Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Tình Yêu Qua Sáu Nghìn Dặm

Giuyn Vecnơ và tác phẩm Misen Xtrôgôp Giuyn Vecnơ (1828- 1905), nhà văn Pháp nổi tiếng được coi như bậc thầy về sáng tác truyện phiêu lưu mạo hiểm và khoa học viễn tưởng. Ngay từ những tác phẩm đầu tay của mình, ông đã giành được cảm tình của đông đảo bạn đọc Pháp và các nước khác trên thế giới. Sách của ông đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và được in đi in lại nhiều lần với hàng triệu bản phát hành khắp nơi trên thế giới. Có thể nói những tác phẩm của Giuyn Vécnơ không những được giới trẻ, mà cả những bạn đọc nhiều lứa tuổi khác nhau ưa thích. Hơn bốn chục năm (từ 1862 đến đầu 1905) Giuyn Vecnơ đã viết được 63 tiểu thuyết và 2 tuyển tập truyện vừa và truyện ngắn được in thành 97 quyển sách với tham vọng là đề cập đến toàn bộ hành tinh chúng ta, từ thiên nhiên ở các vùng khí hậu khác nhau đến thế giới động vật, thực vật, phong tục tập quán cho đến sinh hoạt muôn màu muôn vẻ của các dân tộc trên thế giới. Những tác phẩm của Giuyn Vecnơ không những thể hiện tài nghệ tuyệt vời của một nhà văn có lối viết rất hấp dẫn, sâu sắc, miêu tả những con người và sự vật hết sức tinh tế, mà còn thể hiện kiến thức uyên bác, tư tưởng tiến bộ và trí tưởng tượng phong phú của một nhà khoa học. Ông vừa là người khởi xướng loại truyện khoa học viễn tưởng mà đến nay nhiều tiên đoán khoa học của ông đã trở thành hiện thực, vừa là nhà văn nổi tiếng về những tiểu thuyết phiêu lưu, mạo hiểm làm cho người đọc rất thích thú và qua đó, những độc giả trẻ nâng cao được trình độ hiểu biết và trau dồi được phẩm chất đạo đức của mình. Giuyn Vecnơ là con một luật sư ở thành phố Năngtơ. Ngay từ khi còn ở tuổi thanh niên, sau khi tốt nghiệp trung học, Giuyn Vecnơ đã theo học trường Luật ở Pari, nhưng vẫn có xu hướng say mê văn thơ, âm nhạc và sân khấu. Khi đã tốt nghiệp và hành nghề luật sư, ông bắt đầu đi vào con đường sáng tác văn học, đồng thời tìm hiểu về khoa học tự nhiên, thường xuyên đến đọc sách ở Thư viện Quốc gia, đi nghe các buổi thuyết trình về địa lý, thiên văn, hàng hải, lịch sử và các phát minh về khoa học, kỹ thuật. Nhờ đó, sau này những kiến thức mà ông tiếp thu được đã thành cơ sở cho những sáng tác kiệt xuất của ông. Những tác phẩm đầu tiên của ông như “Năm tuần lễ trên khinh khí cầu (1862), “Cuộc thám hiểm trong lòng đất” (1864), “Những cuộc du hành của thuyền trưởng Hatơraao” (1864 - 1865), “Những đứa con của thuyền trưởng Grant” (1865 - 1866) v.v... đều lập tức có tiếng vang lớn trong giới độc giả thuộc nhiều thế hệ khác nhau. Misen Xtrôgôp là một trong những cuốn tiểu thuyết phiêu lưu được đánh giá vào loại xuất sắc nhất, vừa có tính giáo dục cao, vừa có tính giải trí lành mạnh với những tình tiết éo le phức tạp, những pha hết sức hồi hộp và bất ngờ, khiến người đọc cảm thấy bị lôi cuốn, say mê, hấp dẫn không sao cưỡng nổi và muốn đọc một mạch suốt 32 chương với gần 500 trang sách. Điều đáng khâm phục là Giuyn Vecnơ miêu tả đất nước và con người Nga chính xác và chân thật tới mức như tác giả là một người Nga, hay ít nhất là đã sinh sống trên đất nước Nga nhiều năm rồi, để có một sự hiểu biết tường tận đến như vậy về địa lý, lịch sử cũng như phong tục tập quán và tính cách con người Nga trong giai đoạn lịch sử đó. Nhân vật chính của tiểu thuyết là Misen Xtrôgôp, con trai một người thợ săn ở Xibir. Anh được rèn luyện từ nhỏ, nên trở thành một thanh niên, cường tráng, dũng cảm và mưu trí. Năm hai mươi tuổi, anh được tuyển vào đội quân liên lạc đặc biệt của Nga hoàng làm một người lính và sau đó trở thành đại úy của đội quân ưu tú này. Thời gian đó bọn giặc Tactar đang nổi lên xâm chiếm vùng Xibir, phần châu Á của nước Nga. Hàng chục vạn quân đủ mọi chủng tộc từ những người Kiêcghidi, Mông Cổ, Apganixtang, Udơbêch, Thổ, Ba Tư, Do Thái... dưới cái tên chung là quân Tactar tràn vào xâm chiếm vùng phía Đông xứ Xibir mênh mông, gây biết bao đau thương, tang tóc cho nhân dân vùng này. Cấu kết chặt chẽ với chúng có tên phản bội cực kỳ nham hiểm và xảo quyệt, Ivan Ôgarep, đại tá trong quân đội Nga hoàng. Bất mãn vì bị đại công tước, em trai của Nga hoàng giáng chức về tội vô tổ chức, tên này đã xúi giục một số tù trưởng bộ lạc ở những vùng biên cương xa xôi nổi lên chống Nga hoàng, âm mưu xâm chiếm vùng Đông Xibir, dùng thủ đoạn gián điệp và nhiều mánh khóe xảo trá khác để bắt sống đại công tước hòng trả thù riêng. Nga hoàng nắm được ý đồ nguy hiểm của tên phản bội này đã phái Misen Xtrôgôp đem mật thư của nhà vua trao tới tận tay đại công tước - lúc này đang ở Irkuxk - để phá vỡ âm mưu đó. Suốt chặng đường dài gần sáu ngàn dặm, từ Maxcơva đến Irkuxk, Misen Xtrôgốp đã trải qua bao gian khổ khó khăn do kẻ thù và thiên nhiên khắc nghiệt gây ra tưởng chừng như khó có thể vượt qua được. Nhưng đói khát, mệt nhọc, băng tuyết, bão táp không làm anh nao núng. Mấy lần sa vào tay giặc, anh đều tìm cách trốn thoát kể cả lần giặc đã đốt mù cả hai mắt anh. Giặc bắt mẹ anh để hành hạ và uy hiếp cũng không khuất phục được anh. Ý chí gang thép của anh đã làm cho bọn giặc man rợ cũng phải sợ hãi và khâm phục. Cuối cùng, nhờ trí thông minh, lòng dũng cảm, thái độ bình tĩnh, mưu trí và nhất là tấm lòng trung thành tận tụy với đất nước, Misen Xtrôgôp đã làm tròn sứ mệnh. Quân phiến loạn bị đánh tan, tên phản bội Ivan Ôgarep bị tiêu diệt, nhân dân Xibir được giải thoát khói ách nô dịch của quân Tactar. Truyện còn được lồng vào một mối tình trong sáng và thanh cao giữa Misen Xtrôgôp và Nađia, cô gái Latvi cũng xông pha ngàn dặm, chia sẻ vói chàng trai dũng cảm bao gian nan khổ ải để tìm cha trong miền Xibir mênh mông tuyết trắng. Khi đã hoàn thành sứ mệnh, trước mặt cha cô, Misen Xtrôgôp nói với người bạn gái: - Nađia!... khi rời Riga để tới Irkuxk, em có còn để lại sau em niềm thương nhớ nào khác ngoài lòng thương nhớ người mẹ đã khuất của em không? - Không, anh ạ, - Nađie đáp, - không còn một niềm thương nhớ nào khác cả. - Nếu vậy thì, Nadia! - Misen Xtrôgôp run giọng nói tiếp. - Anh không tin rằng Thượng đế đã run rủi cho chúng ta gặp nhau, đã bắt chúng ta cùng trải qua bao gian truân thử thách, lẽ nào lại không muốn cho chúng ta được mãi mãi bên nhau? - Ôi, anh! - Nađia thốt kêu lên và sà vào hai cánh tay dang rộng của Misen Xtrôgôp. Và quay lại phía Vaxili Fêđor, mặt đỏ bừng, cô kêu lên: “Cha ơi!”. Người dịch VŨ LIÊM *** - Tâu bệ hạ, một công điện mới. - Từ đâu đến? - Từ Tômxk. - Đường dây đã bị cắt từ thành phố đó phải không? - Bị cắt từ hôm qua, muôn tâu. - Tướng quân hãy từng giờ đánh điện tới Tômxk và yêu cầu cho ta biết tin tức nhé! - Xin tuân lệnh bệ hạ - Tướng Kixôp đáp. Những lời trao đổi trên đây xảy ra vào hồi hai giờ sáng, giữa lúc đêm hội ở Tân Cung đang diễn ra huy hoàng náo nhiệt nhất. Trong đêm đó, ban nhạc của các trung đoàn Prêobragienxky và Paulôpxki không ngừng chơi những điệu vũ nhạc được chọn trong những điệu hay nhất như Pônka, Mazurka và những điệu Vansơ. Những cặp nam nữ nối tiếp nhau nhảy không dứt qua những phòng khách lộng lẫy của lâu đài được xây dựng cách “tòa nhà đá cũ” có mấy bước, nơi xưa kia đã từng xảy ra bao thảm kịch rùng rợn - Và... đêm nay, tiếng vang xưa trỗi dậy, dội vào trong các điệu đối vũ. Ngài đại thống chế của triều đình cũng được hỗ trợ đắc lực trong công việc tế nhị của mình. Các công tước cùng những sĩ quan hộ vệ của các vị đại thần trực ban, các sĩ quan trong hoàng cung cũng tự mình tham gia, đôn đốc việc tổ chức vũ hội. Các công tước phu nhân, ngọc quý đầy người, các bà thị nữ với xiêm áo ngày hội mạnh dạn làm gương cho các bà vợ sĩ quan và viên chức cao cấp của “Kinh thành đá trắng” cổ kính. Vì vậy, khi tín hiệu của điệu nhạc “Pôlône” vừa nổi lên, thì tất cả quan khách, không phân cấp bậc, đều tham gia vào cuộc diễu hành nhịp nhàng đó. Trong khung cảnh trang trọng như đêm nay, thì vũ hội này mang một tầm cỡ quốc gia. Những chiếc áo dài có đính nhiều tầng đăng ten xen lẫn với những bộ quân phục lấp lánh huân chương dưới ánh sáng của hàng trăm bộ đèn chùm, được những tấm gương soi phản chiếu làm sáng rực lên gấp mười lần, trông thật ngoạn mục, chói ngời, lóa mắt. Đại sảnh đường đẹp nhất trong tất cả các phòng khách ở Tân Cung thật xứng đáng làm khung cho sự lộng lẫy huy hoàng của những vị tai to mặt lớn cùng những bà mệnh phụ trang điểm cực kỳ diễm lệ. Vòm nhà thếp vàng tuy đã phai mờ đôi chút vì đã bị phủ một lớp gỉ của thời gian vẫn ánh lên những điểm sáng như những vì sao lấp lánh. Những tấm vóc làm màn che gió và màn treo ở cửa với những nếp gấp tuyệt mỹ ửng hồng lên một màu sắc nồng thắm, tương phản mạnh mẽ với những góc cạnh của tấm màn nặng trĩu. Nhìn qua những tấm kính các cửa sổ rộng lớn, hình bán nguyệt, người ta thấy ánh sáng tràn ngập các phòng, nhưng được một làn hơi nước nhẹ nhàng tỏa ra làm dịu bớt đi, đứng bên ngoài trông như phản quang của một đám cháy nổi bật lên trong đêm tối mà trong khoảng một vài tiếng đồng hồ bao trùm toà lâu đài rực sáng này. Bởi vậy, sự tương phản đó làm cho những tân khách không tham gia khiêu vũ cũng phải chú ý. Khi họ dừng lại bên những khung cửa sổ, họ có thể nhìn thấy một vài tháp chuông với những cái bóng khổng lồ hiện lên đó đây trong đêm, mờ mờ ảo ảo. Bên dưới những bao lơn chạm trổ, họ nhìn thấy những lính canh đi lại, súng vác vai, đầu đội mũ chỏm nhọn có giắt một chòm lông chim, trông như ngọn lửa, dưới ánh sáng của những pháo hoa bắn lên từ bên ngoài. Họ cũng nghe thấy bước chân của những đội tuần tra gõ nhịp nhàng trên mặt đá lát đường, có lẽ còn nhịp nhàng hơn cả những bước chân đang khiêu vũ trên sàn nhà các phòng khách. Thỉnh thoảng có tiếng hô của lính gác lặp đi lặp lại từ trạm này qua trạm khác và đôi lúc một tiếng kèn đồng, xen vào hợp âm của dàn nhạc, cất lên những nốt lánh lót giữa sự hài hòa chung. Dưới thấp hơn, trước tòa nhà, những khối đen sẫm nổi lên rõ nét dưới những luồng ánh sáng hình nón hắt ra từ các cửa sổ của Tân Cung. Đó là những con tàu xuôi dòng sông mà mặt nước lấp lánh dưới ánh sáng chập chờn của những ngọn đèn hiệu mấp mé ở các bậc thềm đầu tiên. Nhân vật chính của buổi khiêu vũ; người ra lệnh tổ chức đêm hội này; người mà tướng Kixốp tôn trọng như đối với các đấng quân vương, chỉ vận sơ sài một bộ quân phục sĩ quan khinh binh cận vệ. Đó chẳng phải là một sự trá hình, mà là thói quen của một người không thích sự diêm dúa bên ngoài. Cách ăn mặc của ông ta tương phản với những trang phục lộng lẫy của đám người nhộn nhịp xung quanh và chính vì thế mà nổi bật giữa đám tùy tùng của ông gồm những người Grudia, những người Cô-dắc, những người Lesghi, những kỵ binh với những bộ quân phục rực rỡ vùng Capcadơ. Nhân vật này, thân hình cao lớn, thái độ hòa nhã, nét mặt bình thản, nhưng vầng trán nhuốm vẻ suy tư, đi từ đám đông này tới đám đông khác, ít nói, thậm chí chỉ lơ đãng nghe, hoặc những câu tào lao vui nhộn của đám tân khách trẻ tuổi, hoặc những lời lẽ nghiêm chỉnh hơn của những viên chức cao cấp hay của những thành viên trong các đoàn ngoại giao, đại diện cho các quốc gia chủ yếu của châu Âu bên cạnh ông ta. Hai hoặc ba trong số những nhà chính khách mẫn tiệp đó - có tài về xem tướng mặt - hình như nhận thấy trên sắc diện của chủ nhân có vài biểu hiện lo lắng băn khoăn gì đó mà họ không rõ nguyên nhân, nhưng không một ai dám tự cho phép mình được hỏi han ông ta về vấn đề đó. Dù sao thì ý đồ của người sĩ quan đội khinh binh cận vệ, không còn nghi ngờ gì nữa, là làm sao để những mối lo âu thầm kín của mình không được gây bất kỳ một trở ngại nào cho đêm hội này - Và vì ông ta là một trong những đấng quân vương hiếm có mà tất cả mọi người đều đã quen phục tùng, ngay cả trong ý nghĩ, nên những niềm hoan lạc của đêm vũ hội không một lúc nào bị giảm sút. Trong khi đó, tướng Kixôp vẫn chờ người sĩ quan mà ông vừa chuyển bức điện từ Tômxk đánh về ra lệnh để rút lui, nhưng người sĩ quan vẫn cứ im lặng, Ông ta cầm đọc bức điện, vầng trán càng sa sầm. Tay ông như vô tình đặt vào chuôi kiếm, rồi đưa lên che mắt một lát khiến mọi người tưởng như ánh sáng làm ông bị chói và ông cần có bóng tối để tự nhìn mình rõ hơn. - Như vậy là, - ông nói và kéo tướng Kixôp tới gần một khung cửa sổ - từ hôm qua chúng ta không còn liên lạc được với đại công tước, em trai ta ư? - Không còn liên lạc được nữa, muôn tâu. Và thần e rằng chẳng bao lâu, những công điện không thể vượt qua được biên giới Xibir. - Nhưng quân đội các tỉnh Amua và Irkuxk cũng như quân đội tỉnh Tranxbaikali đã được lệnh hành quân cấp tốc đến Irkuxk rồi kia mà? - Lệnh đó đã được phát đi bằng bức điện cuối cùng mà chúng ta có thể chuyển tới bên kia hồ Baikan. - Chúng ta vẫn còn liên lạc trực tiếp được với chính quyền các tỉnh Yênixêixk, Ômxk, Xêmipalatinxko và Tôbônxk từ đầu cuộc xâm lăng của địch chứ? - Tâu hoàng thượng, vẫn còn liên lạc được và thần chắc rằng cho đến giờ phút này, bọn Tactar chưa vượt qua được sông Irtys và sông Ôbi. - Còn về tên phản tặc Ivan Ôgarep, chúng ta có tin tức gì không? - Không có tin gì cả, - tướng Kixôp thưa. - Cảnh sát trưởng cũng không biết được chắc chắn là hắn đã vượt qua biên giới chưa. - Đặc điểm nhận dạng của hắn phải được gửi ngay tới Nigiơni - Nôpgôrôd, Pecmơ, Ekatêrinbua, Kaximôp, Tiumen, Ichim Ômxk, Elamxk, Kôlyvan, Tômxk và tới tất cả các trạm bưu điện mà đường dây còn liên lạc được! - Lệnh của hoàng thượng sẽ được thi hành ngay tức khắc, - Tướng Kixôp đáp. - Tất cả công việc này cần phải tiến hành thật lặng lẽ đấy nhé! Bằng một dấu hiệu tỏ vẻ trân trọng phục tùng, sau khi khẽ cúi đầu, tướng Kixôp đi lẫn vào đám đông và rời khỏi các phòng khách. Không ai để ý đến sự ra đi của ông. Người sĩ quan đứng thẫn thờ một lúc và khi trở lại nhập vào các nhóm quân nhân, các nhà chính khách đã được hình thành ở nhiều điểm trong các phòng, thì vẻ mặt ông, trước đó đã có lúc bối rối, bỗng trở lại bình thản như cũ. Tuy vậy, sự kiện nghiêm trọng khiến có cuộc trao đổi ý kiến chớp nhoáng trên đây không phải là không ai biết như viên sĩ quan khinh binh cận vệ và tướng Kixôp tưởng. Điều đó, người ta không nói ra một cách chính thức, đúng thế, cũng như bán chính thức, bởi vì không có “lệnh’’ được công khai nói. Nhưng một vài nhân vật cao cấp cũng đã được thông báo tương đối chính xác về tình hình xảy ra ở phía bên kia biên giới. Dù sao họ cũng chỉ mới nắm được láng máng về những điều mà ngay cả những thành viên trong đoàn ngoại giao cũng không nói với nhau, thế mà có hai vị khách không mặc quân phục, cũng không mang huân chương trong buổi chiêu đãi ở Tân Cung, lại thì thầm trao đổi với nhau có vẻ như đã nhận được những tin tức khá chính xác. Làm thế nào, bằng con đường nào, nhờ có sự bặt thiệp như thế nào mà hai con người bình thường này lại biết cái mà những người khác vốn là những yếu nhân, cũng chỉ vừa mới ngờ tới? Người ta khó có thể tin như vậy. Hay là họ được trời phú cho cái tài tiên giác tiên tri? Hay là họ có một giác quan phụ cho phép nhìn thấy được tận bên kia chân trời của biên giới mà những con mắt người thường không thấy được chăng? Hoặc là họ có khiếu linh mẫn đặc biệt để khám phá ra những gì bí mật nhất. Hoặc là nhờ thói quen “sống cho tin tức và vì tin tức” ở họ đã trở thành bản chất thứ hai khiến tập tính của họ thay đổi chăng? Chúng ta hãy thử chấp nhận điều đó. Trong hai người này thì một là người Anh, còn người kia là công dân Pháp. Cả hai đều cao, gầy. Một người da nâu nâu như dân miền Nam xứ Prôvăngxơ, một người da hung hung đỏ như một nhà quý tộc xứ Lancasir. Anh chàng người Anh thì kiểu cách, lạnh lùng, phớt đời, tiết kiệm cả cử chỉ và lời nói, hình như chỉ nói năng và cử động khi thật cần thiết. Ngược lại anh chàng người Pháp thì linh hoạt, hăng hái, diễn tả cùng một lúc cả bằng môi, bằng mắt, bằng tay... ý nghĩ của mình với hàng chục cách khác nhau, trong khi người đối thoại với anh ta hình như chỉ có một cách duy nhất không thay đổi và như cố định trong đầu là chăm chú nghe và nhìn. Những nét khác biệt bên ngoài này dễ dàng làm cho bất cứ ai, dù có cặp mắt quan sát kém nhất cũng phải chú ý; nhưng một người giỏi xét đoán vẻ mặt, khi nhìn gần hai người ngoại quốc này sẽ xác định dứt khoát là sự trái ngược trong hành động bề ngoài của họ nói lên rằng người Pháp rất “tinh mắt”, còn người Anh rất “thính tai”. Thật vậy, cặp mắt - bộ máy quang học - của người này thường xuyên được sử dụng, nên đạt tới mức hoàn thiện lạ lùng. Võng mạc mắt ánh ta có độ nhạy tức thời như võng mạc những nhà ảo thuật chỉ qua động tác trang bài thật nhanh cũng nhận ra ngay được con bài nào, hay đơn thuần chỉ bằng sự sắp xếp một con bài mà người khác không tài nào nhận ra. Vậy là người Pháp này có một năng khiếu tuyệt vời mà người ta gọi là “trí nhớ bằng mắt”. Người Anh, ngược lại, hình như đặc biệt sinh ra để nghe và hiểu. Khi bộ máy thính giác tiếp nhận tiếng của một giọng nói, anh ta sẽ không thể nào quên được và mười năm, hai mươi năm sau, anh ta vẫn có thể nhận ra giọng nói đó trong hàng nghìn giọng nói khác. Đôi tai anh ta tất nhiên không có khả năng cử động như tai các loài vật có những loa tai to; nhưng các nhà sinh vật học nhận xét là tai người chỉ “gần như” bất động nên ta có quyển khẳng định rằng tai của người Anh trên đây vểnh lên, cụp xuống, nghiêng nghé... để tìm cách thu nhận cả những âm thanh chỉ mới vừa thoáng vẳng đến. Phải công nhận là năng khiếu về nghe và nhìn của hai nhân vật nói trên đã phục vụ tuyệt diệu cho nghề nghiệp của họ, vì anh chàng người Anh là phóng viên của tờ “Tin điện hàng ngày” và anh chàng người Pháp là phóng viên của tờ báo nào hoặc của những tờ báo nào thì anh ta không nói và khi có người hỏi, anh lại bông đùa trả lời là anh cung cấp tin tức cho “cô em họ Mađơlen” của anh. Thật ra anh chàng người Pháp tuy bề ngoài có vẻ nông nổi, nhưng lại rất mẫn tiệp và sắc sảo. Anh thường hay nói năng lung tung - có lẽ là để che giấu ý muốn tìm hiểu sự thực - nhưng không bao giờ chịu bộc lộ ý đồ chính của mình. Chính sự ba hoa đó đã giúp anh kín tiếng. Có thể nói là anh ta chín chắn và kín cạnh hơn bạn đồng nghiệp ở báo “Tin điện hàng ngày”. Với tư cách nhà báo, hai người tham dự đêm hội tổ chức tại Tân Cung tối 15 rạng 16 tháng Bảy là cốt để đưa tin sốt dẻo phục vụ thật hữu hiệu cho độc giả của họ. Không cần nói là cả hai anh chàng đều hăng say với sứ mệnh của mình ở trên đời này. Họ thích lao vào việc đi săn những tin tức bất ngờ nhất. Không gì làm cho họ sợ hãi cũng như làm họ chán nản trong khi đi tìm thắng lợi. Họ có thái độ bình tĩnh, không bao giờ nao núng. Chính đó là lòng dũng cảm thực sự của những người yêu nghề. Là những tay đua ngựa vượt rào nhà nghề trong cuộc săn tin này, họ vọt qua rào, vượt qua sông, nhảy qua bờ đất với nhiệt tình vô song của những con ngựa nòi muốn chạy tới đích “hoặc đoạt giải nhất hoặc là chết!”. Hơn nữa, những tờ báo của họ không bao giờ tiếc tiền đối với họ - đó là nhân tố thông tin mạnh nhất, nhanh nhất, hoàn hảo nhất mà người ta biết được cho đến nay. Cần phải nói thêm, và đây là một vinh dự đối với họ, là cả hai đều không bao giờ tò mò nhìn và nghe những gì thuộc về đời tư và họ chỉ hành động khi nào có dính líu đến quyền lợi chính trị và xã hội của họ. Tóm lại, họ làm như người ta thường nói trong khoảng vài ba năm nay, “thiên phóng sự lớn về chính trị và quân sự”. Nhưng, nếu theo sát họ, người ta sẽ thấy thường thường họ có một cách nhận định sự việc thật kỳ quặc, nhất là nhận định về những hậu quả của những sự việc đó, bởi lẽ mỗi người đều có “cách riêng của mình” để xem xét và đánh giá. Và cuối cùng thì không ai đang tâm trách cứ họ, vì họ làm việc thật nghiêm túc, hết mình bất cứ trong trường hợp nào. Mời các bạn đón đọc Tình Yêu Qua Sáu Nghìn Dặm của tác giả Jules Verne.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Cây Vĩ Cầm Ave Maria
Cô bé 14 tuổi Asuka bắt gặp một cây vĩ cầm phát ra âm thanh kì lạ ở cửa hàng nhạc cụ. Đó là đồ vật của Hannah, cô bé người Do Thái từng là thành viên dàn nhạc ở Trại tập trung Auschwitz. Dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt đến thế nào, Hannah vẫn luôn nghĩ tới bạn bè và không bao giờ quên lòng nhiệt thành dành cho âm nhạc. Tình cảm của Hannah chạm tới cả trái tim của cô bé Nhật Bản Asuka… Một câu chuyện cảm động sinh ra từ một cây vĩ cầm đã kinh qua ngọn lửa chiến tranh, bị vận mệnh bất hạnh trêu đùa.  “Âm nhạc cứu rỗi chúng ta khỏi trái tim tà ác. Chỉ cần tận hưởng âm nhạc một cách đơn thuần, chúng ta có thể vượt qua mọi rào cản ngôn ngữ, quốc gia, thậm chí là cả chiến tranh nữa.”  *** 'Cây vĩ cầm Ave Maria' - tiểu thuyết về cô bé thoát chết trong Thế chiến. Sách của tác giả Nhật là bản hòa tấu giàu cung bậc cảm xúc, khắc họa tình người, tình yêu âm nhạc trước cuộc sống khốc liệt. Một nghệ sĩ dương cầm tưởng chừng đã lọt vào cửa tử khi bị tên lính Đức phát hiện ẩn náu trong những tòa nhà đổ nát. Cuối cùng, anh bất ngờ thoát chết khi chơi một nhạc khúc trên cây dương cầm bị bỏ quên. Dù trong phút tử sinh, bản nhạc vẫn nhẹ nhàng và thanh khiết, lay động tâm hồn tên lính. Đó là một trong những cảnh kinh điển của phim The Pianist, tác phẩm điện ảnh nổi bật về Thế chiến thứ hai. Một phân cảnh nhỏ đủ để thấy sức mạnh không lời nhưng mãnh liệt của những giai âm đánh thức phần "người" trong mỗi chúng ta. Cùng lấy đề tài âm nhạc trong thời kỳ Thế chiến thứ hai khốc liệt và u tối trong lịch sử nhân loại, sách Cây vĩ cầm Ave Maria là bản hòa tấu giàu cung bậc cảm xúc, khắc họa rõ nét tình người và tình yêu âm nhạc khi người ta đối mặt với cái chết. 300 trang truyện có lối kể gần gũi, giàu tính nhân văn. Câu chuyện khởi nguồn từ cây vĩ cầm đỏ mang tên Ave Maria do cô bé Nhật Bản Asuka được cho mượn trong cửa hàng bán nhạc cụ. Để tìm lại nguồn vui, động lực tập luyện violin nghiêm túc, Asuka và chủ cửa hàng nhạc cụ quyết định tới gặp Paul Kanzas, chỉ huy dàn nhạc người Ba Lan, cũng là nhạc công có cơ duyên quen được người chủ trước đó của cây đàn - cô bé Hannah. Ngẫu nhiên Hannah cũng 14 tuổi, bằng đúng tuổi Asuka. Qua lời kể của ông Kanzas, độc giả lùi lại thời quá khứ để lắng nghe số phận đặc biệt của "thiên thần nhỏ" Hanna. Dù lọt vào chốn địa ngục trần gian; cả gia đình từ ông, bà, cha, mẹ, em trai đều bị phát xít tàn sát, sống trong sợ hãi nơm nớp hàng ngày ở Trại tập trung Auschwitz, cô bé vươn lên mạnh mẽ nhờ vào tình yêu vô bờ và thuần khiết với âm nhạc. Cây vĩ cầm Ave Maria không né tránh những sự thật đau lòng của hiện thực, mà khắc họa chúng tiết chế nhưng đầy đủ. Đó là khi chị gái của Hannah dù khuyết tật vẫn bị quân Gestapo bắn chết, là lúc ông em và cả em trai Andrew chưa đầy 5 tuổi bị đưa vào phòng hơi ngạt, là hình ảnh những người lao động bị đem ra làm trò tiêu khiển cho lính Đức để rồi cuối cùng không thoát khỏi thảm cảnh bị trừng phạt... Suốt tác phẩm, âm nhạc vẫn nổi lên như một "nhân vật chính", cho độc giả quyền tin vào một "Das Beste Leben" (Cuộc sống tuyệt vời - cụm từ được khắc trên thân đàn). Liệu âm nhạc có đủ sức mạnh để giúp con người vượt trên mọi nghịch cảnh? Đó là câu hỏi khiến người đọc phải trăn trở xuyên suốt tác phẩm. Ở đây, những bản nhạc không lời, được thể hiện qua cây violin và cả nhiều nhạc cụ khác đôi khi đã phải "đứng chông chênh" trên "bờ vực phán xét". Có những lúc, âm nhạc vang lên trong hoàn cảnh đầy đau đớn, xót xa. Khi cả nhà Hannah bị bắt đến Trại tập trung, em nghe thấy bản Tiếng Xuân. Điều khiến sau này em vẫn còn bị ám ảnh mãi, ngay cả khi hòa bình lập lại. Âm nhạc thậm chí từng bị coi là đóng vai trò "ru ngủ" những người lao động và dàn nhạc trong trại tập trung bị cho là những kẻ bợ đỡ quân Gestapo để mưu cầu sự sống. Thậm chí, có những bản hành khúc được chơi trong khi quân Đức thảm sát người Do Thái, tưởng chừng đã trở thành một "vết sẹo tinh thần" mãi mãi trong tâm trí cô bé 14 tuổi. Khi được trở về với cuộc sống bình thường, em đã trốn tránh thực tại, phải trị liệu tâm lý nhiều lần vì không dám nghe chúng. Nhưng cuối cùng, âm nhạc vẫn thể hiện được sứ mệnh của nó. Từ đầu đến cuối, âm nhạc là sợi dây kết nối con người, thậm chí là những người thuộc về hai phe đối lập, mở ra cánh cửa tưởng chừng xây bằng đá và đã đóng mãi mãi như trái tim của những tên lính Đức Quốc xã. Âm nhạc là "chìa khóa" cho ngục tù theo cả nghĩa đen, và nghĩa bóng: Ngục tù tâm hồn, giúp cho Hannah và những người trong dàn nhạc của em vươn lên mãnh liệt trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất. Đúng như những gì nhân vật của tác phẩm đã khẳng định: "Âm nhạc sẽ cứu rỗi con người khỏi trái tim tà ác. Chỉ cần tận hưởng âm nhạc một cách đơn thuần, chúng ta có thể vượt qua mọi rào cản ngôn ngữ, quốc gia, thậm chí là cả chiến tranh nữa". Tác phẩm của nhà văn nữ Kagawa Yoshiko đã tiếp cận những trang đau thương nhất của lịch sử nhân loại bằng cách thức giàu cảm xúc và nhân văn. Sách truyền thông điệp về tình yêu giữa con người với nhau và với âm nhạc, từ đó "đánh thức" động lực tìm hiểu về lịch sử, niềm đam mê với âm nhạc của thế hệ trẻ. Ấn phẩm của nhà văn nữ Kagawa Yoshiko đã đoạt giải vàng Huân Chương Sakura, giải thưởng thường niên của Hiệp hội thư viện trường học Nhật Bản. Năm 2014, sách được chọn làm đề tài cho cuộc thi viết cảm tưởng về các tác phẩm văn học dành cho thanh thiếu niên Nhật Bản. Tô Lệ Trân *** [REVIEW SÁCH] Tiểu thuyết: CÂY VĨ CẦM AVE MARIA (Yoshiko Kagawa) By LiLybook Hôm trước có rất nhiều bạn hỏi xin review nên hôm nay mình xin phép review cuốn Cây vĩ cầm của Ave Maria ạ. Theo cảm nhận của mình thì cuốn sách này cũng giống như một bản nhạc hòa tấu, có khúc dạo đầu, có khúc trung gian và có khúc vĩ thanh. Đôi lúc “bản nhạc” êm ái du dương, lúc lại cao trào mãnh liệt, lại có lúc trầm bổng diệu kỳ. Xem xong review các bạn thích thì mua, hong thích thì cũng mua luôn nha, đáng đọc lắm đó, à còn nữa xem xong review các bạn nhớ rate cho mình 5 sao nghen, mình cảm ơn các bạn rất nhiều Đối tượng đọc Phù hợp với mọi lứa tuổi và mọi mục đích ^^ (ngoài các bạn yêu sách ra thì cũng có các bạn đọc sách, truyện để giết thời gian đúng không nè) Mình khuyến khích các bà mẹ nên mua cho con mình đọc vì cuốn sách này mang tư tưởng nhân văn cao đẹp, giúp nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ, dạy chúng các phân biệt thiện ác và đúng sai, biết tuyên dương và noi gương cái thiện, lấy cái thiện làm kim chỉ nam trong cuộc sống, biết lên án và loại bỏ cái ác, cái xấu, yêu hòa bình, yêu đất nước quê hương mình. Tóm tắt nội dung sách “Bản Ave Maria cô chơi tại sao lại khác biệt như thế…?” “Vì bản nhạc này đang rửa trôi tội ác tày trời của chúng ta.” “Ờ… Có lẽ là vậy đó…” Câu chuyện bắt đầu từ cô bé Asuka 14 tuổi, dù được học violin từ nhỏ nhưng Asuka luôn thờ ơ với tương lai của mình, hầu như chẳng có một chút động lực nào khiến cô bé ao ước được làm một thứ gì đó. Chuyện là như vậy cho đến khi định mệnh khiến Asuka gặp được cây vĩ cầm Ave Maria và tình cờ được biết về quá khứ của nó. Chủ nhân cũ của cây vĩ cầm này là Hannah, một thiên tài âm nhạc, một trái tim quả cảm đã từng sống sót qua ngọn lửa của chiến tranh. Đó là vào một ngày mùa đông năm 1933, Đảng đứng đầu Nghị viện Đức lúc bấy giờ là Đảng Quốc Xã đã bổ nhiệm người lãnh đạo Đảng – Hitler lên làm Thủ tướng Đức. Từ ngày đó, cánh cửa địa ngục như mở ra, không chỉ người Do Thái mà cả người Ba Lan, Liên Xô cũng đều phải trải qua một thời kỳ đau thương của lịch sử. Hitler cho rằng người Do Thái là nguyên nhân khiến Đức thất bại trong chiến tranh thế giới thứ nhất. Chính vì vậy, “cuộc thảm sát” người Do Thái diễn ra. Gia đình Hannah cũng trở thành nạn nhân của chính trị và bị bắt tới Trại tập trung Auschwits. Tại đây, nhờ tài năng âm nhạc của mình, Hannah được xếp vào dàn nhạc mà không phải lao động khổ sai. Em và dàn nhạc bị quân đội Đức bắt chơi nhạc ở gần các lò thiêu sống để nhấn chìm đi những tiếng thét đau đớn của người lao động vô tội, để che dấu đi tội ác man rợ của chúng. Nhờ sức sống mãnh liệt, can trường, cô bé may mắn được nhìn thấy tự do một lần nữa, nhưng gia đình em thì không thể. Những gì đã xảy ra có lẽ đã trở thành nỗi ám ảnh to lớn trong tâm hồn Hannah. Tại sao nên đọc… Đề tài chiến tranh luôn là đề tài lấy được nhiều cảm tình và nước mắt của độc giả. Mặc dù câu chuyện về Hannah và cây vĩ cầm chỉ là những phần hư cấu giả tưởng của tác giả nhưng những sự kiện lịch sử vẫn luôn là sự thật. Giá mà tác giả khắc họa mạnh mẽ và lên án rõ rệt hơn nữa những tội ác mà phát xít Đức đã gây ra thì tác phẩm chắc chắn sẽ thật sự tuyệt vời. Cuốn sách khiến ta biết về những hậu quả tàn khốc của chiến tranh, những người đã ngã xuống, và cách thế giới đã vận hành như thế nào, để chúng ta biết trân trọng hòa bình của hiện tại. Nhắm mắt lại, bạn có nghe thấy tiếng gào thét của những con người vô tội bị đưa vào làm vật thí nghiệm, của những người lao động khi bị ném vào lò hỏa thiêu hay những tiếng khóc ai oán của sự chia ly… chúng hòa vào những cột khói, len lỏi trong từng giai điệu của bản nhạc, đau thương mà thảm khốc. Hình ảnh Hannah ngồi chơi bản Ave Maria lần cuối cùng giữa cánh đồng hoa anh túc đang nở rộ sau khi Trại tập trung được giải phóng, gương mặt em nở một nụ cười mãn nguyện đã khắc sâu vào tâm trí của mình. Ổn rồi, Hannah bé nhỏ. Trái tim em chẳng còn bất kỳ hận thù hay đớn đau nào nữa… Em đã hoàn thành sứ mệnh của mình Đánh giá của độc giả Theo cá nhân mình thì đây là một tác phẩm rất đáng để đọc, nó mang ý nghĩa và tư tưởng nhân văn cao cả, một khát vọng, sức sống tìm tàng và tâm hồn cao đẹp, nghệ sĩ của nhân vật chính, rất thích hợp cho các bé nhỏ đọc nhất là các bé đang ở độ tuổi phát triển tâm hồn (từ lớp 3 trở đi) để từ đó hình thành nên lòng nhân ái, tình thương người và nhận thức thiện ác ở các bé, ngoài ra còn giảm việc các bé mãi mê chơi game, thay vì chơi game thì việc đọc sách tốt hơn nhiều Mời các bạn đón đọc Cây Vĩ Cầm Ave Maria của tác giả Kagawa Yoshiko & Nguyễn Hồng Vân (dịch).
Bá Chủ Hắc Đạo Cưng Chiều Vợ Sát Thủ
Thể loại: Hắc bang, ngôn tình, HE Lôi Lạc Thiên anh ngoài thân phận đứng đầu giới bạch đạo ở thành phố S thì còn là người đứng đầu Bang Lôi Ưng của hắc đạo. Anh có tướng mạo vô cùng phi phàm, lạnh lùng và tàn nhẫn. Điều đặc biệt là anh không thích phụ nữ. Anh có hai thuộc hạ trung thành đồng thời cũng là bạn tốt của anh. Trình Lam cô là một siêu sát thủ đứng đầu tổ chức Thần Long. Khuôn mặt trái xoan, đôi môi xinh đẹp, mái tóc hạt dẻ khiến cô trông thật dịu dàng và nữ tính. Nhưng sở trường của cô gái nhỏ đó lại là đua xe, mở khóa, võ thuật, sử dụng các loại vũ khí và là một cao thủ hacker. *** Thành Phố Las Vegas là một trong những thành phố xa hoa nhất tại Mỹ. Khi màn đêm buông xuống những ánh đèn neon rực rở ánh sáng, là lúc bất đầu một đêm ăn chơi trụy lạc. Các sòng bạc và quán bar bất đầu tụ tập những kẻ ăn chơi xa đọa. Những người tự cho mình là người của giới thượng lưư điều tụ tập tại quán Bar Night Angel. Một quán bar nổi tiến và xa xỉ nhất tại Las Vegas cũng là 1 trông 5 quán Bar của bang Lôi Ưng trông và ngoài nước. Những người muốn vào đây điều phải có thẻ hội viên. Tiền để mở thẻ hội viên có thể để người bình thường sống một cuộc sống giản dị cả đời. Những kẽ ra vào nơi nầy không phải con ông cháu cha thì là các công tử, tiểu thư nhà giàu và các đại minh tinh. Trên sàn nhảy có những vũ công xinh đẹp với thân hình bóc lửa đang lượng theo những điệu nhạc sống động. Các nam nữ tụm ba tụm bẩy nói chuyện và liên tục uống rượu. Trong một góc của quầy bar có một cô gái mặc bộ váy bó sát người để lộ ra những đường công hoàn mỹ. Cô là Trình Lam cao 1m68 dáng người duyên dáng mảnh mai, có khuôn mặt trái xoan. Làn da trắng mịn đôi chân thôn dài. Tóc màu hạt dẻ dài đến thắc lưng. Cô gọi một ly Brandy có độ cồn rất cao. Người Bartender mới vừa đặt ly rượu xuống trước mặt cô, cô cầm ly Brandy lên uống một hơi cạn sạch. Cô gọi thêm một ly nữa. Giờ phút nầy trong một góc của quán bar có 4 người đàn ông đang ngồi nối chuyện. Lôi Lạc Thiên là Tổng giám đốc tập đoàn Lôi Thị kinh doanh bất động sản, đứng đầu giới bạch đạo ở Thành Phố S. Cũng đồng thời là người đứng đầu Bang Lôi Ưng trong giới Hắc đạo chuyên buôn bán vũ khí. Anh Lôi Lạc Thiên 27 tuổi, con trai độc nhất của Ông Lôi Lạc Hùng gia tộc đứng đầu Thành phố S. tướng mạo phong nhã, lịch sự sang trọng,nước da mầu nâu, có đôi mắt như chim ưng, sống mũi cao thẳng và một đôi môi mỏng, cao 1m8 thân hình hấp dẩn cường trán, nhưng khi người ta nhìn vào có một cảm giác lạnh thấu xương. Anh ra tây tàn nhẫn, thánh tình bình tĩnh quyết đóan, trên người anh tỏa ra sự cao quý và oai nghiêm. Anh Không bao giờ bỏ qua cho bất cứ ai giám động đến anh hoặc là đồ thuộc về quyền sở hưữ của anh. Tính tình ưa sạch sẽ. Lôi thiếu ít khi anh có hứng thú đến nơi này, nào mình cạn một ly. Tràn Hao lên tiếng. Tràn Hao là Tổng giám đốc tập đoàn Tràn Thị kinh doanh trong làng giả trí và khách sạn. Năm nay 28t, tính tình ôn hoà, phong lưu, có nụ cười rạng rở, nhưng đằng sau bộ mặt bất cần đời là một người vô cùng nghiêm nghị, tướng người hoàn mỹ. Ngồi khế bên Tràn Hào là Manh Hùng, Tổng giám đốc tập đoàn Manh Thị, năm nay 30 tuổi, kinh doanh ngân hàng và buôn bán vũ khí. Tính tình tàn nhẫn thà giết lầm còn hơn bỏ sót. Ngồi đối diện kế bên Lôi Lạc Thiên là Nam Liệt, Tổng giám đốc tập đoàn Nam Thị. Năm nay 27 tuổi kinh doanh hệ thống truyền thong và Internet. Một cao thủ hacker cũng là Nhị đương gia của bang Lôi Ưng. Diện mạo tuấn tú, thân hình cường trán tính tình ôn hoà, vẽ bề ngoài thì sao cũng được nhưng thật sự rất thâm đọc. Đây chín là nhóm tài phiệt đứng đầu Chau á với số tài sảng khủng lồ. Họ ở Thành Phố S là những chàng trai độc thân hoàng kim, cũng là những người được các cô gái hâm mộ chỉ cần có thể tiếp cận được họ, các cô sẽ không bỏ qua bất cứ cơ hội và thủ đoạn gì. Các nhà doanh nhân trong nước ai cũng muốn gả con gái cho bọn họ, để có thể củng cố địa vị và thế lực của mình trên thương trường. Lôi Lạc Thiên tây cầm ly rượu, mắt hơi híp lại nhìn về một góc bar nơi Trình Lam đang ngồi. Khi Bartender đặt ly rượu thứ nhì xuống trước mặt cô, Trình Lam cầm lên uống một hơi. Ực ực... Đặt mạnh ly xuống. Cô Hướng về phía cửa, nơi một người đàn ông cao lớn mặc Âu phục màu xám mới bước vào, cùng 2 tên vệ sĩ toàn thân màu đen. Cô đứng lên mái tóc dài màu hạt dẻ rủ xuống bả vai, cập đùi thon dài để lộ ra làn da trắng mịn. Cập mắt trong như suối hướng người đàn ông mặc đồ xám nở nụ cười động lòng người. Khi cô bước ngan qua người đàn ông kia cô xoay nhẹ chiếc nhẫn trên tay, một cộng dây bằng bạc sắc bén từ trong chiếc nhẩn đưa ra. Cô dùng tóc độ nhanh nhất, đưa tay ngang qua cổ của người đàn ông, rồi lước qua 2 tên vệ sĩ đi ra ngoài cửa. Với tốc độ nhanh như chớp cổ người đàn ông bị rạch một đường thật sâu, máu phúng ra ngoài làm các người chung quanh hốt hoảng la hét chạy tán loạn. Lôi Lạc Thiên ngồi xem toàn bộ quá trình chỉ diễn ra trong vòng 1 phút. Cập mắt Anh hơi nhắm lại, dựa lưng vào ghế Sopha uống một ngụm rượu vang, chất lỏng màu đỏ từ từ chảy xuống cổ họng của anh. Trong lòng thầm nghĩ “Cô gái nầy thật thú vị“. Mời các bạn đón đọc Bá Chủ Hắc Đạo Cưng Chiều Vợ Sát Thủ của tác giả Lan Hồ Điệp 134.
Mực Giấy Và Sao Trời
Mực Giấy Và Sao Trời - một cuốn sách có phép màu! Isabella, mười ba tuổi, cô và ba mình sống trên hòn đảo Joya dưới sự thống trị của Thống đốc Adori tàn ác. Tuy tàn độc nhưng Thống đốc Adori lại có một cô con gái lương thiện là Lupe, cũng là bạn thân của Isabella. Cuộc sống thanh bình trên Joya đột nhiên xảy ra biến động lớn khi người bạn cùng lớp của Isabella và Lupe bị giết một cách kì bí, còn Lupe thì mất tích. Isabella buộc phải cải trang thành con trai để trà trộn vào đoàn tìm kiếm của Thống đốc. Cô bé sử dụng kĩ năng vẽ bản đồ được thừa hưởng từ ba mình để giúp cả đoàn. Cũng trong chuyến đi này, Isabella khám phá ra nhiều bí ẩn về quá khứ huy hoàng của Joya - một hòn đảo trôi nổi tự do trên biển. Cuộc hành trình mạo hiểm nhưng đầy bất ngờ đã tặng cho cô bé những bài học quý giá, giúp cô trưởng thành và mạnh mẽ hơn. Mực giấy và Sao trời là câu chuyện phiêu lưu đầy màu sắc kì diệu về tình cha con, tình bạn và lòng dũng cảm tiềm ẩn trong mỗi cô gái. *** Review sách Mực Giấy Và Sao Trời "Mực Giấy Và Sao Trời" - Câu chuyện là đan xen giữa tình bạn, tình cha con, sự đấu tranh và lòng dũng cảm. Mình được tặng cuốn này từ rất lâu. Nhưng sau đó bận quá nên vứt một chỗ rồi sau này tiếc rằng không đọc nó sớm hơn."Mực Giấy Và Sao Trời" hay ngay từ tên truyện rồi, nghe cứ như là một chuyến đi xa và mực giấy để ghi chép lại hành trình tuyệt vời đó, và sao trời nghe như những điều chỉ đường dẫn lối cho những cuộc phiêu lưu. Và đúng, nó là câu chuyện phiêu lưu mà mình vô cùng thích. Kiran Millwood Hargrave là một nhà văn rất nổi tiếng về truyện viết cho thiếu nhi. Chính vì thế, nhân vật trong câu chuyện này vẫn còn nhỏ. Nhỏ mà lại có hành trình lớn, thế mới hay và thú vị."Mực Giấy Và Sao Trời" kể về cuộc sống trên một hòn đảo nhỏ có tên làJoya dưới sự thống trị của Thống đốc Adori hung ác. Thế nhưng con gái của ông ta Lupe, lại là một cô bé lương thiện dễ mến và cũng là bạn thân của Isabella. Câu chuyện bắt đầu xảy ra khi một người bạn cùng lớp củaIsabella và Lupe bị giết một cách bất ngờ, để lại nỗi bàng hoàng và thương xót của tất cả mọi người. Cuộc sống thanh bình trên Joya cũng từ đó mà bị chấn động lớn, mọi thứ gần như bị đảo lộn hết lên. Ngay sau đó, Lupe cũng bị mất tích một cách bất ngờ. Trong cuộc hành trình đó, Isabella đã phải cải trang thành nam và đi kiếm cô bạn thân của mình. Cô bé sử dụng kĩ năng vẽ bản đồ được thừa hưởng từ ba mình để giúp cả đoàn. Cũng trong chuyến đi này, Isabella khám phá ra nhiều bí ẩn về quá khứ huy hoàng của Joya - một hòn đảo trôi nổi tự do trên biển. Cuộc hành trình mạo hiểm nhưng đầy bất ngờ đã tặng cho cô bé những bài học quý giá, giúp cô trưởng thành và mạnh mẽ hơn. Và"Mực Giấy Và Sao Trời" cũng dành cho người đọc những triết lý sâu xa về tình yêu thương trong cuộc đời này: tình cha con, tình bạn bè. Nếu như bạn thân của mình mà bị mất tích giống Lupe, chắc mình cũng hoảng loạn và kinh hoàng lắm. Mình cũng sẽ làm mọi để tìm bạn mình và đưa bạn trở về an toàn. Nhưng bây giờ đặt trong hoàn cảnh củaIsabella, một cô bé nhỏ hơn mình rất nhiều tuổi lại dám dũng cảm dấn thân vào cuộc hành trình như thế, một cuộc hành trình mà có khi người lớn cũng phải e ngại. Thế mới nói, chính tình thương mới giúp chúng ta mạnh mẽ và trưởng thành hơn. Đây là một cuốn sách đáng đọc để bạn có thể trở về tuổi thơ, chìm đắm trong tình thương và nhận được nhiều bài học. Mời các bạn đón đọc Mực Giấy Và Sao Trời của tác giả Kiran Millwood Hargrave & YokenJ (dịch).
Khiêu Vũ Với Bầy Sói
Đại tá John Dunbar phiêu bạt đến một bộ lạc người da đỏ và được bộ lạc cưu mang. Cuộc sống êm đềm diễn ra giữa thiên nhiên hoang dã và những con người hồn nhiên, đặc biệt tình yêu nảy nở giữa anh và một người con gái da trắng được bộ lạc này nuôi dưỡng từ nhỏ. Năm 1836, khi chiến tranh còn đang giai đoạn nóng bỏng, đại tá John Dunbar vừa thoát chết sau một cuộc giao tranh với một bên chân bị thương nặng. Các bác sĩ ở bệnh viện Union Field tại Tennessee không thể cắt bỏ nó, đau đớn đến cùng cực tưởng như không thể chịu đựng được nữa, Dunbar tuyệt vọng và suýt nữa tự tử. Đột nhiên trong lúc tuyệt vọng và lang thang ở biên giới phía tây, Dunbar bắt gặp một con sói tên là Two-Socks và bộ lạc người da đỏ Sioux. Anh được họ cưu mang và gọi tên là “Dances With Wolves”. Thời gian đầu thực sự khó hòa nhập với những người da đỏ xa lạ. Anh phải quan sát học tập theo lối sống và cách xử sự của họ, kể cả ngôn ngữ của người da đỏ. *** Bản dịch này dịch theo phong cách lược dịch thường gặp ở những bản dịch cũ trước năm 2000, tức là ở đó người dịch sẽ bỏ không dịch một số đoạn văn và ở một số đoạn văn thì trình bày và diễn giải tương đối khác với nguyên tác. Do đó nếu so sánh với nguyên tác Dances with Wolves thì bản dịch này có khác biệt sau: Không chia các chương nhỏ như trong nguyên tác; và đôi khi có vài đoạn văn được bỏ qua, không dịch. Số hoá quyển sách này với mục đích lưu trữ nên tôi chủ trương trung thành hết mức có thể với phiên bản giấy. Ở phiên bản số này tôi chỉ sửa lại các lỗi đánh máy, lỗi chính tả, lỗi dịch tên không thống nhất, và có một đoạn văn dài 1500 chữ mang thông tin quan trọng với nội dung câu chuyện nhưng không được dịch, tôi đã đề chú thích bên dưới để tóm tắt nội dung đoạn bị thiếu nhằm giúp bạn đọc dễ theo dõi mạch truyện hơn. Còn lại, tất cả thông tin của sách giấy được giữ nguyên, bao gồm cả nội dung ở trang xi-nhê và bìa sau. Bìa của phiên bản này, cũng như cách dàn trang sách đều do tôi thiết kế lại. Phần Lời giới thiệu cho phiên bản số do tôi thêm vào. Trung uý John Dunbar là kẻ đang yêu, chàng yêu vùng đất miền Tây hoang sơ và bạo liệt. Tình yêu của chàng là thứ tình yêu nhiều người khao khát mà không có, nó thuần khiết và vô tư, nó cho đi và không cần nhận lại, nó không thể giải thích được bằng lí trí. Chẳng thế mà sau một trường hợp vừa có thể gọi là anh dũng, vừa có thể gọi là may mắn khiến chàng Trung uý trẻ tuổi Dunbar lập một chiến công lẫy lừng đến mức đủ cả cho một đời binh nghiệp, đến mức chàng được tưởng thưởng và xuất ngũ ngay, thế nhưng thay vì trở về quê hương chàng lại xin đầu quân vào đồn biên phòng Sedgewick. Bởi vì chàng vừa yêu miền Tây vừa sợ biên giới phía Tây sẽ biến mất trước khi chàng kịp ngắm nó. Cũng chính vì thế nên mặc cho đồn Sedgewick đã trở thành hoang lương từ lâu trước khi Dunbar đến do toán lính cũ bỏ đi vì nản lòng với cuộc sống thiếu thốn và buồn tẻ, chàng vẫn kiên định bám đồn và tự đặt nhiệm vụ cho mình là sửa sang tôn tạo nó để chờ đến khi chính quyền lại cử toán lính khác tới. Quanh chàng chỉ có nhõn hai người bạn: người bạn vàng Cisco, con ngựa cừ khôi đã cùng chàng vượt qua kì tích thập tử nhất sinh hồi còn trong quân ngũ; và người bạn không mời mà đến, một con sói già đơn độc thường lảng vảng quanh đồn Sedgewick. Chàng cô đơn lắm, mà chàng hẵng còn trẻ trung nên nỗi cô đơn càng thêm bứt rứt. Chàng cần bạn bè, cần đồng đội, và cần đàn bà. Đang lúc những đồng đội da trắng của chàng chưa đến và không biết bao giờ mới đến, thì chàng gặp những người da đỏ. Sau nhiều gặp gỡ và giao tiếp đầy khó khăn vì khác biệt ngôn ngữ, Dunbar nhận ra những người da đỏ thật khác xa với tuyên truyền của chính quyền. Nhưng 5 dù sao chàng vẫn là người da trắng, cuối cùng chàng vẫn phải đứng giữa lựa chọn vì tổ quốc hay vì hạnh phúc cá nhân. Và tuy chàng có chọn gì đi nữa, lựa chọn ấy ắt hẳn là lựa chọn mà theo lời của một người bạn quý đã từng nhận xét về chàng: lựa chọn để được đi trên “con đường của con người chân chính”. 24/1/2021 TORNAD Trung úy Dunbar chưa đến nỗi bị choáng ngợp. Đó là ý nghĩ đầu tiên bật ra trong đầu óc chàng. Mọi thứ xung quanh đều mênh mông. Bầu trời bao la không một gợn mây. Cả một thảo nguyên rập rờn bất tận. Ngoài ra không còn thứ gì khác, không có thứ gì lưu giữ tầm mắt của chàng. Không hề thấy một con đường. Thậm chí không một vết bánh xe khả dĩ đưa cỗ xe ngựa to lớn của chàng lần theo. Hoàn toàn chỉ là một khoảng trống bao la. Chàng cảm thấy lạc lõng. Điều đó khiến trái tim chàng rộn ràng một cách kỳ lạ và sâu sắc. Trong lúc ngồi trên tấm ghế phẳng lỳ lộ thiên, để mặc cho thân thể lắc lư dọc theo đám cỏ, ý nghĩ của Trung úy Dunbar tập trung vào trái tim đang đập rộn rã. Nhưng dòng máu của chàng lại không chảy mạnh. Máu của chàng vẫn bình thản. Tình trạng trái ngược ấy giúp trí óc chàng hoạt động đầy thích thú. Các từ ngữ liên tục quay cuồng trong đầu và chàng cố thử tách bạch ra xem câu nào, chữ nào thể hiện đúng cảm giác của chàng lúc này nhưng không nổi. Sang ngày thứ ba chàng bỗng chộp được một câu: “Thật là linh thiêng!” và câu đó có vẻ chính xác hơn cả. Khốn nỗi Trung úy Dunbar chưa hề theo tín ngưỡng nào bao giờ nên tuy câu đó có vẻ chính xác, chàng vốn hoàn toàn không biết dùng nó để làm gì. Nếu như bị câu đó ám ảnh nhiều, có lẽ Trung úy Dunbar cũng thử phân tích xem sao. Nhưng đầu óc mơ màng, chàng quên ngay câu ấy đi. Trung úy Dunbar trở thành kẻ si tình. Chàng phải lòng cái xứ sở hoang vu tuyệt đẹp cùng mọi thứ chứa đựng trong đó. Đấy là loại tình yêu bất cứ ai cũng khao khát được có đối với một người khác: một tình yêu vị tha và tuyệt đối tin tưởng, một tình cảm tôn sùng và bất biến. Tinh thần chàng phấn chấn và trái tim chàng rộn ràng. Phải chăng đó chính là nguyên do khiến chàng trung úy kỵ binh đẹp trai và tâm hồn cao thượng thoáng nghĩ đến tôn giáo. Chàng liếc mắt sang bên và thấy bác đánh xe Timmons đang nghiêng đầu ra ngoài thành xe nhổ nước bọt đến lần thứ một ngàn xuống đám cỏ mọc cao ngang lưng. Bác nhổ liên tục đến nỗi đờm dãi bắn ra thành một dòng dính liền nhau, chỉ chốc chốc mới đứt quãng khiến bác ta phải lấy tay quệt ngang miệng. Dunbar không nói gì nhưng thấy Timmons khạc nhổ liên tục như thế chàng bất giác co rúm người lại. Cử chỉ của bác ta là vô hại nhưng làm chàng ghê tởm, giống như lúc nào cũng phải nhìn một người xỉ mũi. Họ ngồi cạnh nhau suốt buổi sáng. Mặc dù chỉ cách nhau hai bước chân nhưng vì gió thổi từ phía Dunbar sang nên chàng không ngửi thấy mùi nồng nặc của bác Timmons. Trong gần ba chục năm sống trong cõi đời, chàng đã phải ngửi quá nhiều mùi chết chóc và không thứ mùi gì khó ngửi hơn thế. Nhưng xác chết nào cũng chỉ một lúc sau đã được đem đi chôn hoặc bản thân chàng Michael Blake rời xa nó, nhưng với bác Timmons này thì chàng không có cách nào thoát được. Khi gió đổi chiều, mùi hôi thối từ người bác ta bay sang, trùm lên Dunbar như một đám mây ô uế vô hình. Nghĩ đến đây chàng ngoái lại nhìn con ngựa Cisco đang chạy lóc cóc đằng sau cỗ xe, khoan khoái vục mõm vào chiếc bị đựng thóc. Bộ da màu nâu như da nai của nó ánh lên dưới nắng. Dunbar mỉm cười nhìn con ngựa và bỗng mong muốn loài ngựa cũng sống lâu được như loài người. Con Cisco này may lắm cũng chỉ sống được khoảng mười, mười hai năm nữa. Tất nhiên sau đó chàng sẽ cưỡi những con ngựa khác, nhưng chắc chắn là không có con ngựa nào sánh được với Cisco. Trong lúc Dunbar nhìn, con ngựa bé nhỏ ngước cặp mắt màu hổ phách lên như thể dò tìm xem chàng trung úy của nó lúc này đang ở đâu và làm gì. Đến khi thấy chủ, nó yên tâm lại vục đầu vào trong bị thóc. Dunbar điều chỉnh lại thế ngồi rồi thọc tay vào túi tấm áo choàng sĩ quan, lấy ra một tờ giấy gấp tư. Chàng giữ gìn rất cẩn thận tờ giấy này bởi đó là bản quyết định, trong có ghi tất cả những mệnh lệnh quân sự chàng phải thực hiện. Từ lúc rời khỏi căn cứ Fort Hays chàng đã đưa cặp mắt màu sẫm và không đồng tử lướt trên mặt giấy sáu bảy lần, nhưng nghiên cứu mãi nó chàng vẫn chưa cảm thấy yên tâm thêm chút nào. Trong bản quyết định, tên họ chàng bị ghi sai đến hai lần. Ông thiếu tá hơi thở nồng nặc mùi rượu ký vào dưới tờ giấy đã vụng về quệt ống tay áo lên nét chữ chưa khô mực và chữ ký của ông ta bị nhòe nhoẹt. Tờ quyết định lại quên không ghi ngày tháng cho nên Trung úy Dunbar đành phải điền thêm lúc chàng đã trên đường đi. Nhưng chàng điền bằng bút chì và nét chữ đè lên vết mực nhòe của ông thiếu tá, lẫn cả vào hàng chữ tiêu đề in sẵn trên tờ quyết định. Trung úy liếc nhìn bản quân lệnh. Trông nó giống như một tờ giấy lộn nhiều hơn. Bản quân lệnh làm chàng nhớ lại do đâu mà có nó và chàng càng thấy bối rối hơn. Chàng bực dọc nhớ lại cuộc tiếp xúc với vị thiếu tá thở ra toàn mùi rượu ấy. Do tha thiết muốn được sớm nhận nhiệm vụ, khi bước chân ra khỏi tàu hoả, chàng đã đi thẳng một mạch đến ban chỉ huy tiểu đoàn. Ông thiếu tá là người đầu tiên và cũng duy nhất chàng nói chuyện trong khoảng thời gian từ khi chàng tới tiểu đoàn đến lúc chiều tà, khi chàng leo lên cỗ xe ngựa ngồi bên cạnh bác đánh xe chuyên môn nhổ nước bọt Timmons. Ông thiếu tá với cặp mắt đỏ ngầu đã giữ chàng lại khá lâu. Và khi lên tiếng, giọng ông đầy châm biếm làm chàng thấy khó chịu. — Thích đánh nhau với bọn da đỏ, hả? Trung úy Dunbar từ bé chưa hề nhìn thấy một người da đỏ nào, nói gì đến chuyện chiến đấu với họ. — Vâng, nhưng không phải dịp này, thưa thiếu tá. Tôi nghĩ rằng tôi có thể chiến đấu với họ, chắc chắn là như thế. — Vậy là cậu thích chiến đấu, chứ gì nữa? Trung úy Dunbar không trả lời câu hỏi đó. Hai người nhìn thẳng vào mắt nhau một lúc lâu rồi ông thiếu tá mới cầm bút điền vào bản quân lệnh in sẵn. Ông ta viết với vẻ giận giữ, không buồn để ý đến việc mồ hôi chảy ròng ròng trên má. Dunbar nhìn thấy cả những giọt mồ 10 Michael Blake hôi đang to dần trên đỉnh chiếc đầu hói gần hết của ông ta. Vài sợi tóc lơ thơ màu muối tiêu còn sót lại dính bết trên đỉnh đầu ông. Hình dạng ông khiến chàng trung úy nhớ đến một con người bệnh hoạn nào đó. Dunbar đâu biết được rằng ông thiếu tá quá ốm yếu. Đôi khi sức khỏe của ông chỉ được giữ bằng một sợi chỉ mong manh và sợi chỉ ấy hôm nay vừa mới đứt, đúng mười phút trước khi chàng trung úy đến gặp ông. Lúc đó ông đang ngồi bất động sau bàn giấy, hai bàn tay chắp lại đặt trên bàn và đang quên béng cả cuộc đời. Đó là một cuộc sống bạc nhược, dựa trên sự bố thí mà người ta dành cho những kẻ phục vụ nhẫn nhục nhưng không hề làm nên được chiến tích gì. Khốn nỗi cả cuộc đời đã trôi qua, bao gồm những năm tháng sống độc thân, những năm tháng chống cự với rượu chè, tất cả đều đã biến đâu mất như do một phép thần thông. Nỗi nhàm chán đắng cay của cuộc đời Thiếu tá Fambrough chỉ được thay thế trong khoảnh khắc bằng một sự kiện hấp dẫn và nhất thời. Ông thèm được thấy mình ngồi trên ngai vàng như một bậc vua chúa trong cái căn cứ Fort Hays, một lát trước bữa ăn tối. Ông thiếu tá viết xong, nhấc tờ giấy lên. — Tôi điều cậu ra đồn Sedgewick. Cậu nhận phân công trực tiếp của Đại úy Cargill. Trung úy Dunbar ngó xuống bộ quân phục nhàu nát. — Xin tuân lệnh thiếu tá. Tôi sẽ đi đến đó bằng cách nào? — Cậu tưởng tôi biết ư? – Viên thiếu tá xẵng giọng đáp. — Không phải thế, thưa thiếu tá. Chỉ có điều tôi không biết. — Tôi đang vui và sẵn sàng ưu ái cho cậu. Một cỗ xe tiếp tế chất đầy lương thực, thực phẩm và vật dụng sắp sửa lên đường ra đó. Cậu hãy đi tìm một bác nông dân tên là Timmons và cùng ngồi xe với bác ấy. Nói đến đây ông ta trỏ tờ giấy Dunbar đang cầm. — Con dấu của tôi sẽ bảo đảm an toàn cho cậu trong vòng một trăm năm mươi dặm của vùng đất mọi rợ này. Ngay từ ngày nhập ngũ, Dunbar đã hiểu rằng không nên băn khoăn về những thói tật oái oăm của các sĩ quan chỉ huy cấp trên. Chàng lập tức đưa tay lên mũ chào và đáp: “Rõ, thưa thiếu tá!” rồi quay gót bước ra. Chàng tìm được Timmons, bay ra ga nhận con ngựa Cisco. Nửa giờ sau chàng đã rời khỏi căn cứ Fort Hays. Lúc này, sau khi vượt được một trăm dặm đường, ngồi ngắm tờ quân lệnh, chàng nghĩ, chắc mọi sự sẽ ổn thỏa thôi. Chàng thấy xe đi chậm lại. Bác Timmons đang nghiêng đầu nhìn xuống bãi cỏ ngay bên cạnh. — Trung úy nhìn kìa! Vật gì trăng trắng nằm trong đám cỏ, cách xe chừng hai mươi bộ(1). Cả hai người cùng nhảy xuống xem thứ gì. Thì ra một bộ xương người trắng, sáng lên dưới ánh nắng, sọ ngửa lên phía trên. Dunbar quỳ xuống bên cạnh bộ xương, cỏ mọc lách xuyên qua xương sườn. Khoảng hai chục mũi tên chĩa lên như những chiếc trâm cắm vào gối. Dunbar rút một (1) Từ đây người dịch sẽ giữ nguyên cách đo lường của nước Anh. Bộ = 0,30 m. Thước = 0,91 m. Dặm = 1,609 m. Bảng = 453 g. (ND) Michael Blake mũi tên lên lật lật trong hai bàn tay. Thấy chàng đưa ngón tay sờ mũi tên, bác Timmons thốt lên sau lưng chàng. — Chắc phải có người nào nhìn thấy chứ, sao họ không báo gì về nhà nhỉ? Ngày thứ tư cũng giống như ba ngày trước, không xảy ra sự cố gì. Rồi ngày thứ năm và thứ sáu, Dunbar bắt đầu thất vọng khi thấy cỏ không còn um tùm nữa. Chàng vẫn chưa nhìn thấy một sinh vật nào hết. Bác đánh xe Timmons bảo rằng đôi khi các bầy súc vật bỗng tự nhiên biến đâu mất cả, chẳng đáng băn khoăn làm gì, bởi sẽ đến lúc chúng hiện ra đông đúc như châu chấu vậy. Họ cũng không thấy một người da đỏ nào nhưng điều này thì bác Timmons không có cách giải thích nào hết. Bác ta chỉ bảo rằng nếu nhìn thấy lúc này thì là quá sớm, và thế là may, họ không bị bọn cướp hay du đãng nào tấn công. Nhưng, sang đến ngày thứ bảy thì Dunbar chỉ nghe bác Timmons bằng nửa tai. Trong lúc họ vượt nốt những dặm đường cuối cùng Trung úy Dunbar càng suy nghĩ nhiều hơn. Chàng nghĩ đến cái đồn biên giới chàng sắp tới. Đại úy Cargill quay quay lưỡi trong miệng, mắt ngước đăm đăm. Nét mặt ông ta tươi lên một chút rồi lập tức lại cau có ngay. Lại một đứa nữa bị mất tích, ông ta nghĩ. Mẹ kiếp! Mời các bạn đón đọc Khiêu Vũ Với Bầy Sói của tác giả Michael Blake.