Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Mùa Gặt Đỏ

MÙA GẶT ĐỎ - KHO BÁU BỊ ĐÁNH MẤT. Một tay súng đơn độc đi vào trong thị trấn. Anh ta sẽ dọn dẹp nó dù muốn hay là không? "Người chiến đấu với quái vật phải cẩn thận nếu không muốn trở thành một con quái vật khác". Được xuất bản lần đầu vào năm 1929, Mùa gặt đỏ (Red Harvest) là một cuốn tiểu thuyết trinh thám kinh điển của Dashiell Hammett - người được coi là "ông tổ" của thể loại trinh thám đen - hard-boiled. Đây cũng là nguồn cảm hứng cho nhiều bộ phim nổi tiếng, trong đó có Yojimbo (1961), A Fistful of Dollars (1964) và Blood Simple (1984)… Truyện được mở đầu bằng việc Hãng thám tử tư Continental cử một đặc vụ tới Personville - thành phố đang chìm đắm trong bạo lực và sợ hãi dưới sự cai trị của các băng đảng tội phạm và đám quan chức tham nhũng - theo yêu cầu của Donald Willsson, chủ bút tờ báo địa phương và là người đang muốn lấy lại trật tự, công bằng cho thành phố. Nhưng khi nhân viên đặc vụ đó tới nơi thì phát hiện ra khách hàng của mình đã bị bắn chết. Theo như thỏa thuận từ trước, Personville vẫn sẽ được "thanh tẩy", cho dù cái giả phải trả là có thể khiến nó bị nhấn chìm trong biển máu. *** Dashiell Hammett (1894 - 1961) là một trong những tác giả tiên phong của thể loại tiểu thuyết trinh thám đen, với các tác phẩm tiêu biểu như Mùa gặt đỏ (1929), Chim ưng Malta (1930) và Chìa khóa thủy tinh (1931). Những tiểu thuyết của ông thường mang phong cách mạnh mẽ, gay cấn, lối viết ngắn gọn, không hoa mỹ, tiết tấu nhanh, hấp dẫn, đậm mùi súng đạn. Mùa gặt đỏ, tác phẩm đầu tay của Hammett, mang đầy đủ những đặc trưng của thể loại trinh thám đen, đồng thời là hình mẫu cũng như nguồn cảm hứng cho nhiều tác giả trinh thám sau này: một bầu không khí nhớp nhúa ở phần tối của xã hội; một hình ảnh “người hùng không hoàn hảo” với quan niệm về công lý không hoàn toàn đồng nhất với pháp luật. Người thám tử vô danh ấy đến thành phố tội lỗi đó như một lãng khách độc hành thấy việc bất bình ra tay nghĩa hiệp, để rồi bắt đầu “mùa gặt”, mang lại bình yên cho thành phố… *** Review sách Mùa Gặt Đỏ Mùa gặt đỏ được xuất bản lần đầu vào năm 1929, Mùa gặt đỏ (Red Harvest) là một cuốn tiểu thuyết trinh thám kinh điển của Dashiell Hammett - người được coi là "ông tổ" của thể loại trinh thám đen - hard-boiled. Tôi đã khá băn khoăn khi quyết định đọc hay không vì không muốn sa đà liên tục vào trinh thám. Thế nhưng vì một vài lí do, tôi vẫn đọc. Có thể vì thế mà tâm trạng đã không tốt khi tiếp cận cuốn sách. Truyện Trinh thám về những thế lực bên rìa công lý, kiểu mafia, mở đầu bằng cái chết của thân chủ khi chưa kịp làm việc với tay thám tử mà mình mời về. Nhiều nhân vật liên quan, nhiều vấn đề nổi cộm của thế giới thu nhỏ Personville được phơi bày. Theo như thỏa thuận từ trước, Personville vẫn sẽ được "thanh tẩy", cho dù cái giả phải trả là có thể khiến nó bị nhấn chìm trong biển máu.Tiết tấu càng ngày càng nhanh với sự mưu mô, toan tính cả bằng trí tuệ và sự nhanh nhẹn trong việc siết cò với những pha hành động tương đối kịch tính. Truyện thuộc dang trinh thám đen, hành động kịch tính và mang tính giải trí. Cơ bản có lẽ tại tôi không thích văn phong hơi khô của tác giả (hay dịch giả)??, hội thoại, lời văn ngắn gọn, súc tích. Tôi cũng không thích bìa, không thích tên gọi, chỉ an ủi được là việc biên tập đã ổn hơn khá nhiều so với những cuốn sách trước đây của PM. Tạm gác lại, biết đâu một ngày nào đó sẽ có hứng thú đọc lại và biết đâu sẽ thích. Cho tạm 3* vì cuốn sách chưa đủ hấp dẫn khiến tôi bị cuốn hút cũng như tò mò. Hồng Khánh 14.9.2019 *** Người phụ nữ trong bộ đồ xanh và người đàn ông trong bộ đồ xám Lần đầu tiên tôi nghe thấy Personville được đọc lái thành Poisonville là từ một gã tóc đỏ đầu đường xó chợ tên Hickey Dewey tại khách sạn Con Tàu Lớn ở Butte. Hắn cũng phát âm shirt thành shoit. Lúc đó tôi không nghĩ ngợi gì về cách hắn đọc tên thành phố, nhưng rồi tôi thấy những người đã phát âm đúng chữ “r” nhưng vẫn đọc sai như vậy. Tôi chỉ cho rằng việc đám trộm cướp dùng từ richardsnary thay cho dictionary thật quá sức nhạt nhẽo. Vài năm sau, khi đến Personville, tôi mới hiểu rõ hơn. Tôi gọi tới tờ Herald từ một bốt điện thoại tại ga, yêu cầu được nói chuyện với Donald Willsson và sau đó bảo anh ta rằng tôi đã tới. “Anh có thể tới nhà tôi lúc mười giờ tối nay được không?” Anh ta nói, giọng quả quyết. “Số 2101 đại lộ Mountain. Bắt một chiếc xe điện, xuống ở chỗ đại lộ Laurel, rồi đi bộ theo hướng Tây hai dãy nhà.” Tôi hứa sẽ có mặt. Rồi tôi tới khách sạn Great Western, vứt mấy chiếc túi xuống và ra ngoài ngắm nhìn thành phố. Thành phố này không đẹp. Hầu hết chủ thầu xây dựng ở đây đều có gu thẩm mỹ lòe loẹt. Có thể ban đầu họ đã đạt được mục đích. Rồi những lò luyện kim mọc lên sừng sững bên một ngọn núi ảm đạm ở phía Nam đã hun mọi thứ trong lớp khói màu vàng xỉn. Thế là chúng ta có một thành phố xấu xí với bốn mươi ngàn dân, nằm trong một khe hẻm xấu xí giữa hai ngọn núi xấu xí bị ô nhiễm vì sự khai mỏ. Bao trùm lấy nó là bầu không khí ám đầy bụi, như thể vừa chui ra từ ống khói của lò luyện kim. Người cảnh sát đầu tiên mà tôi gặp rõ ràng cần phải cạo râu. Người thứ hai có vài chiếc cúc bị đứt trên bộ đồng phục tồi tàn. Người thứ ba đứng ở giữa giao lộ chính của thành phố, giữa Broadway và phố Union, với một điếu xì gà trên miệng. Sau đó thì tôi không để ý đến họ nữa. Vào lúc chín giờ rưỡi, tôi bắt một chiếc xe điện và đi theo hướng mà Donald Willsson đã chỉ. Nó đưa tôi tới một ngôi nhà có hàng rào bao quanh bãi cỏ. Người giúp việc ra mở cửa bảo tôi rằng ông Willsson không có nhà. Trong khi tôi đang giải thích rằng mình có hẹn với anh ta thì một người phụ nữ tóc vàng mảnh khảnh, khoảng dưới ba mươi tuổi, bận bộ đồ vải crepe màu xanh bước tới. Ngay cả khi cười, sự lạnh nhạt vẫn ẩn hiện trong đôi mắt xanh của cô ta. Tôi giải thích lại một lần nữa. “Chồng tôi hiện không có nhà.” Âm giọng địa phương mờ nhạt khiến phát âm của cô ta hơi nhịu. “Nhưng nếu đã có hẹn thì chắc anh ấy sẽ về sớm thôi.” Cô ta dẫn tôi lên tầng, tới một căn phòng nhìn về hướng đại lộ Laurel. Căn phòng được sơn hai màu nâu đỏ và có rất nhiều sách. Chúng tôi ngồi xuống chiếc sofa da, nửa quay về phía người đối diện, nửa hướng về phía lò sưởi đang đỏ than, và cô ta bắt đầu tìm hiểu về chuyện giữa tôi và chồng cô ta. “Anh sống ở Personville à?” Cô ta hỏi trước. “Không. San Francisco.” “Nhưng đây không phải lần đầu anh tới Personville, phải vậy không?” “Đây là lần đầu tiên.” “Thật ư? Anh nghĩ sao về thành phố này?” “Tôi chưa quan sát đủ để có thể đưa ra ý kiến.” Đó là một lời nói dối. Tôi đã thấy đủ. “Tôi vừa mới tới lúc chiều.” Sự tò mò biến mất khỏi đôi mắt lấp lánh của cô ta. Rồi cô ta nói: “Anh sẽ thấy rằng đây là một chốn ảm đạm.” Rồi cô ta tiếp tục soi mói, “Tôi cho rằng tất cả các thành phố mỏ đều giống như thế này. Anh có tham gia vào ngành khai mỏ không?” “Hiện tại thì không.” Cô ta nhìn đồng hồ trên mặt lò sưởi và nói: “Donald thật thiếu chu đáo khi hẹn anh tới rồi lại để anh ngồi đợi, giữa đêm hôm khuya khoắt thế này. Đã quá giờ làm việc lâu quá rồi.” Tôi đáp rằng không sao. “Có lẽ đây không phải là vấn đề công việc.” Cô ta bóng gió. Tôi không trả lời. Cô ta cười, tiếng cười cộc lốc và có phần chói tai. “Thường thì tôi không tọc mạch thế này đâu”, cô ta vui vẻ nói, “nhưng anh quá kín đáo đến mức tôi không thể không tò mò. Anh không phải dân buôn rượu lậu đấy chứ? Donald đổi người rất thường xuyên.” Tôi để cô ta tự suy diễn và nở một nụ cười. Chuông điện thoại reo dưới tầng. Cô Willsson duỗi đôi chân đi dép lê xanh về phía lò sưởi đang đỏ than và vờ như không nghe thấy gì. Tôi không hiểu tại sao cô ta nghĩ thế là cần thiết. Cô ta bắt đầu, “Tôi sợ rằng mình sẽ ph…”, và dừng lại, nhìn về phía cô hầu đứng bên cửa. Người giúp việc nói rằng đầu dây bên kia muốn gặp cô Willsson. Cô ta cáo lỗi rồi ra ngoài. Cô ta không đi xuống tầng dưới mà nói qua máy điện thoại kéo dài, trong tầm nghe của tôi. Tôi nghe được, “Tôi, Willsson nghe đây… Vâng… Xin lỗi?… Ai đấy?… Anh có thể nói to lên không?… Gì cơ?… Vâng… Vâng… Ai đó?… A lô! A lô!” Rồi có tiếng dập máy và tiếng bước chân của cô ta vang lên trên hành lang. Tôi châm một điếu thuốc và nhìn chằm chằm vào nó cho đến khi nghe thấy tiếng bước chân của cô ta dưới thềm. Rồi tôi tới bên cửa sổ, vén rèm lên, nhìn xuống đại lộ Laurel và thấy phía sau ngôi nhà là một nhà để xe màu trắng. Ngay sau đó, một người phụ nữ mảnh mai đội mũ và bận áo khoác tối màu vội vã đi ra chỗ nhà để xe. Đó là cô Willsson. Cô ta lái chiếc Buick hai chỗ đi. Tôi quay lại ghế và chờ đợi. Bốn mươi lăm phút trôi qua. Lúc mười một giờ năm phút, tiếng phanh ô tô rít lên bên ngoài. Hai phút sau, cô Willsson bước vào phòng. Cô ta cởi mũ và áo khoác ra. Mặt cô ta trắng bệch, đôi mắt ủ dột. “Tôi vô cùng xin lỗi”, cô ta nói với khuôn miệng mím chặt chuyển động nhát gừng, “anh đã mất công ngồi đợi vô ích rồi. Tối nay chồng tôi sẽ không về nhà.” Tôi nói rằng tôi sẽ liên lạc với anh ta tại Herald sáng mai. Tôi đi về và tự hỏi tại sao mũi dép bên trái của cô ta lại dính thứ gì đó sẫm màu và ướt giống như máu vậy. • • • Tôi đi bộ đến Broadway và bắt một chiếc xe điện. Qua ba dãy nhà lớn ở phía Bắc khách sạn, tôi xuống xe để xem đám đông đang làm gì quanh lối vào Tòa thị chính. Tầm ba, bốn mươi người đàn ông và lác đác vài phụ nữ đang đứng trên vỉa hè, nhìn vào một cánh cửa gắn biển Sở Cảnh sát. Đám đông bao gồm những người công nhân mỏ và lò nung vẫn mặc nguyên đồ bảo hộ, những anh chàng mặc đồ lòe loẹt vừa bước ra từ tiệm bi-a và vũ trường, những gã chải chuốt với khuôn mặt nhợt nhạt, những người mang vẻ ngoài trì độn của một ông chồng đứng đắn, vài người phụ nữ cũng trì độn và đứng đắn y như vậy cùng vài ả gái điếm. Đến bên rìa đám đông, tôi dừng lại cạnh một người đàn ông nghiêm nghị mặc bộ đồ xám nhàu nhĩ. Khuôn mặt và đôi môi dày của anh ta trông cũng xám xịt, mặc dù nhìn qua anh ta không quá ba mươi tuổi. Khuôn mặt anh ta rộng, đường nét thô kệch và sáng sủa. Anh ta đeo một chiếc cà vạt đỏ thắt kiểu Windsor trên chiếc áo sơ mi bằng vải flannel màu xám. “Chuyện gì ồn ào vậy?” Tôi hỏi anh ta. Anh ta cẩn thận nhìn tôi trước khi trả lời, như thế muốn chắc chắn rằng thông tin sẽ được gửi đi một cách an toàn. Mắt anh ta cũng xám như bộ đồ, nhưng trông chúng không hề mềm như thế. “Don Willsson đã đến ngồi bên tay phải của Chúa, nếu Chúa không ngại nhìn vào những vết đạn.” “Ai đã bắn anh ta?” Tôi hỏi. Người đàn ông gãi đầu và đáp lại: “Một kẻ nào đó mang súng.” Tôi muốn thông tin, chứ không phải sự hóm hỉnh. Tôi sẽ thử vận may với một người khác trong đám đông nếu gã đeo cà vạt đỏ này không khiến tôi hứng thú. Tôi bảo: “Tôi mới đến thành phố. Cứ diễn vở Punch và Judy* với tôi đi. Người lạ thì phải chịu thôi.” “Quý ngài Donald Willsson, chủ biên của tờ Herald Buổi sáng và Herald Buổi tối, mới được tìm thấy trên phố Hurricane, bị một kẻ vô danh nào đó bắn chết.” Anh ta nói một lèo bằng giọng đều đều. “Hết cảm thấy bị tổn thương rồi chứ?” “Cảm ơn.” Tôi đưa tay ra và chạm vào đầu chiếc cà vạt thắt lỏng của anh ta. “Có ý nghĩa gì không? Hay chỉ đeo vậy thôi?” “Tôi là Bill Quint.” “Hóa ra là anh!” Tôi kêu lên, giả bộ như mình đã biết cái tên này. “Chúa ơi, tôi rất mừng được gặp anh!” Tôi rút chiếc ví chứa danh thiếp ra và lục lọi trong đống danh thiếp mà tôi đã kiếm được bằng nhiều cách, ở nhiều nơi khác nhau. Tấm màu đỏ là cái tôi muốn tìm. Trên đó ghi tôi là Henry F. Neill, thủy thủ được đào tạo bài bản, thành viên cấp cao của Hiệp hội Công nhân Công nghiệp Thế giới*. Không một chữ nào là sự thật. Tôi đưa tấm danh thiếp cho Bill Quint. Anh ta đọc kỹ nó, cả mặt trước lẫn mặt sau, rồi trả lại và nhìn tôi từ đầu đến chân một cách ngờ vực. “Chẳng có gì để nhìn nữa đâu.” Anh ta nói. “Anh định đi đâu?” “Đâu cũng được.” Chúng tôi đi cạnh nhau, rẽ vào sau góc phố một cách bâng quơ. “Điều gì đã đưa anh tới đây, nếu anh là một thủy thủ?” Anh ta chợt hỏi. “Sao anh lại nghĩ vậy?” “Có tấm danh thiếp đó.” “Tôi còn có một cái ghi rằng mình là tiều phu nữa cơ.” Tôi nói. “Nếu anh muốn tôi trở thành thợ mỏ, tôi sẽ làm một cái ngay trong ngày mai.” “Anh không kiếm được đâu. Tôi điều hành ở đây.” “Thế nếu anh nhận được điện báo từ Chi* thì sao?” Tôi hỏi. “Mặc xác Chi! Tôi điều hành ở đây.” Anh ta hất đầu về phía nhà hàng và hỏi, “Uống gì không?” “Kiếm được không đã.*” Chúng tôi bước vào nhà hàng, leo lên các bậc thang và bước vào một căn phòng nhỏ với một dãy bàn dài trên tầng hai. Bill Quint gật đầu và nói, “Hullo!” với vài cậu trai và cô gái, rồi đưa tôi vào một trong nhũng căn buồng có màn che màu xanh lá nằm thẳng hàng dọc bức tường đối diện quầy bar. Chúng tôi dành hai giờ để uống rượu whiskey và nói chuyện. Người đàn ông trong bộ đồ xám cho rằng tôi chẳng liên quan gì tới tấm danh thiếp mà tôi vừa cho anh ta xem, cũng như những danh tính khác mà tôi đã đề cập. Anh ta cũng không cho rằng tôi là một thành viên cấp cao của Hiệp hội. Với vai trò là thủ lĩnh quan trọng của IWW ở Personville, anh ta cho rằng nhiệm vụ của mình là phải tìm ra sự thật về tôi, đồng thời không để mình bị dò hỏi ngược lại trong khi đang làm việc đó. Với tôi thế cũng chẳng sao. Tôi hứng thú với các vấn đề ở Personville. Anh ta thì không bận tâm tới chuyện đó mà chỉ tập trung vào tấm thẻ đỏ của tôi. Và đây là những gì tôi moi được từ anh ta: Trong vòng bốn mươi năm, Elihu Willsson - cha của người đàn ông bị giết đêm qua - đã sở hữu trái tim, linh hồn cũng như xác thịt của Personville. Lão là chủ tịch và cổ đông lớn nhất của Tập đoàn Khai mỏ Personville cũng như ngân hàng First National, là chủ sở hữu của tờ Herald Buổi sáng và Herald Buổi tối, những tờ báo duy nhất của thành phố, và đồng sở hữu gần như tất cả các doanh nghiệp quan trọng khác. Cùng với khối tài sản đó, lão cũng nắm trong tay một Thượng nghị sĩ Mỹ, vài dân biểu, thống đốc bang, thị trưởng thành phố và hầu hết các cơ quan lập pháp của bang. Elihu Willsson là Personville, và gần như là toàn bộ bang. Hồi chiến tranh, IWW - khi đó đang lan rộng về phía Tây - đã giúp đỡ Tập đoàn Khai mỏ Personville. Nói giúp đỡ là không hoàn toàn chính xác. Họ đã sử dụng sức mạnh để đòi hỏi quyền lợi. Elihu già buộc phải chấp nhận và nín nhịn chờ thời. Chuyện xảy ra vào năm 1921. Việc kinh doanh gặp khó khăn. Elihu già không quan tâm xem liệu có phải đóng cửa tạm thời hay không. Lão xé hết những bản thỏa thuận trước đó và đá đám công nhân trở lại tình trạng khó khăn trước thời chiến. Tất nhiên là các công nhân đã yêu cầu sự giúp đõ. Bill Quint được trụ sở chính của IWW ở Chicago cử đến để giải quyết tình hình. Anh ta phản đối bạo loạn hay đình công. Anh ta khuyên họ hãy sử dụng một mánh cũ, trở lại làm việc và phá hoại từ bên trong. Nhưng điều đó là không đủ với các công nhân của Personville. Họ muốn tên mình được biết đến, muốn tạo ra lịch sử. Vậy là bạo loạn nổ ra. Nó kéo dài tám tháng. Cả hai bên đều tổn thất nặng nề. Chính các thành viên của Hiệp hội cũng phải đổ máu. Elihu già đã thuê các tay súng, lực lượng chống bạo loạn, vệ binh quốc gia và thậm chí là cả quân đội để chiến đấu cho mình. Khi đám tàn quân cuối cùng bị tiêu diệt, công đoàn của Personville chỉ còn là một xác pháo nổ tan tành. Nhưng, Bill Quint nói, Elihu già không biết gì về lịch sử nước Ý. Lão thắng, nhưng đã đánh mất quyền lực ở thành phố và tiểu bang. Để đánh bại đám thợ mỏ, lão đã để cho đám lính đánh thuê được tự do lộng hành. Khi cuộc chiến kết thúc, lão không thể loại bỏ chúng. Lão đã trao thành phố vào tay chúng và không đủ mạnh để lấy lại. Personville là một miếng mồi ngon và chúng đã chiếm lấy nó. Chúng giúp lão thắng cuộc chiến, và chiến lợi phẩm chúng yêu cầu là thành phố. Lão không thể công khai chống lại chúng. Chúng quá mạnh so với lão. Lão phải chịu trách nhiệm với những gì chúng đã làm trong cuộc bạo loạn. Khi câu chuyện tới được đó thì cả Bill Quint và tôi đều đã chếnh choáng. Anh ta bỏ kính xuống, gạt mớ tóc lòa xòa trước mặt và đưa câu chuyện về thì hiện tại: “Giờ kẻ mạnh nhất trong số chúng có lẽ là tay Pete Người Phần Lan. Thứ chúng ta đang uống đây cũng thuộc sở hữu của hắn. Rồi đến Lew Yard. Hắn có một tiệm cho vay trên phố Parker, chuyên thu tiền bảo lãnh và dính líu tới hầu hết các sự vụ nóng sốt của thành phố - đó là theo những gì người ta nói, và khá thân với Noonan - cảnh sát trưởng. Tay Max Thaler - biệt danh Kẻ Thầm Thì - cũng có rất nhiều bạn. Một gã da màu lươn lẹo có vấn đề ở cổ họng. Không thể nói được. Một tay cờ bạc. Ba kẻ đó, cùng với Noonan, đã giúp Elihu điều hành thành phố của lão - giúp nhiều hơn những gì lão muốn. Nhưng lão buộc phải hợp tác với chúng, hoặc là…” “Người bị bắn tối nay - con trai của Elihu - vị trí của anh ta là ở đâu?” Tôi hỏi. “Ông già đặt đâu thì gã ngồi đó, lúc nào cũng vậy.” “Ý anh là lão già đã khiến anh ta…?” “Có thể, nhưng tôi không cho là vậy. Tay Don đó chỉ vừa mới về nhà và bắt đầu điều hành tờ báo cho lão già. Lão quỷ già này, sắp xuống mồ đến nơi mà vẫn không để cho ai tóm đuôi mà không cắn lại. Nhưng lão phải cẩn trọng với đám kia. Lão đã mang con trai và người vợ quốc tịch Pháp của gã từ Paris về và sử dụng gã như một con khỉ trong rạp xiếc - một chiêu trò chết tiệt của một người cha. Don bắt đầu tiến hành cải tổ tờ báo. Dọn sạch sự tham nhũng và thối nát - đồng nghĩa với việc loại bỏ cả Pete, Lew và Kẻ Thầm Thì, đấy là nếu nó thành công. Anh hiểu rồi chứ? Nước cờ của lão già đã khiến chúng lâm vào thế bị động. Tôi đoán chúng chán chuyện đó rồi.” “Có gì đó sai sai trong suy đoán của anh.” Tôi nói. “Cái chốn đê tiện này còn cả đống thứ sai hơn nhiều. Uống đủ rồi chứ?” Tôi nói đã đủ. Chúng tôi xuống phố. Bill Quint bảo rằng anh ta đang ở trong khách sạn Miners trên đường Forest. Đường về của anh ta đi qua khách sạn của tôi, vậy nên chúng tôi đi cùng nhau. Có một gã cao lớn trông giống một tay cớm mặc thường phục đứng trước khách sạn của tôi, đang nói chuyện với một gã ngồi trong chiếc Stutz du lịch. “Trong xe là Kẻ Thầm Thì.” Bill Quint bảo tôi. Tôi bỏ qua người đàn ông lực lưỡng và thấy khuôn mặt trông nghiêng của Thaler. Hắn còn trẻ, da sậm và nhỏ con, với gương mặt đẹp như tượng tạc. “Hắn trông dễ thương đó.” Tôi nói. “Ừ hứ”, người đàn ông mặc đồ xám đồng ý, “và thuốc nổ cũng thế.” Mời các bạn đón đọc Mùa Gặt Đỏ của tác giả Dashiell Hammett & Nguyệt Minh (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Cái Kết Đắng - Ruth Rendell
Cơn ác mộng kinh hoàng nhất của một người cha. Đó là khi bình minh dần hé rạng và cô con gái của George Marshalson vẫn chưa trở về nhà. Nhưng ông không biết được rằng cô gái sẽ chẳng bao giờ có thể trở về nữa - rằng thi thể của cô đang nằm sóng soài phía bên ngoài ngôi nhà cách chưa đầy một mét. Hay biết rằng ông sẽ là người đầu tiên khám phá ra sự thật khủng khiếp đó. Chánh thanh tra Wexford chưa từng điều tra một vụ án nào mà người cha lại chính là người phát hiện ra thi thể con gái mình. Anh cũng có con gái nhưng anh không thể tưởng tượng được bản thân sẽ thế nào nếu lâm vào hoàn cảnh của George Marshalson. Nhặt nhạnh tìm tòi trong số những mảnh ghép của gia đình vốn đã rạn nứt đó, Wexford đã khám phá ra những bí mật đáng kinh ngạc về lối sống của cô gái xấu số - nạn nhân chắc chắn có liên quan tới một vụ án trước đó - Wexford phải tạm gác những vấn đề cá nhân trong gia đình mình sang một bên để giải quyết vụ án đầy cảm động đồng thời nhức nhối nhất trong sự nghiệp của anh… *** Ruth Rendell sinh năm 1930 tại South Woodford, London. Sau khi tốt nghiệp trường trung học nữ sinh tại Loughton, bà trở thành cây bút chủ đạo cho báo Chigwell Times, một tờ báo địa phương của Essex. Bà được phong Sĩ quan cao cấp Đế chế Anh (CBE) năm 1996 và tước vị suốt đời Nữ Nam tước Rendell của Babergh, Aldeburgh ở Suffolk, vào ngày 4 tháng 10 năm 1997. Bà là một thành viên của Thượng nghị viện Anh. Năm 1998, Rendell có tên trong danh sách những nhà quyên góp tài chính cá nhân lớn nhất trong Đảng Lao động. Bà đã đưa dự thảo luật ra trước nghị viện, mà sau này đã trở thành Luật chính thức vào năm 2003. Ruth Rendell đã được trao tặng rất nhiều giải thưởng, bao gồm giải Dagger bạc, vàng và kim cương Cartier từ Hiệp hội nhà văn trinh thám, ba giải Edgar từ tổ chức các tác giả viết truyện trinh thám Mỹ, giải Cuốn sách quốc gia của Hội đồng nghệ thuật, và giải thưởng văn học của tạp chí Sunday Times. Rất nhiều tác phẩm của bà đã được chuyển thể thành phim hoặc kịch bản truyền hình. Bà cũng là nhà bảo trợ cho tổ chức từ thiện Kids for Kids nhằm giúp đỡ trẻ em ở những miền quê của Darfur. Sáng tạo nổi tiếng nhất của Rendell, Chánh thanh tra Wexford, là một anh hùng giữa những câu chuyện về cảnh sát phổ biến đã được chuyển thể thành phim. Series mở đầu bằng tác phẩm From Doon with Death (1964). Rendell từng nói rằng nhân vật Wexford được sáng tạo dựa trên chính bản thân bà. Series gồm 4 tác phẩm và vẫn còn dang dở, gắn liền với sự nghiệp sáng tác của Ruth Rendell cho đến khi bà qua đời vào ngày thàng 5 năm 2015. End In Tears (Cái Kết Đắng - 2005) là cuốn tiểu thuyết đầu tiên trong series về Chánh thanh tra Wexford; tác phẩm đã đoạt giải Tiểu thuyết trinh thám của năm do Theakston's Old Peculier trao tặng. Ngoài ra, Rendell còn viết tiểu thuyết tâm lý tội phạm khai thác những chủ đề như ám ảnh về tình yêu, tác động của cơ hội và sự trùng hợp ngẫu nhiên lẫn nhân cách của tội phạm. Các tác phẩm có thể kể đến như A Judgement in Stone, The Face of Trespass, Live Flesh… Rendell còn tạo ra một thương hiệu truyện trinh thám hết sức riêng biệt dưới bút danh Barbara Vine, đi sâu vào việc khám phá tiền sử tâm lý của những kẻ tội phạm và nạn nhân của bọn chúng, rất nhiều trong số đó chính là những con người khổ sở hoặc bị xã hội cô lập; hiểu lầm giữa người với người; cũng như hậu quả khôn lường của những bí mật gia đình và tội ác bị bị che giấu. *** Nhấc ba lô ra khỏi ghế ngồi, hắn cảm thấy nó có vẻ nặng hơn so với lúc đầu để vào trong xe. Hắn đặt nó xuống một thềm dương xỉ mềm. Sau đó hắn trở lại ghế lái và lái chiếc xe vào sâu trong một cái hang được tạo ra bởi những bụi táo gai, những bụi mâm xôi và những dây hoa bia vắt qua tất cả mọi thứ trong khu rừng này. Đang là cuối tháng Sáu và thảm thực vật ở đây rất um tùm, rậm rạp. Xuống xe và lùi lại để quan sát một lượt, hắn khó có thể nhìn thấy chiếc xe nữa. Có lẽ hắn chỉ nhìn thấy nó bởi vì hắn biết có nó ở đó. Không ai có thể nhận ra nó cả. Hắn cúi xuống, kéo ba lô lên vai của mình và từ từ đứng thẳng lên. Động tác này làm hắn nhớ đến một điều gì đó và khựng lại một chút khi nhớ ra đấy là gì: Nhấc đứa con trai bé nhỏ của mình ngồi lên vai. Dường như đã một trăm năm trôi qua. Chiếc ba lô nhẹ hơn thằng bé, nhưng hắn có cảm giác như nó nặng nề hơn. Hắn lo sợ rằng nếu hắn đứng thẳng lên, chiếc ba lô sẽ kéo giật về đằng sau và làm gẫy xương sống của mình. Dĩ nhiên, điều đó chỉ là cảm giác của hắn. Chẳng hề gì, hắn sẽ không đứng thẳng, thậm chí sẽ không thử. Thay vào đó, hắn cúi xuống, gần như gập đôi người lại. Không xa lắm. Hắn có thể đi bộ như thế này suốt hai trăm mét[1] để đến cây cầu. Bất kỳ ai nhìn thấy hắn từ xa trong thứ ánh sáng nửa vời thế này đều sẽ nghĩ hắn là một người gù. ... Mời các bạn đón đọc Cái Kết Đắng của tác giả Ruth Rendell.
Truy Lùng Tên Sát Nhân - Jerry Cotton
Jerry Cotton là series truyện trinh thám hình sự tiếng Đức thành công nhất từ trước đến nay, do NXB Bastei-Verlag in và phát hành thường xuyên dưới dạng các tập truyện khổ A5. Tập truyện đầu tiên của series dưới nhan đề "Tôi truy tìm ông trùm ganster (Ich suchte den Gangster-Chef) ra mắt độc giả lần đầu vào năm 1954. Hiện giờ tập truyện Jerry Cotton số 3040 đang được phát hành. Toàn bộ số ấn phẩm của series đã được in là khoảng 850 triệu bản!. Delfried Kaufmann là người đầu tiên chủ trương phát hành và cũng là một trong các tác giả của series truyện. Jerry Cotton không phải là tên thật mà chỉ là nghệ danh chung cho hơn 100 tác giả (có ước lượng lên tới 150 - 180 tác giả) của series truyện trinh thám hình sự này. Jerry Cotton là một cảnh sát nguyện cống hiến cả đời mình cho cuộc chiến chống các băng đảng gangster. Với lòng dũng cảm và trí thông minh, anh đã chiếm trọn trái tim hàng triệu độc giả trên thế giới. Những tác giả đã từng tham gia viết các tập truyện này (Nguồn wiki): Heinz Werner Höber Thomas Jeier (bút danh Christopher Ross) Rolf Kalmuczak (bút danh Stefan Wolf,  tác giả của bộ truyện"TKKG") Walter Appel Martin Barkawitz Horst Friedrichs Friedrich Jankuba Helmut Rellergert (bút danh Jason Dark, tác giả của bộ truyện "Geisterjäger John Sinclair") Friedrich Tenkrat Manfred Weinland Một số tác phẩm của bộ truyện đã được xuất bản tại Việt Nam: Những Phiên Bản Phần Mềm Internet-Gangster - 2001 Làn Váy Mini Bên chiếc Xe Sang Trọng - 2001 Lũ chuột cống vùng Bronx - 2003, NXB Văn học xuất bản Cuộc Tình Cuối Của Chàng Cảnh Sát - 2005 Lương Tâm Và Tội Ác (Hêrôin Trong Nhà Trắng) - Hồ Sơ Hình Sự - 2005 Tính Nhầm Luật Chơi - Hồ Sơ Hình Sự - 2005 Cơn bão - 1997 Truy lùng tên sát nhân - 1998, NXB Văn học xuất bản Những đứa con của bố già - 1999, NXB Trẻ xuất bản Con tin tình nguyện - 1999 Địa ngục trên đỉnh núi - 2000 Viên cảnh sát báo thù - 2000 Ngàn dặm xa lộ hiểm nguy - 2000 Trò chơi đã hết - 2000 Khi sát thủ là hai người đẹp - 2001 Người đàn bà bí hiểm - 2001 Con gái cảnh sát sa lưới Amphetamin - 2001 Vụ tống tiền bí hiểm - 2001 Vị đắng Crack ma túy quỷ dữ - 2002 Tiếng kêu cứu giữa nửa đêm - 2002 Phi trường Kennedy ba giờ sáng - 2002 Biệt thự con tin - 2002 30 giờ và gã giết thuê - 2002 Một kịch bản đầy án mạng - 2002 Máu đỏ thuốc phiện trắng - 2003 Những nụ hoa Bangkok - 2003 Đường dây "gái gọi" - 2003 Sòng bài đặt cược - 2003 Sát thủ số 1 của công ty cổ phần giết mướn - 2003 ... *** ...Sương mù phủ trên mặt Đại Tây Dương, dày như một biển bông xám trắng và chỉ loãng ra thành những vệt hơi nước nhợt nhạt bên bờ. Tiếng còi tàu trầm đục vẳng về từ rất xa. Tiếng nhạc rên rỉ phát ra từ ngôi nhà xây trước khách sạn, điếm gặp gỡ hàng đêm của đám trai trẻ trong vùng, điểm hội tụ của những phút giây nhảy nhót và vui nhộn. Wilbur Staten giơ tay quệt mồ hôi lạnh trên trán. Những ngón tay run run khi anh cầm lấy va-li. Chốc chốc ánh mắt anh ta lại liếc thật nhanh về hướng cửa sổ. Một ánh mắt đầy kinh hãi. Wilbur Staten cố gắng làm chủ nỗi sợ đang dâng đầy trong tâm khảm, nhưng chỉ uổng công. Có thể chúng không tới. Có thể chúng chưa phát hiện ra sự biến mất của anh. Có thể… Ở đâu đó có ai khẽ cất tiếng hát. Wilbur Staten giật mình. Dạ dày anh thít chặt. Người đàn ông đờ đẫn đứng lại, chỉ trong một giây đồng hồ toàn thân đã ướt đẫm mồ hôi, anh ta lắng nghe bầu trời đêm bên ngoài. Tiếng hát ngưng một thoáng, rồi lại cất lên. Wilbur Staten biết giai điệu đó: “Song of Death” (Bài ca cái chết). Wilbur Staten biết cái giai điệu đang khiến cho đám trẻ con phát điên phát khùng lên trong các sàn nhảy từ vài tuần nay, anh thuộc cả lời bài hát quái gở. Và anh ta biết cả người đàn ông đang lẩm nhẩm bài hát đó một mình, lẩm nhẩm bất cứ nơi nào gã xuất hiện một cách không ngơi nghỉ, không mệt mỏi như muốn dứt đứt tới sợi dây thần kinh cuối cùng của người nghe. Gã đến rồi. Gã đã nhận được lệnh, đã tìm dấu vết và sẽ thực hiện công việc của gã. ... Mời các bạn đón đọc Truy Lùng Tên Sát Nhân của tác giả Jerry Cotton.
Vị Đắng Crack & Ma Túy Quỷ Dữ - Jerry Cotton
Người ta gọi crack là quỷ dữ bởi nó đã biến không biết bao nhiêu người dùng cùng kẻ bán thật sự thành quỷ dữ. Làn sóng crack dìm New York vào một “cuộc chiến phố phường” trực diện và đẫm máu. Cái chết oan ức của một cảnh sát viên đẩy đội quân tổng hợp chống crack vào một cuộc ra quân ráo riết… Jerry Cotton là series truyện trinh thám hình sự tiếng Đức thành công nhất từ trước đến nay, do NXB Bastei-Verlag in và phát hành thường xuyên dưới dạng các tập truyện khổ A5. Tập truyện đầu tiên của series dưới nhan đề "Tôi truy tìm ông trùm ganster (Ich suchte den Gangster-Chef) ra mắt độc giả lần đầu vào năm 1954. Hiện giờ tập truyện Jerry Cotton số 3040 đang được phát hành. Toàn bộ số ấn phẩm của series đã được in là khoảng 850 triệu bản!. Delfried Kaufmann là người đầu tiên chủ trương phát hành và cũng là một trong các tác giả của series truyện. Jerry Cotton không phải là tên thật mà chỉ là nghệ danh chung cho hơn 100 tác giả (có ước lượng lên tới 150 - 180 tác giả) của series truyện trinh thám hình sự này. Jerry Cotton là một cảnh sát nguyện cống hiến cả đời mình cho cuộc chiến chống các băng đảng gangster. Với lòng dũng cảm và trí thông minh, anh đã chiếm trọn trái tim hàng triệu độc giả trên thế giới. Những tác giả đã từng tham gia viết các tập truyện này (Nguồn wiki): Heinz Werner Höber Thomas Jeier (bút danh Christopher Ross) Rolf Kalmuczak (bút danh Stefan Wolf,  tác giả của bộ truyện"TKKG") Walter Appel Martin Barkawitz Horst Friedrichs Friedrich Jankuba Helmut Rellergert (bút danh Jason Dark, tác giả của bộ truyện "Geisterjäger John Sinclair") Friedrich Tenkrat Manfred Weinland Một số tác phẩm của bộ truyện đã được xuất bản tại Việt Nam: Những Phiên Bản Phần Mềm Internet-Gangster - 2001 Làn Váy Mini Bên chiếc Xe Sang Trọng - 2001 Lũ chuột cống vùng Bronx - 2003, NXB Văn học xuất bản Cuộc Tình Cuối Của Chàng Cảnh Sát - 2005 Lương Tâm Và Tội Ác (Hêrôin Trong Nhà Trắng) - Hồ Sơ Hình Sự - 2005 Tính Nhầm Luật Chơi - Hồ Sơ Hình Sự - 2005 Cơn bão - 1997 Truy lùng tên sát nhân - 1998, NXB Văn học xuất bản Những đứa con của bố già - 1999, NXB Trẻ xuất bản Con tin tình nguyện - 1999 Địa ngục trên đỉnh núi - 2000 Viên cảnh sát báo thù - 2000 Ngàn dặm xa lộ hiểm nguy - 2000 Trò chơi đã hết - 2000 Khi sát thủ là hai người đẹp - 2001 Người đàn bà bí hiểm - 2001 Con gái cảnh sát sa lưới Amphetamin - 2001 Vụ tống tiền bí hiểm - 2001 Vị đắng Crack ma túy quỷ dữ - 2002 Tiếng kêu cứu giữa nửa đêm - 2002 Phi trường Kennedy ba giờ sáng - 2002 Biệt thự con tin - 2002 30 giờ và gã giết thuê - 2002 Một kịch bản đầy án mạng - 2002 Máu đỏ thuốc phiện trắng - 2003 Những nụ hoa Bangkok - 2003 Đường dây "gái gọi" - 2003 Sòng bài đặt cược - 2003 Sát thủ số 1 của công ty cổ phần giết mướn - 2003 ... *** ...Mùi nấu nướng lưu cữu suốt 40 năm xông nồng. Những mảnh giấy dán tường rách tươm đua nhau cùng lớp vữa trần thở ra đủ mùi khói thuốc, từ loại Lucky-Strike của ngày hậu chiến cho tới thứ Marlboro thời nay. Vô số mùi nước hoa đàn bà cùng nước hoa cạo râu bổ sung thêm cho danh sách “hương vị” của ngôi nhà. Người ta ngửi rõ mùi chua của những con mèo không được dạy bảo tử tế. Dải hành lang nằm trước mặt chúng tôi phô bày vẻ tởm lợm như khu ăn uống ngập mùi thịt thừa của cả một bầy sư tử. Một dãy cửa phía trái, một dãy cửa phía phải. Mục đích của chúng tôi là cánh cửa cuối cùng thẳng chính giữa hành lang. Norman Grand coi lần ra quân này là nhiệm vụ của riêng anh. Có lẽ anh đang muốn được ngài thị trưởng Ed Koch tận tay trao tặng huy chương. Ed Koch đã đích thân tuyên chiến một mất một còn với đám bá tước thuốc phiện và nền tảng cho lời tuyên chiến đó là sự ủng hộ hết mình của tất cả chúng tôi: Cảnh sát thành phố, đội đặc nhiệm chống thuốc phiện, FBI. Có lẽ ngài thị trưởng không khỏi thầm ước ao có thêm vài đội quân thiện xạ nữa để tung vào “cuộc chiến phố phường” New York. Chờ tới khi chúng tôi tụ tập đầy đủ ở khoảng đầu cầu thang, Norman Grand giơ tay ra hiệu. Chúng tôi có tất cả 7 người. Norman Grand là người đầu tiên nhào tới. ... Mời các bạn đón đọc hai tập truyện trong series, Vị Đắng Crack & Ma Túy Quỷ Dữ của tác giả Jerry Cotton.
Hêrôin Trong Nhà Trắng - Jerry Cotton
Lưu ý là quyển này có trùng nội dung với quyển "Lương Tâm Và Tội Ác" cũng được NXB Công An Nhân Dân ấn hành cùng năm 2005 Jerry Cotton là series truyện trinh thám hình sự tiếng Đức thành công nhất từ trước đến nay, do NXB Bastei-Verlag in và phát hành thường xuyên dưới dạng các tập truyện khổ A5. Tập truyện đầu tiên của series dưới nhan đề "Tôi truy tìm ông trùm ganster (Ich suchte den Gangster-Chef) ra mắt độc giả lần đầu vào năm 1954. Hiện giờ tập truyện Jerry Cotton số 3040 đang được phát hành. Toàn bộ số ấn phẩm của series đã được in là khoảng 850 triệu bản!. Delfried Kaufmann là người đầu tiên chủ trương phát hành và cũng là một trong các tác giả của series truyện. Jerry Cotton không phải là tên thật mà chỉ là nghệ danh chung cho hơn 100 tác giả (có ước lượng lên tới 150 - 180 tác giả) của series truyện trinh thám hình sự này. Jerry Cotton là một cảnh sát nguyện cống hiến cả đời mình cho cuộc chiến chống các băng đảng gangster. Với lòng dũng cảm và trí thông minh, anh đã chiếm trọn trái tim hàng triệu độc giả trên thế giới. Những tác giả đã từng tham gia viết các tập truyện này (Nguồn wiki): Heinz Werner Höber Thomas Jeier (bút danh Christopher Ross) Rolf Kalmuczak (bút danh Stefan Wolf,  tác giả của bộ truyện"TKKG") Walter Appel Martin Barkawitz Horst Friedrichs Friedrich Jankuba Helmut Rellergert (bút danh Jason Dark, tác giả của bộ truyện "Geisterjäger John Sinclair") Friedrich Tenkrat Manfred Weinland ... Một số tác phẩm của bộ truyện đã được xuất bản tại Việt Nam: Những Phiên Bản Phần Mềm Internet-Gangster - 2001 Làn Váy Mini Bên chiếc Xe Sang Trọng - 2001 Lũ chuột cống vùng Bronx - 2003, NXB Văn học xuất bản Cuộc Tình Cuối Của Chàng Cảnh Sát - 2005 Lương Tâm Và Tội Ác (Hêrôin Trong Nhà Trắng) - Hồ Sơ Hình Sự - 2005 Tính Nhầm Luật Chơi - Hồ Sơ Hình Sự - 2005 Cơn bão - 1997 Truy lùng tên sát nhân - 1998, NXB Văn học xuất bản Những đứa con của bố già - 1999, NXB Trẻ xuất bản Con tin tình nguyện - 1999 Địa ngục trên đỉnh núi - 2000 Viên cảnh sát báo thù - 2000 Ngàn dặm xa lộ hiểm nguy - 2000 Trò chơi đã hết - 2000 Khi sát thủ là hai người đẹp - 2001 Người đàn bà bí hiểm - 2001 Con gái cảnh sát sa lưới Amphetamin - 2001 Vụ tống tiền bí hiểm - 2001 Vị đắng Crack ma túy quỷ dữ - 2002 Tiếng kêu cứu giữa nửa đêm - 2002 Phi trường Kennedy ba giờ sáng - 2002 Biệt thự con tin - 2002 30 giờ và gã giết thuê - 2002 Một kịch bản đầy án mạng - 2002 Máu đỏ thuốc phiện trắng - 2003 Những nụ hoa Bangkok - 2003 Đường dây "gái gọi" - 2003 Sòng bài đặt cược - 2003 Sát thủ số 1 của công ty cổ phần giết mướn - 2003 ... *** ...Vào khoảng chín giờ ba mươi, Mel Corlet bước vào ngôi nhà nghỉ cuối tuần của anh nằm giữa một cánh rừng bên dòng sông Potomac. Anh thấy đầu váng rất đau, nhưng nhìn chung thì anh còn tương đối tỉnh táo. Món cà phê của Marny Davenport đi kèm với bánh mỳ nướng, đùi lợn xông khói, trứng ốp-la và rất nhiều nước cam ép thật sự đã có một hiệu ứng thần kỳ. Mặc dầu vậy, lẽ ra anh không được phép lái xe sau một đêm dài tới thế. Nhưng rồi người đàn ông tự an ủi mình rằng thật ra anh chỉ đi qua những đoạn đường dành riêng cho xe lâm nghiệp và xe của những người sống quanh đây. Trong số những người sống quanh dây thì anh đang là người duy nhất có mặt trong cả một khu đất rộng. Ngôi nhà gỗ nằm cô đơn, hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng được sống những ngày nghỉ hiếm hoi trong cảnh tĩnh mịch tuyệt đối, hoàn toàn không bị ai khuấy đảo, đủ tĩnh mịch cho anh quên được cuộc sống lao động vất vả hàng ngày. Vừa bước chân vào cái buồng tắm đứng nhỏ xíu và đóng cửa lại, Corlet vừa nghĩ rằng nếu được chia sẽ sự cô đơn này với một người phụ nữ dễ thương thì có lẽ cuộc sống sẽ trở nên rất dễ chịu. Anh đang nhớ đến một người cụ thể: tóc vàng, mắt xanh, có duyên, một thân hình lý tưởng và một bộ não chững chạc. Nhưng Liza là chiêu đãi viên hàng không và rất yêu nghề. Mà lịch bay của cô và lịch làm việc của anh lại khác biệt tới mức hiếm hoi lắm họ mới gặp được nhau. Mel Corlet đưa chiếc lược ướt chải qua mái tóc thẫm mầu gợn sóng, quan sát chút ánh bạc thấp thoáng hai bên thái dương và ở hai đường chân mày. Nếu không cẩn thận, rồi anh sẽ thành một gã trai ế vợ già nua. Bốn mươi tuổi! Thật ra thì đã quá tuổi cưới vợ một chút rồi. Nhưng từ xưa đến nay anh luôn ngại ngùng cái việc xem xét ngó nghiêng trong hàng ngũ con gái của những gia đình cầu tiến. Anh không thích dạng phụ nữ chỉ biết chăm con và coi con đường danh vọng của chồng là nhiệm vụ của đời mình. Ngược lại, Liza là một cô gái khiến cho anh thích thú. Nhưng đối với một người đàn ông mang trọng trách thì mối quan hệ với một cô gái độc lập và cũng rất thành công trong nghề nghiệp thật sự là một chuyện đầy khó khăn. ... Mời các bạn đón đọc Hêrôin Trong Nhà Trắng của tác giả Jerry Cotton.