô. Thật dễ dàng cho anh hạnh phúc, cô nghĩ một cách cáu bẳn. Anh chẳng là người phải mang đi mang lại một nghìn pound của một vận động viên Olympic tương lai và người được giải thưởng Nobel. Anh cũng chẳng phải nhét mình vào cái lều quá cỡ với cổ áo ngu ngốc kiểu Peter Pan này; lưng đau nhức; những cơn co thắt kéo dài; và đôi bàn chân cô không được nhìn thấy đã hàng tuần rồi! Mặt khác, anh phải ngồi ngoài trong vài trận đấu tới, thế nên anh không chính xác là ở trên đỉnh thế giới. Tuy nhiên, chấn thương của anh không phải là lý do họ bay về nhà ở Salvation vào giữa mùa giải thế này. Cô với xuống để xoa đùi anh. Nó không phải kheo chân anh, nhưng đó là nơi gần nhất cô có thể an ủi được. Mắt cô ngập đầy những giọt nước đã sẵn sàng tuôn khi cô nhớ lại sự đau đớn anh đã phải chịu hôm Chủ nhật khi gã ngu độn dốt nát đã húc vào anh khi họ đang trong hiệp đấu thứ tư và chỉ còn cách vạch đích 2 yard. Cal đã chơi một trận đấu huy hoàng cho đến lúc đó, và nếu Jane có thể với tay đến cái tên Neanderthal (Người tối cổ) đó sau trận đấu, cô sẽ xé xác hắn ra. ...  Mời các bạn đón đọc Không Của Ai Cả Nhưng Của Em của tác giả Susan Elizabeth Phillips.