Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Lính Canh

Như mọi khi, Reacher không có nơi nào cụ thể để đi. Một buổi sáng, anh đến một thị trấn gần Pleasantville, Tennessee. Nhưng không có gì dễ chịu về nơi này. Trong ánh sáng ban ngày, Reacher phát hiện ra một linh hồn không may bước vào một ổ phục kích. "Đó là bốn chọi một" ... vì vậy Reacher can thiệp để giải quyết xung đột. Người đàn ông anh cứu là Rusty Rutherford, một giám đốc CNTT khiêm tốn, gần đây đã bị sa thải sau một cuộc tấn công mạng, khóa dữ liệu, hồ sơ và thông tin của thị trấn ... và những bí mật. Những kẻ xấu coi Rutherford là một phần của một cái gì đó nghiêm trọng, liên quan đến một âm mưu, một sự che đậy và giết người - tất cả đều tập trung vào một anh chàng nhỏ nhắn nhu mì trong chiếc áo sơ mi dính màu cà phê, người không biết anh ta phải chống lại điều gì. Quy tắc một: nếu bạn không biết mình đang gặp phải rắc rối gì, hãy giữ Reacher bên mình. *** Kể từ năm 1997, độc giả khắp thế giới đã bị cuốn vào những câu chuyện về Jack Reacher, nhân viên điều tra thuộc lực lượng quân đội Mỹ từng được tác giả Lee Child giới thiệu lần đầu tiên trong cuốn tiểu thuyết Killing Floor. Những câu chuyện về cuộc đời và chiến công của Jack Reacher sau đó tiếp tục được Lee Child khai thác trong hơn 20 cuốn tiểu thuyết được xuất bản sau đó. *** Các sách trong bộ "Jack Reacher" bao gồm "Killing Floor", "The Enemy" và "One Shot." Lee Child là tác giả của bộ truyện và hiện có một danh sách đầy đủ trên phần Sách của LeeChild.com, kể từ tháng 6 năm 2015. "Killing Floor", phát hành năm 1997, là tiểu thuyết đầu tay trong loạt phim "Jack Reacher". Trong cuốn sách, Reacher quyết định đến thăm Margrave, Georgia, nhưng nhanh chóng bị bắt vì tội giết người mà anh ta không thực hiện. Một thám tử địa phương và một nữ cảnh sát cố gắng giúp anh ta chứng minh sự vô tội của mình. Trong quá trình này, cả ba phát hiện ra các hoạt động bất hợp pháp đang diễn ra ở Margrave. "The Enemy" được phát hành vào năm 2004 và là cuốn sách thứ tám trong bộ truyện. Cuốn sách là phần tiền truyện của "Killing Floor", diễn ra tám năm trước các sự kiện trong cuốn sách đó. Khi đang làm nhiệm vụ ở Bắc Carolina, Reacher nhận được cuộc gọi về một người lính đã chết. Tuy nhiên, người lính này là một vị tướng đáng lẽ phải đến châu Âu, và Reacher sớm phát hiện ra vợ của vị tướng cũng đã chết. "One Shot", phát hành năm 2005, là cuốn sách thứ chín trong bộ truyện. Tại một thị trấn nhỏ ở Indiana, 5 người bị giết bởi một tay súng, và bằng chứng cho thấy một cựu lính bắn tỉa của Quân đội là kẻ giết người. Nghi phạm yêu cầu Reacher, người đến thị trấn để điều tra vụ án. Cuốn sách này đã được chuyển thể thành bộ phim "Jack Reacher" năm 2012, với sự tham gia của Tom Cruise trong vai Reacher. Tính đến tháng 9 năm 2015, có 20 cuốn sách "Jack Reacher" của tác giả Lee Child. Trong cuốn sách thứ năm, "Echo Burning", Reacher đi nhờ xe trong cái nóng mùa hè ở Texas và được đón bởi một người phụ nữ tên là Carmen, người đang bị ai đó theo dõi. Chồng cô là một người đàn ông bạo lực bị nhốt trong tù, và Reacher quyết định giúp Carmen chống lại anh ta và bất cứ ai khác muốn làm hại cô. "Bad Luck and Trouble" là cuốn 11 trong bộ truyện và theo chân Reacher từ Los Angeles đến Las Vegas. Hành động bắt đầu khi một người ẩn danh gửi tiền vào tài khoản ngân hàng của Reacher, khiến anh ta tò mò. Reacher sớm nhận ra khoản tiền gửi là tín hiệu mà chỉ đội Quân đội cũ của anh ta mới biết, khiến anh ta phải tìm kiếm đồng đội của mình và phát hiện ra kẻ giết người. Trong cuốn 19, "Personal", Reacher đi đến châu Âu để tìm một tay súng bắn tỉa đã cố giết tổng thống Pháp. Tay bắn tỉa rất nguy hiểm và khó nắm bắt, và Reacher phải đi qua nhiều quốc gia để bắt anh ta và tìm ra ai đã thuê anh ta và lý do tại sao. *** Rusty Rutherford ở tại căn hộ của mình vào một buổi sáng thứ Hai, đúng một tuần sau khi bị sa thải. Anh ấy đã dành vài ngày đầu tiên sau khi bị cho thôi việc, làm việc trong kho dự trữ pizza đông lạnh của mình và chờ điện thoại đổ chuông. Rất nhiều điểm yếu, lá thư sa thải cho biết. Không làm đúng hướng dẫn. Các lỗi cơ bản. Thật không thể tin được. Một sự bóp méo sự thật. Thật bất công. Đó là một sai lầm. Thông thường và đơn giản. Nhiều giờ đã trôi qua. Điện thoại im lặng. Và email cá nhân không có gì ngoài thư rác. Anh ta cố thêm một ngày nữa, rồi cầm lấy chiếc máy tính xách tay cũ và bật nguồn. Anh ta không sở hữu súng hay dao. Nhưng có người phải trả giá. Có lẽ kẻ thù trong đời thực của anh. Nhưng không phải nhân vật phản diện trong trò chơi điện tử mà một người bạn đã gửi cho. Trước đây anh đã tránh chơi chúng. Cảm giác bạo lực quá nghiêm trọng. Không cần thiết. Nó không còn cảm thấy như vậy nữa. Những ngày thể hiện lòng thương xót của anh ấy đã kết thúc. Trừ khi ... Điện thoại của anh im lặng. Anh đóng máy tính và thả mình xuống ghế dài. Anh ta ở đó trong một khoảng thời gian, chọn ngẫu nhiên từ một chồng đĩa Blu-ray mà anh không nhớ là đã mua khi nào và thầm cầu xin được trở lại làm việc. Anh ấy sẽ khác, anh ấy thề. Hòa hợp hơn. Kiên nhẫn hơn. Giao lưu. Thậm chí, đồng cảm,. Anh ấy sẽ mua bánh rán cho mọi người trong văn phòng. Hai lần một tháng. Ba lần, nếu cần. Điện thoại của anh im lặng. Anh ấy không thường xuyên uống rượu, nhưng còn việc gì khác phải làm bây giờ? Các hóa đơn nằm trên một đĩa khác. Anh ấy không thể xem thêm bộ phim nào nên và vào bếp. Lấy một chai Jim Beam chưa mở từ phía sau tủ. Quay trở lại phòng khách và nghe đĩa nhạc Elmore James. Jim Beam là một nhãn hiệu rượu whisky bourbon của Mỹ được sản xuất tại Clermont, Kentucky, bởi Beam Suntory. Đây là một trong những thương hiệu bán chạy nhất của bourbon trên thế giới. Kể từ năm 1795, bảy thế hệ của gia đình Beam đã tham gia sản xuất rượu whisky cho công ty sản xuất thương hiệu này. Anh ngủ thiếp đi, úp mặt xuống sàn, không rõ là bao lâu. Tất cả những gì anh ấy biết là khi thức dậy, đầu đau như búa bổ. Anh nghĩ nỗi đau sẽ không bao giờ kết thúc. Nhưng khi cảm giác nôn nao cuối cùng cũng qua đi, anh thấy mình đang trải qua một cảm xúc mới. Sự thách thức. Dù gì thì anh cũng là một người vô tội. Không có điều gì tồi tệ đã xảy ra là lỗi của anh. Đó là điều chắc chắn. Anh là người đã thấy trước vấn đề. Ai đã cảnh báo cấp trên. Hết lần này đến lần khác. Ở nơi công cộng và riêng tư. Và ai đã bỏ qua. Hết lần này đến lần khác. Vì vậy, sau bảy ngày ròng rã một mình, Rutherford quyết định đã đến lúc lộ diện. Để kể câu chuyện. Cho bất cứ ai sẽ lắng nghe. Anh đi tắm và lấy một số quần áo trong tủ ra. Quần chinos và áo sơ mi polo. Thương hiệu mới. Màu tối, nhìn như dân kinh doanh. Sau đó, anh lấy giày từ các góc đối diện của hành lang nơi anh ném chúng. Lục tung tìm chìa khóa và kính râm từ tủ sách bên cửa. Bước ra hành lang. Đi xuống thang máy, một mình. Qua sảnh. Đẩy qua cánh cửa xoay nặng nề và dừng lại trên vỉa hè. Mặt trời giữa trưa giống như một cái lò cao và sức nóng kéo theo những hạt mồ hôi trên trán và nách. Anh cảm thấy một sự hoảng loạn. Có tội mới đổ mồ hôi. Anh đã đọc điều đó ở đâu đó và điều anh cố gắng tránh là trông tội lỗi. Anh liếc nhìn xung quanh, tin chắc mọi người sẽ nhìn chằm chằm vào mình, sau đó buộc mình phải di chuyển. Anh bước nhanh, cảm thấy như đang khỏa thân đi bộ xuống phố. Nhưng sự thật là hầu hết những người đi qua thậm chí không nhận thấy anh đang ở đó. Trên thực tế, chỉ có hai người chú ý đến anh. Cùng lúc Rusty Rutherford ra khỏi căn hộ của mình, Jack Reacher bước vào một quán bar. Anh đã ở Nashville, Tennessee, bảy mươi lăm dặm về phía đông bắc từ thị trấn nhỏ buồn ngủ của Rutherford, và đang tìm kiếm giải pháp cho một vấn đề. Đó là một vấn đề thực tế. Một câu hỏi vật lý. Và sinh học. Cụ thể là làm thế nào để chổng ngược một người từ trần nhà mà không gây ra quá nhiều vết thương. Ít nhất là lên trần nhà. Reacher lần đầu tiên đặt chân đến nơi này một ngày trước đó. Vào thứ bảy. Gần như là Chủ nhật, vì lúc anh vào thị trấn đã gần nửa đêm. Cuộc hành trình của anh không được suôn sẻ. Xe buýt bị hư và mất thời gian sửa chữa. Reacher bị tê cứng vì ngồi lâu, cuối cùng ra khỏi nhà ga Greyhound, và mất vài phút để thư giãn các cơ và khớp. Anh đứng đó, khuất một nửa trong bóng tối, trong khi những hành khách còn lại ngồi xung quanh nói chuyện, nghịch điện thoại và thu dọn hành lý. Reacher vẫn ở lại. Anh không vội vàng. Anh đến muộn hơn dự kiến, nhưng đó không phải là vấn đề lớn. Anh không có cuộc hẹn nào. Không có cuộc họp nào để tham dự. Không ai đợi anh, lo lắng hay phát điên lên. Anh đã lên kế hoạch tìm một nơi để qua đêm. Một quán ăn, với một số thức ăn. Và một quán bar nơi anh có thể nghe một số bản nhạc hay. Anh có thể làm tất cả những điều đó. Anh có thể phải thay đổi thứ tự. Có thể kết hợp một vài hoạt động. Và với một số khách sạn, loại Reacher ưa thích, nó đóng cửa muộn. Đặc biệt nếu bạn trả tiền mặt. Điều anh luôn làm. Âm nhạc trước, Reacher quyết định. Anh biết không thiếu địa điểm ở Nashville, nhưng anh muốn có một địa điểm cụ thể. Một nơi nào đó. Với một số lịch sử. Nơi Blind Blake có thể đã chơi, trong ngày trở lại. Arthur Blake, được biết đến với cái tên Blind Blake, là một ca sĩ và nghệ sĩ guitar blues và blagtime người Mỹ. Ông được biết đến với nhiều bản ghi âm mà ông đã thực hiện cho Paramount Records trong khoảng thời gian từ 1926 đến 1932. Câu hỏi duy nhất là làm thế nào để tìm được một nơi như vậy. Đèn vẫn sáng trong bến xe buýt, và một số ít người vẫn đang làm việc hoặc chờ đợi hoặc chỉ muốn tránh xa đường phố. Có lẽ, một số là người địa phương. Reacher có thể hỏi đường. Nhưng anh không hỏi. Anh ấy thích điều hướng theo bản năng hơn. Anh biết các thành phố. Anh có thể đọc hình dạng và dòng chảy của chúng giống như một thủy thủ có thể cảm nhận được hướng của những con sóng. Linh cảm bảo anh đi về phía bắc, vì vậy anh bắt đầu băng qua một giao lộ hình tam giác rộng và đến một bãi đất trống đầy đá dăm. Mùi hôi của dầu diesel và thuốc lá mờ dần sau lưng, và bóng anh dài ra phía trước khi anh bước đi. Nó dẫn đến những dãy phố hẹp, song song với những tòa nhà gạch tương tự nhau, nhuốm đầy bồ hóng. Có cảm giác công nghiệp, nhưng mục nát và rỗng. Reacher không biết loại hình kinh doanh nào đã phát triển mạnh trong quá khứ của Nashville, nhưng bất cứ thứ gì được sản xuất, bán hoặc lưu trữ thì rõ ràng đã xảy ra xung quanh đó. Và rõ ràng là nó sẽ không xảy ra nữa. Các cấu trúc là tất cả những gì còn lại. Và không lâu nữa, Reacher nghĩ. Tiền sẽ chảy vào và nuôi sống chúng, hoặc chúng sẽ sụp đổ. Reacher bước ra khỏi vỉa hè đổ nát và tiếp tục đi xuống đường. Anh nghĩ sẽ thêm hai khối nữa. Nhiều nhất là ba. Nếu anh không tìm thấy bất cứ điều gì tốt thì anh sẽ sang bên phải, về phía sông. Anh đi ngang qua một nơi bán lốp xe cũ. Một nhà kho mà một tổ chức từ thiện đang sử dụng để lưu trữ đồ đạc quyên góp. Sau đó, khi băng qua con đường tiếp theo, anh nghe được tiếng réo rắt của một cây guitar bass và tiếng trống sấm sét. Âm thanh phát ra từ một tòa nhà ở trung tâm khu nhà. Nó không có vẻ hứa hẹn. Không có cửa sổ. Không có bảng chỉ dẫn. Chỉ là một dải ánh sáng vàng mỏng manh thoát ra từ bên dưới một cánh cửa gỗ duy nhất. Reacher không thích những nơi có ít lối ra tiềm năng nên anh có xu hướng tiếp tục đi bộ, nhưng khi anh đi ngang qua thì cánh cửa đã mở ra. Hai chàng trai, có lẽ ở độ tuổi gần hai mươi, với chiếc áo phông cộc tay và một vết xăm, loạng choạng bước ra vỉa hè. Reacher di chuyển để tránh họ, và cùng lúc đó, một cây đàn guitar bắt đầu réo rắt từ bên trong. Reacher dừng lại. Riff hay. Nó vút lên, bay bổng và như thể đã hoàn thành nốt nhạc cuối cùng, tiếp tục với giọng một người phụ nữ. Nó thê lương, tuyệt vọng, đau đớn. Reacher không thể cưỡng lại. Anh bước vào. Trong âm nhạc, riff là một đoạn nhạc hoặc một chùm hợp âm được lặp đi lặp lại trong một nhạc phẩm hoặc một cuộc trình diễn âm nhạc. Không khí bên trong có mùi bia và mồ hôi, và không gian phía trước hẹp hơn nhiều so với dự đoán của Reacher. Phía sau rộng hơn, tạo ra hai khu vực riêng biệt với một vùng chết ở giữa. Phía bên tay phải dành cho những người yêu âm nhạc. Có vài chục, một số đứng, một số khiêu vũ, một số thực hiện cả hai. Sân khấu dựa vào bức tường phía xa, chiếm hết chiều sâu của căn phòng. Nó thấp, được dựng từ các thùng bia với một số tấm gỗ đóng đinh. Có một ngăn xếp loa khiêm tốn ở mỗi bên và một cặp thanh kim loại treo trên trần nhà để giữ đèn. Ca sĩ ở trung tâm. Đối với Reacher, cô ấy có vẻ nhỏ bé. Cao nhất là 1.5m, và mỏng như một cây kim. Tóc cô ấy là kiểu bob màu vàng hoàn hảo, tỏa sáng rực rỡ đến mức Reacher tự hỏi liệu đó có phải là tóc giả hay không. Người chơi guitar ở bên trái cô, gần cửa nhất. Người chơi bass ở bên phải cô. Cả hai đều có mái tóc xoăn hoang dại và gò má cao, sắc nét, trông giống nhau đến nỗi họ có thể là anh em sinh đôi. Chắc chắn là anh em. Tay trống cũng ở đó, đập theo nhịp, nhưng cái bóng ở phía sau sân khấu quá sâu khiến Reacher không thể nhìn rõ cô ấy. Phía bên trái là quầy rượu. Có sáu bàn tròn, mỗi bàn có bốn ghế, và bốn ghế đẩu ở quầy bar được kê dựa vào tường, đối diện sân khấu. Một chiếc gương chạy hết chiều rộng với một vết nứt hình ngôi sao lởm chởm ở giữa. Reacher nghĩ, kết quả của việc một cái chai bị ném đi. Anh thích hình ảnh đó. Reacher đợi cho đến khi ban nhạc kết thúc bài hát cuối cùng, sau đó đi về phía quầy bar. Anh là người duy nhất ở phía đó của căn phòng. “Cà phê,” Reacher nói, khi người pha chế nhìn anh. Anh nói thêm “đen.” “Không có cà phê,” người pha chế trả lời. “OK. Bánh mì kẹp phô mai. Khoai tây chiên. Không có rau diếp. Không có dưa chua. Và một lon Coke.” “Không có bánh mì kẹp phô mai.” “Vậy có thức ăn gì?” “Không có thức ăn.” “Có tiệm nào xung quanh đây?” Người pha chế nhún vai. “Đừng sống quanh đây.” Reacher lấy Coke của mình và quay lại nhìn sân khấu. Anh đã hy vọng một ban nhạc khác sẽ tiếp tục nhưng không có dấu hiệu nào. Một nửa số khán giả đã tụ Mời các bạn đón đọc Lính Canh của tác giả Lee Child.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Trần Trụi Với Văn Chương - Paul Auster
Giới phê bình phương Tây gọi New York Trilogy là “tiểu thuyết trinh thám siêu hình”, là “giả tưởng phản trinh thám”, là “một biến tấu lạ lùng của thể loại trinh thám”, “một hỗn hợp của trinh thám và tân lãng mạn”, “một trò chơi chắp hình bằng thủy tinh”. Tất cả những cái đó khiến Paul Auster được liệt vào hàng văn sĩ hậu hiện đại. Tuy nhiên, khác với những văn phẩm hậu hiện đại điển hình vốn mang nặng phẩm chất “giả tưởng siêu hình” cùng các “yếu tố phản kháng”, New York Trilogy vẫn nhất quán trong lối kể chuyện, có cách nhìn tân hiện thực, và bộc lộ nỗi ưu tư đầy trách nhiệm của tác giả đối với những vấn đề xã hội và đạo đức. Có thể nói New York Trilogy là một dạng đặc biệt của tiểu thuyết trinh thám hậu hiện đại, vẫn dùng đến những yếu tố quen thuộc của tiểu thuyết trinh thám cổ điển, nhưng lại sáng tạo được một hình thức mới kết nối các đặc tính của thể loại này với các phẩm chất thử nghiệm, siêu hình và châm biếm mỉa mai của văn phong hậu hiện đại. Đó là ý kiến của giới phê bình Âu - Mỹ mà tôi chắt lọc từ nhiều nguồn khác nhau để bạn đọc biết New York Trilogy đã được đánh giá như thế nào, chứ còn ngay từ năm 1987, khi mới chân ướt chân ráo đến New York và đọc ấn bản đầu tiên của nó, tôi đã thấy nó rất hay, mà đã biết tí gì về văn chương hậu hiện đại đâu. Nhưng nói New York Trilogy hay như thế nào với bạn đọc ở đây thì thành chủ quan. Mà tóm tắt cốt truyện thì lại vô duyên, vì làm thế thì có khác gì mời bạn đi xem phim trinh thám rồi dọc đường đến rạp lại bô bô kể luôn ai bị giết ai bị bắt ai bị oan với những màn bất ngờ như thế nào mà cho đến giờ mình vẫn còn hồi hộp. Cho nên tôi chỉ xin phép nói mấy chuyện sau đây: Vừa rồi tôi có đọc cuốn Đường Kách mệnh , in trong tập 1 của bộ Văn kiện Đảng toàn tập ra năm 2005, và thực sự kinh ngạc và khâm phục ngôn ngữ sáng rõ của nó. Vấn đề gì cũng được nói đến một cách giản dị, sáng sủa, không thể ngờ vực gì được, như thể từ ngữ chính là linh hồn của cái mà chúng nói đến. Thế rồi tôi nghĩ đến hệ thống văn bản hiện nay, cái nào cũng cần hàng loạt những tài liệu hướng dẫn, những văn bản dưới luật, mà vẫn khó tìm thấy những tương đương của các câu chữ nọ trong thực tế. Và tôi tự hỏi: Ấy là vấn đề ngôn ngữ hay là vấn đề con người? Tại sao ngôn ngữ ngày càng mất tính chân xác và trở thành rối rắm như hiện nay? Làm thế nào để lại có thể ăn nói rõ ràng sáng sủa như trong Đường Kách mệnh ? Chuyện đi tìm lại thứ ngôn ngữ chân xác này của con người này, lạ lùng thay, lại là một chủ đề cốt lõi của New York Trilogy. Dạo hè vừa rồi tôi có dịch cuốn Tham vọng Bá quyền , bàn về tình hình thế giới sau sự kiện 11/9 – tức là sau khi tòa tháp đôi vĩ đại ở New York bị khủng bố phá sập. Hôm nọ lại đọc tin bên Dubai đang xây dựng một tòa tháp lớn nhất thế giới cao đến gần một cây số, bèn liên tưởng đến tòa tháp Babel huyền thoại, rồi ngẫm đến lịch sử loài người, rồi bỗng nhận ra rằng cái hệ lụy bi thảm trong ngôn ngữ và văn chương của tham vọng loài người cũng lại là một chủ đề của New York Trilogy. Tháng trước thì đọc thấy trên mạng một loạt những bài viết và ý kiến nhân hội nghị lí luận phê bình của Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức ở Đồ Sơn. Hình như ai cũng cố đề cập đến công việc và nội tâm của những người sống bằng ngôn ngữ và nghề viết. Lúc ấy tôi đang dịch đến đúng đoạn giai thoại về cái bô đầy cứt trong phòng ngủ của nhà thơ Mỹ vĩ đại Walt Whitman và bộ óc của ông bị đánh rơi tung tóe xuống sàn phòng thí nghiệm (sau khi ông chết), rồi nhận xét của một nhân vật về hình thức tương tự giữa cái bô cứt và bộ óc của con người phi thường ấy. Nhân vật ấy kết luận rằng: “Chúng ta luôn nói đến chuyện cố thâm nhập vào bên trong một nhà văn để hiểu rõ hơn công việc của ông ta. Nhưng khi vào thẳng trong đó rồi thì lại chẳng thấy gì nhiều – nghĩa là nội tạng ai thì cũng vậy thôi, chẳng khác nhau là mấy”. Than ôi, đúng là chẳng khác nhau là mấy về hình thức, nhưng cái thế giới nội tâm của người sinh ra để viết văn vẫn cứ là một bí hiểm khôn lường. Và lạ lùng thay, hình như cái bí hiểm khôn lường ấy mới là chủ đề xuyên suốt của tập trinh thám siêu hình hậu hiện đại này. Thế rồi tôi chợt nhận ra rằng cả ba cái chủ đề trong New York Trilogy thực ra chỉ là triển khai của một ý niệm cơ bản duy nhất, ấy là tấn kịch bi tráng của giấc mộng và sự nghiệp văn chương khi người cầm bút phải loại bỏ mọi giả hình để trực giao trần trụi với bản thân và thế giới trên con đường đi tìm ngôn ngữ đích thực để diễn ngôn sự thật. Cái giá phải trả cho văn chương thật là ghê gớm! Lạ thay, đúng lúc ấy thì tôi nhận được email của biên tập, nói liệu có nên dịch cái đầu đề New York Trilogy là Bộ ba truyện New York hay không? Có thể đại đa số bạn đọc Việt Nam sẽ hiểu Bộ ba truyện New York là ba câu chuyện gì đó về thành phố hoặc tiểu bang New York ở bên Mỹ. Mà hiểu nhầm như vậy thì rất thiệt cho độc giả. Sau khi thảo luận tới 9 phương án khác nhau, chúng tôi mới quyết định đặt tên cho bản dịch tiếng Việt này của New York Trilogy là TRẦN TRỤI VỚI VĂN CHƯƠNG. Chúng tôi tin rằng đây là tên gọi gần gụi nhất với tấn kịch bi tráng mà Paul Auster đã mô tả rất lạ lùng trong ba câu chuyện hoàn toàn độc lập mà lại quan hệ chặt chẽ với nhau này. Để câu chuyện đậm đặc các vấn nạn hiện sinh của mình được chân xác, Paul Auster, cũng như các nhân vật của ông, đã viện đến nhiều giai thoại lịch sử về những số phận khác nhau, và cách viết này, cộng với cấu trúc nhiều nguồn của các câu chuyện, đã khiến cho Trần trụi với văn chương trở thành một văn phẩm mà người đọc cảm thấy không biết ai thực sự là tác giả. Chính Paul Auster cũng xuất hiện trong truyện, với tên thật của mình, tên vợ tên con thật của mình (Siri là vợ hiện nay của ông, và hai người con là Daniel và Sophie). Nhân vật xưng tôi trong Căn phòng khóa kín thì lại xưng là tác giả của cả Thành phố thủy tinh lẫn Những bóng ma ; và còn nói rằng cả ba truyện trong tập này thực ra chỉ là một câu chuyện, diễn biến theo ba giai đoạn. Bạn cứ đọc đi đã rồi sẽ tự tìm ra được câu chuyện ấy. Phải chăng đó cũng là một đặc tính của văn chương hậu hiện đại: Đặc tính interactive – tương tác : Người đọc phải tham gia và tự tìm thấy câu chuyện cùng nghĩa lí của nó. Trần trụi với văn chương là một văn bản mở. Với một văn bản như thế này, bạn đọc nên coi mình cũng là tác giả, và nếu tác giả đã viết nó ý tứ và thận trọng như thế nào thì ta cũng nên đọc nó ý tứ và thận trọng như vậy, rồi sẽ ngộ được cái khoái cảm đặc biệt mà loại văn chương này mang lại. Để giúp bạn đọc thưởng thức tối đa cái khoái cảm đã hứa hẹn ấy, tôi có dùng một số giải pháp dịch thuật theo lí thuyết Skopos – đặt mục tiêu phục vụ người đọc lên hàng đầu – để vừa chuyển tải được hết ý vừa giữ được liền mạch văn của tác giả cũng như mạch đọc của độc giả; đồng thời cũng cố gắng chú thích hết những chi tiết mà tôi cho là bạn đọc có thể chưa biết, mà lại rất nên biết để thưởng thức câu chuyện đặc biệt này. Thành phố New York là nơi tôi đã trải qua những chuyện lạ lùng nhất trong đời mình. Có lẽ vì vậy mà từ lâu tôi đã muốn dịch New York Trilogy . Tôi xin có lời cảm ơn Công Ty Văn Hóa Phương Nam đã tin rằng công việc có động cơ cá nhân này sẽ giúp bạn đọc mở thêm một cửa sổ nhỏ nữa vào thế giới kì thú của văn chương Mỹ đương đại. Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Carol Mann và Paul Auster đã không ngại trả lời nhiều câu hỏi của tôi trong khi dịch cuốn sách này. Bây giờ thì mời bạn đọc hãy bước vào thế giới của Paul Auster như một thám tử văn chương, rồi thể nào bạn cũng phát hiện ra những điều kì thú.   Trịnh Lữ Hà Nội, cuối Thu 2006. Mời các bạn đón đọc Trần Trụi Với Văn Chương của tác giả Paul Auster.
Sáu Người Bạn Đồng Hành Tập 4: Vòng Đua Nước Pháp - Paul Jacques Bonzon
Series truyện trinh thám thiếu nhi của Pháp, ra mắt bạn đọc VN năm 1996 tới nay chưa tái bản.    Ngoài tính chất trinh thám, Sáu Người Bạn Đồng Hành còn cung cấp thông tin về đất nước, con người và lịch sử Pháp. Đọc Sáu Người Bạn Đồng Hành không chỉ là giải trí. *** Tuyệt vời! Antonin Aubanel - tức Baba - một cuarơ có nhiều thành công, đã được tham gia vòng đua xe đạp quanh nước Pháp. Nhưng sự xuất hiện đột ngột của cuarơ mới này không được nhiều người hài lòng, những hành động, thái độ xấu xa luôn bám theo anh suốt chặng đường đua. May mắn thay, những người bạn đồng hành đã để mắt tới anh... *** TIDOU, THỦ LÃNH 14 tuổi rưỡi, anh cả trong một gia đình thợ thuyền, chủ nhân của con chó lai sói lông đen Kafi và là sếp sòng của nhóm “Sáu người bạn đồng hành”. Tidou gốc người miền Nam nước Pháp, tóc đen, mắt sáng, rất đẹp trai, luôn mang trong mình dòng máu phiêu lưu, muốn khám phá đến tận cùng bí ẩn của sự việc, để mang lại công bằng đạo lý cho những con người không phương tự vệ. Là một người thẳng tính đến mức nóng nảy, Tidou luôn quyết đoán hành động. Ánh mắt của hắn chỉ dịu lại khi bắt gặp ánh mắt nhắc nhở của Mady, vì cô bé hắn sẵn sàng hy sinh cả bản thân mình. Tidou quả xứng đáng với danh hiệu thủ lĩnh của Sáu người bạn đồng hành. MADY, NỮ TIÊN TRI Sắp 14 tuổi, rất duyên dáng với mái tóc màu nâu sẫm, mắt đen, nước da bánh mật... Tạo hóa đã ban tặng cho cô bé xinh đẹp này sự phán đoán mẫn tiệp và trực giác tuyệt vời. Ngoài nét xinh xắn trời cho, Mady còn được các chiến hữu phong tặng biệt hiệu “Nữ Tiên Tri” bởi giác quan thư sáu của một nữ thám tử. Thường song hành bên cạnh Tidou, cô bé nổi lên như một nhà hòa giải thông minh và góp phần quyết định trong mọi hành động khi đặc vụ đi vào bế tắc. Mady là một báu vật mà thượng đế ban phát cho nhóm 6 người. TONDU, GIÁC ĐẤU 15 tuổi đúng, Tondu chỉ cần bỏ chiếc mũ bêrê ra là giống y chang một dũng sĩ giác đấu La Mã với cái đầu trọc lóc không một sợi tóc dính da bởi căn bệnh hiểm nghèo thời bé. Mặc kệ bạn bè thắc mắc với cái đầu trọc của mình, Tondu tỉnh bơ trong vai trò một “giác đấu”. Lớn tuổi nhất biết đấm đá, biết sửa chữa máy móc, xe cộ như một kĩ sư cơ khí, và nhất là biết liều lĩnh lúc cần thiết. Bằng phong cách đặc biệt của mình, Tondu là kẻ duy nhứt trong băng có thể “tàng hình” dễ dàng trong đám xã hội đen. GUILLE, NGHỆ SĨ Sắp 15 tuổi, không thể lẫn lộn với ai bởi mái tóc đỏ độc đáo của mình. Là một thành viên chính thức từ những ngày đầu thành lập, chàng thám tử bất đắc dĩ Guille đến với băng nhóm với cây kèn Acmonica trên môi và những bài thơ trong đầu. Tối kỵ với bạo lực, Guille đặt một chân dưới đất và một chân trên... mây, lãng mạn hóa mọi cuộc phiêu lưu nguy hiểm, trong bất cứ trường hợp nào cũng là nghệ sĩ giang hồ lãng tử. Nhưng có một điều chắc chắn, Guille là nghệ sĩ - hiệp sĩ chứ không phải nghệ sĩ của thính phòng. GNAFRON, HỀ XIẾC 13 tuổi rưỡi, còi xương bẩm sinh, tóc đen như lông quạ, rối nùi đến nỗi những cái lược phải chào thua không cách nào chải được. Theo truyền thuyết, Gnafron là tên một nhân vật đóng giày trong sân khấu múa rối Pháp, trong khi Gnafron của chúng ta trên thực tế cư ngụ trong một cư xá có hiệu đóng giày, thế là coi như chết luôn tên... cúng cơm. Tuy nhiên với bạn bè, Gnafron không hề là “thợ giày” chút nào. Nó nổi tiếng là “Hề Xiếc” bởi ngoài hình dáng gây cười bên ngoài ra, nó còn là cây tiếu lâm số một của cả nhóm và... cực kỳ đại láu cá. Sự ma lanh thiên phú của nó luôn luôn gây bất ngờ cho các đặc vụ của Sáu người bạn đồng hành. BISTÈQUE, ĐẦU BẾP Hơn 14 tuổi, tóc hạt dẻ, thấp lùn, má đỏ môi hồng, mặt... bánh bao nhưng còn còn lâu mới là con gái như Mady cho dù mang tên Bít tết. Sở dĩ cu cậu bị dính biệt hiệu như vậy cũng vì ông bố thân sinh ra nó là chủ nhân một cửa hàng thịt chế biến, mà trong đó các món bít tết, xúc xích bao giờ cũng được khách hàng có “tâm hồn ăn uống” ưa chuộng. Bistèque là thủ quỹ kiêm hậu cần của cả nhóm, chuyên cung cấp chất đạm cho các bạn sau những cuộc điều tra căng thẳng thần kinh. Có điều trong những cuộc mạo hiểm, đối với bọn bất lương, Bistèque khó xơi hơn bất cứ một... miếng BISTEQUE (bít tết) nào. KAFI, ĐẤU SĨ - VỆ SĨ Gốc gác từ hoang mạc của một xứ Ả Rập xa xôi, Kafi có nguồn cội kỳ dị ngay lúc còn nằm trong bụng mẹ cho đến khi lưu lạc giang hồ sang miền Nam nước Pháp. Với đôi tai dựng đứng, lưỡi thè lè, lông đen, đuôi rậm, bốn bàn chân đỏ như lửa, Kafi đúng là sản phẩm của hai dòng máu cha sói, mẹ chó nhà. Từ khi được cậu chủ Tidou nuôi nấng và dạy dỗ làm chó săn chuyên nghiệp, Kafi chưa bao giờ làm thất vọng nhóm Sáu người. Nó trung thành hết mực với Tidou, yêu quý Mady như người chủ thứ hai và là đại hung thần lúc ẩn lúc hiện làm bọn tội phạm kinh hồn táng đởm. *** Cái tên Antonin Aubanel đoạt chức á quân cuộc đua xe đạp Milan - San Remo làm chấn động thủ lãnh Tidou. Coi, buổi trưa hôm ấy tan học xong là hắn cầm tờ nhật trình nóng hổi chạy như bay về cư xá Chữ Thập Hung. Còn phải hỏi, Antonin Aubanel chỉ chịu thua quán quân Rodolfi người Ý trong gang tấc ở chặng nước rút, chuyện động trời ấy mà không tri hô lên cho mọi người biết thì quả là chẳng đáng mặt... đồng hương của á quân chút nào. Hắn chạy một lèo lên tầng năm. Vừa thoáng thấy bà mẹ đứng nơi ngưỡng cửa, Tidou la làng: - Mẹ ơi, mẹ còn nhớ anh Antonin Aubanel không? - Biết. Thằng Aubanel cùng quê Reillanette với nhà mình, hồi nhỏ hay nói ngọng phải không? Mẹ còn nhớ nó cứ bập bẹ cái tên Aubanel thành... Aubaba ấy. Nó là anh ruột thằng Frederic bạn con chớ gì? - Đúng rồi, hồi con mới tập đi anh ấy chuyên môn cõng con lên cổ làm kiệu. - Mẹ vẫn nhớ “Aubaba” là trưởng nam ông chủ lò bánh mì ngon nhất trong làng. Do tật cà lăm của cu cậu nên ai cũng gọi nó là... Baba thay cho cái tên Antonin Aubanel. Tidou đắc chí hỏi lại: - Mẹ chỉ biết có vậy thôi sao? Bà mẹ cười tủm tỉm: - Mẹ còn biết hơn nhiều ấy chứ. Sáng nay mẹ và ba con vừa thấy ảnh của nó đăng trong mục Thể Thao báo Tiến Bộ. Người ta đã đưa Baba lên tít chín tầng mây. Thế là bí mật của Tidou đã bị... bật mí trước người lớn. Hắn tiu nghỉu đưa tờ báo mới mua cho mẹ. - Con mới mua tờ Thời Đại có hình cuarơ Antonin Aubanel mình mẩy đầy bùn đất đang tu một chai nước khoáng có dán nhãn quảng cáo tiếp thị đây. Con đọc cho mẹ nghe nhé. - Ồ, đọc di nào. Tidou rổn rảng: - “Nước Pháp đang có một siêu vô địch sau cuộc tranh tài Milan - San Remo. Có lẽ không ai có thể ngờ được vùng nắng ấm quanh năm Reillanette lại sản sinh ra một ngôi sao cho làng xe đạp Pháp. Cách đây sáu tháng, chàng trai Antonin Aubanel chưa hề được ai biết đến bỗng trở thành đề tài cho các trang báo thể thao sau cuộc đua Milan - San Remo. Antonin Aubanel mới 20 tuổi, đã bứt lên ở 40 cây số cuối cùng, thoát khỏi sự đeo bám của hơn 50 cuarơ có hạng là một kỳ tích không phải ai cũng làm được. Tidou thở mạnh. - Cuối bài báo, người ta cho rằng anh Baba sẽ là một siêu sao trong tương lai. Mẹ nghĩ sao? - Mẹ cũng nghĩ như họ. Báo chí thường làm nhiệm vụ tiên tri mà. ... Mời các bạn đón đọc Sáu Người Bạn Đồng Hành Tập 3: Sừng Chó Sói của tác giả Paul Jacques Bonzon.
Sáu Người Bạn Đồng Hành Tập 3: Sừng Chó Sói - Paul Jacques Bonzon
  Series truyện trinh thám thiếu nhi của Pháp, ra mắt bạn đọc VN năm 1996 tới nay chưa tái bản.    Ngoài tính chất trinh thám, Sáu Người Bạn Đồng Hành còn cung cấp thông tin về đất nước, con người và lịch sử Pháp. Đọc Sáu Người Bạn Đồng Hành không chỉ là giải trí. *** TIDOU, THỦ LÃNH 14 tuổi rưỡi, anh cả trong một gia đình thợ thuyền, chủ nhân của con chó lai sói lông đen Kafi và là sếp sòng của nhóm “Sáu người bạn đồng hành”. Tidou gốc người miền Nam nước Pháp, tóc đen, mắt sáng, rất đẹp trai, luôn mang trong mình dòng máu phiêu lưu, muốn khám phá đến tận cùng bí ẩn của sự việc, để mang lại công bằng đạo lý cho những con người không phương tự vệ. Là một người thẳng tính đến mức nóng nảy, Tidou luôn quyết đoán hành động. Ánh mắt của hắn chỉ dịu lại khi bắt gặp ánh mắt nhắc nhở của Mady, vì cô bé hắn sẵn sàng hy sinh cả bản thân mình. Tidou quả xứng đáng với danh hiệu thủ lĩnh của Sáu người bạn đồng hành. MADY, NỮ TIÊN TRI Sắp 14 tuổi, rất duyên dáng với mái tóc màu nâu sẫm, mắt đen, nước da bánh mật... Tạo hóa đã ban tặng cho cô bé xinh đẹp này sự phán đoán mẫn tiệp và trực giác tuyệt vời. Ngoài nét xinh xắn trời cho, Mady còn được các chiến hữu phong tặng biệt hiệu “Nữ Tiên Tri” bởi giác quan thư sáu của một nữ thám tử. Thường song hành bên cạnh Tidou, cô bé nổi lên như một nhà hòa giải thông minh và góp phần quyết định trong mọi hành động khi đặc vụ đi vào bế tắc. Mady là một báu vật mà thượng đế ban phát cho nhóm 6 người. TONDU, GIÁC ĐẤU 15 tuổi đúng, Tondu chỉ cần bỏ chiếc mũ bêrê ra là giống y chang một dũng sĩ giác đấu La Mã với cái đầu trọc lóc không một sợi tóc dính da bởi căn bệnh hiểm nghèo thời bé. Mặc kệ bạn bè thắc mắc với cái đầu trọc của mình, Tondu tỉnh bơ trong vai trò một “giác đấu”. Lớn tuổi nhất biết đấm đá, biết sửa chữa máy móc, xe cộ như một kĩ sư cơ khí, và nhất là biết liều lĩnh lúc cần thiết. Bằng phong cách đặc biệt của mình, Tondu là kẻ duy nhứt trong băng có thể “tàng hình” dễ dàng trong đám xã hội đen. GUILLE, NGHỆ SĨ Sắp 15 tuổi, không thể lẫn lộn với ai bởi mái tóc đỏ độc đáo của mình. Là một thành viên chính thức từ những ngày đầu thành lập, chàng thám tử bất đắc dĩ Guille đến với băng nhóm với cây kèn Acmonica trên môi và những bài thơ trong đầu. Tối kỵ với bạo lực, Guille đặt một chân dưới đất và một chân trên... mây, lãng mạn hóa mọi cuộc phiêu lưu nguy hiểm, trong bất cứ trường hợp nào cũng là nghệ sĩ giang hồ lãng tử. Nhưng có một điều chắc chắn, Guille là nghệ sĩ - hiệp sĩ chứ không phải nghệ sĩ của thính phòng. GNAFRON, HỀ XIẾC 13 tuổi rưỡi, còi xương bẩm sinh, tóc đen như lông quạ, rối nùi đến nỗi những cái lược phải chào thua không cách nào chải được. Theo truyền thuyết, Gnafron là tên một nhân vật đóng giày trong sân khấu múa rối Pháp, trong khi Gnafron của chúng ta trên thực tế cư ngụ trong một cư xá có hiệu đóng giày, thế là coi như chết luôn tên... cúng cơm. Tuy nhiên với bạn bè, Gnafron không hề là “thợ giày” chút nào. Nó nổi tiếng là “Hề Xiếc” bởi ngoài hình dáng gây cười bên ngoài ra, nó còn là cây tiếu lâm số một của cả nhóm và... cực kỳ đại láu cá. Sự ma lanh thiên phú của nó luôn luôn gây bất ngờ cho các đặc vụ của Sáu người bạn đồng hành. BISTÈQUE, ĐẦU BẾP Hơn 14 tuổi, tóc hạt dẻ, thấp lùn, má đỏ môi hồng, mặt... bánh bao nhưng còn còn lâu mới là con gái như Mady cho dù mang tên Bít tết. Sở dĩ cu cậu bị dính biệt hiệu như vậy cũng vì ông bố thân sinh ra nó là chủ nhân một cửa hàng thịt chế biến, mà trong đó các món bít tết, xúc xích bao giờ cũng được khách hàng có “tâm hồn ăn uống” ưa chuộng. Bistèque là thủ quỹ kiêm hậu cần của cả nhóm, chuyên cung cấp chất đạm cho các bạn sau những cuộc điều tra căng thẳng thần kinh. Có điều trong những cuộc mạo hiểm, đối với bọn bất lương, Bistèque khó xơi hơn bất cứ một... miếng BISTEQUE (bít tết) nào. KAFI, ĐẤU SĨ - VỆ SĨ Gốc gác từ hoang mạc của một xứ Ả Rập xa xôi, Kafi có nguồn cội kỳ dị ngay lúc còn nằm trong bụng mẹ cho đến khi lưu lạc giang hồ sang miền Nam nước Pháp. Với đôi tai dựng đứng, lưỡi thè lè, lông đen, đuôi rậm, bốn bàn chân đỏ như lửa, Kafi đúng là sản phẩm của hai dòng máu cha sói, mẹ chó nhà. Từ khi được cậu chủ Tidou nuôi nấng và dạy dỗ làm chó săn chuyên nghiệp, Kafi chưa bao giờ làm thất vọng nhóm Sáu người. Nó trung thành hết mực với Tidou, yêu quý Mady như người chủ thứ hai và là đại hung thần lúc ẩn lúc hiện làm bọn tội phạm kinh hồn táng đởm. *** Thấm thoát Tidou đã hơn 14 tuổi. Thời gian trôi tựa tên bay, mới ngày nào Thủ lãnh nhóm Sáu người còn chân ướt chân ráo làm quen với cái nóng điên người của mùa hè và run cầm cập trước mùa đông băng giá ở Lyon thì bây giờ thời tiết ở quê hương mới đã trở nên người bạn đồng hành của hắn trong những cuộc phiêu lưu mạo hiểm tuyệt vời. Hắn lên lớp 9 cùng lúc với sự trưởng thành của năm chiến hữu. Giáo viên chủ nhiệm của lớp 9 hiện thời là cô Lecoeq, một người phụ nữ đứng tuổi, những kỷ niệm học đường với ông thầy râu quai nón coi như đã lùi xa. * Tidou thức giấc trong cảm giác lành lạnh của tiết Nôen. Chăn màn hình như cũng biết thế nào là trời rét, chúng cuộn tròn quanh thân hình hắn để tìm hơi ấm loài người. Trời ạ, lạnh kiểu này thì cho dù Kafi có là sói thần chắc cũng chết cóng mất. Không biết cái đệm có đủ ấm cho nó không? Vừa mở mắt ra, hắn lập tức chiếu tướng quanh quất. Ê, sao tự nhiên Kafi không ngủ trong phòng. Tidou hoảng hồn bật dậy thò đầu xuống gầm giường. Thật kỳ cục, con cẩu từng nổi tiếng ngáy như sấm cũng chẳng thấy nằm đó. Cơn ác mộng ngày nào làm tóc gáy hắn dựng đứng: Kafi lại mất tích nữa chăng ? Hắn bồn chồn gọi: - Kafi, Kafi... Chỉ có luồng gió mang theo cái giá lạnh cuối năm thốc qua cánh cửa khép hờ trả lời hắn. Quỷ tha ma bắt thiệt, Tidou không một giây do dự nhảy phóc xuống giường, bước ra hành lang tối om. - Chẳng lẽ con chó lại nổi máu săn chuột ư? ... Mời các bạn đón đọc Sáu Người Bạn Đồng Hành Tập 3: Sừng Chó Sói của tác giả Paul Jacques Bonzon.
Sao Đen - Triệu Huấn
Trong khi hầu hết tiểu thuyết tình báo ở nước ta đều dựa vào một nguyên mẫu có thật: “Ông cố vấn” của Hữu Mai có nguyên mẫu là điệp viên huyền thoại Vũ Ngọc Nhạ; “Tiếng nổ trên chiến hạm Amyot D’inville” của Văn Phan đi từ câu chuyện của Anh hùng liệt nữ Nguyễn Thị Lợi; “Ông tướng tình báo với hai bà vợ” của Nguyễn Trần Thiết cũng là câu chuyện hoàn toàn có thật... thì “Sao đen” của Triệu Huấn lại có “nguyên mẫu” từ... “nhiều trong một” hư cấu mà thành. Ngay sau khi xuất hiện, (năm 1986) tiểu thuyết tình báo (TTTB) “Sao đen” (sau thành tên của cả bộ sách) của nhà văn Triệu Huấn đã gây được hiệu ứng nồng nhiệt với độc giả. Số lượng in hơn 200.000 bản mà nhiều người vẫn phải mua sách “chợ đen”. “Ly hương” (tập 2) cũng có số lượng không kém. “Cái tẩu” (tập 3), “Những người đến muộn” (tập 4) và “Vũ điệu thoát y” (tập 5) in vào thời điểm TTTB đã qua thời hoàng kim mà vẫn ở mức 30.000 bản... Cho đến nay, cả 5 tập đều đã được NXB CAND tái bản nhiều lần. Những con số lặng lẽ khiêm nhường mà có sức lan tỏa khi phần nào nói được sức hấp dẫn của “Sao đen”. Văn học là nhân học! “Sao đen” đã có cái kết nhân bản và hòa hợp, bởi tác giả có quan điểm rõ ràng: cần phải kết thúc đau thương và bớt tranh chấp, vì cuộc chiến 30 năm nhưng lại nhỏ bé so với chiều dài lịch sử dân tộc, nên cần lấy cuộc sống con người với con người làm trọng. Như khi trả lời phỏng vấn một phóng viên nước ngoài, ông cũng nói: “Quá khứ nên khép lại, nhưng không có nghĩa là bỏ và quên nó đi, bởi lịch sử là bất biến!”. *** Vừa hành quân từ Điện Biên Phủ về Phan Lương nghỉ ngơi được vài ngày thì đồng chí đại đội trưởng gọi tôi lên gặp riêng. Anh nói: - Cấp trên có lệnh điều cậu đi nhận công tác mới. Mình cũng chưa biết nội dung công việc, nhưng mình cứ chúc cậu gặp nhiều may mắn. Chỉ có điều là cả trung đoàn ta trên chỉ gọi mình cậu, do đó cậu cũng không nên nói rộng chuyện này cho ai. Chia tay anh em thì cậu cứ nói ra được chuyển sang đơn vị khác. Việc điều động quả bất ngờ với tôi. Thật tình tôi luôn luôn bị ám ảnh về thành phần giai cấp của của mình, khó mà có thể nhận được một sự tín nhiệm lớn lao. Tôi biết có một số con em địa chủ lúc đó buộc phải rời khỏi quân đội. Một số tuy là rất ít có vấn đề đối với nông dân được trả về địa phương để đối chứng với cuộc đấu tranh giai cấp. Phải chăng tôi cũng thuộc loại này? Tôi thấy tâm hồn mình u tối lại. Nhưng rồi lý trí cũng đánh thức tôi. Khi ở nhà tôi hãy còn trẻ đã làm nên tội lỗi gì. Hơn nữa vùng quê tôi còn trong địch hậu, chưa có cải cách ruộng đất. Như vậy làm gì có chuyện nông dân đòi tôi về. Thế là tôi lại yên tâm vui vẻ lên đường. Tôi nhớ mãi hôm chia tay đồng đội. Anh em nhìn tôi lưu luyến, nhưng cũng có những cặp mắt chứa đựng những dấu hỏi im lặnng. Đã vào sinh ra tử với nhau ngoài mặt trận, đã chân thành với nhau trong chỉnh quân chính trị thì mối thiện cảm với nhau cũng đã được xây dựng bền vững. Chúng tôi ôm nhau xúc động. Tôi ra đi một mình không ai đưa tiễn. Chỉ khi lên đến Phòng chính trị sư đoàn đồng chí trợ lý cán bộ mới đưa cho tôi giấy tờ và một bức thư nhỏ. Tôi mở ra đọc vội. Bức thư chỉ vẻn vẹn có mấy dòng: Cháu Phan Quang Nghĩa. Mẹ cháu ốm. Cậu xin phép cho cháu về thăm, tiện chuyến về Khu Ba công tác. Cậu chờ cháu ở xóm Trung xã Hoàng Văn Thụ, Đại Từ - Thái Nguyên. Cháu phải thu xếp nhanh, cậu sợ không kịp. Cậu của cháu - Nguyễn Hữu Đức 11 tháng 6 năm 1954 Thì ra câu chuyện chỉ có thế. Tôi vừa mừng vừa lo cho mẹ tôi. Không hiểu tại sao cậu Đức lại biết tôi hành quân về mà xin cấp trên cho tôi nghỉ phép. Câu chuyện đơn giản thế mà đại đội lại không thông báo cho tôi rõ ràng? Tại sao tôi lại phải mang toàn bộ tư trang và tấm giấy phép lại kèm theo cả giấy chuyển cung cấp về P.46? Khi tôi chưa thể lý giải được những sự kiện trên thì ký ức về người cậu họ lại dần dần tái hiện trong tôi lọc qua những lớp bụi thời gian mờ ảo. Cậu Đức là em họ xa của mẹ tôi. Là người có học hành đỗ đạt nên cậu nổi bật trong số những người thân bên ngoại. Quê mẹ tôi ở xa nên từ nhỏ tôi chỉ về thăm vài lần và cũng chưa được gặp cậu. Nhưng lần nào về tôi cũng được nghe họ hàng nói về cậu. Mười hai tuổi đầu cậu đã học xong những bộ sách chữ nho Luận ngữ, Mạnh Tử, Đại học, Trung Dung... dày cộp mà nhiều người khác sôi kinh nấu sử từ thuở thiếu thời tới lúc vợ con đàn đống mà vẫn chưa thông hiểu chữ nghĩa của Thánh hiền. Gia đình thấy cậu sáng dạ và cái chữ Nho cũng đến thời mạt vận nên quyết định cho cậu theo tân học. Nhà ông bà nghèo nhưng cả họ xúm vào giúp đỡ, cậu được ra tỉnh theo việc đèn sách và cậu đã không phụ lòng cha mẹ. Tám năm sau cậu kiếm được cái bằng "đíp-lôm", làm rạng danh tổ tông làng xóm. Cậu không tiếp tục học nữa mà đi kiếm việc làm. Nhưng hình như cậu cũng không gặp may vì tuy chí thú như vậy cậu cũng chẳng đưa được đồng nào về nuôi dưỡng mẹ cha, đền ơn họ mạc. Năm 1944 không còn ai gặp cậu. Người đồn cậu bị vào tù, người nói cậu trốn đi Xiêm. Năm 1945 cách mạng thành công mọi người mới vỡ lẽ là cậu theo Việt Minh lên chiến khu hoạt động. Tôi đã tưởng tượng ra cậu và luôn luôn tự hào qua những giai thoại về cậu được bà con kể lại. Mãi tới sau ngày kháng chiến toàn quốc, trong một lần đi công tác cậu mới tạt qua thăm gia đình chúng tôi. Tôi được nhìn cậu lần đần trong bộ ka ki màu vàng của Vệ quốc quân, một khẩu súng ngắn đeo lệch bên sườn, một chiếc thắt lưng tổ ong to bản "rất đúng mốt" vào những năm 47, 48. Mẹ tôi rất kiêu hãnh về người em họ của mình, đặc biệt khi cậu ngồi nói chuyện về thời sự đất nước và quốc tế trước đám cử tọa gọi là am hiểu nhất của cánh nội chúng tôi. Tôi thấv trái tim mình tràn đầy lòng yêu nước, và nếu như lúc này người ta chấp nhận cho tôi đứng dưới lá Quân kỳ thì tôi sẽ không bao giờ lùi bước trong những trận đánh đầu rơi máu chảy. Đêm hôm đó hai cậu cháu tôi nói chuyện với nhau đến khuya. Tôi ngỏ ý xin đi theo cậu nhưng cậu chê tôi còn nhỏ quá. Cậu khuyên tôi cố gắng học hành, sớm muộn nguyên vọng của tôi sẽ được thực hiện. Từ đó thỉnh thoảng tôi có thư từ qua lại với cậu theo nhiều địa chỉ. ... Mời các bạn đón đọc Sao Đen của tác giả Triệu Huấn.