Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Vị Khách Cuối Cùng

Littleport, Maine là thị trấn mang đến hai ấn tượng đối lập: một điểm nghỉ mát lý tưởng cho giới thượng lưu – nơi có những ngôi nhà xinh đẹp nằm dọc bờ biển; và một cộng đồng dân cư giản dị, mộc mạc ở bến cảng – nơi những người dân địa phương quanh năm kiếm kế sinh nhai bằng việc phục vụ du khách. Trong hoàn cảnh đối lập đến vậy, thật khó để tin rằng tình bạn sâu sắc sẽ nảy nở giữa con gái chủ nhà và cô bé giúp việc, nhưng đó là điều xảy ra giữa Sadie Loman và cư dân của Littleport - Avery Greer. Suốt gần một thập kỷ, hai cô gái luôn đồng hành cùng nhau trải qua những mùa hè tuyệt diệu, cho đến khi Sadie được phát hiện đã chết. Mặc dù cảnh sát kết luận Sadie đã tự sát, Avery không thể ngăn được cảm giác kỳ lạ rằng những người xung quanh có liên quan đến cái chết bí ẩn của cô bạn thân, bao gồm vị thám tử địa phương và Parker – anh trai của Sadie. Ai đó đã không tiết lộ hết sự thật mà họ biết, Avery định sẽ làm sáng tỏ mọi chuyện trước khi sự thật bị đổi trắng thay đen và làm hại cô ấy. Được chắp bút bởi Megan Miranda – tác giả của những cuốn sách bán chạy nhất New York Times: “Những cô gái mất tích” và “Người lạ mặt hoàn hảo”, nhà văn hàng đầu của dòng tiểu thuyết kinh dị; Vị khách cuối cùng sở hữu cốt truyện thông minh với những khúc quanh khó lường khiến người đọc hồi hộp dõi theo và nín thở đến tận trang cuối cùng. Một số nhận định về “Vị khách cuối cùng”: “Một lần nữa, Megan Miranda đã dựng lên câu chuyện kinh dị hoàn hảo cho mùa hè. Vị khách cuối cùng đầy những cú twist căng thẳng khiến trái tim tôi loạn nhịp. Nhớ canh thời gian rảnh để đọc cuốn sách này bởi một khi bắt đầu đọc, tôi cá là bạn sẽ không thể đặt xuống cho đến trang cuối cùng!” – Riley Sager, tác giả “Lần cuối cùng tôi nói dối” - cuốn sách bán chạy nhất New York Time. “ “Cốt truyện thông minh đầy ắp những bất ngờ và khúc quanh không thể lường trước là sở trường của Megan Miranda, nhưng cô vẫn khiến người đọc cảm thấy ấm áp nhờ câu chuyện tình bạn thân thiết giữa Sadie Loman và Avery Greer… Megan thật sự biết cách viết đoạn kết khiến người đọc phải ồ lên tán thưởng.” – Marilyn Stasio, Biên tập chuyên mục Review sách trên tờ The New York Time. “Không ai có thể đoán trước tình tiết cuốn sách mới nhất của bậc thầy tiểu thuyết kinh dị Megan Miranda. Vị khách cuối cùng là một bí ẩn nhanh như chớp, đầy nguy hiểm và chứa đựng những khúc ngoặt bất ngờ khiến độc giả đứng ngồi không yên.” Mary Kubica, tác giả “Cô gái ngoan” – cuốn sách bán chạy nhất New York Time. *** Tác giả: Megan Miranda. Dịch giả: SPENCER Thể loại: mystery thriller – trinh thám hồi hộp . . “Làm thế nào tôi đã trải qua mùa đông trong sự thờ ơ, giống như thời gian đã đóng băng. Uống nhiều rượu như đang tìm kiếm thứ gì đó và càng uống nhiều hơn vì tin rằng chắc chắn tôi sẽ tìm được điều đó. Tôi đã cãi nhau với bạn bè thế nào, khiến tình cảm giữa chúng tôi rạn nứt, những điều ngu ngốc, liều lĩnh mà tôi đã làm. Không tin ai và mất tất cả niềm tin từ mọi người”. Lúc gần nửa đêm tại buổi tiệc Cuối Mùa ở thị trấn Littleport, Avery Greer đang chờ người bạn Sadie Loman đến. Parker Loman – anh trai của Sadie đã đến cùng bạn gái, nhưng em gái anh ta không đi chung xe với họ. Avery lấy điện thoại nhắn tin cho Sadie và nhận thấy đối phương đang gõ tin nhắn trả lời, tuy nhiên tin nhắn đó không bao giờ đến. Thế rồi, cảnh sát gõ cửa và hỏi Parker về dấu hiệu nhận dạng của em gái anh. Cô ấy đã chết, được một người địa phương tìm thấy ngoài vách đá. ____ Một năm sau, nhìn bề ngoài thì cuộc sống của người dân trong thị trấn Littleport vẫn bình thường, nhưng vẫn có một điều gì đó xấu xa đang ngấm ngầm diễn ra chỉ trong cảm giác của một số người tinh ý, trong đó có Avery. Là bạn thân của Sadie, cô mãi bị ám ảnh bởi cái chết của bạn mình, và chậm rãi tiến hành điều tra từ những chi tiết và chứng cứ ít ỏi tìm được sau một năm. Xuất thân và quá khứ của Avery Greer cũng khiến cô gặp một ít rắc rối với người dân trong thị trấn. Nhờ một người anh cho mượn nhầm sách, tôi mới biết trên đời có tồn tại một quyển sách bìa xanh đẹp như thế này, nhưng nội dung thì tàm tạm chứ không xứng với cái bìa lộng lẫy. Một cô gái chết (hay bị giết?) ở đầu truyện, tiếp theo cả quyển sách là quá trình điều tra của bạn cô ấy. Tôi có thể hình dung tác giả viết rất kỹ, liên kết các chi tiết trước và sau một cách chặt chẽ, thỉnh thoảng đưa vào những đoạn nhỏ mang hơi hướm triết lý, nói lên suy nghĩ của nhân vật chính / mà có lẽ là của chính tác giả về cuộc sống. Thế nhưng, cá nhân tôi thấy cuốn này hơi nhạt, cố tình giữ lại những góc khuất trong quá khứ của nhân vật để đánh đố độc giả, bắt độc giả phải hại não nghĩ ngợi xem tại sao cô ấy hành xử thế này thế kia… Như một số quyển trinh thám khác, “Vị khách cuối cùng” được viết theo trình tự quá khứ đan xen hiện tại, thậm chí giờ giấc và sự kiện cũng bị thay đổi cho hợp ý tác giả, kết quả khiến tôi trong lúc đọc bị rối lên, cứ phải giở phần trước để xem mình có bỏ qua chi tiết nào không. Rất may là trong cuốn này không có bạo hành phụ nữ hay lạm dụng tình dục, đọc cũng nhẹ nhõm được một chút. Tuy vậy, cách viết của tác giả khiến tôi chưa cảm nhận sâu sắc được lòng thương tiếc dành cho nạn nhân. Trong ít nhất hai cuốn trinh thám thuộc loạt truyện về Tracy Crosswhite của tác giả Robert Dugoni, khi biết được động cơ và cách thức gây án, tôi đã rơi lệ vì xót thương cho cái chết vô nghĩa của các nữ nạn nhân tuổi đời còn rất trẻ. Tuy cũng thưởng thức được một số cuốn trinh thám Nhật, cũng thích đọc trinh thám Trung (với điều kiện phải hợp gu) nhưng nhìn chung tôi ít do dự khi mua / đọc trinh thám hiện đại phương Tây, vì bất chấp chuyện thường phàn nàn về lối sống phóng túng của nhân vật trong trinh thám Âu Mỹ, tôi vẫn thích những yếu tố như cốt truyện mạnh mẽ, minh bạch, dễ đọc; nhịp truyện không quá chậm như trinh thám cổ điển, và nhất là thường áp dụng khoa học kỹ thuật khiến quá trình điều tra diễn tiến nhịp nhàng và hợp lý. Tuy vậy, tôi vẫn phàn nàn về lối sống phóng túng của nhân vật trong cuốn “Vị khách cuối cùng” này! Các mối quan hệ tình ái đan xen chằng chịt và sự buông thả của các nhân vật khiến tôi liên tưởng đến “Người tuyết” và “Mùa hạn kinh hoàng”. Đồng ý rằng sống thì phải tìm vui, nhưng tìm vui một cách cẩu thả để rồi sau đó bị vướng vào quá nhiều rắc rối thì rốt cuộc những khoảng khắc tìm vui đó có đáng không, có được gọi là “vui” không. Lại càm ràm về lỗi chính tả trong sách: “lẩn quẩn” bị viết nhầm thành “lẩn khuẩn”, và thêm một vài lỗi khác tôi lười nên không ghi chú lại. Tuy nhiên, có một lỗi to đùng lẽ ra phải đập vào mắt ngay trước khi in ấn nhưng đã bị bỏ qua: “Miranda” bị lỗi đánh máy thành “Mỉanda”, chữ này được in trong phần tên tác giả ngay góc trên bên phải của mỗi trang lẻ. Ngoài ra thì phần dịch thuật đọc cũng dễ hiểu, nếu có khó hiểu là do tôi không thấu triệt được dụng ý của tác giả. Hôm nọ tôi thoáng thấy thông tin rằng sách của tác giả Megan Miranda sắp được xuất bản tiếng Việt một cuốn nữa, tuy nhiên riêng tôi thì cho rằng cuốn đã đọc này sẽ “Vị khách cuối cùng” ghé thăm tôi từ tác giả Miranda. (Sea, 8-4-2021) Cảm ơn anh Vũ đã cho em Biển mượn sách  Trong hình, chiếc xe ở phía xa là của vị khách không phải cuối cùng. Weniger anzeigen *** Megan Miranda Là tác giả của những cuốn sách bán chạy nhất New York Time: Những cô gái mất tích, Người lạ mặt hoàn hảo và gần đây là Vị khách cuối cùng. Cô cũng sáng tác một vài cuốn sách nổi tiếng trong cộng đồng người trẻ như Hãy đến tìm tôi, Mảnh vỡ của sự mất mát và Lời nói dối vô hại nhất. Megan lớn lên ở New Jersey, tốt nghiệp Đại học MIT và hiện đang sống ở Bắc Carolina cùng chồng và hai con. Tìm hiểu về nữ nhà văn tài năng này qua Twitter và Instagram @MeganLMiranda hoặc ghé thăm trang web MeganMiranda.com. Tác phẩm: Vị Khách Cuối Cùng Kẻ Lạ Hoàn Hảo - Thị Trấn Nhỏ Với Những Bí Mật Lớn ... *** BỮA TIỆC CUỐI MÙA Đáng lẽ tôi phải quay lại tìm cô ấy; ngay khi cô ấy không tới tham dự bữa tiệc; ngay khi cô ấy không chịu bắt máy; ngay khi cô ấy không trả lời tin nhắn của tôi. Nhưng vì những ly rượu luôn cần được rót đầy, những chiếc xe đang tìm chỗ đỗ đã khiến tôi trở nên quay cuồng. Tôi đã được yêu cầu phải luôn để mọi thứ trong tầm mắt để bữa tiệc hôm đó diễn ra suôn sẻ. Nếu thấy tôi quay trở lại, thế nào cô ấy cũng lại cười thẳng vào mặt tôi rồi đảo đôi mắt tinh nghịch và nói: “Avery, mình có một người mẹ là quá đủ rồi!” Tôi biết tất cả những điều trên chỉ là lời biện bạch. Tôi đến địa điểm tổ chức tiệc sớm hơn tất cả mọi người. Bữa tiệc năm nay được tổ chức vào mùa hè tại một ngôi nhà cho thuê của gia đình nhà Loman. Ngôi nhà nằm phía sau những hàng cây và một con đường lớn, sân nhà không quá rộng, chỉ đủ chỗ cho hai chiếc ô tô đỗ. Nhà Loman đặt tên cho ngôi nhà là Blue Robin* vì tấm gỗ ốp quanh nhà có màu xanh da trời và mái nhà có hình dáng giống như mái của một ngôi nhà tổ chim. Tuy nhiên, tôi lại nghĩ ngôi nhà được đặt tên như vậy là vì nó nằm phía sau những hàng cây, sâu đến mức giống như một đốm sáng xanh hiện lên trên nền bóng tối mà chỉ có thể nhìn thấy rõ khi lại gần. Một loài chim đẻ trứng có màu xanh dương.  Tuy ngôi nhà không phải là một địa điểm lý tưởng bậc nhất hay là nơi có khung cảnh đẹp nhất cho các buổi tiệc tùng; tuy ngôi nhà ở quá xa để thấy biển và chỉ đủ gần mới có thể nghe thấy tiếng sóng rì rào khơi xa nhưng đây lại là nơi cách xa khách sạn Bed and Breakfast nhất, sân nhà cũng được bao quanh với những cây thường xanh* đẹp mắt được cắt tỉa gọn gàng nhất. Mong rằng các vị khách đến đây sẽ không ai than phiền hay chỉ để ý đến những điểm hạn chế của ngôi nhà. Là thuật ngữ khoa học dùng để chỉ cây rừng có lá tồn tại liên tục trong thời gian ít nhất là 12 tháng trên thân chính. Điều này khác biệt với các loài rụng lá hoặc là thân thảo (hàng năm hoặc lâu năm). Các ngôi nhà của nhà Loman cho thuê vào mùa hè đều có điểm chung là kiến trúc nội thất giống y như nhau. Điều này làm cho mỗi khi rời khỏi nhà hay sau khi dẫn khách đi tham quan, tôi đều cảm thấy như mất phương hướng. Một cái xích đu ở mái hiên thay vì đường lót sỏi, nhà ở gần biển thay vì gần núi. Mỗi ngôi nhà đều có lớp gạch lót giống nhau, cùng tông màu đá hoa cương, cùng phong cách nhà cổ mộc mạc. Các bức tường trong mỗi ngôi nhà đều được trang trí với những bức tranh về Littleport (Ngôi làng lớn nhất): ngọn hải đăng, những cánh buồm trắng ở hải cảng, những đợt sóng bọt tung trắng xóa đang vỗ vào các vách đá. Đá ở đây như đang cố gắng vươn mình trước những ngọn sóng, những hòn đảo ở phía xa thoắt ẩn, thoắt hiện theo dòng thủy triều. Littleport luôn mang một vẻ đẹp rất riêng: hoang dã, bí ẩn và tách biệt. Giờ thì tôi đã hiểu tại sao có nhiều người chấp nhận lái xe một đoạn đường dài chỉ để đến đây, tận hưởng cảm giác được nghỉ ngơi, đắm mình vào thiên nhiên. Một thị trấn được bao quanh bởi núi và biển, nhỏ bé và khiêm tốn, lối vào duy nhất là con đường dọc bờ biển đòi hỏi sự kiên nhẫn của người lái xe. Nơi đây tồn tại được hoàn toàn nhờ sự kiên cường trong đấu tranh chống lại sự tàn khốc của thiên nhiên. Nếu lớn lên ở đây, bạn sẽ có cảm giác con người mình cũng được tôi luyện bởi chính sự kiên cường đó. Tôi lấy những chai rượu còn lại trong thùng ra đặt lên bàn đá hoa cương, mang những món đồ trang trí dễ vỡ cất đi và bật đèn bể bơi. Tôi ra hiên sau ngồi và tự thưởng cho mình một ly rượu, lắng nghe những âm thanh theo gió từ biển vọng vào rì rào. Một cơn gió lạnh chớm thu lùa qua những kẽ lá khiến tôi rùng mình và phải kéo kín áo khoác để giữ ấm. Bữa tiệc này luôn được tổ chức vào những thời khắc chuyển mùa, một sự níu kéo cuối cùng của mùa hè trước khi trời sang thu và vào đông. Mùa đông ở nơi đây không chỉ lạnh thấu xương mà còn dài đằng đẵng. Những cơn gió lạnh có thể ùa đến rất nhanh, chỉ ngay khi tiệc tàn và các vị khách rời khỏi. Nhưng hàng năm, những bữa tiệc này luôn diễn ra trước khi mùa đông tới. Một đợt sóng nữa vỗ vào bờ, tôi nhắm nghiền mắt và nhẩm đếm từng giây. Chờ đợi! Bữa tiệc được tổ chức để tạm biệt mùa hè, nhưng mấy ngày hôm nay những cơn gió không biết từ đâu kéo nhau ùa tới khiến tôi nghĩ mùa hè đã bị cuốn theo những ngọn sóng trôi ra mãi xa kia rồi. Khi bữa tiệc bắt đầu trở nên náo nhiệt thì Luciana xuất hiện. Tôi không biết chị ấy tới từ khi nào nhưng khi tôi nhìn thấy thì chị ấy đã đứng ở đó, một mình lẻ loi trong nhà bếp. Dáng hình cao ráo nổi bật của chị dễ khiến người khác chú ý, vậy mà chị lại đang đứng bất động trước sự náo nhiệt của những hoạt động xung quanh. Có lẽ vì đây là lần đầu tiên chị tham gia bữa tiệc như thế này. Nó khác hẳn những bữa tiệc mà chị đã tham dự trong suốt mùa hè vừa qua, bữa tiệc chào đón chị đến với thế giới của Littleport, Maine. Tôi chạm nhẹ vào khuỷu tay của chị, bằng cảm nhận của mình tôi thấy nó lạnh toát. Chị giật mình quay ra nhìn tôi, rồi chị thở phào nhẹ nhõm, dường như chị thấy rất vui khi gặp tôi. “Bữa tiệc này không giống như những gì chị tưởng tượng một chút nào!” Chị ấy không chỉ ăn mặc rất lộng lẫy mà còn chuẩn bị rất chu đáo khi đến tham dự bữa tiệc này. Mái tóc uốn xoăn nhẹ, quần được thiết kế riêng phù hợp với đôi giày cao gót của chị. Cảm giác giống như chị đang chuẩn bị đi dự một bữa tiệc nhẹ buổi sáng hơn là một bữa tiệc buổi tối như thế này. Tôi mỉm cười hỏi chị: “Sadie có đi cùng chị không?”. Sau đó, tôi đưa mắt quan sát để tìm màu sắc quen thuộc là mái tóc vàng đậm được chẻ ngôi giữa, tóc hai bên được tết thành hai dải mỏng và kẹp gọn về phía sau, trông nó hồn nhiên như một đứa trẻ vậy. Tôi kiễng chân và cố dỏng tai tìm kiếm tiếng cười quen thuộc của cô. Luce lắc đầu, những lọn tóc xoăn nhẹ vờn qua vai chị. “Không, chị nghĩ là con bé vẫn đang đóng đồ. Parker chở chị tới đây rồi anh bảo là muốn đỗ xe ở Bed and Breakfast để sau bữa tiệc đi về sẽ tiện hơn.” Chị chỉ tay về hướng Bed and Breakfast, một ngôi nhà từ thời Victoria được cải tạo lại thành khách sạn với tháp chuông nhỏ và có mái hiên. Đứng ở đó bạn có thể nhìn bao quát gần như toàn bộ vùng Littleport, những phần đẹp nhất, từ hải cảng tới dải cát của bãi biển Breaker, một con dốc cạnh ngôi nhà dẫn thẳng ra biển, dẫn đến ngôi nhà của gia đình Loman ở phía Bắc thị trấn. “Anh ấy đáng lẽ không nên đỗ xe ở đó!” - Tôi vừa nói vừa lấy điện thoại ra khỏi túi. Làm sao mà giấu kín được bữa tiệc này với những người chủ của B&B khi mà tất cả các vị khách đều đỗ xe ở đó chứ? Luce nhún vai. Parker Loman luôn làm theo ý mình mà không bao giờ nghĩ đến hậu quả về sau. Tôi áp tai vào điện thoại, cố gắng nghe tiếng đổ chuông trong tiếng nhạc ầm ĩ. Xin chào, bạn đã gọi đến số của Sadie Loman... Tôi dập máy, cất điện thoại vào trong túi và đưa cho Luce một ly vang đỏ. “Của chị đây!” - Tôi nói. Mặc dù, câu mà tôi muốn nói lúc đó là: “Ôi Chúa ơi, hãy hít một hơi thật sâu và thư giãn đi nào!”, nhưng không hiểu toàn bộ vốn từ vựng của tôi đã bay đi đâu mất khiến cho mỗi cuộc trò chuyện giữa tôi và Luciana Suarez thường chỉ gói gọn trong vài từ. Luce nhận lấy ly rượu với thái độ kính cẩn nhất, đó là một trong những điểm tôi thích ở chị. Tôi chuyển những chai rượu đã uống gần hết ra một chỗ để tìm chai whiskey, loại rượu mà tôi biết là chị rất thích. Sau khi tôi rót rượu vào ly, chị nói: “Cảm ơn.” “Không có gì.” - Tôi đáp lại. Mặc dù tôi và chị đã biết nhau cả một mùa hè, nhưng cho đến tận bây giờ tôi vẫn chưa biết chị cảm nhận như thế nào về tôi, một đứa con gái sống bên cạnh phòng khách trong ngôi nhà của bạn trai chị. Bạn hay thù, đồng minh hay kẻ địch. Chị nghiêng người ghé lại gần tôi như để chia sẻ một điều gì đó bí mật, “Đến giờ chị vẫn chưa thể hiểu nổi bữa tiệc này!” Tôi cười: “Rồi chị sẽ hiểu thôi!” Luce đã rất băn khoăn về bữa tiệc này kể từ khi Parker và Sadie kể rằng, hai anh em họ cùng với bố mẹ của mình sẽ không rời khỏi đây vào Ngày lao động, thay vào đó, họ ở lại để dự bữa tiệc này. Mời các bạn đón đọc Vị Khách Cuối Cùng của tác giả Megan Miranda & Spencer (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Phía Sau Một Cô Gái - Ploy Ngọc Bích
Từ những bước chân dọc biển ấy, tôi bắt đầu hành trình tìm kiếm những gì ở phía sau một cô gái, từ các cô gái sống quanh tôi. Đa phần những câu truyện trong Phía sau một cô gái bắt nguồn từ chất liệu cuộc sống thật thà. Vì: Cuộc sống trong nhân dáng và tâm tính của một cô gái hiện đại tuy vất vả nhưng độc đáo. Sự dịu dàng, đằm thắm, yêu ghét khó phân minh và hay suy nghĩ chất đầy trong tâm tính. Đồng thời, cái mạnh mẽ, thông minh và tham vọng cũng chi phối nhiều mặt cuộc sống. Chính những kéo co của trái tim và khối óc trong một cô gái tự thân đã cho nhiều cái hay, lạ làm xuất phát điểm của những câu chuyện. Phía sau một cô gái, dù ngọt hay đắng, dù ghét hay thương, thì nếu quay đầu lại cũng nên dành cho quá khứ cái chớp mắt biết ơn. Vì bước ra khỏi những ngày ấy, mới có được cô gái của thời hiện tại. Phía sau một cô gái là những cái kết mở, vì truyện cũng như sống, hiếm khi kết bằng một dấu chấm tròn trĩnh, vẹn toàn. Chia tay đấy, có khi mai gặp lại. Bên nhau đấy, có khi mai rời xa. Cười và khóc, vui và buồn - cái ranh giới ấy rất mong manh... *** Giáng Sinh Về Nhà. Hayden gọi chỉ vài tiếng sau khi tôi gửi thư trả lời. Chúng tôi hẹn nhau trong một cái nhà sách. Chúng tôi tường thuật lại những sự vụ đã khiến khoảng cách giữa hai lần gặp là sáu năm. Chúng tôi cùng cười. Rồi cứ mỗi cuối tuần, rồi bất cứ khi nào rảnh … Chúng tôi cùng nhau ngắm hoàng hôn trong một quán cà phê kiểu Pháp. Chúng tôi đi xem phim. Chúng tôi cùng săm soi một chiếc bánh, cố tìm xem có sợi tóc nào dính vào hay không. Chúng tôi cùng đi shopping. Tóm lại, chúng tôi hẹn hò. Giáng sinh đến ngày một gần. — Hai đêm trước giáng sinh, tôi và Hayden tay trong tay thả bộ trên những con phố trung tâm lấp lánh đèn. Tôi tựa vào vai anh, hít nhẹ mùi nước hoa rất lạ. Những ngày chờ đợi giáng sinh thật tuyệt. Trong không gian như có tiếng tíc tắc của một quả bom hẹn giờ đang nô nức chờ nổ: Vài chục cú nhích kim đồng hồ nữa thôi thì sẽ tưng bừng một niềm hạnh phúc, một sự đẹp đẽ lớn lao. Chúng tôi cứ thế bước đi trong làn hương giáng sinh thơm phưng phức. Hết con phố này sang con phố khác. Tôi trực giác rằng Hayden muốn nói với mình một chuyện, nhưng cứ lần lữa mãi. Dường như anh đang tự nhủ hãy để yên cảm giác lãng mạn này thêm một chút, thêm một chút, rồi lại thêm một chút. Tôi bên anh, im lặng chờ đợi. Trên con phố cuối cùng của lộ trình đi bộ hôm ấy, anh siết tay tôi một cái: - Nga, ngày mai anh phải quay lại Đức. Cha anh bệnh. Ông lại đã ly dị lần nữa. Anh e giáng sinh này ông chỉ một mình. Giáng sinh một mình, anh biết nó … - Giáng sinh là để về nhà. – Tôi vẫn tựa đầu vào vai anh, nhẹ nhàng cắt lời. — Đồng hồ gần 11 giờ đêm. Trên chuyến bay Hồ Chí Minh – Berlin, Hayden một tay nâng lon coca, một tay cầm chiếc bánh bông lan lạnh. Lòng anh hồi hộp ngóng đợi. Đã mười lăm cái giáng sinh anh vắng nhà. “Giáng sinh là để về nhà” – Nga đã lặp lại câu này khi tiễn anh ở sân bay. Chất giọng trầm và lạnh của cô bỗng trở nên ấm áp như một que diêm bật sáng giữa trời đông khi nói câu này. Và nó khiến anh muốn về nhà, thật sự là muốn về nhà. Hayden nâng cao lon coca hơn một chút: “Merry Christmas, em yêu!” — Tôi áp má vào tấm kiếng cửa sổ mát lạnh, nhìn dòng người hoan hỉ ngoài phố. Em trai, em gái đã cùng bạn bè hòa vào biển người đó ngay sau buổi tiệc gia đình. Chỉ mình tôi ở nhà cùng cha mẹ. Tôi quay đầu, nhìn về phía cái tivi đang oang oang. Trên ghế sô-pha, cha mẹ đang tranh nhau bấm liên tục cái điều khiển để chuyển kênh. Cha đòi xem chương trình ca nhạc giáng sinh. Mẹ lại đòi kênh đang chiếu phim The Holiday. Người già giống như trẻ con. Tôi mỉm cười, lòng dễ chịu như trong lồng ngực đang có một que diêm sưởi ấm. Hayden không biết giờ này đang làm gì. Nhưng chắc chắn là anh, sau rất nhiều năm, đã có cho mình một giáng sinh đúng nghĩa – Giáng sinh về nhà. Bận rộn, hiểu lầm, bất hòa, dù xảy ra chuyện gì đi nữa thì giáng sinh vẫn là ngày để về nhà. ... Mời các bạn đón đọc Phía Sau Một Cô Gái của tác giả Ploy Ngọc Bích.
Những Ngày Xanh - Archibald Joseph Cronin
 Archibald Joseph Cronin sinh tại Tô Cách Lan năm 1896.  Ông học Y khoa ở đại học Glasgow.  1916, thế chiến thứ nhất ông tình nguyện gia nhập hải quân với cấp bậc Trung úy Y sĩ.    Chiến tranh kết thúc, ông trở lại tiếp tục học Y khoa.  Rồi ông tập sự bốn năm trong những khu vực hầm mỏ phía nam vùng Wales.    Thời gian này ông thu thập được rất nhiều tài liệu về đời sống cơ cực của dân lao động nghèo, nhất là đời sống của thợ thuyền trong hầm mỏ.  Sau đó, ông chuyển hẳn về Luân Đôn và mở phòng mạch tại khu vực phía Tây khá nhiều năm.  Kế đến, vì sức khỏe kém ông buộc phải ngừng làm việc để dưỡng bệnh.    Là bác sĩ, A. J. Cronin có nhiều dịp tiếp xúc với đủ hạng người, đầu óc tinh nhạy không chỉ trong lĩnh vực nghề nghiệp nên ông hiểu rõ tâm tình, cá tính, mặt tốt cũng như mặt xấu của từng người. Nhờ vậy, ông đã tích lũy được số vốn lớn, rất quý cho việc trước tác về sau, khi phải bỏ nghề y, vào năm 1930.    Văn nghiệp của ông bắt đầu… và vừa đặt bút, ông thành công ngay ở tác phẩm thứ nhất: “Lâu đài người bán nón” (1931). Những tác phẩm khác kế tiếp ra đời cũng đều được đón tiếp nồng nhiệt, không chỉ trong nước mà cả ở nước ngoài.    Tại Việt Nam, chúng ta được đọc khá nhiều sách ông qua các bản dịch, tiêu biểu nhất, ngoài “Lâu đài người bán nón” còn có “Thành trì”, “Gươm công lý”, “Số phận của Robert Shannon” v.v…  Ông có lối viết giản dị, chân thật, chính xác, đầy hấp lực. Từ kẻ hung bạo, vô lương, thâm độc đến người thuần phác, đôn hậu, vị tha, qua ngòi bút tinh sắc của ông họ đều như sống thật, đi lại, nói năng, hành động… Cá tính họ nổi bật rất tự nhiên, không chút gượng ép. Văn ông giàu tình tiết, hết sức lôi cuốn mà không sa đà. Ông tả hạng người thế nào thì phong cách biểu hiện đúng như thế. Điều đáng kể nhất là tác phẩm ông chan chứa lòng nhân mà không hề có giọng dạy đời, công thức.  Hiển nhiên, chúng tôi không xác quyết là văn ông hay nhất. Tuy vậy, có một điều quan trọng để người thưởng ngoạn đánh giá tác phẩm, ấy là sau khi đọc xong ta cảm thấy yêu đời hơn lên, muốn phấn đấu chớ không nản lòng, bỏ cuộc.    Với niềm tin ấy, chúng tôi gửi đến bạn đọc quyển sách nhỏ này.                                                    MINH QUÂN – MỸ LAN *** Nhiều năm kế tiếp trôi qua... Mấy cây anh đào trước nhà xum xuê hơn trước. Buổi chiều tháng 4 năm 1910, tôi rời trường, lòng vui vẻ, hãnh diện. Mặt trời hồng rực rỡ lặn sau ngọn Ben. Chiều nay tôi cảm thấy tôi chính là tôi, bởi đôi lúc tôi ngờ ngợ như mình là kẻ nào khác, vâng! Đôi lúc tôi xa lạ với chính tôi. Sáng hôm kia ở hiệu Baxter ra, tôi chợt nhìn trong tủ kính, giật mình vì hình ảnh phản chiếu cho tôi thấy một thiếu niên 15 xanh xao, gầy ốm, tay chân dài ngoằng, nét mặt u trầm, buồn bã... Tôi đã giật mình tự hỏi: mình đó sao, trời? Nhưng hôm nay thì tôi hết sức phấn khởi, sung sướng vì câu chuyện thầy Reid nói với tôi lúc tôi ra về. Số là chúng tôi sắp được nghỉ lễ Phục Sinh, trước khi tan học thầy đã giữ tôi lại (thầy còn trẻ, khoảng 30, dáng cao lớn, khỏe mạnh, một cái sẹo dài nằm vắt ngang ở môi trên và vì nó, chiếc mũi thầy hơi thấp xuống, khiến người ta thấy đôi mắt xanh thầy to hơn, lộ hơn dưới mái tóc óng ả vàng hoe. Da thầy trắng và hơi nhờn. Râu luôn luôn được cạo nhẵn, hình như ông không cần che giấu vết sẹo trên môi). Thầy ôn tồn bảo tôi: - Robert Shannon! Trò không giống như các bạn cho nên... – ông gõ gõ tay lên bàn trong khi tôi nhìn chăm chú vào ông – ta muốn đề nghị với trò một điều này... Trở về đến nhà, tôi vẫn còn bàng hoàng xúc động vì câu chuyện thầy nói với tôi. Tôi muốn được một mình nghiền ngẫm bí mật này. Song ông tôi đã chờ tôi trước cửa sổ mở rộng, bàn cờ "dame" trước mặt. Giọng nóng nảy, ông hỏi: - Sao con về trễ thế? Có gì hở? -Thưa ông, không có gì. Ít lâu nay tôi trở nên khép kín đối với ông, vả chăng ông khôngcòn là bậc anh hùng đối với tôi và bí mật quý báu này tôi không muốn chia sẻ với ông. Phải công bình mà nhận rằng ông ít thay đổi hơn tôi: vẫn còn khỏe mạnh, tuy râu ông ngả bạc và chiếc áo ghi lê càng ngày càng nhiều vết bẩn hơn. Gần đây, bạn ông, ông Peter-Dickie đã vào Viện dưỡng lão. Song về phần ông, ông rất ghét nghe ai nói đến chết chóc cũng như nhắc đến tuổi tác đè nặng người ông. Càng lúc ông càng tỏ ra yêu đời, vui vẻ nhất là trong lúc này, theo lệ thường, bà cố tôi đã đi Kilmarnoch. Ông không vui vì cảm thấy tôi không hăng say chơi cờ với mình, cái thú ông vẫn say mê: - Robert, con làm sao vậy? Y như ngồi trên lửa... Tôi nén lòng đến ngồi trước mặt ông, ông cúi đầu nhíu mày nhìn bàn cờ, chú chú chăm chăm tính nước và ông giăng bẫy tôi bằng cách đi một nước cờ với vẻ hết sức lơ đãng, tay còn gõ gõ ống điếu nữa chớ. Còn tôi, tôi đầu óc đâu mà nghĩ đến trò chơi: tôi đang bị ám ảnh về cái đề nghị tốt đẹp của thầy Reid. Trước mắt tôi tương lai rộng mở. Như tất cả các bạn đồng học, tôi hết sức lo lắng, bối rối khi sắp rời trường để chọn nghề. Tôi có tham vọng, muốn trở thành một nhân vật đặc biệt, nhưng hoàn cảnh tôi chỉ cho tôi rất ít hy vọng để trở thành mẫu người tôi ao ước. Ở trung học tôi luôn luôn nhất lớp và các giáo sư đều tiên đoán tôi sẽ tiến xa. Song chưa một vị giáo sư nào, trừ thầy Reid để ý đến tôi đặc biệt. Thầy là người chú ý đến năng khiếu tôi, đứa học trò say mê sinh vật có cái gì khác hơn là sự giải trí suông. Tóm lại, thầy có biệt nhãn đối với tôi. Tôi còn nhớ rõ... Một hôm vào mùa hè, một đôi bướm xanh loại thông thường nhất bay qua khung cửa sổ mở rộng, vào lớp. Cả lớp đều ngẩng lên, nhìn. Giọng mơ màng như là đặt câu hỏi cho chính mình chứ không phải cho bọn môn sinh, thầy Reid nói: - Tại sao chúng bay thành cặp, nhỉ? Im lặng giây lâu và rồi, tôi rụt rè đáp: - Thưa thầy, vì bây giờ là mùa chúng ghép đôi. Thầy nhìn tôi hỏi thêm: - Có phải trò nghĩ rằng bướm cũng biết yêu nhau không? - Thưa thầy, vâng! Chúng nhận ra nhau cách xa hàng dặm nhờ một mùi thơm do chúng tiết ra. - Chuyện khá lý thú đấy! – Thầy tiếp, vẻ nghi ngờ về sự hiểu biết của tôi – Này, Robert! Trả lời tôi câu nữa: làm sao chúng nhận ra mùi của nhau? - Thưa, nhờ những gai thịt ở đầu mấy sợi râu... Thấy thầy nhìn tôi, mỉm cười có vẻ tán thưởng và khuyến khích, tôi thêm: - Thưa thầy, điều này cũng chưa có gì là mới lạ, so với loại Amrial pourpre, giống này ngửi bằng cẳng kia... Bạn học tôi cười lên như phá, nhưng chúng bị thầy cắt ngang: - Im đi, lũ ngu! Ít nhất trò ấy còn khá hơn các trò. Này, Robert! – Ông tiếp tục hỏi tôi. – Trò có thể cho biết chúng có thể nhận ra nhau không, nếu không có cái mùi đặc biệt kể trên? - Thưa thầy, mắt của loài bướm lạ lắm: nó gồm khoảng ba ngàn phần tử, mỗi phần gồm có đủ giác mô, võng mô, thủy tinh thể, nhưng dù chúng có tài phân biệt màu sắc, chúng chỉ có thể thấy rất gần, không quá một thước hai. Khi tôi dứt lời, nét mặt thầy rạng rỡ hẳn lên song thầy không hỏi tiếp gì nữa. Cuối giờ học, trong khi sắp hàng, thầy mỉm cười với tôi. (Ôi chao! Làm sao quên được cái cười thân mật đó!). Kể từ ấy, không những khuyến khích tôi tiếp tục học thêm về Sinh vật học, thầy còn dạy tôi Vật lý, trình độ cao hơn các bạn tôi. Vài tháng kế đó, thầy dắt tôi vào phòng thí nghiệm, hướng dẫn tôi thêm. Nhờ vậy, tôi thường rất cô đơn, trở nên mến phục thầy rất mau và những lời thầy dạy trong lớp, tôi xem ngang như Kinh Thánh. Gavin đã theo lời cha vào trường nội trú Larchfield năm ngoái. Điều này làm tôi đau đớn không ít. Đó là một trường Trung học trưởng giả nổi tiếng, học phí rất đắt, khó có con nhà trung lưu nào học nổi. Tôi chỉ còn một điều an ủi là: tuy Gavin được cảm tình của nhiều bạn mới, nó vẫn quý mến nhất có mình tôi không thay đổi. Mỗi trưa hè, mượn xe đạp thầy Reid, tôi vượt 15 dặm đến để xem bạn tranh giải cho trường. Thoạt thấy tôi, tức thì Gavin bỏ hết đám bạn vây quanh, can đảm chạy lại với tôi. Tôi, kẻ phá đám, khép nép đứng chờ bạn ở một góc sân thể thao, cái sân sang trọng, Gavin, áo thun sọc, quần nỉ mềm trắng, buông mình xuống cỏ cạnh tôi, bứt cọng cỏ đưa lên miệng, hỏi: - Sao? Ở Lenvenford có gì lạ không? Và nhìn sâu vào mắt nhau, chúng tôi biết rằng không gì chia rẽ được chúng tôi, trừ cái chết, nhưng chúng tôi còn trẻ quá, lo gì? Song dù tình bạn chúng tôi khăng khít, mãnh liệt, dù suốt ngày nghỉ nào cũng có mặt bên nhau, chúng tôi vẫn cam chịu xa nhau hàng tháng dài vì bận học. Phần tôi, đáng lẽ thay vì bằng lòng với một thằng bạn kém hơn Gavin đôi chút, tôi thà cô độc thui thủi một mình. Một mình, tôi rong ruổi khắp các vùng quanh tỉnh, tôi quen thuộc từng tổ chim, từng phiến đá, từng lối mòn trên các ngọn đồi Winton. Cho đến nỗi mấy bác gác rừng quen mặt và cho phép tôi tự do đi lại, đó là một đặc ân hiếm có. Bộ sưu tập của tôi tăng dần. Tôi có cả những loại sâu bọ hiếm nhất, như con chuồn chuồn đặc biệt thuộc loại Pantala flavescens, theo tôi biết thì chưa bao giờ được thấy ở Tô Cách Lan này, trước đây. Nhờ tìm tòi thám hiểm, tôi không hề ao ước "nghỉ hè trên bãi bể" như các bạn. Trí tưởng tượng mang tôi ra xa hơn mấy bờ bể nhỏ. Đồng hoang đối với tôi trở thành rừng hoang vu, nơi tôi mạo hiểm xông pha với nhiều thận trọng. Nhưng thưa các bạn, đừng ngỡ là ngoài giờ học tôi được tự do theo đuổi đàn bướm suốt ngày đâu. Ba tôi luôn luôn trông coi cho giờ rảnh rỗi của tôi trở thành hữu ích. Từ lúc ông cho là tôi đã đến tuổi có thể làm việc được, ông kiếm việc cho tôi ngay. Hiện nay, sáng sáng tôi phải đến lò bánh mì Baxter, lấy xe ba bánh đạp đi giao bánh nóng cho thành phố đang còn ngái ngủ. Số tiền kiếm được, ba tôi cất hết, viện lý do chính đáng: để trang trải một phần phí tổn nuôi tôi. Ông không ngừng thúc bách mẹ tôi giảm chi, dù bà đã giảm chi đến mức tối đa. Thời gian gần đây, ba tôi đích thân thanh toán mọi chi phí trong tháng, ông luôn luôn đòi bớt, bớt, bớt cho đến nỗi người bán phát khùng lên; mua bất cứ vật gì ông cũng cò kè lâu lắc. Mỗi khi nghe bán đấu giá, bán xôn một vật gì xem ra có ích (theo ý ông) ông liền quyết định đi mua. Nhưng tính hà tiện của ông thường thắng: trở về với hai tay không, ông vui vẻ reo lên rằng tiền vẫn còn nguyên! Một tiếng kêu thích thú làm tôi chợt tỉnh, tiếng kêu của ông tôi. Đầu óc bay bổng đâu đâu nên tôi đã thua nốt hai con cờ chót. Ông tôi cười hả hê: - Ta thắng được con rồi, thấy chưa? Thắng cậu học trò thông minh nhất tỉnh đâu phải chuyện chơi? Tôi vội vàng rời ông ngay, chỉ nơm nớp sợ ông giữ lại bày ván nữa. ... Mời các bạn đón đọc Những Ngày Xanh của tác giả Archibald Joseph Cronin.
Những Năm Ảo Mộng - Archibald Joseph Cronin
ARCHIBALD JOSEPH CRONIN sinh năm 1896 ở Cardross (Scotland), làm y sĩ ở một khu kỹ nghệ xứ Galles rồi làm thanh tra mỏ (1924). Ông đã trình một luận án có giá trị về y khoa tại Đại học Glasgow (1925). Sau đó, ông đến hành nghề ở Londres, phòng mạch rất đông khách. Rồi vì quá lao lực, ông bắt buộc phải nghỉ việc. Để giải trí, ông viết cuốn: Người thợ làm nón và lâu đài của ông ta (1931), quyển truyện đã tạo được một thành công đáng kể. Tiếp theo, thành công đã được lập lại với các tiểu thuyết Thành trì (tác phẩm phần lớn như một tự thuật), Chìa khóa mở thiên đường, Những năm tóc còn xanh… Trở thành một nhà viết truyện nổi tiếng trên thế giới, A.J. Cronin bắt đầu chia thời gian cho việc viết văn và du lịch. Cho tới nay, ông đã xuất bản hơn hai mươi tác phẩm. Bạn đọc Việt Nam đã từng làm quen với tác phẩm Thành trì và Thanh gươm công lý; nay chúng tôi xin giới thiệu Những năm ảo mộng (The valorous years) nhằm giúp cho các bạn trẻ yêu thích văn học hiểu biết thêm về một tác giả lớn của văn học Anh hiện đại. *** Xuất thân từ một gia đình lao động nghèo ở Levenford, Duncan Stirling, nhân vật chính của tác phẩm có thể được xem là từ nhân dân mà ra, và với nghị lực, đôi bàn tay trắng, tài ba trời cho của mình, anh đã vượt qua bao thử thách, trở lực để giành lấy học bổng trường Y và cuối cùng trở thành bác sĩ. Nhưng cũng chính vào lúc đó, anh đứng trước một sự lưa chọn: ở lại làm một chuyên gia tại thành phố lớn, tìm ra các phát minh mới, nổi danh và giàu có nhưng xa cách bệnh nhân, không dùng đến trí tuệ mình mà chỉ dựa vào máy móc hiện đại, hay trở về nông thôn hẻo lánh làm một thầy thuốc khiêm nhường cả về chức vị lẫn tiền bạc, phương tiện y khoa chỉ gồm thuốc men và dụng cụ cổ lỗ sĩ, nhưng lại rất gần người bệnh, lại ấm tình người, chăm sóc bệnh nhân đến phút cuối. Tác phẩm đã lý giải một cách thỏa đáng đầy xúc động về sự lựa chọn của Duncan. Đây có lẽ cũng là câu hỏi dành cho các bạn trẻ khi sắp rời mái trường Y, đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời. *** Thứ sáu. Duncan ra khỏi bệnh viện sau một ngày thật bận rộn. Ngay sáng, anh đã nộp đơn ứng cử vào chức viện trưởng, và bây giờ tâm trí đầy ắp dự tính, anh đi ngược đường Công Chúa để về nhà. Anh chợt dừng lại. Một bóng dáng quen thuộc đi về phía anh. - Hamish! - Vâng, chào bác sĩ, chính tôi đây! Họ bắt tay nhau thật chặt. Rõ ràng là Hamish có vẻ không được tự nhiên trong bộ quần áo diện ngày chủ nhật màu sậm, mặt đỏ au lên vì cái cổ cồn cao trắng. Anh ta rụt rè nhận xét: - Thưa bác sĩ, đã lâu rồi tôi không gặp bác sĩ. Nhân dịp ghé qua Edimbourg, tôi định sẽ qua thăm bác sĩ một lát. Bây giờ, bác sĩ đã là người thành danh, chắc bác sĩ không còn thì giờ tiếp những người như bọn tôi. - Thật là vớ vẩn, Hamish ạ! Ông bạn già ôi, mình thật mừng gặp lại cậu. Hãy vào phòng tôi đi, mình sẽ cụng ly. Chỉ lát sau, Hamish đã ngồi ở trong phòng Duncan, mũ kết trên gối và một ly whisky cầm ở tay. - Xin chúc sức khỏe bác sĩ! - Mình cũng chúc sức khỏe cậu, Hamish ạ! Có gì lạ không? Cậu lên Edimbourg làm gì thế? - À …ờ mà! Tôi phải lên mua mấy thứ. Thuốc men, vài thứ vặt vãnh… Duncan ngạc nhiên: - Tôi tưởng dưới nhà mua thuốc ở Saint Andrews chớ? - Vâng, hồi xưa. Nhưng bây giờ mua ở một tiệm khác, rẻ hơn. - À ra thế! Duncan chợt thẳng người lại. - Vả lại… (anh chàng cao lớn này có vẻ lúng túng) tôi không chỉ đến Edimbourg vì mỗi việc ấy, tôi đi bán vài quyển sách cũ của bác sĩ Murdoch. - Lại có chuyện đó nữa cơ à? Duncan nhìn sững người khách đến thăm. Rồi với lấy cái tẩu để trên mặt lò sưởi, anh bắt đầu nhồi thuốc. - Tôi mong rằng mọi việc đều tiếp tục tốt đẹp ở Strath Linton chứ? - Vâng, vâng, Hamish vội trả lời, mọi việc cũng chạy vậy thôi. Hiển nhiên là cụ chủ không được khỏe lắm từ ít lâu nay. Chao ôi, bảy chục chứ ít gì, cũng phải mệt chứ! - Đáng lý cụ phải có một phụ tá. - Phụ tá! Hamish nhắc lại, môi bĩu ra dè bỉu, cụ đã thay bốn bác sĩ phụ tá chỉ trong có sáu tháng! - Sao thế? Hamish e dè mỉm cười: - Họ làm mọi việc đều trái khoáy hết cả. Họ không chịu đi khám nếu có bệnh nhân gọi lúc ban đêm, họ nhầm thuốc. Chao ôi! Họ làm cụ chủ gần phát điên lên, vì vậy cụ đã tống họ ra cửa hết người này đến người khác. (Anh ta dừng lại giây lát) Có thể nói là chẳng gặp ai ra hồn cả, ngoại trừ bác sĩ, bác sĩ ạ. Duncan quẹt mạnh một que diêm: - Chắc chắn ta có thể tìm ra một người tốt. Tôi biết khối bác sĩ trẻ rất có khả năng. Tôi sẽ gửi về một người. Rượu Whisky đã làm Hamish hoạt bát hẳn lên: - Không cần nữa đâu bác sĩ ạ. Bây giờ thì số khách không còn nhiều đủ để phải có một phụ tá. Duncan quay lại và bắt đầu đi tới đi lui. - Trời đất! Sao lại thế? - Thế này, bác sĩ ạ, ở nhà đang có sự cạnh tranh. Có một bác sĩ, ông Bailey, do đích thân Overton mang tới. Ông ta nhận lệnh của tên cướp có giọng đường mật đó và đáp lại, ông ta được một ngàn hai trăm công nhân của nhà máy đúc nhôm và nhà máy thủy điện. Họ bắt buộc phải đến phòng khám của ông ta, dù họ ưng hay không. Vì đó là người của công ty! Bác sĩ cũng biết là cụ chủ không bắt trả tiền mặt. Cụ chỉ nhận ít tiền qua các phiếu bảo hiểm xã hội đem lại. Thế mà bậy giờ cụ chỉ còn khoảng nửa tá phiếu, chỉ đủ chi tiêu theo kiểu giật gấu vá vai thôi, chật vật lắm! Bác sĩ cứ tin tôi đi. Duncan thảng thốt hình dung ra tình cảnh túng quẫn của ông thầy thuốc già. - Ôi dào! Rồi cũng có lối thoát chứ! Hamish tiếp thêm đầy vẻ lạc quan. Dẫu sao tôi cũng rất mừng gặp lại bác sĩ. Cô Jeanne dặn tôi nhắn với bác sĩ là bác sĩ luôn luôn là vị khách quý của nhà nếu có khi nào bác sĩ có dịp ghé thăm cái nơi chó ăn đá gà ăn muối của chúng tôi. Khi nghe nhắc đến Jeanne, Duncan cứng người lại. Anh mường tượng thấy cô đấu tranh chống lại thù nghịch, làm việc vất vả với lòng can đảm bình thản và vui vẻ biết chừng nào! Anh hiểu ra là anh chưa bao giờ hết yêu cô, và anh cũng lại nhớ ra một điều khác. - Tôi tưởng cô ấy thường gặp cậu Aigle. - Đúng vậy! Alex vẫn lảng vảng đến nhà. Cậu ấy nghĩ rất tốt về cô. Hai tháng sau này, cậu ấy ở Canada. Nhưng chúng tôi chờ cậu ấy trở về vào cuối năm nay. - Có lẽ khi ấy mọi việc sẽ được dàn xếp cho bác Murdoch. Và cho cả cô Jeanne. - Là cái chắc rồi! (Hamish mỉm cười đầy ngụ ý) Alex muốn lấy cô, bác sĩ biết chứ! Sau khi Hamish ra về, Duncan ngồi thừ ra nhìn những món quà đạm bạc mà gia đình Mac Kebre gửi tặng anh. Anh nhớ lại thật rõ căn nhà nghèo nàn của người gác rừng trong đêm tối đầy tuyết với người phụ nữ đang hấp hối, người phụ nữ mà anh đã cứu sống. Đêm đó mới thật sự có ý nghĩa, thật sự tuyệt vời. Anh thả mình vào suy tư “Trời ơi! Tôi đã thật sự làm được điều gì có ích chưa kể từ thời kỳ đó tới giờ?” Nhưng bây giờ, tấn bi kịch trong tuyết đó có nghĩa lý gì? Những rủi ro của một vị thầy thuốc nông thôn già nua và tầm thường liên quan gì đến anh? Đã từ lâu, anh gột bỏ ngoài đời mình mọi xúc cảm. Tương lai và sự nghiệp của anh tùy thuộc vào sự gột bỏ cảm xúc ấy. Vả lại cuộc hôn nhân giàu có sắp tới sẽ xóa đi rất nhanh những lo âu phiền muộn của gia đình Murdoch. ... Mời các bạn đón đọc Những Năm Ảo Mộng của tác giả Archibald Joseph Cronin.
Những Điền Chủ Nếp Xưa - Nikolai Vasilyevich Gogol
Nikolai Gogol một cái tên khá quen thuộc với độc giả Việt Nam với những tác phẩm như “Những Linh hồn chết”, “Quan thanh tra”. Thậm chí nó còn được đưa vào sách giáo khoa giảng dạy ở các trường phổ thông. Cách nay mấy năm, nhân kỷ niệm 200 năm ngày sinh của Nikolai Gogol đã có hẳn một cuộc hội thảo về các tác phẩm của Gogol tại Trung tâm Khoa học và Văn hoá Nga ở 501 Kim Mã. Hà Nội với nhiều tham luận có giá trị của các dịch giả, các nhà nghiên cứu Văn học Nga như Phạm Vĩnh Cư, Vũ Thế Khôi, Hoàng Thuý Toàn, Phan Hoàng Giang, Cao Xuân Hạo, Đoàn Tử Huyến, Nguyễn Trường Lịch… Trên tay tôi đang có cuốn truyện vừa “Những điền chủ nếp xưa” của Nikolai Gogol qua bản dịch của dịch giả Nguyễn Thị kim Hiền. Với người đọc, chắc cái tên Nguyễn Thị Kim Hiền cũng khá quen thuộc với những tác phẩm như: “Trở về E-Đen”, “Thế giới ngược”, “Sonechka”… Xin trân trọng giới thiệu với các bạn cuốn truyện song ngữ Việt-Nga “Những điền chủ nếp xưa” của Nikolai Gogol qua bản dịch của Kim Hiền, chúc các bạn mọi điều tốt lành!!! Lê Thanh Minh *** Tôi rất yêu cuộc sống giản dị của những chủ nhân các làng quê xa xôi mà ở Tiểu Nga người ta thường gọi là điền chủ nếp xưa, những người hệt như những ngôi nhà hữu tình già nua cũ kỹ, đáng yêu bởi vẻ tạp sắc loang lổ, hoàn toàn đối lập với kiểu nhà tân thời phẳng phiu nhẵn nhụi, khi mà tường nhà còn chưa bị nước mưa xói tẩy, mái chưa hề phủ rêu xanh và thềm nhà còn chưa bị tróc vữa để phô ra những viên gạch đỏ. Thi thoảng tôi vẫn thích được lạc vào nơi ấy, dù chỉ phút giây thôi, vào cái môi trường cuộc sống biệt lập lạ thường ấy, nơi không một ước muốn nào có thể vượt qua dãy bờ giậu quanh khoảng sân nhỏ, ra khỏi hàng rào của ngôi vườn đầy những cây táo cây mận, vượt khỏi những ngôi nhà gỗ quê mùa lung lay xiêu vẹo xung quanh khu vườn, được những cây liễu, cây cơm cháy và cây lê nghiêng bóng che chở. Cuộc sống của các vị chủ nhân khiêm nhường ấy bình lặng quá, êm ả quá, đến nỗi trong phút chốc dường như bạn bỗng quên lãng đi và bạn nghĩ rằng hoàn toàn không hề tồn tại những niềm say mê, những ước vọng và những sản phẩm bất an của hung thần vốn thường làm nhiễu loạn trần thế, chẳng qua là bạn chỉ thấy tất cả những thứ đó trong những cơn mơ sáng chói và lấp lánh mà thôi. Từ nơi đây tôi thấy ngôi nhà nho nhỏ thâm u có hàng hiên với những cột gỗ nhỏ đen xỉn bao quanh toàn bộ nhà, để mỗi khi sấm sét và mưa đá thì có thể ra đóng cửa chớp mà không bị ướt. Đằng sau nhà có cây dã anh thơm ngát, những hàng cây ăn quả thấp lè tè, lúc lỉu quả anh đào đỏ thắm với cả một biển những trái mận màu hồng ngọc mờ phấn xám, cây phong lòa xòa, dưới gốc có trải tấm thảm để ngồi hóng mát; trước nhà là chiếc sân rộng thênh thang với lớp cỏ tươi xén ngắn, một lối mòn dẫn từ vựa lúa mì đến bếp và từ bếp đến phòng ngủ của các vị chủ nhân; con ngỗng cổ dài đang uống nước với bầy ngỗng con lông mịn như tơ; hàng dậu treo đầy những xâu táo xâu lê phơi khô và những tấm thảm đang hong gió; chiếc xe ngựa chở đầy dưa bở bên cạnh vựa lúa mì, con bò thiến được cởi dây buộc đang lười biếng nằm bên cạnh – đối với tôi, tất cả những cái đó có một vẻ gì đó tuyệt mỹ không sao cắt nghĩa được, có thể do tôi chẳng thể nào gặp lại chúng nữa, hoặc cũng có thể đối với chúng ta tất cả những gì đã xa cách thì đều đáng mến đáng yêu. Trong mọi trường hợp, ngay cả thưở ấy, khi chiếc xe ngựa của tôi gần đến bậc thềm của ngôi nhà nhỏ đó, tâm hồn tôi bỗng dâng trào một trạng thái dễ chịu và yên tĩnh lạ thường; những con ngựa vui vẻ chạy tới trước thềm nhà, người xà ích rất bình thản nhảy từ trên ghế xuống và rất bình thản nhồi thuốc vào tẩu, như thể bác ta vừa về đến nhà mình, ngay cả tiếng sủa mà mấy con chó barbos, brovka và zhuchka1 lãnh đạm cất lên cũng khiến tôi thấy vui tai. Nhưng hơn tất thảy những cái đó, tôi thích nhất các vị chủ nhân của góc nhỏ giản dị ấy, những ông lão, bà lão ân cần, vồn vã bước ra chào đón khách. Cho đến tận bây giờ, đôi khi tôi vẫn hình dung ra họ trong tiếng ồn ào giữa đám đông những người mặc áo đuôi tôm theo mốt, và những lúc đó tôi lại như thấy mình dường như đang trong giấc mơ dở dang về một thời quá khứ đã qua. Trên gương mặt những ông bà già đó lúc nào cũng thể hiện lòng nhân từ, sự vồn vã chân thành đến nỗi dù chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi, bạn vô tình từ bỏ những mơ ước táo bạo của mình và dần dần toàn tâm toàn ý chuyển sang một cuộc sống yên bình phẳng lặng. Đến tận thời điểm này tôi vẫn không thể nào quên được đôi vợ chồng già thế kỉ trước, những người mà than ôi, nay đã không còn nữa, nhưng cho đến bây giờ tâm hồn tôi vẫn tràn đầy thương cảm, và tôi thấy lòng mình thắt lại một cách lạ thường mỗi khi hình dung rằng đến một lúc nào đó mình lại đến khu tư thất xưa của họ mà nay đã thành hoang vắng, và sẽ thấy hàng loạt nhà cửa đổ nát, mảnh ao đã bồi lấp, đoạn hào bị cây cỏ trùm khuất tại cái nơi xưa kia từng có một ngôi nhà xinh mái thấp của họ - và ngoài ra chẳng còn gì khác nữa. Chao ôi là buồn! Chưa chi tôi đã thấy trước là buồn quá mất rồi! Nhưng thôi chúng ta hẵng quay lại câu chuyện. ... Mời các bạn đón đọc Những Điền Chủ Nếp Xưa của tác giả Nikolai Vasilyevich Gogol.