Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Truyền Kỳ Mạn Lục - Nguyễn Dữ

Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm văn xuôi duy nhất của Việt Nam từ xa xưa được đánh giá là “thiên cổ kỳ bút” (ngòi bút kỳ lạ của muôn đời), một cái mốc lớn của lịch sử văn học, sau này được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Tác phẩm gồm 20 truyện thông qua các nhân vật thần tiên, ma quái nhằm gửi gắm ý tưởng phê phán nền chính sự rối loạn, xã hội nhiễu nhương. Truyền kỳ mạn lục đã được dịch và giới thiệu ở một số nước như Pháp, Nga… *** Nhà văn Việt Nam, người xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân, nay thuộc Thanh Miện, Hải Dương. Thuộc dòng dõi khoa hoạn, từng ôm ấp lý tưởng hành đạo, đã đi thi và có thể đã ra làm quan. Sau vì bất mãn với thời cuộc, lui về ẩn cư ở núi rừng Thanh Hóa, từ đó "trải mấy mươi sương, chân không bước đến thị thành". Chưa rõ Nguyễn Dữ sinh và mất năm nào, chỉ biết ông sống đồng thời với thầy học là Nguyễn Bỉnh Khiêm, và bạn học là Phùng Khắc Khoan, tức là vào khoảng thế kỷ XVI và để lại tập truyện chữ Hán nổi tiếng viết trong thời gian ở ẩn, Tryền kỳ mạn lục (in 1768, A.176/1-2). Truyện được Nguyễn Bỉnh Khiêm phủ chính và Nguyễn Thế Nghi sống cùng thời dịch ra chữ nôm. Truyền kỳ mạn lục gồm 20 truyện, viết bằng tản văn, xen lẫn biền văn và thơ ca, cuối mỗi truyện thường có lời bình của tác giả, hoặc của một người cùng quan điểm với tác giả. Hầu hết các truyện xảy ra ở đời Lý, đời Trần, đời Hồ hoặc đời Lê sơ từ Nghệ An trở ra Bắc. Lấy tên sách là Truyền kỳ mạn lục (Sao chép tản mạn những truyện lạ), hình như tác giả muốn thể hiện thái độ khiêm tốn của một người chỉ ghi chép truyện cũ. Nhưng căn cứ vào tính chất của các truyện thì thấy Truyền kỳ mạn lục không phải là một công trình sưu tập như Lĩnh Nam chích quái, Thiên Nam vân lục... mà là một sáng tác văn học với ý nghĩa đầy đủ của từ này. Đó là một tập truyện phóng tác, đánh dấu bước phát triển quan trọng của thể loại tự sự hình tượng trong văn học chữ Hán. Và nguyên nhân chính của sự xuất hiện một tác phẩm có ý nghĩa thể loại này là nhu cầu phản ánh của văn học. Trong thế kỷ XVI, tình hình xã hội không còn ổn định như ở thế kỷ XV; mâu thuẫn giai cấp trở nên gay gắt, quan hệ xã hội bắt đầu phức tạp, các tầng lớp xã hội phân hóa mạnh mẽ, trật tự phong kiến lung lay, chiến tranh phong kiến ác liệt và kéo dài, đất nước bị các tập đoàn phong kiến chia cắt, cuộc sống không yên ổn, nhân dân điêu đứng, cơ cực. Muốn phản ánh thực tế phong phú, đa dạng ấy, muốn lý giải những vấn đề đặt ra trong cuộc sống đầy biến động ấy thì không thể chỉ dừng lại ở chỗ ghi chép sự tích đời trước. Nhu cầu phản ánh quyết định sự đổi mới của thể loại văn học. Và Nguyễn Dữ đã dựa vào những sự tích có sẵn, tổ chức lại kết cấu, xây dựng lại nhân vật, thêm bớt tình tiết, tu sức ngôn từ... tái tạo thành những thiên truyện mới. Truyền kỳ mạn lục vì vậy, tuy có vẻ là những truyện cũ nhưng lại phản ánh sâu sắc hiện thực thế kỷ XVI. Trên thực tế thì đằng sau thái độ có phần dè dặt khiêm tốn, Nguyễn Dữ rất tự hào về tác phẩm của mình, qua đó ông bộc lộ tâm tư, thể hiện hoài bão; ông đã phát biểu nhận thức, bày tỏ quan điểm của mình về những vấn đề lớn của xã hội, của con người trong khi chế độ phong kiến đang suy thoái. Trong Truyền kỳ mạn lục, có truyện vạch trần chế độ chính trị đen tối, hủ bại, đả kích hôn quân bạo chúa, tham quan lại nhũng, đồi phong bại tục, có truyện nói đến quyền sống của con người như tình yêu trai gái, hạnh phúc lứa đôi, tình nghĩa vợ chồng, có truyện thể hiện đời sống và lý tưởng của sĩ phu ẩn dật... Nguyễn Dữ đã phản ánh hiện thực mục nát của chế độ phong kiến một cách có ý thức. Toàn bộ tác phẩm thấm sâu tinh thần và mầu sắc của cuộc sống, phạm vi phản ánh của tác phẩm tương đối rộng rãi, khá nhiều vấn đề của xã hội, con người được đề cập tới. Bất mãn với thời cuộc và bất lực trước hiện trạng, Nguyễn Dữ ẩn dật và đã thể hiện quan niệm sống của kẻ sĩ lánh đục về trong qua Câu chuyện đối đáp của người tiều phu trong núi Nưa. ở ẩn mà nhà văn vẫn quan tâm đến thế sự, vẫn không quên đời, vẫn nuôi hy vọng ở sự phục hồi của chế độ phong kiến. Tư tưởng chủ đạo của Nguyễn Dữ là tư tưởng Nho gia. Ông phơi bày những cái xấu xa của xã hội là để cổ vũ thuần phong mỹ tục xuất phát từ ý thức bảo vệ chế độ phong kiến, phủ định triều đại mục nát đương thời để khẳng định một vương triều lý tưởng trong tương lai, lên án bọn "bá giả" để đề cao đạo "thuần vương", phê phán bọn vua quan tàn bạo để ca ngợi thánh quân hiền thần, trừng phạt bọn người gian ác, xiểm nịnh, dâm tà, để biểu dương những gương tiết nghĩa, nhân hậu, thủy chung. Tuy nhiên Truyền kỳ mạn lục không phải chỉ thể hiện tư tưởng nhà nho, mà còn thể hiện sự dao động của tư tưởng ấy trước sự rạn nứt của ý thức hệ phong kiến. Nguyễn Dữ đã có phần bảo lưu những tư tưởng phi Nho giáo khi phóng tác, truyện dân gian, trong đó có tư tưởng Phật giáo, Đạo giáo và chủ yếu là tư tưởng nhân dân. Nguyễn Dữ đã viết truyền kỳ để ít nhiều có thể thoát ra khỏi khuôn khổ của tư tưởng chính thống đặng thể hiện một cách sinh động hiện thực cuộc sống với nhiều yếu tố hoang đường, kỳ lạ. Ông mượn thuyết pháp của Phật, Đạo, v.v. để lý giải một cách rộng rãi những vấn đề đặt ra trong cuộc sống với những quan niệm nhân quả, báo ứng, nghiệp chướng, luân hồi; ông cũng đã chịu ảnh hưởng của tư tưởng nhân dân khi miêu tả cảnh cùng cực, đói khổ, khi thể hiện đạo đức, nguyện vọng của nhân dân, khi làm nổi bật sự đối kháng giai cấp trong xã hội. Cũng chính vì ít nhiều không bị gò bó trong khuôn khổ khắt khe của hệ ý thức phong kiến và muốn dành cho tư tưởng và tình cảm của mình một phạm vi rộng rãi, ông hay viết về tình yêu nam nữ. Có những truyện ca ngợi tình yêu lành mạnh, chung thủy sắt son, thể hiện nhu cầu tình cảm của các tầng lớp bình dân. Có những truyện yêu đương bất chính, tuy vượt ra ngoài khuôn khổ lễ giáo nhưng lại phản ánh lối sống đồi bại của nho sĩ trụy lạc, lái buôn hãnh tiến. Nguyễn Dữ cũng rất táo bạo và phóng túng khi viết về những mối tình si mê, đắm đuối, sắc dục, thể hiện sự nhượng bộ của tư tưởng nhà nho trước lối sống thị dân ngày càng phổ biến ở một số đô thị đương thời. Tuy vậy, quan điểm chủ đạo của Nguyễn Dữ vẫn là bảo vệ lễ giáo, nên ý nghĩa tiến bộ toát ra từ hình tượng nhân vật thường mâu thuẫn với lý lẽ bảo thủ trong lời bình. Mâu thuẫn này phản ánh mâu thuẫn trong tư tưởng, tình cảm tác giả, phản ánh sự rạn nứt của ý thức hệ phong kiến trong tầng lớp nho sĩ trước nhu cầu và lối sống mới của xã hội. Truyền kỳ mạn lục có giá trị hiện thực vì nó phơi bày những tệ lậu của chế độ phong kiến và có giá trị nhân đạo vì nó đề cao phẩm giá con người, tỏ niềm thông cảm với nỗi khổ đau và niềm mơ ước của nhân dân. Truyền kỳ mạn lục còn là tập truyện có nhiều thành tựu nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật dựng truyện, dựng nhân vật. Nó vượt xa những truyện ký lịch sử vốn ít chú trọng đến tính cách và cuộc sống riêng của nhân vật, và cũng vượt xa truyện cổ dân gian thường ít đi sâu vào nội tâm nhân vật. Tác phẩm kết hợp một cách nhuần nhuyễn, tài tình những phương thức tự sự, trữ tình và cả kịch, giữa ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ tác giả, giữa văn xuôi, văn biền ngẫu và thơ ca. Lời văn cô đọng, súc tích, chặt chẽ, hài hòa và sinh động. Truyền kỳ mạn lục là mẫu mực của thể truyền kỳ, là "thiên cổ kỳ bút", là "áng văn hay của bậc đại gia", tiêu biểu cho những thành tựu của văn học hình tượng viết bằng chữ Hán dưới ảnh hưởng của sáng tác dân gian. BÙI DUY TÂN Nguyễn Dữ là con trai cả Nguyễn Tường Phiêu, Tiến sĩ khoa Bính Thìn, niên hiệu Hồng Đức thứ 27 (1496), được trao chức Thừa chánh sứ, sau khi mất được tặng phong Thượng thư. Lúc nhỏ Nguyễn Dữ chăm học, đọc rộng, nhớ nhiều, từng ôm ấp lý tưởng lấy văn chương nối nghiệp nhà. Sau khi đậu Hương tiến, Nguyễn Dữ thi Hội nhiều lần, đạt trúng trường và từng giữ chức vụ Tri huyện Thanh Tuyền nhưng mới được một năm thì ông xin từ quan về nuôi dưỡng mẹ già. Trải mấy năm dư không đặt chân đến những nơi đô hội, ông miệt mài "ghi chép" để gửi gắm ý tưởng của mình và đã hoàn thành tác phẩm "thiên cổ kỳ bút" Truyền kỳ mạn lục. Nguyễn Dữ sinh và mất năm nào chưa rõ, nhưng căn cứ vào tác phẩm cùng bài Tựa Truyền kỳ mạn lục của Hà Thiện Hán viết năm Vĩnh Định thứ nhất (1547) và những ghi chép của Lê Quý Đôn trong mục Tài phẩm sách Kiến văn tiểu lục có thể biết ông là người cùng thời với Nguyễn Bỉnh Khiêm, có thể lớn tuổi hơn Trạng Trình chút ít. Giữa Nguyễn Dữ và Nguyễn Bỉnh Khiêm tin chắc có những ảnh hưởng qua lại về tư tưởng, học thuật... nhưng e rằng Nguyễn Dữ không thể là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm như Vũ Phương Đề đã ghi. Đối với nhà Mạc, thái độ Nguyễn Dữ dứt khoát hơn Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông không làm quan với nhà Mạc mà chọn con đường ở ẩn và ông đã sống cuộc sống lâm tuyền suốt quãng đời còn lại. Truyền kỳ mạn lục được hoàn thành ngay từ những năm đầu của thời kỳ này, ước đoán vào khoảng giữa hai thập kỷ 20-30 của thế kỷ XVI. Theo những tư liệu được biết cho đến nay, Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm duy nhất của Nguyễn Dữ. Sách gồm 20 truyện, chia làm 4 quyển, được viết theo thể loại truyền kỳ. Cốt truyện chủ yếu lấy từ những câu chuyện lưu truyền trong dân gian, nhiều trường hợp xuất phát từ truyền thuyết về các vị thần mà đền thờ hiện vẫn còn (đền thờ Vũ Thị Thiết ở Hà Nam, đền thờ Nhị Khanh ở Hưng Yên và đền thờ Văn Dĩ Thành ở làng Gối, Hà Nội). Truyện được viết bằng văn xuôi Hán có xen những bài thơ, ca, từ, biền văn, cuối mỗi truyện (trừ truyện 19 Kim hoa thi thoại ký) đều có lời bình thể hiện rõ chính kiến của tác giả. Hầu hết các truyện đều lấy bối cảnh ở các thời Lý-Trần, Hồ, thuộc Minh, Lê sơ và trên địa bàn từ Nghệ An trở ra Bắc. Thông qua các nhân vật thần tiên, ma quái, tinh loài vật, cây cỏ..., tác phẩm muốn gửi gắm ý tưởng phê phán nền chính sự rối loạn, không còn kỷ cương trật tự, vua chúa hôn ám, bề tôi thoán đoạt, bọn gian hiểm nịnh hót đầy triều đình; những kẻ quan cao chức trọng thả sức vơ vét của cải, sách nhiễu dân lành, thậm chí đến chiếm đoạt vợ người, bức hại chồng người. Trong một xã hội rối ren như thế, nhiều tệ nạn thế tất sẽ nảy sinh. Cờ bạc, trộm cắp, tật dịch, ma quỷ hoành hành, đến Hộ pháp, Long thần cũng trở thành yêu quái, sư sãi, học trò, thương nhân, nhiều kẻ đắm chìm trong sắc dục. Kết quả là người dân lương thiện, đặc biệt là phụ nữ phải chịu nhiều đau khổ. Nguyễn Dữ dành nhiều ưu ái cho những nhân vật này. Dưới ngòi bút của ông họ đều là những thiếu phụ xinh đẹp, chuyên nhất, tảo tần, giàu lòng vị tha nhưng luôn luôn phải chịu số phận bi thảm. Đến cả loại nhân vật "phản diện" như nàng Hàn Than (Đào thị nghiệp oan ký), nàng Nhị Khanh (Mộc miên phụ truyện), các hồn hoa (Tây viên kỳ ngộ ký) và "yêu quái ở Xương Giang" cũng đều vì số phận đưa đẩy, đều vì "nghiệp oan" mà đến nỗi trở thành ma quỷ. Họ đáng bị trách phạt nhưng cũng đáng thương. Dường như Nguyễn Dữ không tìm được lối thoát trên con đường hành đạo, ông quay về cuộc sống ẩn dật, đôi lúc thả hồn mơ màng cõi tiên, song cơ bản ông vẫn gắn bó với cõi đời. Ông trân trọng và ca ngợi những nhân cách thanh cao, cứng cỏi, những anh hùng cứu nước, giúp dân không kể họ ở địa vị cao hay thấp. Truyền kỳ mạn lục ngay từ khi mới hoàn thành đã được đón nhận. Hà Thiện Hán người cùng thời viết lời Tựa, Nguyễn Thế Nghi, theo Vũ Phương Đề cũng là người cùng thời, dịch ra văn nôm. Về sau nhiều học giả tên tuổi Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích, Phan Huy Chú đều ghi chép về Nguyễn Dữ và định giá tác phẩm của ông. Nhìn chung các học giả thời Trung đại khẳng định giá trị nhân đạo và ý nghĩa giáo dục của tác phẩm. Các nhà nghiên cứu hiện đại phát hiện thêm giá trị hiện thực đồng thời khai thác tinh thần "táo bạo, phóng túng" của Nguyễn Dữ khi ông miêu tả những cuộc tình si mê đắm đuối đậm màu sắc dục. Hành vi ấy tuy trái lễ, trái đạo trung dung nhưng lại đem đến chút hạnh phúc trần thế có thực cho những số phận oan nghiệt. Về mặt thể loại mà xét thì Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm đỉnh cao của truyện truyền kỳ Việt Nam. Nguyễn Dữ chịu ảnh hưởng của Cù Hựu nhưng Truyền kỳ mạn lục vẫn là "áng văn hay của bậc đại gia", là sáng tạo riêng của Nguyễn Dữ cũng như của thể loại truyện truyền kỳ Việt Nam. TRẦN THỊ BĂNG THANH Lời tựa(1) Tập lục này là trước tác của Nguyễn Dữ, người Gia Phúc, Hồng Châu. Ông là con trưởng vị tiến sĩ triều trước Nguyễn Tường Phiêu (2). Lúc nhỏ rất chăm lối học cử nghiệp, đọc rộng nhớ nhiều, lập chí ở việc lấy văn chương truyền nghiệp nhà. Sau khi đậu Hương tiến, nhiều lần thi Hội đỗ trúng trường, từng được bổ làm Tri huyện Thanh Tuyền (3). Được một năm ông từ quan về nuôi mẹ cho tròn đạo hiếu. Mấy năm dư không đặt chân đến chốn thị thành, thế rồi ông viết ra tập lục này, để ngụ ý. Xem văn từ thì không vượt ra ngoài phên giậu của Tông Cát (4), nhưng có ý khuyên răn, có ý nêu quy củ khuôn phép, đối với việc giáo hóa ở đời, há có phải bổ khuyết nhỏ đâu! Vĩnh Định năm đầu (1547), tháng Bảy, ngày tốt. Đại An Hà Thiện Hán kính ghi Kẻ hậu học là Tùng Châu Nguyễn Lập Phu biên. (1) Lời Tựa này được chép trong Cựu biên Truyền kỳ mạn lục. Bản này hiện chưa có trong các thư viện ở Hà Nội. Ở đây chúng tôi theo Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tùng san, Đài Loan thư cục in năm 1987. Tân biên truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú in năm Cảnh Hưng 35 (1774) lấy lại lời tựa này nhưng không ghi tên Hà Thiện Hán. Cuối bài ghi thêm "Nay xã trưởng xã Liễu Chàng là Nguyễn Đình Lân soạn in vào năm Giáp Ngọ (1774) để làm bản gốc cho nghìn vạn đời và để bán cho thiên hạ xem đọc". Chú thích (2) Nguyễn Tường Phiêu: người xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân, nay thuộc tỉnh Hải Dương, đồ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân năm Hồng Đức 27 (1496) đời Lê Thánh Tông; làm quan đến Thừa chánh sứ. Sau khi mất được tặng chức Thượng thư, phong phúc thần. (3) Thanh Tuyền: tức huyện Bình Xuyên, thuộc tỉnh Vĩnh Phúc. (4) Tông Cát: Cù Tông Cát, tên là Cù Hựu, tác giả Tiễn đăng tân thoại. Mời các bạn đón đọc Truyền Kỳ Mạn Lục của tác giả Nguyễn Dữ.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Tâm Lý Những Kẻ Sát Nhân Hàng Loạt
Có rất nhiều truyền thuyết lưu truyền về những kẻ sát nhân hàng loạt. Chúng thường có mặt trong hồ sơ của những chuyên gia tâm lý. Những kẻ sát nhân hàng loạt này thường có cùng một kiểu nạn nhân, hoặc cùng một kiểu giết người. Như thể họ thông minh hơn người thường, không thể cưỡng lại ham muốn hay dục vọng giết người. Sự thật không đơn giản như vậy, có rất nhiều kiểu sát nhân hàng loạt. Cuốn sách đưa ra những ví dụ về nhiều kiểu sát nhân hàng loạt. Những kẻ sát nhân hàng loạt sống hai cuộc đời, trốn tránh giữa xã hội và sống cuộc đời ác thú của mình. Tâm Lý Những Kẻ Sát Nhân Hàng Loạt không chỉ miêu tả lại những tội ác rùng rợn mà còn miêu tả sâu sắc và khách quan những biến đổi tâm lý của những Jack Đồ Tể, Ted Bundy... Cuốn sách được dịch bởi nhóm dịch Tâm Lý Học Tội Phạm. *** Rất nhiều người vẫn cho rằng Jack Đồ Tể_tên sát nhân nổi tiếng ở Luân Đôn_chính là kẻ giết người hàng loạt đầu tiên trên thế giới. Quan niệm sai lầm này xuất phát từ việc điều tra và xâu chuỗi lại một loạt án mạng xảy ra tại thời điểm đó. Năm tội ác được quy cho “Jack bất trị” trong suốt sáu tuần lễ kinh hoàng của hắn ở Whitechapel, Luân Đôn; đây cũng là loạt tội ác liên hoàn đầu tiên diễn ra ở một thành phố lớn một cách quá nổi bật khiến nó thu hút sự chú ý của truyền thông trên toàn thế giới. Tuy nhiên, hãy đặt nó trong một bối cảnh phù hợp, có vậy chúng ta mới nhận thức đúng đắn về sự phổ biến của những tên sát nhân liên hoàn cũng như mức độ đa dạng trong phương thức và động cơ của chúng xuyên suốt chiều dài lịch sử. Một điểm chắc chắn là yếu tố văn hóa có ảnh hưởng nhất định đến biểu hiện của sát nhân liên hoàn, vì vậy việc nghiên cứu bối cảnh xảy ra vụ việc là vô cùng quan trọng. .. Mời các bạn đón đọc Tâm Lý Những Kẻ Sát Nhân Hàng Loạt của tác giả Katherine Ramsland.
3 Đêm Trước Giao Thừa - Ryu Murakami
Được độc giả Việt Nam biết tới qua một số tác phẩm tiêu biểu như 69, Xuyên thấu, Màu xanh trong suốt hay gần đây nhất là Thử vai, cái tên Ryu Murakami đã ngày trở nên quen thuộc và gắn liền với những cuốn sách về đề tài xã hội Nhật đương đại. Chính giọng văn điềm tĩnh, tỉnh táo và có đôi khi còn hơi lãnh đạm nhưng lại thấm đẫm hơi thở cuộc sống đã đưa tên tuổi Ryu Murakami vươn lên tầm cỡ văn đàn thế giới, không hề kém cạnh người đồng nghiệp – đồng hương Haruki Murakami. *** 3 Đêm Trước Giao Thừa: Đằng sau câu chuyện về chuyến hành trình 3 đêm trước giao thừa qua các chốn ăn chơi quanh Kabukicho của hai nhân vật chính: Kenji, chàng thanh niên người Nhật vừa bước sang tuổi 20, hướng dẫn viên và Frank, ông khách ngoại quốc có khuôn mặt kỳ dị, một kẻ giết người máu lạnh... là hình ảnh đa diện của xã hội Nhật Bản và ý nghĩa của những điều thức tỉnh con người... Cuối cùng Frank đã đưa cho Kenji cả "cánh của con thiên nga". Có vẻ như cái mà ông ta nhận được không đơn giản hòa tan vào văn hóa Nhật Bản, thế giới của xúp Miso một cách dễ dàng. Và còn rất nhiều điều đang bỏ ngỏ... *** Tên tớ là Kenji. Tên tôi là Kenji. Tôi là Kenji. Mình là Kenji. Tôi tự hỏi sao trong tiếng Nhật lại có nhiều cách nói như thế làm gì? Tôi đã quyết định nói với ông khách người Mỹ bằng câu tiếng Anh: "My name is Kenji". Người khách Mỹ đó đã nhìn tôi rất vui vẻ và nhắc lại tên tôi một cách thích thú. Sau đó tôi cũng đã bắt tay người khách du lịch đến từ Mỹ có vóc dáng hơi mập ấy. Ông ta ở khách sạn nằm ngay gần nhà ga Seibu-Shinjuku đạt tiêu chuẩn giữa hai sao và ba sao. Đó là lần đầu tiên tôi gặp Frank. Sau này tôi nhớ mãi không quên. Tôi vừa tròn hai mươi tuổi nên trình độ tiếng Anh chưa thể coi là thành thạo nhưng cũng đủ để có thể làm hướng dẫn viên du lịch. Với lại, làm hướng dẫn viên du lịch fuzoku (nơi mua bán dâm) nên cũng không cần tiếng Anh phải siêu sao cho lắm. Từ sau đại dịch AIDS, ở các fuzoku, gaijin (người mua dâm) không được chào đón, hay nói một cách khác nặng nề hơn là tẩy chay. Tuy vậy, người nước ngoài đến với mục đích du lịch hay vui chơi lành mạnh vẫn rất đông. Tôi thường giới thiệu cho họ địa chỉ hộp đêm, phòng mát xa, quán bar SM có độ an toàn cao. Và mỗi lần như vậy tôi lại kiếm được chút ít. Tôi không trực tiếp đi làm thuê cho một ai mà cũng không có cả văn phòng riêng, thực ra là tôi chỉ đăng những mẩu tin “tự-quảng-cáo" trên các tạp chí du lịch dành cho người nước ngoài. Chỉ thế thôi mà tôi cũng đã có thể vừa trả được tiền thuê một căn hộ nhỏ ở quận Meguro, vừa dẫn được bạn gái đi ăn thịt nướng, hay mua những bản nhạc tôi thích, những cuốn sách tôi mê. Mẹ tôi, hiện đang làm việc tại một cửa hàng bán âu phục ở tỉnh Shizuoka, vẫn cứ tưởng rằng tôi đang học dự bị ở một trường nào đó. Bà đã phải một thân một mình nuôi tôi kể từ khi bố tôi mất, hồi đó tôi đang học lớp Sáu. Mấy đứa bạn tôi thường cãi lại hay thậm chí còn đánh cả mẹ chúng nhưng tôi thì không bao giờ. Tôi biết bà rất buồn khi tôi không có ý định vào đại học. Tôi không đủ khả năng học để tìm được việc liên quan tới khoa học hay toán học, còn nếu học văn không thi ra trường thì đi làm những việc đơn thuần là làm công ăn lương tẻ nhạt. Không biết có thực hiện được hay không nhưng tôi vẫn muốn kiếm thật nhiều tiền để có thể sang Mỹ. "Văn phòng của Kenji phải không? Tôi là Frank đến từ Mỹ." Ngày 29 tháng 12 năm ngoái, lúc đã rất khuya, tôi nhận được một cú điện thoại với câu giới thiệu đó. Khi ấy, tôi đang đọc tờ báo có đăng tin một nữ sinh cấp III bị sát hại. Chân và tay của cô gái bị cắt rời, rồi bị vứt vào một bãi rác ở Kabukicho ... Mời các bạn đón đọc 3 Đêm Trước Giao Thừa của tác giả Ryu Murakami.
Lễ Tình Nhân Đẫm Máu - Đào Đào Nhất Luân
Máu và hoa, tội ác và tình yêu... Các nhà khoa học đã chỉ ra, tình yêu chính là thủ phạm khiến con người ta trở nên mù quáng hay hướng đến “mảnh ghép” tệ nhất… Những thay đổi trong não bộ khi yêu làm giảm đi khả năng lý trí ở mỗi người, bên cạnh việc tạo nên thứ gọi là “Sự kì diệu của tình yêu”… Nguyên nhân của các vụ trọng án thường bắt đầu bằng hai chữ “Tình yêu…” Thủ pháp nghệ thuật truyện lồng trong truyện, nhân vật lồng trong nhân vật, sử dụng hai phương pháp chính phá án là giám định khoa học hình sự và tâm lý học tội phạm đã tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt cho câu chuyện. Trong đó, hai nhân vật chính đóng vai trò chủ chốt trong việc đưa các hung thủ ra ngoài ánh sáng. Và họ cũng chứng minh rằng: Tình yêu chỉ đến với những người vẫn còn niềm tin cho dù đã từng thất vọng, những ai vẫn còn muốn yêu khi đã từng bị tổn thương. Vị đắng chát của tình yêu khiến ta đau đớn như thế nào thì khi tình yêu quay trở lại vẫn ấm áp dư vị ngọt ngào. Tác phẩm đã được mua bản quyền để chuyển thể thành phim. *** Sân bay thành phố Lộ Châu. Tại lối ra của chuyến bay nội địa và chuyến bay quốc tế, hai tổ cảnhsát được cử đi đón người đã đến sân bay trước một giờ để đợi, cực kỳ cẩn thận giơ bảng đèn LED đón người được làm một cách tỉ mỉ, một bảng ghi“Giáo sư Tả Kình Thương,” còn một bảng ghi “Cynthia Shu.” Chuyến bay từ Thủ đô đã hạ cánh, đội cảnh sát trẻ mặc thường phục phụ tráchđón người từ chuyến bay nội địa này vô cùng phấn khởi. Khi bóng dáng cao lớn mặc âu phục màu đen chỉn chu của người nọ vừa xuất hiện, thì nhữngthanh niên với thị lực siêu quần ấy liền hết vẫy tay rồi lại huýt sáomừng rỡ, nhưng khi người đó bước đến gần hơn, bọn họ lại trở nên nghiêmtúc, lắc lắc bảng đèn LED trong tay, vô cùng kính trọng gọi: “Thầy Tả, ở đây!”, “Giáo sư! Chúng tôi ở đây!” Mấy anh em cảnh sát này đềutốt nghiệp từ Đại học Điều tra hình sự Trung Quốc, gặp lại thầy giáo đãtừng dạy mình trước kia, ngoài sự vui mừng vì vụ án hóc búa sẽ tìm đượclời giải, còn có sự hưng phấn khi được làm việc chung với thầy của mình. Tả Kình Thương - một nhân vật mà trong giới cảnh sát hình sự không aikhông biết, kiêu ngạo mà lạnh lùng, nghiêm nghị mà sâu sắc. Dù chưa đếnba mươi tuổi nhưng dã đào tạo ra biết bao chuyên gia điều tra hình sự ưu tú trong nước, phát hiện được biết bao thiên tài phá án cừ khôi. Cũngtừ chối vô số lời mời từ các đại học nước ngoài, đích thân tham gia phávô số vụ trọng án chấn động toàn quốc, khiến biết bao kẻ cực kỳ ác độcđưa ra cái giá khổng lồ để mua đầu anh. Những ai đã từng là học viên của anh, đó chính là niềm vinh dự của một cánh sát hình sự mới vào nghề. ... Mời các bạn đón đọc Lễ Tình Nhân Đẫm Máu của tác giả Đào Đào Nhất Luân.
Vùng Đất Vô Hình - Thám Hoa Rách
Truyện Vùng Đất Vô Hình là một truyện khá lý thú và hấp dẫn của tác giả Thám Hoa Rách, truyện có nhiều yếu tố kinh dị được vẽ lên, tô đậm làm người khác cảm thấy hoảng sợ, không gian rùng rợn của truyện làm bạn đọc cảm thấy ngỡ ngàng, bị cuốn vào nhưng nửa muốn thoát ra, có chút huyền bí huyễn hoặc pha thêm chút ma quái đôi khi lại làm cho người đọc như bị dụ hoặc. Đọc truyện bạn có đôi lúc cảm tưởng như một truyện tự sự thông thường, đôi lúc lại thấy như đây là một truyện ma làm người ta phải sởn gai ốc, hốt hoảng. Có đôi lúc, đang yên tình nhưng rồi đẩy lên cao trào không thể ngờ, chỉ đọc bạn mới cảm nhận được hết những điều này. *** Trên đỉnh Hoàng Lĩnh Sơn có một ngôi chùa cổ, quanh năm chìm trong sương khói. Ngôi chùa dường như rơi vào sự lãng quên của người đời, hầu như không có khách hành hương. Ngôi chùa có ba tầng lầu, mỗi tầng cũng không cao và đều được làm bằng gỗ. Mái chùa lợp bằng gạch ngói đỏ, dáng hơi cong, xung quanh có sáu đỉnh nhọn, chĩa ra như sừng trâu chọi, nhìn từ xa trông có vẻ cổ kính pha thêm một chút dữ tợn. Trên mái có tấm biển bằng đá cẩm thạch, đề hai chữ sơn màu đỏ:” Phổ Linh” Chẳng ai biết ngôi chùa này đã tồn tại mấy trăm năm, qua rất nhiều thời kỳ u tối và đẫm máu, trừ những người giữ chùa – một môn phái bí ẩn. Gọi là môn phái cho to, chứ thực ra cũng chỉ có năm người. Thêm một người giúp việc kiêm đầu bếp nữa là sáu. Vậy với một ngôi chùa không có hương khói lẫn tiền công đức, bọn họ sống bằng cái gì? Đáp án đó là nghề trừ ma. *** Mời các bạn đón đọc Vùng Đất Vô Hình của tác giả Thám Hoa Rách.