Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Dạy Trẻ Thế Giới Xung Quanh (Glenn Doman)

Đôi lời cùng các bậc phụ huynh

Các bậc phụ huynh từ mọi lục địa trên Trái Đất (trừ châu Nam Cực, tôi không tin ở đó có trẻ con) đã tới Viện Nghiên cứu Thành tựu Tiềm năng Con người ở Philadelphia để tham dự khóa học bảy ngày mang tên Tăng cường trí thông minh của trẻ.

Đã có hàng nghìn cha mẹ chọn tham gia khóa học kể từ năm 1975. Cuốn sách này hoàn toàn được rút ra từ những bài giảng trong khóa học đó.

Mặc dù cuốn sách này được viết bởi ba tác giả, nhưng không phải cả ba người viết tất cả các chương. Phần lớn các chương là do giảng viên cao cấp Glenn Doman, người thành lập Viện, viết. Các chương khác được viết bởi Janet Doman, giám đốc Viện và Susan, giám đốc Phân viện Trí tuệ Vượt trội.

Lý do của việc này là trong mỗi trường hợp, tác giả viết chương đó từ chính các bài giảng của mình, những bài giảng họ đã quá quen thuộc nhờ giảng dạy hàng trăm lần cho hàng nghìn bậc phụ huynh. Tìm mua: Dạy Trẻ Thế Giới Xung Quanh TiKi Lazada Shopee

Thêm một điều nữa. Để tiết kiệm, tránh mất thời gian cho việc nói rõ cha hay mẹ và các bé trai hay các bé gái, chúng tôi sử dụng chung từ "mẹ" để chỉ mẹ hoặc cha và sử dụng chung từ "cậu bé" để chỉ bé trai hay bé gái.

Vậy là công bằng.

Giờ bạn có thể bắt đầu tìm hiểu xem vì sao dạy cho con bạn kiến thức phổ thông lại thật thú vị và tuyệt vời; đồng thời bạn cũng sẽ học được cách thực hiện việc đó để nó trở nên thú vị và hiệu quả hơn.***

Các dữ kiện là nền tảng của hiểu biết

Trẻ nhỏ thích học hơn là ăn hay chơi. Bạn có thể dạy bé bất cứ điều gì mà bạn có thể diễn đạt một cách thẳng thắn, xác thực - và các dữ kiện là nền tảng của hiểu biết.

TRÍCH TỪ KHÓA HỌC

“Tăng cường trí thông minh của trẻ”

Thật vậy, hàng trăm trong số hàng ngàn cha mẹ đã dạy cho con mình đọc kể từ khi cuốn sách Dạy trẻ biết đọc sớm xuất bản vào năm 1964. Họ bắt đầu khi con họ mới được vài tháng, 1 tuổi hay 2, 3, 4 tuổi.

Thật vậy, rất nhiều cha mẹ đã viết thư cho chúng tôi để thông báo về những kết quả rực rỡ mà họ thu được. Những bức thư này là bằng chứng xác thực chứng minh rằng trẻ nhỏ có thể đọc, thích đọc và hoàn toàn hiểu những gì mình đọc được.

Trẻ nhỏ có thể học bất cứ điều gì mà bạn diễn đạt cho chúng một cách chính xác và các bé không phân biệt đó là kiến thức phổ thông, các từ để đọc, Toán hay những điều vô nghĩa.

Các bé muốn biết về những điều tuyệt vời - đọc, Toán học, tất cả các vị tổng thống Mĩ, các quốc gia châu Âu, nghệ thuật hội họa thế giới, tiếng hót của các loài chim, các loài rắn trên thế giới, các vị vua và hoàng hậu, những bản nhạc nổi tiếng thế giới, các biển hiệu giao thông, khủng long, các loài hoa, hay bất cứ điều gì trong hàng triệu những điều kỳ diệu có thể học hỏi trên Trái Đất.

Các bé tiếp nhận cả những điều vô nghĩa nếu đó là tất cả những gì các bé có thể tiếp cận.

Trẻ nhỏ học từng phút mỗi ngày và chúng ta hàng ngày vẫn đang dạy chúng - dù chúng ta có ý thức được điều đó hay không. Vấn đề là nếu dạy các bé trong khi chúng ta không ý thức được điều đó thì rất nguy hiểm. Chúng ta có thể vô tình dạy cho chúng những điều mình không hề có ý định dạy, những điều không đáng học - hoặc ít nhất là không đáng học bằng những điều mà các bé đáng lẽ có thể học và học nhanh hơn, dễ dàng hơn.

Tôi không dám nói với các bậc phụ huynh đâu là thị hiếu tốt hay xấu - tôi là ai mà dám nói với các bậc cha mẹ điều đó?

Nhưng sau khi sống bên cạnh hơn hai mươi ngàn gia đình và đã nghiên cứu về trẻ nhỏ từ lúc mới sinh ra ở hơn một trăm quốc gia (từ những vùng lạc hậu nhất như trong các khu rừng, sa mạc và vùng đất hoang Bắc cực cho tới những trung tâm văn minh nhất trên thế giới) và học được những sự thật tuyệt vời về trẻ em trong quá trình đó - tôi cảm thấy mình phải có trách nhiệm nói với tất cả các bậc cha mẹ rằng họ có thể đặt tiêu chuẩn chất lượng vào đầu óc trẻ dễ dàng như đặt vào đó những điều rác rưởi.

Thật ra là còn dễ hơn.

Dạy cho trẻ về những bức tranh tuyệt vời của thế giới dễ hơn là dạy cho chúng về phim hoạt hình. Dạy cho trẻ bản nhạc tuyệt vời của thế giới dễ hơn là dạy cho chúng những vần điệu đơn giản.

Nhưng tôi đã đi hơi quá đà mất rồi.

Bạn có thể dạy một đứa trẻ bất cứ điều gì bạn diễn đạt cho nó một cách thẳng thắn và xác thực.

Và các dữ kiện là điều quan trọng nhất trong toàn bộ công việc đó.

Và mặc dù bộ não nặng chưa tới 1,5kg có khả năng gấp hàng nghìn lần so với bất kỳ bộ máy tính nào, nhưng bộ não và máy tính lại có rất nhiều điểm chung. Máy tính, giống như bộ não, dựa hoàn toàn trên cơ sở các dữ liệu nó lưu trữ trong bộ nhớ.

Ở máy vi tính, mỗi dữ kiện đó được gọi là một Bit thông tin (đoạn thông tin). Đối với con người, chúng tôi quyết định gọi những dữ kiện đó là những "Bit" thông minh.

Ở máy vi tính, cũng như ở não của trẻ nhỏ, những kiến thức mới có thể phát sinh từ những dữ kiện đó bị giới hạn bởi số lượng các dữ kiện được lưu trữ.

Ở máy vi tính, tập hợp các dữ kiện lưu trữ được gọi là Cơ sở dữ liệu. Với bộ não của con người, chúng tôi quyết định gọi những dữ kiện đó là Cơ sở kiến thức.

Và trẻ nhỏ học những dữ liệu - hay những "bit” thông minh đó - với tốc độ mà người lớn thua xa.

Tự bản thân các dữ kiện có tạo nên trí tuệ không?

Không, tất nhiên là không rồi.

Nhưng chúng có thể tạo nên cơ sở để trí tuệ được hình thành.

Không có dữ kiện thì không có trí tuệ.

Với một số các dữ kiện khổng lồ, chúng ta có cơ sở cho một trí tuệ trung bình.

Và với trẻ nhỏ, học các dữ liệu dễ như ăn cháo và lại rất vui nữa.

Trẻ càng nhỏ thì càng dễ dạy cho bé các dữ kiện.

Dạy cho trẻ 5 tuổi dễ hơn 6 tuổi, 4 tuổi dễ hơn 5 tuổi, 3 tuổi dễ hơn 4 tuổi, 2 tuổi dễ hơn 3 tuổi, 1 tuổi dễ hơn 2 tuổi, và dễ nhất là trước 1 tuổi.

Tất cả những điều bạn cần biết là chính xác thì làm thế nào để thực hiện việc đó và vì sao bạn lại làm việc đó.

Hãy nói về một vài đứa trẻ mà hầu như ngày nào ta cũng gặp, về những dữ kiện mà chúng đã học được, cách chúng kết hợp những dữ kiện này lại với nhau để dẫn đến một kết luận mới mẻ, cách chúng sử dụng mối quan hệ qua lại giữa những dữ kiện đó để trở nên cực kỳ sáng tạo và những đứa trẻ đó hiện nay ra sao.

Trước tiên, hãy gặp gỡ các bé đó. Các em cũng nằm trong số những người mà tôi yêu quý.

Đó là những đứa trẻ là học viên của Phân viện Evan Thomas.

Các em tới từ hai nhóm. Nhóm đầu tiên gồm các trẻ thuộc Chương trình Phát triển sớm với độ tuổi từ sơ sinh tới 5 tuổi. Những em này hoàn toàn được mẹ dạy dỗ. Mẹ các em tới Viện một tuần một lần, mỗi lần bốn tiếng để học cách dạy các em. Sau đó họ về nhà và với sự giúp đỡ của chồng mình, họ thực hành việc dạy con và trở lại vào tuần tiếp theo.

Hầu hết những trẻ này được đăng ký từ trước khi sinh (thường là vì các em có anh hay chị thuộc chương trình này) hay trong năm đầu đời. Một vài em vừa mới tham gia chương trình như:

Ryan Rossitto 3 tuổi

Trong số các em đã tham gia trên một năm, rất nhiều em đã được mẹ dạy tại nhà từ trước. Một số em là con của cán bộ Viện, như Marlowe Doman, Yuuki Nakayachi, Nicolas, Christopher và Chole Coventry. Bản thân tất cả các trẻ nhỏ đều thực sự là cán bộ Viện vì các em, cùng với cha mẹ mình, là đại diện cho những phụ huynh tham gia vào các khóa học của Viện. Các em nhỏ dưới 2 tuổi thể hiện cách các em được cha mẹ dạy dỗ và các trẻ từ 2 tuổi trở lên thể hiện điều các em học được.

Các em đã học được điều gì?

Ồ, những điều các em học, và học một cách hứng thú, háo hức, là các dữ kiện - những dữ kiện mà chúng tôi gọi là các "bit" thông minh. Tập hợp lại với nhau, những "bit" thông minh này hình thành nên tri thức bách khoa.

Các dữ kiện, để thực sự là dữ kiện, phải có những tính chất sau: Chúng phải đúng sự thật (không phải chỉ là các ý kiến); phải chính xác (tuyệt đối rõ nét, không ước định); phải độc lập (dữ kiện riêng lẻ); không được mơ hồ (được gọi tên chính xác) và phải đủ lớn để nhìn thấy được rõ ràng hay đủ to để nghe được rành mạch.

Ví dụ về một số dữ kiện:

Một bức chân dung của Washington là một dữ kiện.

Một bức tranh như bức Mona Lisa là một dữ kiện.

Bản phác thảo bang Pennsylvania là một dữ kiện.

Bức ảnh một con rắn hổ mang là một dữ kiện.

Một từ, được nói ra hoặc viết ra, là một dữ kiện.

Mùi gas là một dữ kiện.

Một nốt nhạc, được thể hiện dưới dạng âm thanh hay viết, là một dữ kiện.

Những con số thực, được nói hay in, là các dữ kiện.

Và hàng trăm, hàng ngàn những điều khác cũng vậy.

Nếu chúng được thể hiện đơn lẻ và đáp ứng được tất cả những yêu cầu mà chúng tôi vừa miêu tả, thì mỗi dữ kiện đó là một "bit" thông minh.

Những bà mẹ của Chương trình Phát triển sớm bắt đầu chương trình ngay khi đứa trẻ được sinh ra, càng sớm càng tốt, truyền đạt những dữ kiện này cho con mình bằng những phương pháp sẽ được đề cập tới trong những chương sau. Họ làm điều đó với rất nhiều sự hài lòng, nhiệt tình và những đứa trẻ đáp lại với độ hài lòng và nhiệt tình giống y hệt như cách cha mẹ chúng thể hiện trong khi truyền đạt.

Làm như vậy sẽ mang lại kết quả gì?

Xin thưa, khoảng hai năm (trước ngày sinh nhật lần thứ ba của các bé) tất cả những trẻ đã bắt đầu từ năm 1 tuổi hoặc nhỏ hơn đều có những đặc điểm sau đây.

Nhận biết được hơn bốn nghìn "bit" bằng mắt. (Vì hiển nhiên là các em biết những điều đó cả bằng mắt và bằng tai, như vậy nghĩa là tám nghìn "bit" thông minh).

Đọc được ít nhất là bốn nghìn từ bằng hai loại ngôn ngữ hoặc hơn. (Vì hiển nhiên là các em biết những từ đó cả bằng mắt và tai, như vậy nghĩa là tám nghìn "bit" thông minh).

Có thể đọc rất nhiều sách.

Đã bắt đầu chơi đàn violon.

Có thể làm phép tính số học.

Biết những bức tranh nổi tiếng thế giới và những kiệt tác nghệ thuật khác.

Quen thuộc với địa lý thế giới.

Nhận biết những bản nhạc nổi tiếng thế giới. (Các em đã được nghe băng nhạc từ khi còn ở trong bụng mẹ).

Biết viết.

Có thể nói và hiểu câu bằng ít nhất một loại ngôn ngữ.

Có thể làm được rất nhiều việc như bơi lội, lặn và tập thể dục.

Các em là những em bé ngọt ngào, chu đáo và vô cùng đáng yêu, những đứa trẻ vô cùng tò mò và nghĩ rằng học tập quả là một trò chơi tuyệt vời nhất mà cuộc sống ban tặng.

Các em sở hữu sự tổng hợp của hàng ngàn dữ kiện và có khao khát cháy bỏng được học tất cả các dữ kiện trên thế giới. Các em sẽ không bao giờ học được tất cả những điều cần biết trên thế giới, nhưng các em sẽ muốn cố gắng đạt được điều đó. Các em tin rằng thế giới là một nơi tuyệt diệu và con người thật vĩ đại.Dưới đây là những tác phẩm đã xuất bản của tác giả "Glenn Doman":Dạy Trẻ Về Thế Giới Xung QuanhDạy Trẻ Thế Giới Xung QuanhDạy Trẻ Học ToánDạy Trẻ Biết Đọc Sớm

Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Dạy Trẻ Thế Giới Xung Quanh PDF của tác giả Glenn Doman nếu chưa có điều kiện.

Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.

Nguồn: thuviensach.vn

Đọc Sách

Siêu Lý Tình Yêu (Phạm Vĩnh Cư)
Giới thiệu Soloviev chỉ ra 5 loại quan hệ nam nữ với loại quan hệ nam nữ có tình yêu gắn với lý tưởng hóa đối tượng yêu, làm chúng ta khi yêu mang bản nguyên thần thánh. Tình yêu nam - nữ tuyệt đích sẽ bất tử hóa tất cả bởi tình yêu chuyên trở sự sống vĩnh cửu cho cái mình yêu, tái sinh vĩnh viễn trong cái đẹp. Đó là luận điểm về tình yêu qua các tác phẩm trứ danh: Siêu lý tình yêu (1892-1893), Chiến tranh và hòa bình, Biện minh cái thiện của Vladimir Soloviev, người nhà văn, đại triết gia Nga - người đặt nền móng cho Triết học Tình yêu châu Âu. Quan điểm hoàn chỉnh về Tình yêu nam nữ Soloviev phê phán, hoàn chỉnh các ý tưởng, quan điểm về tình yêu của nhiều nhà tư tưởng lớn tại nhiều thời đại khác nhau của nhân loại từ Platon đến LevTolstoy, đến Schopenhauer… Mặc dù tình yêu là một hiện tượng to lớn, phức tạp trong cuộc sống con người, đề tài của nhiều người, nhiều giới (văn học, nghệ thuật, tâm lý, triết học…) nhưng ông đã xây dựng được và cung cấp cho chúng ta một nền tảng nhận thức đặc sắc về tình yêu nam - nữ. Các quan điểm chính về tình yêu nam nữ của Soloviev Ông đề cao tính cao đẹp của tình yêu nam nữ không coi đó là ảo giác che đậy nhục dục, một trò chơi của tự nhiên, là ác quỷ đen tối nô dịch loài người, là một dạng tồn tại trong khổ đau và cái chết hay duy đạo đức quá như coi tình yêu là phải lấy tình yêu nhân loại làm trọng, phải khổ hạnh/vị tha… như tư tưởng của triết gia Schopenhauer, Tolstoy hay một số tôn giáo. Tìm mua: Siêu Lý Tình Yêu TiKi Lazada Shopee Tình yêu là bước chuyển phôi mầm tiềm năng mới nhú của con người giống như đặc tính trí tuệ là phôi mầm của động vật. Tình yêu còn có sứ mệnh xa hơn, dài hơn mà cái chân chính là chiến thắng đến cùng chủ nghĩa cá nhân, gia tăng giá trị vô tận cho con người, nhân tính phân chia nam - nữ, hữu hạn, hữu tử thành cá thể duy nhất lưỡng tính, tuyệt đối, bất tử. Ông cũng không coi hôn nhân hợp pháp, sinh đẻ và nuôi dưỡng con cái là sứ mệnh đích thực của tình yêu say đắm nam - nữ. Theo ông, vai trò của gia đình, tình thương yêu con cái, vai trò gia đình, chuẩn mực nề nếp quan hệ là đảm bảo sự tồn tại giống loài, xã hội loài người… nhằm duy trì thế giới vật chất và làm cho xã hội vận hành tốt. Tình yêu có sứ mệnh không phải là ở thực tế vật chất đó mà sứ mệnh là dẫn dắt con người từ thế giới đó (phi lý tưởng) bước sang thế giới lý tưởng hay cải hóa thế giới phi lý tưởng thành thế giới lý tưởng. Tình yêu đi đôi với lý tưởng hóa đối tượng yêu, sùng bái hâm mộ người yêu và làm xuất hiện “phép lạ, hào quang” quanh người yêu như nhìn thấy chân lý về con người - hình ảnh môi giới giữa Thượng đế thần thánh và thế giới. Tình yêu là phương tiện cho sự nhập thân đến cùng, đến đích trong đời sống cá thể của con người. Đó là cuộc sống có hơi ấm của hạnh phúc siêu phàm, thiên đường của tình thương, trái tim ngự trị, lạc thú của con người và thần linh. Qua tình yêu, người yêu tuyệt đối hóa người ta yêu làm cho hoàn hảo, trọn vẹn, vô bờ vô hạn và qua đó chính bản thân mình. Tình yêu đòi hỏi bất tử của con người cả tinh thần lẫn thể xác. Thân phận hữu tử hiện nay và cái chết là hệ quả tất yếu của cuộc sống bất toàn và trống rỗng của con người trong thực tại. Ông đề cao tình yêu nam nữ hơn mọi dạng tình yêu khác bởi nó khẳng định và làm giàu vô tận giá trị của từng cá thể con người - trong tiềm năng nó dẫn con người tới sự bất tử. Nó vừa là kết quả của tiến trình lịch sử của chủng loài hữu hạn vừa là bản chất nhân văn của người gắn với giá trị tuyệt đối, vĩnh hằng của Thượng Đế. Đó chính là niềm tin khao khát của ông về tất cả sinh linh con người đã, đang và sẽ sống có thể bất tử thông qua tình yêu chân chính, trong Thượng đế hay cõi niết bàn… với “bầu trời mới, trái đất mới” ở vương quốc của những tinh thần vĩnh hằng. Soloviev xác định có 5 kiểu biểu hiện của quan hệ nam nữ trong đời sống nhân loại, trong đó có 3 cấp độ 3, 4, 5 là biểu hiện của tình yêu. Triết học tình yêu của Soloviev là ở hướng tới tình yêu ở cấp độ 5 - tình yêu chân chính phục vụ cơ đồ tái sinh loài người khổ đau, hữu tử thành Thần - Nhân loại bất tử. Khi tình yêu được đồng hóa ở mức tinh thần thì sẽ khơi dậy tiềm năng vô biên tính người của con người.Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Siêu Lý Tình Yêu PDF của tác giả Phạm Vĩnh Cư nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
Một Nghiên Cứu Về Các Nguyên Tắc Nhận Thức Của Con Người (George Berkeley)
Lời người dịch George Berkeley (1685-1753) là triết gia duy nghiệm kiệt xuất người Ireland, một trong những gương mặt quan trọng nhất của nền triết học Tây phương hiện đại thời kì đầu. Lập trường triết học của Berkeley là duy tâm thường nghiệm (empirical idealism), được thể hiện trong câu cách ngôn nổi tiếng “esse est percipi” (tồn tại là được tri giác). Đối với ông, không có gì hiện hữu ngoại trừ các ý niệm và các tinh thần; các ý niệm là cái được tri giác, còn tinh thần (mind hay spirit)1 là cái tri giác những cái được tri giác. Các công trình của Berkeley trải rộng trên các lĩnh vực khoa học, triết học và thần học; riêng trong lĩnh vực triết học thì Một nghiên cứu về các nguyên tắc nhận thức của con người (1710) và Ba cuộc đối thoại giữa Hylas và Philonous (1713) là hai công trình được biết đến nhiều nhất. Vài nét tiểu sử và sự nghiệp của Berkeley Berkeley chào đời vào ngày 12 tháng Ba năm 1685 ở Hạt Kilkenny, Ireland. Năm 11 tuổi, ông vào học trường Kilkenny ở Dublin. Năm 15 tuổi, ông bước chân vào Học viện Ba ngôi (Trinity College), cũng ở Dubin. Berkeley lấy bằng cử nhân tại đây vào năm 1704, đến năm 1707 lấy bằng Thạc sĩ và được tuyển làm giảng viên (Junior Fellow) của học viện này. Tìm mua: Một Nghiên Cứu Về Các Nguyên Tắc Nhận Thức Của Con Người TiKi Lazada Shopee Năm 1709, Berkeley được thụ phong chức chấp sự (deacon) trong giáo phái Anh và xuất bản công trình chính đầu tiên của mình Thử hướng đến một lí thuyết mới về cái nhìn. Trong công trình này, Berkeley bàn về những giới hạn của cái nhìn của con người và đưa ra quan niệm rằng đối tượng thực sự của thị giác không phải là các đối tượng vật chất mà là ánh sáng và màu sắc. Những luận điểm được nêu ra trong công trình này báo hiệu sự ra đời của các công trình triết học quan trọng nhất của ông. Vào năm 1710, khi chỉ mới 25 tuổi, Berkeley xuất bản công trình triết học Một nghiên cứu về các nguyên tắc nhận thức của con người - Phần I, từ đây chúng tôi sẽ nói gọn là Các nguyên tắc. Công trình này là những nỗ lực của Berkeley gắng tìm cách bác bỏ những yêu sách của John Locke, một triết gia duy nghiệm thuộc thế hệ trước ông, về bản chất của tri giác con người. Nhưng vì công trình này thuộc dạng kén độc giả, chỉ dành riêng cho giới trí thức ở thủ đô London, nên ông bắt tay viết những bài dễ đọc hơn, trong hình thức đối thoại, và cho xuất bản ở London vào năm 1713 dưới nhan đề Ba cuộc đối thoại giữa Hylas và Philonous. Trong thời gian ở London, để xúc tiến việc xuất bản các công trình triết học của mình, ông kết giao bằng hữu với một số nhà trí thức nổi danh thời bấy giờ như nhà thơ Jonathan Swift (1667-1745), nhà thơ, nhà tiểu luận Joseph Addison (1672-1719), nhà soạn kịch Richard Steele (1709-1729), và nhà thơ Alexander Pope (1688-1744). Ông tham gia viết bài cho tờ Guardian của Steele để chống lại tư tưởng tự do của thuyết bất khả tri lúc bấy giờ, nhưng do ông không kí tên vào các bài báo này nên cho đến nay các ý kiến về việc ông có phải là tác giả của chúng hay không vẫn còn bất đồng. Năm 1721, ông xuất bản cuốn Bàn về sự vận động, một luận văn ngắn bàn về những nền tảng triết học của cơ học. Ngoài ra, ông còn có một tập các bản ghi chép những nhận xét triết học trong suốt quá trình phát triển học thuyết duy tâm và thuyết phi vật chất của mình; và tập ghi chép này, thường được gọi là Những nhận xét triết học, ông chỉ viết cho riêng mình nên không có ý định công bố. Năm 1724, Berkeley được bổ nhiệm làm Trưởng Tu viện Derry. Lúc này, ông bắt tay khai triển dự án xây dựng một trường học ở Bermuda với ý nghĩ châu Âu đã trở nên già cỗi sau cuộc khủng hoảng “Bong bóng Biển Nam’’ (South Sea Bubble) và Thế giới Mới sẽ là niềm hi vọng cho tương lai con người. Được Nghị viện Anh hứa tài trợ kinh phí, ông dong buồm sang châu Mỹ vào năm 1728. Sau ba năm hoài công ngồi chờ kinh phí được hứa hẹn, ông trở về Anh. Trong thời gian ở châu Mỹ, ông đã soạn thảo Alciphron, cũng là một công trình triết học và là một suối nguồn quan trọng cho các quan niệm của ông về ngôn ngữ. Sau khi về Anh, Berkeley tập trung viết và cho xuất bản một loạt các công trình: Bài giảng trước Hội Truyền giáo Phúc âm ở nước ngoài (1732), Lí thuyết về cái nhìn (chứng minh và giải thích) (1733), Nhà giải tích hay bài luận gửi cho một nhà toán học vô tín ngưỡng (1734), Bảo vệ tự do tư tưởng trong toán học (1735), Các lí do không đáp lại câu trả lời đầy đủ của ngài Walton (1735), cũng như xem xét lại để tái bản Các nguyên tắc và Ba cuộc đối thoại (1734). Năm 1734, Berkeley được phong Giám mục xứ Cloyne, vì thế ông trở lại Ireland và sống tại đó, tập trung chăm lo cho giáo phận của mình. Năm 1752, ông rời xứ cloyne đi Oxford để giám sát việc học hành của con trai, và không lâu sau đó, ông tạ thế vào ngày 14 tháng Giêng, được chôn cất trong Thánh đường Giáo hội Kitô thuộc địa phận OxfordĐộc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Một Nghiên Cứu Về Các Nguyên Tắc Nhận Thức Của Con Người PDF của tác giả George Berkeley nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
Luận Về Yêu (Alainde Botton)
Alain de Botton Sinh năm 1969 tại Zurich, Thụy Sĩ, hiện nay sống ở London. Ông là tác giả của nhiều tiểu luận và được gọi là tác giả của một “triết học về cuộc sống thường ngày”. Các chủ đề của ông có thể là: tình yêu, du lịch, kiến trúc hay văn chương. Các tác phẩm của ông từng trở thành bestseller tại hơn 30 nước. Một số tác phẩm tiêu biểu của Alain de Botton: Luận về yêu, The News: A User’s Manual, How to Think More about Sex, Status Anxiety, The Art of Travel, How Proust Can Change Your Life. Sơ lược về tác phẩm Cuốn sách này chứa đựng chính xác những gì lâu nay ta vẫn muốn biết về tình yêu: Không thiếu ảo tưởng nhưng cũng đầy sáng suốt, mê đắm nhưng biết giữ khoảng cách, nồng nhiệt và rất hài hước nhưng cùng lúc ngập tràn phân tích lạnh lùng. Chính khía cạnh “phân tích” này làm nên sự hấp dẫn nhất của Luận về yêu, vì tác giả đã sử dụng những triết thuyết tưởng chừng khô cứng để tiếp cận tình yêu một cách thấu đáo, từ rất nhiều phương diện, kể cả những phương diện mà những người đang yêu thường muốn giấu kín. Tìm mua: Luận Về Yêu TiKi Lazada Shopee Luận về yêu, tác phẩm thời trẻ của Alain de Botton, hiện nay là một nhà văn, triết gia và diễn giả nổi tiếng thế giới, còn đặc biệt hấp dẫn vì tùy theo tạng riêng của mình, độc giả có thể đọc nó như một tập tiểu luận sâu sắc, hoặc như một cuốn tiểu thuyết vô cùng hấp dẫn và không hề thiếu kịch tínhĐộc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Luận Về Yêu PDF của tác giả Alainde Botton nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
Luận Về Yêu (Alainde Botton)
Alain de Botton Sinh năm 1969 tại Zurich, Thụy Sĩ, hiện nay sống ở London. Ông là tác giả của nhiều tiểu luận và được gọi là tác giả của một “triết học về cuộc sống thường ngày”. Các chủ đề của ông có thể là: tình yêu, du lịch, kiến trúc hay văn chương. Các tác phẩm của ông từng trở thành bestseller tại hơn 30 nước. Một số tác phẩm tiêu biểu của Alain de Botton: Luận về yêu, The News: A User’s Manual, How to Think More about Sex, Status Anxiety, The Art of Travel, How Proust Can Change Your Life. Sơ lược về tác phẩm Cuốn sách này chứa đựng chính xác những gì lâu nay ta vẫn muốn biết về tình yêu: Không thiếu ảo tưởng nhưng cũng đầy sáng suốt, mê đắm nhưng biết giữ khoảng cách, nồng nhiệt và rất hài hước nhưng cùng lúc ngập tràn phân tích lạnh lùng. Chính khía cạnh “phân tích” này làm nên sự hấp dẫn nhất của Luận về yêu, vì tác giả đã sử dụng những triết thuyết tưởng chừng khô cứng để tiếp cận tình yêu một cách thấu đáo, từ rất nhiều phương diện, kể cả những phương diện mà những người đang yêu thường muốn giấu kín. Tìm mua: Luận Về Yêu TiKi Lazada Shopee Luận về yêu, tác phẩm thời trẻ của Alain de Botton, hiện nay là một nhà văn, triết gia và diễn giả nổi tiếng thế giới, còn đặc biệt hấp dẫn vì tùy theo tạng riêng của mình, độc giả có thể đọc nó như một tập tiểu luận sâu sắc, hoặc như một cuốn tiểu thuyết vô cùng hấp dẫn và không hề thiếu kịch tínhĐộc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Luận Về Yêu PDF của tác giả Alainde Botton nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.