Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Bông Hồng Vàng và Bình Minh Mưa - K. G. Paustovsky

K.G. Paustovski (31/5/1892- 14/7/1968) là nhà văn Nga rất nổi tiếng với thể loại truyện ngắn. Ẩn đằng sau vẻ băng giá bên ngoài, Konxtantin Paustovski sở hữu một tâm hồn Nga tuyệt đẹp với trái tim cháy rực lửa yêu thương. Ông biết rung cảm sâu sắc với cảnh đẹp thiên nhiên và sự hồn hậu của những con người không chỉ của nước Nga mà cả những nơi ông đã đi qua. Hai tập truyện ngắn Bông hồng vàng và Bình minh mưa của Paustovsky mang đến cho độc giả những cảm giác êm đềm, nhẹ nhàng, một thế giới thanh bình yên ả trước thế chiến thứ II, thế giới của những con người nước Nga bình dị, đôn hậu và lóng lánh chất thơ. Những truyện ngắn như: Tuyết, Chiếc nhẫn bằng thép, Bức điện, Trái tim nhút nhát… được Paustovski diễn đạt bằng lối văn chương giản đơn, dịu dàng như con trẻ, tác giả đã thể hiện được những tình cảm dung dị nhất: tình cảm giữa cha mẹ với con, tình yêu đôi lứa, tình làng nghĩa xóm… của con người nước Nga những năm đầu thế kỷ trước. Bông hồng vàng và bình minh mưa khiến bạn đọc phải giật mình và tự hỏi: thật sự trên đời này vẫn còn những câu chuyện kỳ diệu như thế? Thông qua tác phẩm, Paustovski nhắc nhở chúng ta về những điều đẹp đẽ, những niềm hạnh phúc nhỏ nhắn mà chúng ta đã bỏ quên hay xem như xa xỉ trong cuộc sống vội vã của mình.   *** Cơn bão tuyết tràn vào thành phố từ chập tối. Tắt ánh mặt trời là nhiệt độ hạ xuống đột ngột. Khi cơn bão ập tới, nhiệt độ còn xuống nữa. Không khí khô đến khó thở. Từ trong nhà nhìn ra chỉ thấy trời đất trắng bệch một màu bạc xỉn của băng bụi. Gió quyện chúng quẩn quanh trên mặt đường, xếp thành từng đống ở chân tường. Không một bóng người bóng vật ngoài phố. Thỉnh thoảng mới thấy một chiếc xe tải, chăn trấn thủ bọc kín máy, lạc lõng chạy qua, bụi trắng cuồn cuộn dưới gầm xe. Tì tay trên bậu cửa sổ, tôi bần thần nhìn ra những ngọn đèn đường vàng ệch trong bóng tối nhuốm màu trắng phản chiếu của tuyết già mà rùng mình cảm trước thấy chiều dài ghê gớm của thời gian một đêm mất ngủ. Guenađy Shpalikov, bạn cùng phòng với tôi, nhà thơ chưa được ai biết đến trong những năm xa xôi ấy, quẳng cho tôi một cuốn sách dày cộp, bìa bọc simili: - Đọc đi! Những đêm như đêm nay mà đọc Paustovsky thì đúng lúc lắm. Nếu cậu thích, có thể coi như mình tặng cậu. Đây là tuyển tập. Mình đã đặt mua toàn tập hôm qua rồi. Tôi ngần ngại nhìn cuốn sách dày cộp. Nhưng chỉ vừa đọc mấy chục trang đầu, tôi đã hiểu ngay rằng không gì có thể bắt tôi gấp cuốn sách lại chừng nào tôi chưa đọc xong. Và thế là đêm đó - một đêm giá lạnh mùa đông năm 1956 ở Moskva - tôi đã gặp Paustovsky. Từ những hàng chữ in bình thường trên trang giấy xanh lên màu chao đèn ngủ, những nhân vật sống bước ra, đi lại, làm việc, yêu, ghét, đau khổ, vui, buồn, trong những câu chuyện đầy tình cảm của những xúc động thường là thầm kín và cao cả, trên nền phong cảnh Nga với những hàng bạch dương run rẩy trong gió, những vì sao trong vũng nước đêm, mùi lá mục trong rừng... Tôi nghiễm nhiên trở thành người chứng kiến, người tham gia vô vàn chuyện đời chuyện người, rất thường mà rất lạ, không sao quên được. Là nhờ Konstantin Paustovsky. Và tôi thật sự đã không quên, bởi vì, hơn là những chuyện kể mà ta có thể nghe ở bất cứ ai, trong một đêm đó Paustovsky đã giúp tôi sống một đoạn đời tính bằng nhiều năm, mà là những năm giá trị, khi con người bỗng nhận ra rằng mình không thể giản đơn tồn tại, mà phải được sống thực, sống đầy đủ, với những rung cảm thực, cái duy nhất làm cho cuộc sống của ta phong phú thêm và vì thế có ý nghĩa hơn. Đọc Paustovsky tôi bỗng hiểu tôi hơn, tôi bỗng hiểu mọi người hơn. Và, đây mới là cái chính: tôi chợt hiểu rằng mỗi con người, dù người đó là ai, là nhà bác học, nhà thơ, là ông thợ mộc bình dị..., tất cả, đều là một thế giới phong phú. Thế giới ấy không lồ lộ dưới ánh sáng mặt trời, và ta không thể thấy được nó, càng không thể nhìn rõ nó, bằng cặp mắt lười biếng. Mỗi dòng chữ của Paustovsky nói với chúng ta một cái gì rất mới về cái thế giới không dễ thấy ấy. Tôi đọc mê mải, không biết rằng cơn bão tuyết đã lặng từ lâu, có lẽ từ nửa đêm, và khi tôi gập sách lại thì ánh bình minh màu trắng đục của riêng những chân trời phương Bắc đã tràn ngập khắp phòng. Ngọn đèn đêm vẫn cháy, nhưng ánh sáng màu xanh lơ của nó nhợt nhạt hẳn. Qua một đêm, tuyết đã xếp thành những vồng trắng mịn màng trên bậc cửa sổ. Tôi trở dậy, mở một cánh cửa, lặng ngắm những bông tuyết đang sà xuống. Chúng bay chậm, đung đưa trong gió nhẹ, rồi từ từ đậu xuống những đống tuyết lớn. Tôi chìa tay ra đón tuyết. Lúc đầu, tôi có cảm giác những bông tuyết lảng tránh tay tôi. Nhưng có những bông bạo dạn hơn đến gần, ngập ngừng trong giây lát, rồi mới nhẹ nhàng đáp xuống. Khi tôi thu tay về thì trong lòng bàn tay chỉ còn mấy vệt ướt: tuyết đã tan rồi. Trong khoảnh khắc ấy tôi chợt hiểu rằng tôi đã bỏ qua rất nhiều, nhiều lắm, cái đẹp trên những con đường mà tôi đã đi qua, tính cả về không gian lẫn thời gian. Cũng như trước cái đêm đáng nhớ ấy tôi đã không biết đến cái đẹp của những bông tuyết này, chỉ vì tôi không biết nhìn, chưa biết đến niềm mê say mà cái đẹp mang tới. Paustovsky chỉ cho tôi thấy cái mất mát ấy. Như một người bạn rất gần gụi với ta, như một người thân của ta, Paustovsky bước vào tâm hồn ta rồi ở lại đó, ông thủ thỉ với ta những chuyện tâm tình. Nghe xong những câu chuyện ấy, ta cảm thấy tâm hồn ta lớn thêm, rộng thêm, nhẹ hơn. °°° Paustovsky ra đời ngày 31 tháng 5 năm 1892 trong một ngõ hẻm thành Moskva. Dòng họ ông gốc kazak[1] miền Zaporozhe, sau mới chuyển tới cư ngụ ở vùng ven sông Roshi gần tỉnh lỵ Belaya Serkov. Cha ông làm nhân viên thống kê ngành đường sắt. Ông nội là một cựu chiến binh kadak dưới thời Nga hoàng Nikolaev. Cụ thân sinh ra Paustovsky là người mơ mộng và là người ở không yên chỗ. Sau thời gian tòng sự tại Moskva, ông đổi đi Vino, rồi Pskov, sau cùng mới đỗ lại Kiev. Mẹ Paustovsky lớn lên trong một gia đình tư chức ở một nhà máy đường. Tính khắc khổ, bà nắm mọi quyền hành trong nhà. Gia đình Paustovsky đông người, đủ tính đủ nết, nhưng hết thẩy đều yêu nghệ thuật. Cậu bé Paustovsky lớn lên trong tiếng đàn dương cầm, những giọng ca, những cuộc cãi vã nghệ thuật và những rạp hát. Cậu bé bắt đầu cuộc đời học trò ở trường trung học số 1 thành phố Kiev. Khi cậu học tới lớp 6 thì gia đình khánh kiệt, cậu phải tự nuôi thân bằng một nghề bất đắc dĩ không xứng với tuổi học trò là nghề "gia sư". Đó là tóm tắt mấy dòng về con người về sau này trở thành nhà văn. Tôi chép lại tiểu sử ông ở đây theo thói thường phải viết tiểu sử nhà văn mà mình giới thiệu, chứ tôi biết tiểu sử chẳng giải thích được bao nhiêu vì sao Paustovsky chọn nghề văn chứ không phải nghề nào khác. Truyện ngắn đầu tiên của Paustovsky được in khi Paustovsky còn là học sinh năm chót của trường trung học. Nó xuất hiện trong tạp chí "Những Ngọn Lửa", là tạp chí văn học duy nhất của Kiev hồi bấy giờ, vào khoảng năm 1911. Sau khi tốt nghiệp trung học, Paustovsky thi vào đại học tổng hợp Kiev. Hai năm sau, Paustovsky chuyển qua một trường đại học khác ở Moskva và ở hẳn thành phố này từ đấy. Chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ. Paustovsky làm nghề bán vé xe điện, rồi lái xe điện, rồi y tá trong các đoàn tàu quân y con thoi chạy đi chạy lại giữa hậu phương và tiền tuyến. Mùa thu năm 1915 ông bỏ công việc dân sự để đi theo một đơn vị quân y dã chiến và làm một chuyến đi dài suốt từ thành phố Lublin (Ba Lan) đến tỉnh lỵ Nesvizh ở Belorussya. Trên đường, tình cờ nhặt được một mẩu báo, ông mới biết hai anh ông đã tử trận trong cùng một ngày trên hai mặt trận khác nhau. Paustovsky vội vã trở về với mẹ. Bà cụ lúc đó đang ở Moskva. Nhưng Paustovsky không thể ngồi lâu một chỗ. Bệnh xê dịch giày vò ông và ông lại lên đường, tiếp tục cuộc sống nay đây mai đó. Ông đi Ekaterinoslav để làm việc trong nhà máy luyện kim của công ty Briansky. Rồi bỏ đấy mà đi Yuzovka, từ đó đến Taranrog, làm trong các nhà máy. Ở Taranrog, Paustovsky khởi viết cuốn tiểu thuyết đầu tay của mình - "Những Kẻ Lãng Mạn". Mùa thu năm 1916, Paustovsky lại một lần nữa bỏ Taranrog để đến nhận công tác tại Công ty liên hiệp hải sản Azovskoye. Cách mạng Tháng Hai bùng nổ khi Paustovsky đang ở Moskva. Lúc đó ông đã bước vào nghề báo. Ông viết: "Sự hình thành con người và nhà văn trong tôi bắt đầu từ những năm ấy, nó xảy ra dưới chính quyền xô-viết và quyết định toàn bộ cuộc đời tôi từ đấy về sau". Sau thời gian ở Moskva, ông lại quay về với mẹ, bà cụ lúc ấy đã sống ở Ukraina. Từ Kiev, nơi ông chỉ cư ngụ một thời gian ngắn, Paustovsky đi Ôđessa. Ở thành phố cửa biển này ông được sống trong môi trường các nhà văn trẻ và tài năng: Ilf, Bagritzky, Babel, Shenghel, Lev Slavin... Nhưng rồi ông lại giã từ những người bạn tuyệt vời của mình để trở về để tiếp tục cuộc hành trình vô định. Ông đi Sukhum, Batum, Tifflis. Từ Tifflis, Paustovsky đến Armenya, rồi lang bạt sang tận Ba Tư. Năm 1923, Paustovsky trở về Moskva trong một chuyến dừng chân, xin làm biên tập viên cho một tờ báo. Cũng từ đó tên tuổi của ông bắt đầu trở thành quen thuộc với độc giả qua những tác phẩm nối tiếp nhau ra đời. Cuốn sách đầu tiên được Paustovsky coi là tác phẩm thực sự của ông là tuyển tập truyện ngắn "Những Con Tàu Đi Ngược Chiều Nhau". Mùa hè năm 1932 Paustovsky bắt đầu cuốn "Kara-Bugaz" và một số truyện ngắn khác mà về sau này ông đã kể lại khá tỉ mỉ trong "Bông Hồng Vàng". Trong cuộc sống tự do khỏi công việc nhà nước Paustovsky còn đi nhiều hơn nữa. Dấu chân ông in khắp mọi miền đất nước xô-viết, từ bán đảo Konsky đến những sa mạc vùng Trung Á, từ các thành phố băng tuyết ở Cực Bắc đến những bờ biển ấm áp vùng Krym tới những miền rừng rậm rạp của Sibir. Ngoài ra, ông còn đến Tiệp Khắc, đi tàu biển vòng quanh châu Âu, qua các thành phố Istanbul, Athena, Napoli, Roma, Paris, Rotterdam, Stockholm... Trong đại chiến thế giới lần thứ hai, ông làm phóng viên chiến tranh của Mặt trận Nam và ở đó ông cũng đi rất nhiều. Đời ông, từ lúc còn nhỏ cho đến năm 1921, được ghi lại khá đầy đủ trong các cuốn truyện mang tính hồi ký "Những Năm Xa Xôi", "Tuổi Trẻ Không Yên", "Sự Bắt Đầu Của Thế Kỷ Ta Chưa Biết". Paustovsky nói rằng nhà văn cần phải biết tạo ra tiểu sử cho mình. Tức là, ông muốn nói, nhà văn cần phải chủ động ném mình vào trong những xoáy lốc của cuộc đời, để được sống nhiều, sống thật trong nó, tự mình tạo ra nguồn nguyên liệu dồi dào cho công việc viết văn sau này. Ông nhìn những nhà văn cạo giấy, những viên chức văn chương bằng cái nhìn khinh bỉ. Ông không chỉ viết nhiều, mà còn viết hay. Hiếm có nhà văn nào ở nước Nga được in toàn tập trong khi còn sống[2]. Paustovsky là nhà văn không biết hài lòng về mình. Ông luôn nói rằng những gì ông đã viết chỉ là bước đầu, chứ toàn bộ công việc thực sự thì bao giờ cũng vậy, còn ở phía trước. °°° Văn của Paustovsky, cũng như sự tiếp nhận cuộc đời ở trong ông, những suy ngẫm của ông, mang một sắc thái đặc biệt. Lần đầu đọc Paustovsky, trong cái đêm bão tuyết không ngừng gào thét, tung băng bụi ra khắp nơi và trùm lên tất cả, khi ngọn đèn đêm tỏa ánh sáng nhè nhẹ mơ hồ lên những trang giấy, trong cái thời gian mung lung làm cho con người dễ đi vào mình hơn cả, tôi cảm thấy cuộc sống vụt ngưng lại, nhưng bên cạnh nó lại hiện ra một cuộc sống khác, với đầy đủ đường nét, màu sắc, âm thanh và tình người. Cuộc sống ấy rõ nét đến nỗi ta có thể nhìn thấy, nghe thấy, cảm thấy tất cả những gì thuộc về nó. Nhưng đồng thời nó cũng mơ hồ, huyền ảo, như một cái gì không thực, không dễ có thực, nhưng nó làm ta tin ngay rằng nó thật sự hiện hữu, sung sướng để mà tin. Bởi vì những cái đó đúng là có thực, nhưng lại là những cái, tiếc thay, ta không thể thấy được dễ dàng. Có lẽ, tôi đã nói điều mâu thuẫn. Nhưng, thú thật, tôi không biết diễn tả thế nào những cảm giác mới sinh mỗi lần đọc Paustovsky. Nguyễn Khải nói với tôi về Paustovsky thế này: "Hình như Paustovsky thích thả sương mù vào truyện của ông ta. Cái đó làm người đọc nhiều lúc tưởng những điều ông ta nói giống như những giấc mơ, để rồi sau khi suy nghĩ kỹ, mới tin là chúng có thật, lúc đó họ mới phát hiện rằng mình đã lớn thêm một chút trong tâm hồn". Tôi thấy đó là một nhận xét xác đáng. Cái hư mà thực, thực mà hư trong Paustovsky là thế. Nói cách khác, trong văn ông thực hư lẫn lộn - trong thực có hư, trong hư có thực. Để làm được việc đó, nhà văn phải rất dày công nghiên cứu cuộc sống, nghiên cứu thật tỉ mỉ, đến chân tơ kẽ tóc, nhập tâm cuộc sống mà mình quan sát, rồi hòa mình vào nó, sống thực với nó. Đến khi ngồi vào bàn viết thì cuộc sống ấy đã thành của mình, còn hơn của mình nữa, vì nó được nghiên cứu, được suy ngẫm, để cuối cùng bật ra chỉ những đường nét chính, những màu sắc chính mà thôi. Đó là cuộc sống trong sự biểu đạt tiết kiệm, được đưa lên giấy chỉ những gì cần thiết nhất, tinh chất nhất, đẹp đẽ nhất. Cách biểu đạt này của Paustovsky giống phong cách làm việc của những họa sĩ Trung Hoa cổ trong trường phái quốc họa. Khác với bạn đồng nghiệp phương Tây, những họa sĩ quốc họa Trung Hoa không bao giờ làm phác thảo cho những bức tranh sẽ vẽ. Họ an nhiên sống trong đời, lặng lẽ quan sát nó, lặng lẽ thu nó vào lòng, nói cách khác, họ sống như mọi người, nhưng chăm chú quan sát cuộc sống đến mức thuộc lòng nó, chỉ đến lúc ấy họ mới nhả tinh chất của nó ra trên giấy trên lụa. Cuộc sống được biểu đạt theo cách ấy hiện ra ở những điểm tập trung nhất, dường như không còn lệ thuộc chủ đề. Những gì không cần thiết, những tạp chất, đều bị họ gạt bỏ không thương tiếc. Nhưng khoan, cũng không hẳn là thế. Bên cạnh những cái thuộc tinh chất ta lại bắt gặp những nét tưởng chừng chẳng có liên quan gì tới chủ đề, có vẻ như thừa. Nhưng thử bỏ những cái thừa ấy đi mà xem - tác phẩm sẽ mất đi vẻ đẹp mà ta đã được thấy. Tức là, chúng là những cái thừa cần thiết, những cái thừa có chọn lọc bằng vô thức, những cái thừa xét cho cùng là cố ý của tác giả. Thiếu những cái thừa đó văn hết là văn. Nó thành xác chết. Tôi sẽ không chứng minh điều này. Nó vô ích như khi ta cố chứng minh vẻ đẹp của một buổi bình minh chẳng hạn. Mà cũng đừng hoài công kể lại những truyện ngắn của Paustovsky. Chúng ta hãy thử nhớ lại "Chú Bé Chăn Bò", "Gió Biển", "Chuyến Xe Đêm", "Người Đầu Bếp Già"... Liệu có thể kể lại những câu chuyện trong những truyện ngắn đó không nhỉ? Có người đã kể, kể rất hay, nhưng nghe xong, tôi nghĩ rằng sự mất mát trong câu chuyện được kể lại có thể tính bằng số bách phân là 90 phần trăm. Paustovsky có thể từ một chi tiết rất nhỏ mà dựng thành một truyện ngắn. Nhưng qua truyện ngắn đó ta được biết không phải một người - nhân vật chính - mà nhiều người, và hơn thế nữa, dấu vết của cả một khoảng thời gian. Cái "hư" trong văn Paustovsky có một đặc tính được nhiều người nhận xét. Dường như ông khám phá được trong tâm hồn ông, và trong tâm hồn người nói chung, sự ưa thích bản năng những cái không bình thường. Cho nên nói về cái bình thường bằng con đường tìm kiếm, lựa chọn để rồi đưa ra cái có vẻ không bình thường lại là con đường ngắn nhất của sự biểu đạt cái đẹp. Nhưng nếu cái không bình thường ấy quá xa lạ với trí tưởng tượng của người đọc thì cũng hỏng, người đọc sẽ đẩy nó ra và người viết thế là hoài công. Cần phải chọn cái không bình thường bình dị, nghĩa là cái có thể có, có thể xảy ra, dường như người đọc có thể thấy nó, nhưng do vô tình đã đi lướt qua nó, đi lướt qua cái đẹp, một cách hững hờ, và giờ đây, khi được nhà văn chỉ cho thấy, mới biết ra để mà nuối tiếc. Khả năng nhìn thấy cái không bình thường trong cái bình thường ở trong ông làm nên nét độc đáo của văn ông. Paustovsky thú nhận rằng khả năng đó bắt nguồn từ tính chuộng lạ vốn có trong ông từ thuở thiếu thời. Ông thuật lại: "Thế giới sặc sỡ của những cái lạ chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng của tôi". "Môn học mà tôi thích nhất ở trường trung học là môn địa lý. Môn này khẳng định với tôi rằng trên trái đất có những xứ sở kỳ lạ. Tôi biết rằng cuộc sống nghèo nàn và vất vưởng của gia đình tôi hồi ấy không thể cho phép tôi nhìn thấy những xứ sở ấy. Mơ ước của tôi không thể thực hiện được. Nhưng không phải vì thế mà nó chết dần chết mòn đâu". "Tâm trạng tôi khi ấy có thể định nghĩa bằng hai từ: hào hứng và buồn rầu. Hào hứng trước cái thế giới mà mình tưởng tượng ra, buồn rầu vì không thể nhìn thấy nó. Hai cảm giác ấy chiếm thế thượng phong trong những vần thơ thuở thiếu thời của tôi và trong những tác phẩm văn xuôi đầu tiên còn non nớt của tôi". "Những năm tháng qua đi và dần dần tôi rời bỏ tính chuộng lạ, vẻ diêm dúa, hương vị làm ta mê mẩn, chất bốc của nó và thái độ dửng dưng đối với con người bình dị, không có gì đáng chú ý. Nhưng trong một thời gian dài, trong những truyện dài và truyện ngắn của tôi vẫn cứ còn rơi rớt những sợi chỉ mạ vàng của nó." Paustovsky kể rằng lần cắt đứt quyết liệt và cuối cùng với tính chuộng lạ ở trong ông xảy ra trong lần ông đi xem nhà chiếu hình vũ trụ Moskva. Cũng như mọi người, ông bị lóa mắt bởi sức sáng tạo của con người với những máy móc kỳ diệu đó. Ông ra về khi trời đã khuya. Một buổi tối tháng Mười với mùi lá rụng trên đường. Paustovsky ngẩng đầu lên. Ông bàng hoàng. Tưởng chừng ông được trông thấy,lần đầu tiên trong đời, một bầu trời thực sự - một bầu trời sống - với muôn vàn vì sao lấp lánh. "Và thế là tôi thấy tất cả những gì tôi viết từ trước tối hôm đó chỉ là giả tạo, hệt như cái nhà chiếu hình vũ trụ với những chòm sao giả của nó". Sau đêm đó, ông vội vã hủy đi một số truyện ngắn quá diêm dúa và giả tạo mà trước kia ông thích thú. Tuy nhiên, không phải cái gì khác, mà chính lòng ham mê cái lạ trong buổi thiếu thời đã dạy cho ông biết cách nhìn thấy những nét đẹp, và hơn nữa, những nét hoàn toàn không dễ thấy đối với người khác, trong những sự vật tầm thường. Những nét đẹp đó chúng ta gặp luôn luôn trong những tác phẩm của ông, hầu như trên mỗi trang giấy. Chúng làm nên cái thần thái đặc sắc của văn ông. Ngay ở trong những truyện dài "Những Kẻ Lãng Mạn", "Những Vầng Mây Lấp Lánh", mà ông than phiền rằng trong đó tính chuộng lạ còn để lại nhiều dấu vết, chúng ta vẫn thấy những nét đẹp nhờ lòng ham mê tính chuộng lạ mà có. Có lẽ cái hại của tính chuộng lạ chỉ ở chỗ nó dễ làm người viết ham cái bề ngoài hào nhoáng mà quên mất cái bề trong còn đẹp hơn rất nhiều của cuộc sống. Về vấn đề này Paustovsky viết: "Tôi cho rằng một trong những đặc tính thuộc sáng tác văn xuôi của tôi là cái thần thái lãng mạn của chúng"... "Cái đó, tất nhiên, là chất riêng của từng người. Đòi hỏi người nào cũng vậy, nhất là nhà văn, phải từ bỏ cái thần thái ấy là lố bịch. Chỉ có dốt nát mới đi đòi hỏi như thế"... "Cái thần thái lãng mạn không hề sống chung dưới một mái nhà với sự quan tâm cấp thiết đối với cuộc sống "thô thiển" và tình yêu đối với cuộc sống ấy. Trong hết thảy lĩnh vực của thực tại và hoạt động của con người, trừ một vài trường hợp ngoại lệ, bao giờ cũng sẵn có những hạt giống lãng mạn... Vì không nhận thấy những hạt giống ấy, người ta có thể giày xéo lên chúng, nhưng cũng có thể ngược lại, tạo điều kiện cho chúng nở rộ, cho chúng lấy mùa hoa của mình làm cho thế giới bên trong của con người đẹp thêm, cao thượng hơn ". Ông phải bộc bạch tâm sự mình như thế, ông phải lớn tiếng bảo vệ phong cách lãng mạn trong văn học như thế là để tự vệ, để chống trả sức mạnh của trào lưu thời thượng "hiện thực xã hội chủ nghĩa" muốn áp đặt phong cách của nó như là một phong cách duy nhất cho nền văn học xô-viết. Paustovsky không rời con đường riêng mà ông đã chọn. Ông cho rằng nó hoàn toàn không có gì trái ngược với con đường chung của các nhà văn của bất kỳ nước nào, bất kỳ thời đại nào, là hướng tới và vẫy gọi mọi người cùng nhau hướng tới Cái Đẹp[3]. Từ lâu Paustovsky đã có ý định viết một cuốn sách về nghề văn. Không phải một cuốn sách dạy viết văn, không phải thế, ông không có ý định dạy bảo ai, mà là một cuốn khảo cứu nghiêm túc nói về lao động đặc thù của những người cầm bút và vai trò của họ trong đời sống tinh thần của cộng đồng nhân loại. Trong bài "Thơ Của Văn Xuôi" đăng trong tạp chí "Ngọn Cờ" (Znamya) số ra tháng 9 năm 1953, ông viết rằng ý sáng tác một cuốn sách về nghề văn đã nảy ra trong ông ngay từ trước Thế chiến thứ hai. Ông đã bắt đầu, nhưng chiến tranh đã ngăn trở ông hoàn thành nó. Trong một thời gian hơn mười năm Paustovsky dạy nhiều khóa học văn xuôi tại Học viện văn học Gorky. Nhiều vấn đề có liên quan tới nghề văn và tâm lý sáng tác đã được đề cập. Vì các bài giảng của thầy, cũng như những lời phát biểu của trò, đều không được ghi lại, Paustovsky lấy làm tiếc, mới nảy ra ý tập hợp những tư liệu phong phú đó, bằng hình thức này hay hình thức khác, miễn sao chúng trở thành có ích cho những người viết văn, nhất là cho những người viết văn trẻ, và cho cả những ai yêu thích văn học. Mùa thu năm 1955, tại tỉnh Dubunty, một tỉnh nhỏ nằm bên bờ vịnh Riga, Paustovsky hoàn thành cuốn sách mà ông thai nghén từ lâu. "Bông Hồng Vàng" ra mắt bạn đọc lần đầu trong tạp chí "Tháng Mười"(Oktiabr). Trong bản dịch này, giống như trong nhiều bản dịch ở các nước khác mà tôi được biết ("Bông Hồng Vàng" đã được dịch ra nhiều thứ tiếng), tôi bỏ qua hai chương "Ngôn Ngữ Kim Cương" và "Những Cuốn Từ Điển". Tác giả dành hai chương này cho việc nghiên cứu những nét độc đáo của tiếng Nga liên quan tới sự thể hiện văn học, xem xét nhiều mặt ngữ nghĩa, các gốc từ, âm hưởng, tiết tấu... của văn ngôn tiếng Nga. Tôi rất tiếc những chương này, nhưng tôi nghĩ không có cách nào truyền đạt cái đẹp thuần khiết của từ ngữ thuộc một ngôn ngữ này bằng những phương tiện không tương thích của một ngôn ngữ khác. Nói chung, trong khi dịch cuốn sách, cảm giác đuối sức là cảm giác tôi thường gặp. Thậm chí ở một vài đoạn tôi cảm thấy hoàn toàn bất lực. Ai cũng biết rằng dịch nếu không phải là phản thì cũng là một cái gì mất mát so với nguyên bản. Trong "Bông Hồng Vàng", sự mất mát đó không phải là ít. Khi bản dịch hoàn tất, tôi mới hiểu rằng trong việc làm này của tôi chính tác giả đã giúp tôi rất nhiều. Bởi vì mỗi lần đọc đi đọc lại một đoạn văn khó, một hình ảnh đẹp được miêu tả một cách khác thường, cần phải tìm cách để truyền đạt cho tốt nhất, tôi lại phát hiện trong lòng mình một niềm vui, niềm vui này đã giúp tôi vượt qua những khó khăn. Bởi vì trong khi dịch "Bông Hồng Vàng", tôi hiểu thêm được rất nhiều cái lao động nặng nhọc nhưng cao quý và vi thế tuyệt đẹp của nghề văn (nếu có thể coi nó là một nghề). Tôi sẽ sung sướng nếu qua bản dịch này những ý nghĩ tốt lành của tác giả tới được với bạn đọc. Bởi vì, sau hết, tôi rất yêu Paustovsky. VŨ THƯ HIÊN Chú thích:[1] Người Nga, xuất thân từ các chiến binh chống lại các cuộc xâm lăng của Thổ Nhĩ Kỳ và người Tartar, sống thành một cộng đồng lớn ở vùng Nam Nga, thường được gọi là cô-dăc (cosaques) trong các bản dịch từ tiếng Pháp. Phân biệt với người Kazakh, cư dân nước Kazkhstan [2] Hiện nay ở Moskva có một đường phố mang tên Konstantin Pautovsky. [3] “Lời Nói Đầu” này được in trong lần xuất bản thứ nhất của bản dịch “Bông Hồng Vàng”. Lần xuất bản thứ hai nó bị bỏ đi, liên quan đến việc tên người dịch bị cấm. Trong lần xuất bản này có một số sửa chữa nhỏ. Mời các bạn đón đọc Bông Hồng Vàng và Bình Minh Mưa của tác giả K. G. Paustovsky.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Đen Trắng - Triêu Tiểu Thành
Kỉ Dĩ Ninh là một cô gái bình thường, đơn giản, trong sáng và không chút tì vết. Đường Dịch lại là ông chủ của một tập đoàn kinh tế lớn, trong thế giới của anh không thiếu những bí mật khó lý giải, thậm chí không ai dám đủ can đảm để lý giải. Hai con người, hai tính cách, hai thế giới đối lập nhưng số phận đã cho hai người gặp gỡ, và từ đó những câu chuyện bất ngờ nhưng thú vị đã diễn ra. Đường Dịch vốn là một công tử trong tay không thiếu thứ gì, anh thờ ơ với tất cả nhưng lại bị Kỉ Dĩ Ninh thu hút. Anh đã từng nếm thử tất cả những thứ khiến con người mê đắm, và giờ đây anh muốn thử lao vào thứ tình cảm cám dỗ này. Trong cuộc chiến ấy, anh quá mạnh mẽ, cũng quá cực đoan, bởi anh biết không cực đoan không giữ được cô. Tình yêu ấy của anh, sự nồng nhiệt ấy của anh, Kỉ Dĩ Ninh có thể đơn thuần nhưng không ngốc nghếch, sao cô có thể không hiểu? Dù giá trị quan của họ khác nhau, nhưng cô biết rằng trong tình yêu họ đã chung một lối. Liệu rằng tình yêu có giúp họ vượt qua được sự khác biệt để đến với nhau? *** Đêm khuya, đêm lạnh như nước. Ngoài ban công gió thổi mạnh, một người đàn ông đứng dựa vào lan can. Mặc quần áo đơn giản, áo sơ mi Cenci một màu cổ điển, ba cúc áo mở rộng từ cổ áo, chỗ xương quai xanh lộ rõ từng dấu hôn. Tay áo thiết kế tinh tế hiện rõ cánh tay dài rắn chắc, ánh trăng chiếu xuống, mơ hồ có thể thấy được trên cánh tay anh có những vết móng tay bấu chặt của phụ nữ. Anh từ nhỏ đã có khuôn mặt cực kỳ diễm lệ, mà bây giờ lại mới bứt ra từ cơn lốc tình dục, không kịp tán đi một thân gợi cảm, người bên ngoài nhìn vào chỉ cảm thấy lại càng yêu mến. Đứng sau người đàn ông là vài người cấp dưới và một quản gia, đều là những người hàng năm phục vụ tại biệt thự tư nhân này. Quản gia đứng đầu lên tiếng biện bạch: “Dịch thiếu, chúng tôi không phải cố ý …… Chỉ cảm thấy thiếu phu nhân ngồi ở trong nhà lâu quá, cho nên mới nhất thời muốn đưa cô ấy ra ngoài một chút…… Không ngờ lại mang đến cho ngài phiền toái lớn như vậy……” Anh chỉ nghe, không đáp. Tay cầm một điếu thuốc nhỏ dài, sương khói bốc lên, ẩn nấp vẻ mặt của anh. Sương khói lượn lờ sau lưng, chỉ thấy hé ra sắc mặt trắng xanh trên khuôn mặt vô cùng tuấn mỹ. Lạnh lẽo như vậy, chỉ làm cho người ta thấy vô cùng quỷ dị. Cảm giác áp bách quá nồng đậm, quản gia nơm nớp lo sợ nói năng lộn xộn, mới nói vài lời biện bạch trước mặt anh mà khuôn mặt đã đông cứng tái nhợt, nghe ra thấy cảm giác vô lực mười phần. “Quản gia Lí.” Bỗng nhiên người đàn ông mở miệng, không khách khí cắt ngang lời biện bạch của quản gia, âm sắc lạnh ngắt: “Ông ở Đường gia bao lâu rồi?” Quản gia giật mình, chột dạ cúi đầu,“Một, một năm.” Anh bỗng nở nụ cười, nụ cười kiêu ngạo, toát ra khí lạnh, làm cho người ta không rét mà run. “Tốt lắm, một năm.” Khóe môi khẽ động, anh quả quyết mỉa mai lên tiếng, “…… Mới một năm mà đã đem đến cho tôi phiền toái lớn như vậy!” Khí thế của anh quá mức sắc bén, anh đã quá quen với những thủ đoạn bạo lực, bất kể là dùng kỹ xảo hay vũ lực, đều dồn người khác vào chỗ chết. Quản gia gây chuyện sợ tới mức vội vàng quỳ xuống. Tất cả mọi người đều không nói, chỉ cảm thấy tim mình đang nổi lên một nỗi sợ hãi. “Quy củ của tôi, ông nên biết.” Người đàn ông xoay người, nâng tay gõ vào lan can đá cẩm thạch, miệng lên tiếng uy hiếp: “Hôm nay tôi không muốn động tay nữa, trước khi tôi thay đổi ý định, mang theo người của ông…… Cút!” **** **** **** Trong phòng ngủ. Thân là bác sĩ tư nhân của Đường gia, Thiệu Kì Hiên cảm thấy, mình sinh ra như là để cả đời cống hiến cho Đường gia. Nếu thế lực của xã hội đen có thể tính bằng con số cụ thể, vậy thì nếu Châu Á chiếm mười phần, Đường gia chắc chắn chiếm tới bảy phần. Thế lực khổng lồ như vậy, đương nhiên sát khí cũng không nhỏ. Nhưng bệnh nhân hôm nay thực đặc biệt, không phải một cấp dưới đắc lực của Đường gia, mà là một cô gái yếu đuối không hề có lực uy hiếp. Cô không đặc biệt xinh đẹp, hơn nữa lại đứng cạnh người đàn ông tư sắc yêu diễm như vậy, nên cô càng mang vẻ bình thản vô kì. Nhưng, lại không thể dùng từ bình thường để hình dung. Thiệu Kì Hiên nhìn bệnh nhân trên giường, nhìn khuôn mặt thanh tú của cô, không biết vì sao, trong lòng lại cảm thấy thật bình thản yên tĩnh, giống như nơi nào có cô, nơi đó có thể tách biệt khỏi thế giới. Mũi kim bén nhọn đâm vào tĩnh mạch tay phải, kỹ thuật cẩn thận làm trong ống tiêm nhỏ dài lập tức trào ra giọt máu đỏ tươi, cảm giác đau đớn bỗng nhiên ập đến làm người đang hôn mê trên giường tỉnh táo ba phần. Hoàn toàn khác với chồng cô, cô không hề mang lại cảm giác uy hiếp cho người khác, ngay cả ánh mắt đơn giản cũng có thể làm người ta bình tĩnh, làm cho tâm tư người ta yên lặng như nước. “Bác sĩ Thiệu……?” “Đúng, là tôi.” Thiệu Kì Hiên nở nụ cười trấn an, vuốt ve trán của cô một chút:“Cô bị sốt, nhưng không có việc gì, ít nhất cô cũng phải tin tôi chứ?” Cô nở nụ cười, tươi cười tuy vẫn còn mỏi mệt không chịu nổi, lại không hề lộ ra một tia ấm ức. “Cảm ơn anh.” ... Mời các bạn đón đọc Đen Trắng của tác giả Triêu Tiểu Thành.
Cái Chết Của Ba Người Lính Ngự Lâm - Alexandre Dumas
D'Artagnan là hậu duệ một dòng dõi quý tộc đã sa sút ở xứ Gascony. Năm 18 tuổi, chàng rời nhà trên một con ngựa còm để đến Paris với mong ước trở thành một lính ngự lâm của vua Louis XIII. Dọc đường, d'Artagnan làm mất lá thư tiến cử của cha mình với ông De Treville, đội trưởng lính ngự lâm, do đó ông này đón tiếp anh không mấy nhiệt tình. Tiếp đó, d'Artagnan húc trúng vào cái vai đang bị thương của Athos, một lính ngự lâm đầy phong cách quí tộc. Anh này đòi quyết đấu với d'Artagnan vào giữa trưa và được đồng ý ngay. Ngay sau đó, d'Artagnan gặp Porthos, một lính ngự lâm khác rất đô con và mang một dải đeo kiếm cực xịn nhưng d'Artagnan khám phá ra rằng chỉ có mặt ngoài là đẹp thôi, còn bên trong làm bằng da bò. Thế là d'Artagnan có cuộc quyết đấu thứ 2 vào sau buổi trưa. Cuối cùng d'Artagnan nhặt được một chiếc khăn tay của một lính ngự lâm đẹp trai tên Aramis (khăn của tình nhân của anh này), cãi nhau, và có cuộc hẹn đấu kiếm thứ 3 trong ngày. Đến các buổi hẹn đấu kiếm, d'Artagnan thấy 3 người kia đi cùng nhau, họ là bạn thân. Tuy nhiên luật hồi đó cấm đấu kiếm, và các vệ sĩ của Giáo chủ de Richelieu đến bắt họ. Một cuộc chiến diễn ra và d'Artagnan về phe các ngự lâm quân. Họ chiến thắng và d'Artagnan trở thành bạn thân của ba chàng lính ngự lâm kia. Phương châm của họ là "Một người vì tất cả, tất cả vì một người", một câu mà vế thứ hai được d'Artagnan lợi dụng rất tốt. Tuy có những cái tên thật ghê tởm và không quí tộc chút nào hết, rõ ràng cả ba anh lính ngự lâm đều là quí tộc và họ dùng tên giả. Athos tỏ ra là một quí tộc cỡ bự, và là người rất quí phái. Porthos thuộc loại thích khoe mẽ, còn Aramis là một anh lăng nhăng nhưng muốn làm mục sư. Tuy chơi với ba anh lính ngự lâm nổi tiếng, d'Artagnan không thể trở thành lính ngự lâm ngay được mà phải đi làm lính gác của ông Des Essart để có kinh nghiệm. d'Artagnan thuê một căn phòng, mướn một tên hầu là Planchet, và đem lòng yêu bà chủ nhà, bà Bonacieux. Bà này còn rất trẻ so với ông chồng già, và là chỗ quen biết với hoàng hậu Anne. Hoàng hậu không yêu đức vua Louis XIII, mà lại lăng nhăng với Quận công Buckingham. Bà đã đem chiếc chuỗi hạt kim cương mà đức vua tặng đem tặng lại cho người yêu. Hồng y giáo chủ de Richelieu biết được chuyện này và dùng kế nói đức vua buộc hoàng hậu phải đeo chuỗi hạt đi dự vũ hội. Thông qua bà Bonacieux, hoàng hậu nhờ d'Artagnan đi lấy lại chuỗi hạt. Thế là d'Artagnan cùng ba người bạn lên đường đi nước Anh, nhưng dọc đường cả 3 đều bị rớt lại do những lí do khác nhau, chỉ mỗi d'Artagnan đến được nước Anh và đem chuỗi hạt về. Đêm dạ hội, hoàng hậu đeo chuỗi hạt và ông giáo chủ bẽ mặt. d'Artagnan lại quay lại để tìm các bạn mà anh bỏ lại dọc đường. Nhưng ông giáo chủ de Richelieu không phải là người dễ tha thứ, và bà Bonacieux bị bắt cóc. d'Artagnan không thể tìm được bà, nhưng lại gặp Milady de Winter, em dâu của bá tước người Anh de Winter, và là một phụ nữ quyến rũ. Như thế là anh kiếm được tình nhân đầu tiên. Tuy nhiên d'Artagnan sớm khám phá ra Milady có một bông hoa huệ trên vai, dấu ấn của một tội phạm, và cô ta chẳng phải người Anh mà là một gián điệp. d'Artagnan lăng nhăng với cô hầu của Milady và lợi dụng cô này để vạch mặt Milady và ăn cắp được một chiếc nhẫn sapphire. Milady nổi khùng cầm dao dí d'Artagnan nhưng anh chạy thoát được. Giáo chủ de Richelieu ở La Rochelle. La Rochelle nổi loạn và d'Artagnan phải lên đường ra trận trong khi lính ngự lâm vẫn chưa xuất phát. Cả 4 người đều nghèo đói và chuẩn bị quân trang là một thử thách lớn. d'Artagnan bán chiếc nhẫn chôm được của Milady và chia đôi với Athos. Athos nhận ra chiếc nhẫn này là cái mà anh tặng vợ cũ của mình. Porthos đi lừa tiền của bà biện lý, bà này mê tít Porthos và lấy tiền của ông chồng già cho Porthos, cộng với con ngựa còm mà d'Artagnan trước đó đã bán đi. Aramis cũng kiếm được tiền từ các tình nhân của anh. Ở La Rochelle, họ phát hiện ra Milady được lệnh đi ám sát Quận công Buckingham, để đổi lại cô ta muốn giáo chủ de Richelieu giết d'Artagnan. d'Artagnan phái tên hầu là Planchet đi báo tin cho Buckingham, và Milady bị tóm cổ ở Anh. Ở La Rochelle, d'Artagnan và ba người bạn đi ăn sáng và chống lại cả một "quân đoàn" của địch. Với chiến tích này, anh được lên chức làm ngự lâm quân. Hoàng hậu giải cứu được Constance Bonacieux và họ lập tức đi đến nơi cô bị giam giữ. Trong khi đó, ở Anh, Milady đang ngồi tù. Cô bịa ra một câu chuyện rất hay để lừa sĩ quan gác ngục là John Felton thả cô ra. Felton còn ngốc hơn cô tưởng, và Milady lừa được anh rằng Quận công Buckingham là một kẻ độc ác còn cô chỉ là nạn nhân. Felton tin rằng một cô gái quá xinh đẹp như Milady không thể nói dối được. Anh xách dao đi tìm quận công và đâm một nhát chí mạng. Trong lúc đó Milady ra thuyền và chuồn thẳng về Pháp. Cô ta trốn ở chính nơi mà bà Bonacieux đang ẩn nấp, và khi biết được Constance Bonacieux là ai, Milady đầu độc Constance để trả thù rồi bỏ chạy. Sau khi chứng kiến người yêu chết trong tay mình, d'Artagnan cùng Athos (nay được biết là bá tước de la Fère, chồng đầu tiên của Milady), Porthos (tên thật là du Vallon), Aramis (tên thật là d'Herblay), bá tước de Winter (anh của chồng thứ 2 của Milady, tìm cô ta để trả thù cho quận công Buckingham), và một người bí ẩn mặc áo choàng đỏ đi lùng khắp vùng Flanders để bắt Milady. Cô ta cuối cùng bị dồn vào đường cùng. Sáu người đàn ông bao vây một phụ nữ ở giữa, kể ra vô số tội lỗi của cô ta, rồi người mặc áo choàng đỏ đưa Milady ra thuyền để hành quyết. Khi trở về, d'Artagnan gặp giáo chủ de Richelieu. Ông này chẳng tỏ ra đau buồn gì vì dù sao Milady cũng đã hoàn thành nhiệm vụ giết Buckingham. Ông đưa cho d'Artagnan giấy lên chức thiếu úy ngự lâm quân. d'Artagnan đem đưa giấy phong chức cho Athos, nhưng anh này cho biết mình sắp nghỉ hưu, và từ chối. d'Artagnan đưa cho Porthos nhưng anh này cho biết rằng ông biện lý già mới chết, anh sẽ cưới bà biện lý cùng tài sản khổng lồ mà ông biện lý già để lại. d'Artagnan đưa cho Aramis, nhưng anh này muốn trở thành mục sư chứ không làm lính nữa. Cuối cùng, d'Artagnan và các bạn chia tay. Và mãi 20 năm sau đó họ mới gặp lại nhau, khi mà d'Artagnan một lần nữa muốn lợi dụng phần "mọi người vì một người" của khẩu hiệu của họ. *** Bộ Ba Chàng Lính Ngự Lâm gồm: Les Trois Mousquetaires (Ba chàng lính ngự lâm), Vingt Ans après (Hai mươi năm sau), Le Vicomte de Bragelonne (Tử tước de Bragelonne).  *** Giữa tháng tư năm 1660, vào lúc chín giờ sáng, khi mặt trời đã đủ ấm để làm khô những giọt sương trên các cây đinh hương và tại lâu đài thành Blois, một đoàn kỵ sĩ gồm ba người cùng hai người hầu tiến lên cây cầu dẫn vào thành phố mà không gây một sự chú ý nào cho những người đang dạo mát, ngoại trừ động tác đầu tiên là giơ tay lên đầu chào và động tác thứ hai là uốn lưỡi để diễn tả bằng giọng văn trong sáng nhất nước Pháp: "Đó là Đức ông đi săn về". Có vậy thôi. Tuy nhiên khi đoàn người ngựa leo lên con dốc dẫn từ bờ sông vào lâu đài thì một vài gã bán hàng mập ú mon men tiến lại gần con ngựa đi cuối có treo lủng lẳng nhiều loại chim trên cốt yên. Thấy kết quả chuyến đi săn nghèo nàn như vậy, các gã hiếu kỳ tỏ ra khinh khi, và sau khi bàn tán hồi lâu về sự bất lợi của việc săn chim, ai nấy lại quay trở về với công việc của mình. Chỉ còn một gã có thân hình béo tròn với cặp má phúng phính, tính tình vui vẻ là còn thắc mắc tại sao Đức ông có nhiều lợi tức, do đó không thiếu gì cách vui chơi lại đi chọn cái trò giải trí thảm hại này. Có người đã trả lời hắn: - Ủa, bộ mày không biết trò giải trí chính của Đức ông là sự ưu phiền sao? Gã mập ú nhún vai, vẻ dứt khoát. - Nếu vậy thì thà tớ làm Jean phì lũ còn hơn làm ông Hoàng. Rồi mọi người lại tiếp tục công việc. Còn Đức ông thì tiếp tục đoạn cuối cuộc hành trình với vẻ mặt vừa buồn rười rượi vừa oai nghi. Chắc sẽ có người ngắm nhìn ngài một cách thán phục, - nếu có khán giả. Nhưng các trưởng giả thành Blois đã không tha thứ cho Đức ông cái tội đã chọn thành phố tươi vui của họ để mặc sức ưu phiền. Cho nên, mỗi khi phải trông thấy con người vừa oai nghiêm vừa u sầu đó, họ quay mặt đi chỗ khác hoặc thụt đầu vào trong để tránh bị ảnh hưởng bởi vẻ buồn ngủ của khuôn mặt dài tái xanh, của đôi mắt lúc nào cũng đẫm ướt và của cả cái dáng dấp uể oải chán chường. Thành thử, ông hoàng đáng kính của chúng ta mỗi khi phi ngựa tới đâu đều cũng chỉ thấy toàn đường phố vắng ngắt. Như vậy là dân thành Blois quả có tội bởi vì, sau Đức vua, và có khi trên cả vua nữa là đằng khác, Đức ông là một nhà quý tộc lớn nhất trong triều. Thật vậy, nếu Thượng đế đã cho Louis XIV - đang trị vì - cái diễm phúc được là con của Louis XIII thì ngài cũng ban cho Đức ông cái vinh hạnh được nhận Henri IV là cha. Thành thử, dân chúng ở đây ít ra cũng phải coi là có được một vinh dự không nhỏ khi Gaston d Orléans - Tôn Đức ông. (Đoạn tiếp theo ám chỉ các biến cố xảy ra về trước) tập hợp đám tuỳ tùng của ông trong toà lâu đài. "Các đẳng cấp" cổ kính nơi thành phố Blois này. Nhưng cái nghiệp của ông hoàng vĩ đại này là không hấp dẫn được quần chúng. Cho nên Đức ông lâu dần cũng thành quen! Có lẽ vì thế mà ngài ưu phiền một cách trầm lặng. Cuộc đời Đức ông rất bận rộn. Chẳng ai chịu để hàng chục người bạn thân nhất của mình bị cứa cổ mà không thấy lo âu chút nào! Mà Mazarin khi nắm quyền bính trong tay thì chẳng thích cắt đầu ai cả. Vì thế Đức ông không còn bận rộn nữa và tinh thần của ngài cũng chịu ảnh hưởng lây. Vậy nên cuộc sống của vị hoàng thân khốn khổ này thật là đáng buồn. Sau cuộc săn nhỏ vào buổi sáng bên bờ sông Beuvron (Bơ-vrông) hoặc trong rừng Chiverny , Đức ông vượt sông Loire, đến dùng cơm trưa tại Chamberd , bữa ngon bữa không, và cả thành Blois sẽ không còn nghe nhắc nhở gì đến vị thủ lãnh của mình nữa cho đến buổi săn bắn sau. Đó là những ưu phiền phơi bên ngoài, còn những nỗi buồn sâu kín chúng tôi sẽ cống hiến cho độc giả nếu quý vị chịu khó cùng với chúng tôi theo đoàn người ngựa tiến đến chiếc cổng uy nghiêm của lâu đài "Các đẳng cấp". Đức ông cưỡi một con ngựa vóc dáng bé nhỏ, ngồi trên chiếc yên rộng bọc bằng nhung đỏ xứ Flandre có bàn đạp giống như một chiếc hia. Con ngựa màu hung hung; bộ quần áo bó chẽn bằng nhung đỏ thẫm, hoà lẫn với chiếc khăn choàng cùng một màu với những thứ trang bị trên con ngựa, và nhờ toàn bộ cái gì cũng đỏ này mà người la có thể phân biệt được Đức ông với hai bạn đồng hành của Ngài, một người thì toàn tím trong khi người kia toàn lục. Người phi ngựa bên trái ăn vận màu tím là người hầu ngựa, bên phải có người vận màu lục coi bầy chó săn. Một người hầu mang theo đôi chim ưng đong đưa trên cái đu người kia cầm chiếc còi săn, phùng má thổi một cách uể oải rời rạc khi đoàn kỵ sĩ chỉ còn cách toà lâu đài vài chục bước. Mọi kẻ bao quanh ông hoàng uể oải này đều uể oải làm những gì cần phải làm. Sau hiệu còi, tám gã lính gác cổng đang rong chơi trên chiếc sân vuông vức của toà lâu đài vội chạy đi tìm vũ khí. Thế là Đức ông oai vệ tiến vào toà lâu đài. Khung cảnh thật vắng vẻ. Đức ông lặng lẽ nhảy xuống ngựa, rảo bước vào phòng để người hầu thay quần áo; và vì Bà lớn chưa ra hiệu ăn trưa nên ngài nằm duỗi dài trên ghế đánh một giấc ngon lành như giấc ngủ buổi tối vậy. Còn tám gã lính hầu thì hiểu rằng nhiệm vụ trong ngày của chúng đến đây là chấm dứt, chúng bèn rủ nhau nằm ườn trên ghế đá dưới ánh nắng mặt trời ấm áp. Gã mã phu (người trông nom, chăm sóc ngựa) dẫn đoàn ngựa vào trong truồng và ngoại trừ mấy chú chim đang chíu chít chòng ghẹo nhau trong các bụi cây đinh tử hoa, người ta có cảm tưởng như vạn vật đều ngủ say như Đức ông vậy. ... Mời các bạn đón đọc Cái Chết Của Ba Người Lính Ngự Lâm của tác giả Alexandre Dumas.
Vịnh Kim Cương - Linda Howard
Đây là câu chuyện tình yêu thú vị, kịch tính và không kém phần nóng bỏng của nhà văn lãng mạn hàng đầu nước Mỹ - Linda Howard. Câu chuyện kể về cuộc gặp gỡ tình cờ giữa Kell Sabin - huyền thoại tình báo và cô gái Rachel Jones tại vịnh Diamond. Trong một lần du ngoạn trên biển, tàu của Kell Sabin bị tập kích, khiến anh  phải cố gắng bơi vào bờ với hai vết đạn trên người. Thủy triều đã cuốn Kell Sabin đến Vịnh Diamond khi anh bất tỉnh vì kiệt sức. Tình cờ đi dạo trên biển, Rachel Jones bắt gặp Kell bị sóng đánh dạt gần bờ. Không ngần ngại, cô đã cứu và chăm sóc anh suốt bốn ngày đêm. Từng là phóng viên điều tra xuất sắc nhưng sau cái chết bi thảm của chồng, Rachel đã chuyển về sống tại nhà cũ tạ vịnh Diamond. Cô sống thoải mái với nghề kinh doanh hai cửa hàng bán đồ lưu niệm, viết vài quyển sách phiêu lưu mạo hiểm và tham gia khóa dạy ngắn hạn. Không biết từ lúc nào, Rachel đem lòng yêu người đàn ông mà cô cứu sống,  mặc dù chưa biết gì về anh. Khi Sabin tỉnh lại, hai người bắt đầu tìm hiểu về nhau và nhanh chóng bị cuốn hút bởi đối phương. Tuy nhiên, điều mà Rachel mong đợi là một tình yêu thật sự, còn thứ mà Sabin muốn chỉ là tình dục. Anh quyến luyến cô, nhưng không có ý định gắng bó lâu dài với bất kỳ người phụ nào. Bởi công việc của Kell quá nguy hiểm nên không muốn liên lụy đến ai. Vì vậy, anh quyết đinh ngay khi thương tích trên người lành lại sẽ lập tức rời khỏi nơi này. Sự xuất hiện của kẻ thứ ba đã đẩy hai nhân vật chính đến đỉnh điểm của sự căng thẳng. Nhưng điều đó lại khiến Kell nhận ra rằng mình đã thực sự yêu Rachel. Liệu cả hai có vượt qua được những nguy hiểm, khó khăn để tìm đến với nhau? *** Ánh nắng mắt trời rực rỡ tỏa hơi nóng thiêu đốt làn da trần, khắp ngực, chân và đôi chân dài của anh, dù đã gần đến lúc mặt trời lặn. Những tia sáng dọi ném những luồng ánh sáng nhảy múa lên đầu ngọn sóng, gần như thôi miên làm anh nhìn chúng mải mê. Không, làn nước lấp lánh không phải là thứ thôi miên anh, mà là sự thật rằng anh chả có gì quan trọng để làm ngoài việc mải mê nhìn chúng. Anh đã quên mất hòa bình có âm thanh như thế nào, có cảm giác ra sao. Trong một tháng dài, tuyệt vời, anh có thể thư giản chỉ một mình và chỉ là một ngời đàn ông. Anh sẽ câu cá bất cứ khi nào anh thích, hay bơi thuyền trên làn nước ấm áp, lôi cuốn của Gulf nếu anh thấy thao thức. Nước luôn luôn lôi kéo anh. Ở đây nó có màu xanh đen, ở kia có màu ngọc bích rực rỡ, đằng kia thì lại là một màu xanh long lanh nhẹ nhàng. Anh có đủ tiền để mua xăng và lương thực dự trữ, và chỉ có hai người trên thế giới biết anh ở đâu hay làm cách nào để liên lạc được với anh. Cuối kỳ nghỉ của tháng này anh sẽ quay lại cái thế giới xám xịt mà anh đã chọn và đánh mất mình trong bóng tối, những lúc này đây anh có thể nằm trong ánh nắng, và đó là tất cả những gì anh muốn. Kell Sabin đã mệt mỏi, chán nản và những thử thách không ngừng, những bí mật và thủ đoạn, cũng như nguy hiểm và dối trá trong công việc của anh. Đó là một công việc cực kỳ quan trọng, nhưng trong tháng này anh sẽ để một ai đó khác làm việc đó. Tháng này là của anh, anh gần như có thể hiểu được điều gì đã quyến rũ Grant Sullivan, người bạn thân và cũng là điệp viên giỏi nhất anh từng có, vào sự bí ẩn tĩnh lặng của những ngọn núi Tennessee. Sabin cũng đã là một điệp viên hàng đầu, một huyền thoại quanh Tam giác Vàng và, sau này, là vùng Trung Đông và Nam Mỹ, tất cả những điểm nóng trên thế giới. Giờ đây anh là một trưởng phòng, cái bóng đằng sau một nhóm điệp viên xuất sắc làm theo những hướng dẫn và huấn luyện của anh. Rất ít người biết về anh, lớp vỏ bảo vệ an toàn bao bọc quanh anh gần như là tuyệt đối. Sabin thích như vậy, anh là một người đàn ông cô độc, đen tối, luôn đối diện với thực tế khắc nghiệt của cuộc sống bằng cả sự hoài nghi lẫn chấp nhận. Anh biết rõ những hạn chế và nguy hiểm trong công việc của mình, và cả mặt bẩn thỉu và tàn nhẫn, nhưng anh là một người thực tế và anh đã chấp nhận tất cả những điều đó khi anh nhận lấy công việc này. Tuy vậy, thỉnh thoảng điều đó vẫn chộp lấy anh, và anh phải tránh xa nó, để sống những khoảng khắc ít ỏi giống như một công dân bình thường. Phương tiện đào thoát của riêng anh là chiếc thuyền được đặt làm theo ý mình. Kỳ nghỉ của anh, giống như mọi thứ khác về anh, là những bí mật được bảo vệ cấp cao, nhưng những ngày và đêm lênh đênh trên biển là những thứ khiến anh giống con người, những khoảng thời gian duy nhất anh có thể thư giãn và suy nghĩ, có lúc anh nằm trần truồng trong ánh nắng và thiết lập lại những liên kết với phần người của chính anh, hay nhìn những vì sao vào buổi tối và lấy lại quan điểm của mình. Một con mòng biển trắng toát bay vút lên, kêu lên những tiếng ai oán. Anh biếng nhác nhìn theo nó, tự do và thanh thoát, được đặt trong cái bát màu xanh không gợn chút mây mù của bầu trời. Những ngọn gió biển vuốt ve nhẹ nhàng trên làn da trần của anh, và sự dễ chịu mang đến cho đôi mắt đen của anh một nụ cười hiếm hoi. Có một nét hoang dã không thể chế ngự trong anh mà anh phải giữ thật chặt trong vòng kiềm chế, nhưng ngoài này, với chỉ ánh nắng, gió, và nước, anh có thể để cái phần đó của mình nổi trội lên. Sự giới hạn phải có quần áo gần như thật là bất kính ngoài này, và anh bực bội khi phải mặc quần áo bất kỳ lúc nào anh đi tới trạm đổ xăng, hay bất kỳ lúc nào một con thuyền khác xuất hiện bên cạnh để trò chuyện, như người ta vẫn thường làm nơi này. Mặt trời đã lặn xuống thấp hơn, dìm mép vàng rực rỡ của nó vào làn nước khi anh nghe thấy một âm thanh động cơ khác. Anh quay đầu để quan sát chiếc thuyền đó, hơi lớn hơn của anh, rẽ sóng một cách nhàn nhã. Đó là cách duy nhất cuộc sống diễn ra ở đây: nhàn nhã. Vùng đất càng ấm áp, thì thời gian càng chậm chạp. Sabin giữ chặt mắt trên con thuyền, ngưỡng mộ những đường nét thanh thoát, và âm thanh mượt mà, mạnh mẽ của động cơ. Anh thích thuyền, và anh thích biển. Chiếc thuyền của riêng anh là một phần thưởng, và một bí mật được bảo vệ khá kín đáo. Không ai biết nó thuộc về anh, nó được đăng ký với một đại lý bảo hiểm ở New Orleanskhông hề biết tì gì về Kell Sabin. Thậm chí cả tên của con thuyền, Wanda, cũng chẳng có ý nghĩa gì. Sabin chẳng hề biết ai tên là Wanda hết, đó chỉ đơn thuần là một cái tên mà anh đã chọn. Nhưng Wanda hoàn toàn là của anh, với những bí mật và bất ngờ của chính nó. Bất kỳ ai thực sự biết rõ anh cũng sẽ không mong đợi điều gì khác, nhưng chỉ một người đàn ông trên thế giới từng biết về người ẩn sau chiếc mặt nạ ấy, và Grant Sullivan không tiết lộ một bí mật nào cả. Tiếng động cơ của con thuyền kia thay đổi khi nó chậm lại và chuyển hướng sang anh. Sabin chửi thề tức tối, nhìn quanh tìm bộ đồ vải jeans bạc màu mà anh thường giữ trên boong cho những tình huống như thế này. Một giọng nói trôi đến anh trên làn nước, và anh lại nhìn vào con thuyền kia. Một phụ nữ đang đứng ở lan can phía trước, vẫy tay tung tẩy trên đầu trong một điệu bộ không khẩn cấp chút nào, nên anh đoán họ chỉ đang muốn trò chuyện và không có tí rắc rối nào. Ánh nắng ban chiều lấp lánh trên mái tóc đỏ của cô ta, biến nó thành màu lửa, và trong một khắc Sabin chăm chú nhìn nó, sự chú ý của anh bị báo động bởi cái bóng màu đó rực sáng, khác lạ đó. Một cái cau mày mang đến những nếp nhăn giữa hai lông mày của anh khi anh nhanh chóng xỏ chân vào quần áo và kéo khóa. Chiếc thuyền vẫn quá xa để anh thấy được mặt cô ta, nhưng mái tóc đỏ ấy đã làm xấu thêm vài ký ức bé nhỏ giấu kín đang cố trồi lên. Anh chăm chú nhìn cô ta khi con thuyền từ từ hướng về phía anh, mắt anh sáng lên quả quyết. Có điều gì đó về mái tóc ấy... Đột ngột mọi bản năng trong Sabin đều rít lên báo động và anh lăn xuống mặt boong, không tra vấn cái cảm giác khó chịu gợn xương sống, nó đã cứu đời anh quá nhiều lần để anh không phải do dự. Anh trải rộng ngón tay trên mặt gỗ ấm áp của con thuyền, nhận rõ rằng anh có thể đang tự biến mình thành thằng ngốc, nhưng anh thà là một tên ngốc còn sống hơn là một cái xác thông minh. Tiếng chiếc động cơ ngừng hẳn lại, như thể nó đã đi chậm hơn nữa, và Sabin quyết định một điều nữa. Vẫn nằm sấp, với mùi dầu trong lỗ mũi và tiếng kèn kẹt của gỗ trên làn da trần, anh trườn mình tới ngăn dự trữ. Anh không bao giờ đi đâu mà không có vài phương tiện phòng vệ. Khẩu súng trường mà anh kéo ra khỏi ngăn dự trữ vừa mạnh mẽ vừa chính xác, dù anh biết cùng lắm nó cũng chỉ là một biện pháp ngăn chặn tạm thời mà thôi. Nếu những bản năng của anh là sai, thì anh chẳng cần đến nó chút nào, nếu bản năng của anh là đúng, thì chúng sẽ có những hỏa lực hơn xa khẩu súng trường này, bởi vì bọn chúng hẳn đã chuẩn bị cho chuyện này. ... Mời các bạn đón đọc Vịnh Kim Cương của tác giả Linda Howard.
Tiểu Thư Hoàn Hảo Và Công Tử Lạnh Lùng - Ngân Ken
Nguyễn Hoàng Yến Nguyên – Một cô gái vừa thông minh vừa tuyệt sắc.    Chân mày chữ tú, đôi mắt biết nói màu tro lạnh, sống mũi thanh thoát và đôi môi anh đào đẹp mê mệt người đối diện, Yến Nguyên mang nét đẹp Á Đông đầy mê hoặc.   Ngoài sắc đẹp ra, Yến Nguyên luôn luôn nằm trong top 10 người châu Á thông minh nhất thế giới ở vị trí thứ số 1. Tốt nghiệp loại giỏi chuyên ngành thiết kế trang sức trường đại học Sydney ở tuổi 17, Yến Nguyên ngay lập tức trở về Việt Nam.   Sống ở Úc từ lúc lọt lòng nhưng cô không bao giờ nói chuyện với bạn bè ngoại quốc hay đồng hương ở lớp quá 10 câu. Đối với cô, “ bạn” đơn thuần là một mối quan hệ xã giao, đừng nên cho họ biết quá nhiều về bản thân mình.   Yến Nguyên là một cô gái rất cầu toàn trong cuộc sống. Rất nhạy cảm với những thứ có mùi hương lạ hoặc bụi bẩn. Vì những lí do đó, cô lớn lên ở Úc trong một căn biệt thự bằng gỗ huỳnh đàn và xung quanh chỉ trồng duy nhất hoa oải hương. Rất ghét người khác tự tiện chạm vào đồ đạt của mình nên đâm ra người làm rất sợ cô.    Trần Hùng Nam Phong – Chàng trai có gia thế và vẻ đẹp hoàn hảo.   Anh là hiện thân của vẻ đẹp đơn thuần một chử “ Lạnh”.   Ít nói và có ánh nhìn sắc bén, Nam Phong dễ dàng khiến người đối diện bị xoáy sâu vào đôi mắt màu huyết dường như vô hồn của anh. Mang trong người ¼ dòng máu châu Âu vì bà nội là người Canada, Nam phong sỡ hữu một mái tóc màu nâu hạt dẻ đầy chững chạt.   Từng sống ở Canada 15 năm kể từ khi sinh ra, anh trở về nước năm 16 tuổi và thừa kế toàn bộ tài sản quy ra ngoại tệ là 3 tỉ USD của ba mẹ đã mất.   Nam Phong đứng thứ 2 trong top 10 người châu Á thông minh nhất thế giới nên khi bắt đầu điều hành công ty và khối tài sản không lồ, anh không hề cần sự giúp sức của bất kì ai.     Nói là điều hành công ty nhưng thật ra từ khi nhận quyền thừa kế, Nam Phong chỉ kí những hợp đồng làm ăn có giá trị cao, số hợp đồng còn lại đều do cậu anh quản lí và anh không đến công ty làm, chỉ đi họp.   Không bao giờ tự dưng bắt chuyện với người khác và cũng không bao giờ nói chuyện với người làm trong nhà, ngoại trừ một quản gia đứng tuổi   Mỗi khi Nam Phong tức giận, trong 1, thậm chí là 2 tháng, không ai dám lại gần con người kì quặc của anh.   Mai Diệu Anh – Người con gái mang nét đẹp e ấp của mùa thu.   Diệu Anh là cô gái sinh ra trong một gia đình thuộc dòng dõi quý tộc và rất giàu có.   Diệu Anh đẹp, nhưng không không phải một nét đẹp sắc hay lạnh mà là một nét đẹp mang cho người khác một cảm giác ấm áp vô bờ bến. Điều làm người khác chiềm đắm trong sắc đẹp của cô chính là nụ cười như thiên sứ nắng mai. Đôi mắt màu lá phong mùa thu thừa hưởng từ người mẹ đáng kính làm Diệu Anh càng thêm phần sức sống.   Cô đứng thứ 4 trong top 10 người châu Á thông minh nhất thế giới. Ngay từ năm lên 4, Diệu Anh đã được ba mình dạy cho cách tính toán sổ sách của công ty nên 12 tuổi, Diệu Anh vinh dự là sinh viên số 1 khoa Kinh Tế của trường Đại học Quốc Tế Sài Gòn.   Giờ đây, khi cô đã 17 tuổi, cô nắm trong tay tấm bằng Kinh Tế loại giỏi và nằm trong top 5 người thừa kế tài sản trẻ tuổi nhất Việt Nam lúc bấy giờ.    Là một cô gái thích sự phóng khoán nhưng không quá mức, Diệu Anh được ba mẹ tặng hẳn hoi cho một căn biệt thự cao cấp ở Ventura cùng không ít người hầu cận để cô tự do làm những gì mình thích. Không thích có quá nhiều người thuộc tuýt “ gió chiều nào theo chiều nấy” xung quanh mình, nhất là những mối quan hệ ngoài phạm vi gia đình nên Diệu Anh rất khó kết bạn.   Lê Gia Bảo Khánh – Công tử cao quý và là người có gương mặt trời ban.   Con trai lớn của ông chủ tập đoàn Lê Gia, sau anh là một cậu em trai cao ngạo đang sống ở Mỹ.   Người ta hay gọi Bảo Khánh là hiện thân của Kim Jae Joong ở Việt Nam nhưng so với cậu diễn viên họ Kim đó thì anh còn đẹp hơn gấp bội.   Là một con người linh hoạt và cởi mở bên trong, lạnh bên ngoài nhưng số người muốn làm bạn thật sự với anh dường như là không có.   Thần tượng của Bảo Khánh không phải ca sĩ, diễn viên hay nhà ảo thuật nào đó mà chính là ba của anh – chủ tịch tập đoàn Lê Gia.   Là con trai đường đường chính chính nhưng anh rất dị ứng với côn trùng và những loài như chuộc hay rắn, tuy là không sợ chúng. Bảo Khánh còn bị dị ứng với gia cầm và cả một loại trái cây quen thuộc với người Việt: trái sầu riêng.   Sau sinh nhật lần thứ 17, Bảo Khánh được vinh danh trên giảng đường Trường đại học Việt – Mỹ với tấm bằng Ưu tú Ngành Kinh doanh và được ra mắt trong cuộc họp HĐQT của tập đoàn Lê Gia với tư cách người kế thừa chính thức của chức CEO khi đủ tuổi.  *** Trên chuyến bay đêm từ bến cảng Sydney – Úc về TP.HCM – Việt Nam, trong khoang hạng nhất 6 ghế nhưng chỉ có 3 người gồm một hành khách nữ xinh đẹp đang cầm trên tay tờ tạp chí thời trang mới phát hành sáng hôm nay và hai vệ sĩ người Úc thuộc tuýt ưu tú. Đồng hồ đã điểm 04h sáng theo giờ Việt Nam, cô gái bỏ tờ tạp chí xuống, đeo bịt mắt tối màu và chợp mắt trước khi căng dặn hai vệ sĩ không được để cho mấy tiếp viên làm phiền mình. 6h sáng… - Mời các hành khách của chuyến bay DS672 từ Sydney về TP.HCM Việt Nam trở về chỗ ngồi, thắt dây an toàn, bịt tai lại để chúng ta chuẩn bị hạ cách. Xin nhắc lại… Tiếng của một tiếp viên nữ trên máy bay đánh thức tất cả các hành khách đang yên giấc và cả cô gái xinh đẹp ở khoang hạng nhất – Nguyễn Hoàng Yến Nguyên. Cô đứng dậy, vuốt thẳng lại quần áo, với cái áo khoác badesi cao hơn cổ, mặc vào rồi ngồi xuống thắt dây an toàn. Một trong hai người vệ sĩ kéo khóa vali, đưa cho Yến Nguyên một cái bịt tai chuyên dụng dành cho người đi máy bay rồi cũng trở về vị trí thắt dây an toàn và đeo bịt tay 30’ sau, họ hạ cánh an toàn. Yến Nguyên vừa đi vừa kéo khóa hết cở làm cổ áo cao đến nửa gò má rồi đeo kính gọng gương vào, bước ra khỏi cửa số 02. - We'll go home right now! Find car license plates 52N - 93930. ( Chúng ta sẽ về nhà ngay bây giờ! Tìm cho tôi xe có bảng số 52N – 93930) – Giọng nói của Yến Nguyên đều đều nhưng vẫn lạnh. - Yes! ( Vâng!). Hai vệ sĩ đồng thanh rồi nhìn dáo dát xung. Sau một ít phút tìm kiếm, một trong hai vệ sĩ chỉ tay về phía chiếc Roll Royce với một tài xế trong bộ đồng phục đang đứng tìm kiếm xung quanh. Yến Nguyên bước thẳng đến chiếc xe, đi theo sau là hai vệ sĩ đang xách hành lí. - Tài xế nhà họ Nguyễn? Yến Nguyên hỏi một câu không đầu không đuôi từ phía sau khiến người tài xế giật mình. - À… Dạ! Chào… chào tiểu thư Yến Nguyên! Người tài xế nhận ra cô chủ, nghiên đầu một góc 45 độ chào cô. - I’m Sharon Nguyễn… * Quay qua hai vệ sĩ*…Returned to go! ( Trở về đi!) Yến Nguyên nói rồi bước thẳng vào xe. Gã tài xế thấy vậy cũng bước vào sau khi cất hành lí. Khi xe đã đi khuất, hai vệ sĩ bước vào bên trong, mua vé chuyến bay sớm nhất quay về Úc mà không kịp nghỉ ngơi. Tại biệt thự Nguyễn Hoàng – Căn nhà nguy nga tráng lệ của ông chủ tập đoàn đá quý số 1 châu Á Y&N, cánh cổng đồ sộ hôm nay được mở toan như đang chờ đón điều gì đó xuất hiện. Trong phòng khách lớn như chánh điện của một tòa lâu đài, một người đàn ông ngoài 40 tuổi đang đứng ngồi không yên, chốc chốc lại nhìn ra cổng khi có một chiếc xe hơi nào chạy qua. Ngồi ở bộ sofa hoàng gia màu xanh biển viền vàng là một người phụ nữ khoảng 30 tuổi, gương mặt trang điểm lòe loẹt cùng một cô gái chỉ khoảng 16-17, trang điểm và ăn mặt diêm dúa không kém. ... Mời các bạn đón đọc Tiểu Thư Hoàn Hảo Và Công Tử Lạnh Lùng của tác giả Ngân Ken.