Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Tay Sát Thủ Mù

Giữa những sát thủ mù, người thằn lằn, ma nữ, tiểu thư thượng lưu, nghệ sĩ hiện đại, tư sản học làm sang, cựu  chiến binh, thủ lĩnh công đoàn, tài phiệt… Margaret Atwood cuốn người đọc qua một câu chuyện trải hơn một thế kỷ,  hai lục địa và vài hành tinh. Từ những mảnh tưởng chừng rời rạc, Atwood đã dệt nên một tiểu thuyết đáng kinh ngạc,  thêm một lần nữa khẳng định vị thế của bà như một trong những tiểu thuyết gia đương đại hàng đầu, người kể những  câu chuyện ly kỳ một cách xuất chúng.   Nhận định   “Nghệ thuật kể chuyện vĩ đại trên quy mô lớn… Tuyệt hay.” - The Washington Post Book World   Hãy tưởng tượng vị hãn Agha Mohammed, kẻ đã lệnh đem hạ sát hoặc chọc cho mù mắt toàn bộ dân thành Kerman, không từ một ai. Đội cận vệ hăm hở bắt tay vào việc. Chúng gom cư dân thành hàng, người lớn cắt đầu, trẻ con khoét mắt… Về sau, đàn đàn lũ lũ trẻ con mù rời khỏi đô thành. Một số, sau khi xiêu dạt nơi thảo dã, lạc đường trong sa mạc mà chết khát. Số khác tìm được tới nơi người ở… hát những bài ca về cuộc tận diệt gái trai già trẻ Kerman… - RYSZARD KAPUŚCIŃSKI   Ta bơi, biển khơi vô tận, nhìn chẳng thấy bờ. Tanit nguyệt thần không biết xót thương, ta nguyện cầu, người đền đáp. Hỡi kẻ kia chìm trong bể ái, hãy nhớ về ta. - KHẮC TRÊN BÌNH TRO THỜI CARTHAGE   Lời là lửa cháy trong lòng kính tối. - SHEILA WATSON *** TAY SÁT THỦ MÙ – BẤT CẦN VÀ SAY ĐẮM Có rất nhiều điều để nói về văn chương Margaret Atwood, một tên tuổi lớn khác của văn chương Canada hiện đại (cùng với Alice Munro). Chẳng hạn như lối viết hết sức chi tiết, nghệ thuật kể chuyện tự nhiên, sống động, cách dẫn dắt tài tình hay ngôn ngữ sắc lạnh và có phần giễu cợt nhưng chứa chan tình cảm. Tuy nhiên, đáng chú ý nhất có lẽ là tính nữ đậm đạc trong các tác phẩm của bà. NHỮNG CÂU CHUYỆN CỦA BÀ GIÀ IRIS “Bà Iris Chase Griffen đã đột ngột tạ thế thứ Tư tuần trước, thọ 83 tuổi, trong ngôi nhà của mình ở cảng Ticonderoga. Bà Griffen là chị gái nữ tác giả danh tiếng người thị trấn là Laura Chase. Bên cạnh đó bà còn là con gái Đại úy Norval Chase, chắc chắn sẽ được thị trấn ghi nhớ lâu dài, và cháu nội Benjamin Chase, người sáng lập công ty Công nghiệp Chase, đã mở Nhà Máy Cúc cùng nhiều cơ sở khác. Thêm vào đó, bà là vợ ngài Richard E. Griffen quá cố, nhà công nghiệp và chính trị gia lừng danh, cũng như chị dâu bà, Winifred Griffen Prior, nhà hảo tâm Toronto vừa qua đời năm ngoái, để lại quỹ tiền thưởng hào phóng cho trường trung học thị trấn ta. Gia đình còn lại cháu gái bà là Sabrina Griffen, cô vừa về nước và nghe đồn là sắp tới thị trấn lo liệu công việc cho bà ngoại” (tr. 469) Đó là những dòng trích bản tin về cái chết của bà Iris Chase Griffen mà tờ Sứ điệp và Tinh kỳ thuộc Cảng Ticonderoga đã đưa, trong chương cận kề chương cuối cuốn tiểu thuyết Tay sát thủ mù của Margaret Atwood (An Lý dịch; Nhã Nam & NXB Hội Nhà văn ấn hành 2015). Một bản tin tóm lược, giới thiệu ngược trở lại các nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết. Laura Chase: em gái của Iris người đã qua đời ở tuổi 25, sau một tai nạn ô tô, hay có thể nói là tự lái xe lao xuống vực, để lại một bản thảo dở dang: Tay sát thủ mù. Iris, khi về già, lọm khọm, đơn độc, bị bệnh tim, luôn sống trong trạng thái bị phơi bày sự tan hoang của tuổi tác. Bà muốn náu mình, muốn quên lãng. Nhưng việc tình cờ tìm thấy bản thảo của Laura khiến quá khứ sống dậy. Từng trang bản thảo, mỗi khi giở ra, khiến bà nhớ lại, liên tưởng, ráp nối và “ngoan cường viết” như hiệu đính (những phần trong bản thảo dang dở của cô em Laura), bình luận và hoàn thiện, một cách tinh tế, hài hước, thậm chí có phần độc địa. Một thiên truyện trải dài gồm ba câu chuyện đan cài vào nhau như dệt vải kiểu ngẫu hứng, rất phong phú và bất ngờ. Từ thời thơ ấu, với những biến cố lớn lao như chuyện chiến tranh và những rung động đầu đời. Tưởng chẳng là bao, chẳng có nghĩa lý gì, nhưng khi chạm vào sột soạt trang giấy, khi chữ dẫn đường cho cảm xúc, thì Iris nhớ lại, cảm xúc cứ dâng mãi lên như nước dâng lên lòng hồ, rồi tràn bờ đập lai láng, miên man. Và dần dần hé lộ những bí mật trong cuộc đời từng nhân vật. Cấu trúc “truyện lồng trong truyện” Atwood sử dụng không phải tân kỳ gì. Nhưng đây không phải là cuốn sách đặt nặng vấn đề kỹ thuật hay cấu trúc (mặc dù nó được tác giả tính toán khá thông minh). Đây có lẽ là một tuyệt tác về văn phong, cách hành văn điêu luyện chỉ có ở những bậc thầy. Cho nên, câu chuyện dẫu dằng dặc, đôi khi có cảm giác lê thê, ảm đạm như bánh xe lửa rin rít trên đường ray ngày mưa vẫn khiến người đọc bị mê hoặc, chìm đắm. Từng câu chữ được viết ra, từng trang văn được bày biện ngập tràn cảm xúc, tỉ mẩn đến từng chi tiết. Tuy nhiên, không chỉ có vậy, văn chương Atwood vừa viễn tưởng về phía tương lai vừa phảng phất chút phong vị cổ điển u hoài. Giở bất kỳ trang văn nào, người đọc cũng có thể bắt gặp những câu, đoạn văn hay và lạ, tỉa ra những đoạn kinh điển. Một đoạn tả thời tiết: “Cái nóng mùa Hè đã về đầy đủ, vánh lại trên thị trấn như súp kem. Tiết trời sốt rét, một thời; tiết trời thổ tả. Hàng cây che đường tôi đi xòe những tán ô rũ rượi, giấy ẩm nhớp dưới tay, chữ viết đâm râu tua tủa như son môi rỉ vào đường chân chim ven khuôn miệng già cỗi. Chỉ cần leo thang đã trổ một hàng ria mồ hôi”… (tr. 48) Hoặc: “Thảm dệt ra đời này sang đời khác đều nhờ trẻ con nô lệ, bởi chỉ có ngón tay trẻ con mới đủ nhỏ cho những động tác tinh vi đến thế. Nhưng những giờ dằng dặc sít sao khiến đám trẻ lên tám hay chín là thảy mù lòa, và người bán thảm dựa vào đó mà tính toán cũng như quảng bá giá trị hàng hóa. Tấm thảm này đã khiến mười đứa trẻ mù đấy, họ rao thế”. (tr. 24) Những câu văn đầy bi phẫn và hài hước, bóc trần tất cả, từ chuyện tình yêu, hôn nhân đến chính trị, nghệ thuật, tài phiệt qua giọng kể cay độc, tưởng như vô cảm của bà già “khó ưa” Iris. Không dễ gì tìm được một tác giả có giọng văn vừa ngầu đời, bất cần mà vừa lại thi vị và say đắm như vậy. Nó dường như lột tả hết tính cách nhân vật, cô gái tên Iris với một vẻ nhu mì cam chịu nhưng ẩn chứa một nội tâm nổi loạn, cá tính ngang ngạnh tiềm tàng với khát vọng tự do. Không tâm sự hay thở than, không một chút ai oán, Iris chính là hiện thân của tính nữ, mềm mại dịu dàng nhưng không bao giờ đầu hàng hay bỏ cuộc, với sự bền bỉ âm thầm và khôn khéo. Iris là kiểu phụ nữ bao nhiêu sức mạnh lặn cả vào trong để sự nhún nhường ra mặt chiến đấu. Cô kiên cường nhưng không lộ liễu, mạnh mẽ nhưng không phô phang, nữ tính nhưng không ẻo lả. Và vì bà là một nhà thơ, nên chúng ta có một cuốn sách đầy chất thơ và tính ẩn dụ, đồng thời có một cuốn sách gai góc, đầy những vết thương. Tấm vải mà Margaret dệt nên vừa mềm mại vừa thô nhám, vừa êm ái vừa đầy vết cứa. Nó chính là thế giới được chiếu rọi từ ánh sáng phát ra phía tâm hồn những người phụ nữ, đầy nhạy cảm nhưng rất can trường. Không nhiều, nhưng đủ để quàng chiếc khăn lên mình như khát vọng của chính họ, được cuộc đời ôm ấp và vỗ về đầy dịu dàng và đau đớn. Như khoác lên mình thứ mà thế giới này ưu ái dành cho họ, là tình yêu. Một tác phẩm đáng thưởng thức, như lời Margaret mượn của Sheila Watson đề từ: Lời là lửa cháy trong lòng kinh tối. *** Mười ngày sau khi chiến tranh kết thúc, Laura em tôi lái xe lao khỏi cầu. Cầu đang sửa, nó phi thẳng qua biển báo Nguy hiểm. Chiếc xe rơi ba chục mét xuống vực, bổ qua những ngọn cây lơ thơ trổ lá, rồi cháy đùng đùng lăn xuống lòng con suối nông choèn dưới đáy. Từng tảng ván cầu lả tả rơi lên trên. Em tôi không còn lại gì ngoài tro tàn than vụn. Tôi được tin từ một viên cảnh sát: xe là xe tôi, họ tra ra biển số. Anh ta tỏ ra lễ độ: hẳn nhiên anh ta nhận ra họ Richard. Anh ta nói có lẽ bánh bị kẹt vào rãnh xe điện hoặc phanh bị hỏng, nhưng anh cũng có bổn phận báo tôi biết có hai người - một luật sư về hưu và một thu ngân ở nhà băng, toàn những người đáng tin tưởng cả - tự nhận đã chứng kiến từ đầu đến cuối. Họ cho biết Laura đã chủ động quành xe rất gắt, và đâm qua tường cầu thản nhiên cứ như đang bước trên hè xuống. Họ có nhận ra tay em tôi vẫn đặt trên vô lăng nhờ đôi găng trắng. Không phải tại phanh, tôi nghĩ. Nó có những lý do riêng. Không bao giờ giống lý do của ai khác. Về mặt đó nó tàn nhẫn vô cùng. “Tôi nghĩ các anh cần người nhận dạng,” tôi nói. “Tôi sẽ cố gắng xuống đó ngay khi được.” Tôi nghe giọng mình vang lên bình tĩnh, như từ xa vọng lại. Thực tế tôi hầu như không thốt được thành lời; miệng tôi tê dại, mặt sắt lại vì đau. Cảm giác như vừa đi nhổ răng. Tôi tức muốn điên vì việc Laura đã làm, và còn vì viên cảnh sát cả gan ám chỉ nó đã làm thế. Một luồng gió nóng đang cuộn quanh đầu tôi, những cọng tóc bị bốc lên ngoằn ngoèo trong gió, như mực loang trong nước. “Tôi e rằng sẽ có điều tra, thưa bà Griffen,” anh ta nói. “Tôi hiểu mà,” tôi đáp. “Nhưng đây là tai nạn thôi. Em gái tôi chưa bao giờ lái xe thành thạo cả.” Tôi hình dung khuôn mặt trái xoan của Laura, búi tóc cài trâm gọn, chiếc áo chắc hẳn nó mặc lúc ấy: áo chẽn eo cổ tròn khoét hẹp, một màu nghiêm nghị - xanh nước biển hoặc xám ánh thép, hoặc lá cây thứ màu hành lang bệnh viện. Những màu thống hối - nhìn không giống đồ tự chọn, mà như đồ ép mặc trước khi nhốt lại. Nụ cười nửa miệng nghiêm trang; đôi mày nhướng lên kinh ngạc, như là nó đang chiêm ngưỡng khung cảnh trước mắt. Găng tay trắng - cử chỉ học của Pontius Pilatus[1]. Nó đang rửa tay cho sạch khỏi tôi. Khỏi tất cả chúng tôi. Nó nghĩ gì khi chiếc xe bay bổng khỏi cầu, lơ lửng giữa hoàng hôn đầy nắng, lấp loáng như cánh chuồn trong khoảnh khắc nín hơi trước lúc bổ nhào? Nghĩ tới Alex, tới Richard, tới lòng man trá, tới cha chúng tôi và cuộc lụn bại của ông; có lẽ là tới Chúa, và cuộc thỏa thuận tay ba chết người của nó. Hay tới tập vở học trò rẻ tiền hẳn nó đã giấu vừa sáng hôm ấy, trong ngăn để tất của tôi, vì biết tôi sẽ là người tìm thấy. Khi viên cảnh sát đi rồi tôi lên lầu thay áo. Muốn tới nhà xác tôi cần găng tay, và mũ có mạng. Để che đôi mắt. Có thể sẽ có nhà báo. Tôi sẽ phải gọi tắc xi. Cũng cần báo trước cho Richard lúc này đang ở văn phòng; chắc sẽ muốn chuẩn bị trước vài lời ai điếu. Tôi vào phòng thay đồ: cần có đồ đen, và khăn tay nữa. Tôi mở ngăn kéo, nhìn thấy tập vở. Tôi tháo nắm chun chằng chịt buộc ngoài. Tôi nhận ra răng mình đang va lập cập, người mình đang lạnh từ đầu đến chân. Chắc đang bị sốc, tôi kết luận. Trong đầu tôi lúc đó nhớ lại Reenie, từ hồi chúng tôi còn nhỏ. Luôn là Reenie lo lấy bông băng, băng những vết trầy xước hay đứt tay và các thương tích lặt vặt khác: mẹ đang nghỉ, hoặc đi làm việc thiện ở đâu đó, nhưng Reenie thì luôn có mặt. Chị sẽ túm lấy chúng tôi đặt ngồi lên bàn men trắng trong bếp, cạnh chỗ bột làm bánh đang nhào hay con gà đang chặt hoặc con cá đang làm ruột, và dúi cho cục đường đen để chúng tôi ngậm miệng. Nói xem đau ở đâu nào, chị bảo. Đừng có rú lên nữa. Bình tĩnh lại rồi bảo cho tôi đau ở đâu. Nhưng có những người không thể nói được đau ở đâu. Không thể bình tĩnh lại. Thậm chí không thể ngừng rú lên. Mời các bạn đón đọc Tay Sát Thủ Mù của tác giả Margaret Atwood & An Lý (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Đêm Kinh Hoàng - Trọng Danh
N hững cụm mây đen trắng trĩu hơi nước, tập trung rất thấp trên bầu trời thành phố. Cơn mưa hăm dọa từ sáng tinh sương, thoắt cái nó đổ ập như thác trút. Đứng chen chút trong số đông hành khách chờ đợi con tàu, Thùy mang tâm trạng bồn chồn lo lắng. Là cô nữ sinh được thầy thương bạn quý và bố mẹ cưng chiều, Thùy quyết dành trọn kỳ nghỉ hè này để đi Quảng Nam. Do đâu Thùy quyết định như vậy? Đơn giản vì cô muốn đến các vùng sâu vùng xa trong cả nước để hòa nhập với đồng bào, cùng chia sẻ cuộc sống. Tuy nhiên, cô linh cảm trong chuyến dã ngoại này, mình sẽ phải đương đầu những việc không báo trước điều tốt lành. Mới sáng nay thôi, khi ngồi trên chiếc xe taxi từ nhà đến ga tàu hỏa thành phố, Thùy mơ hồ ngay việc này. Hình như mình đang bị theo dõi. Cô bé cố gắng thu hết sức lực để tìm hiểu lý do nhưng vô hiệu. Dù vậy, cô vẫn giữ ý định tiến bước cuộc hành trình. Đứng cách Thùy không xa, một thiếu niên cũng mang tâm trạng bồn chồn nôn nóng. Cậu đang chờ một người bạn để cùng lên tàu ra Bắc, làm một chuyến du lịch. Hùng và Việt là hai bạn thân, cùng học hết cấp ba và cùng một sở thích như nhau: Ham tìm tòi học hỏi vậ tò mò tìm hiểu những chuyến đi ly kỳ của người khác. Bất chấp những giọt mưa bắn tung tóe lên quần áo. Việt - tên của cậu thiếu niên - đi đi lại lại trên sân ga, miệng làu bàu: - Đã 11 giờ qua năm vẫn không thấy tăm hơi. Trễ mất! .... Mời các bạn đón đọc Đêm Kinh Hoàng của tác giả Trọng Danh.
Giấc Ngủ Dài - Raymond Chandler
Khi một triệu phú sắp chết thuê thám tử Phillip Marlowe điều tra kẻ tống tiền một trong hai cô con gái gây nhiều rắc rối của ông ta, chính Marlow đã phát hiện ra những rắc rối còn hơn cả vụ tống tiền. Bắt cóc, khiêu dâm, cám dỗ và giết người chỉ là một trong số ít những rắc rối mà anh ta đã tìm ra. "Tác giả Chardler dường như đã tạo hình ảnh người hùng Mỹ lên đến cực điểm: khôn ngoan, triển vọng, thâm trầm, phiêu lưu, đa cảm, giễu cợt và nổi loạn". "Đó là buổi sáng một ngày giữa tháng Mười, khoảng 11 giờ. Mặt trời chưa ló ra sau cơn mưa nặng hạt, bầu không khí quang đãng, sạch sẽ phía chân đồi. Tôi mặc bộ comple màu xanh thuốc súng, với áo sơ mi xanh sẫm, cà vạt và đeo một chiếc khăn quàng cổ, đi đôi giày đen dành cho những người leo núi, bên trong là đôi tất len màu đen có hai chiếc đồng hồ phía trên. Tôi ăn mặc gọn gàng, sạch sẽ, hoàn toàn tỉnh táo và đã cạo râu nhẵn nhụi. Nhưng tôi cũng chẳng quan tâm là có ai biết điều đó hay không. Tôi là vị thám tử tư ăn mặc hoàn chỉnh, lịch lãm nhất với những gì mà một vị thám tử cần phải chuẩn bị. Tôi đang chuẩn bị một công việc trị giá 4 triệu đô la. Đại sảnh của nhà Sternwood cao hai tầng. Trên cánh cửa lớn có thể dành cho cả một đoàn voi Ấn Độ đi qua, có một tấm kính rộng với hình một hiệp sĩ phía trên trong bộ áo giáp màu sẫm đang cứu một cô gái có mái tóc dài bị cột chặt vào cây không hề có quần áo trên người. Tấm kính che mặt của chiếc mũ được hiệp sĩ đẩy ngược về phía sau tạo vẻ gần gũi, anh ta đang cầm những nút thắt trên sợi dây thừng, công việc ấy chẳng đi đến đâu cả. Tôi đứng đó và nghĩ, nếu mình sống trong ngôi nhà này thì sớm hay muộn tôi cũng trèo lên đó và giúp anh chàng hiệp sĩ. Dường như anh ta không thực sự cố gắng lắm. Phía sau của đại sảnh có những cánh cửa kiểu Pháp. Phía xa là một dải cỏ lớn màu lục tươi kéo dài tới chiếc gara màu trắng, trước gara, một người lái xe trẻ tuổi, gầy gò với mái tóc sẫm mặc chiếc quần xà cạp màu đen bóng loáng đang lau chùi một chiếc xe Packard có thể bỏ mùi màu hạt dẻ. Cách gara một đoạn, mấy cây cảnh được tỉa rất cẩn thận như những con chó xù. Phía xa là một ngôi nhà rộng, mái vòm màu xanh lá cây. Và có mấy cái cây  nữa, xa hơn tất cả là những ngọn đồi vững chãi, nhấp nhô. Ở phía đông đại sảnh có một cầu thang tự do lát gạch dẫn tới một phòng dài có rào sắt và tới một đồ vật lãng mạn khác làm bằng thủy tinh. Những chiếc ghế lớn đệm nhung lông được khoảng không của chiếc tường xung quanh bao bọc, có vẻ như là chưa ai từng ngồi lên những chiếc ghế đó. Giữa bức tường phía tây có một lò sưởi lớn rỗng với một tấm bình phong bằng đồng trong bốn tấm ván nối với  nhau bằng bản lề, mặt lò sưởi nạm đá hoa cương với hình thần tình yêu ở các góc. Trên mặt lò sưởi có một bức chân dung thật lớn, phía trên là hai lá cờ kị binh đã bị mối ăn hay bị đạn xé rách căng ngang khung tranh bằng thủy tinh. Đó là bức chân dung một quân nhân thuộc trung đoàn trong thời kì chiến tranh Mexico đang đứng trong tư thế rất cứng nhắc...". *** Raymond Chandler, là người đồng thời với Agatha Christie và Dashiell Hammett, hai đại diện lớn của tiểu thuyết trinh thám, có thể nói ông là người thứ ba có vị trí “ngang ngửa” so với hai tác giả này mặc dầu 45 tuổi mới được biết đến và tác phẩm để lại không nhiều như các đồng nghiệp khác.   Tên đầy đủ của ông là Raymond Thornton Chandler. Ông sinh ngày 23/7/1888 tại Chicago, bang Illinois. Năm 18 tuổi, ông sang Paris (Pháp), rồi sang Đức nghiên cứu ngôn ngữ và luật quốc tế. Mùa xuân năm 1907, ông nhập quốc tịch Anh. Trước khi trở thành một nhà văn chuyên nghiệp, Chandler làm đủ nghề: đầu tiên ông làm phóng viên cho tờ Tin nhanh hàng ngày ở London, rồi làm thơ, viết kịch ngắn, viết báo, dịch thuật cho các tạp chí. Năm 24 tuổi, ông về Hoa Kỳ, đi khắp Los Angeles làm những việc lặt vặt. 25 tuổi, qua một khóa học thủ thư, ông giữ chân thủ thư và kế toán cho một hãng bột sữa. Vào nửa cuối Thế chiến I (1917 – 1918), ông đăng lính trong lực lượng viễn chinh Canada, sang Pháp, rồi lại chuyển sang Không quân Hoàng gia. Sau khi giải ngũ, ông làm việc cho một ngân hàng Anh ở San Francisco. Ba năm sau, ông lại làm thủ thư và kiểm toán cho tập đoàn dầu mỏ Dabney, và nhanh chóng được thăng chức Phó chủ tịch. Thế nhưng 10 năm sau, ở tuổi 44, ông bị đuổi việc vì uống rượu và hay bỏ việc. Phải đến tuổi 45, sau khi công bố truyện trinh thám đầu tiên Vụ tống tiền không tiếng súng, ông mới chấm dứt giai đoạn lang thang làm đủ mọi nghề để chuyên tâm viết văn. Năm 31 tuổi, ông quan hệ với một người đàn bà đã có chồng, tên là Pearl Cecily Hurburt, và 5 năm sau, họ mới kết hôn. Lúc này Hurburt đã ở tuổi… 54, hơn ông 18 tuổi. Họ sống với nhau đúng 30 năm thì bà mất (1954). Các nhà viết tiểu sử Chandler sau này đều thừa nhận rằng cuộc đời ông còn rất nhiều khoảng trống bí ẩn, nhất là vì ông cứ nay đây mai đó, thay đổi chỗ ở liên tục. Hơn nữa, ông lại là người có hai quốc tịch, là dân Anh đến 49 năm, và chỉ ba năm trước khi mất (1956), ông mới trở lại quốc tịch Hoa Kỳ. Nhưng ai cũng thừa nhận rằng ông kiếm sống khá vất vả, nhất là trong những năm đầu trở thành nhà văn trinh thám chuyên nghiệp. Vì hai lý do: ông chưa bao giờ là một văn sĩ viết nhiều và thời gian đầu, khoảng năm sáu năm sau cuộc đại khủng hoảng kinh tế, nhuận bút cũng rất thấp. Những hóa đơn, chứng từ thanh toán của ông còn sót lại, cho thấy năm 1936, ông kiếm được 1.500USD nhuận bút từ 5 truyện ngắn. Mời các bạn đón đọc Giấc Ngủ Dài của tác giả Raymond Chandler.
Điều Lệnh Thứ 11 - Jeffrey Archer
Nếu mafia bảo vệ vương quốc của mình bằng luật Omerta (im lặng) thì CIA (Cục tình báo Trung ương Mỹ) biết che giấu những bí mật của mình bởi “Điều lệnh thứ 11”. Tiểu thuyết kể về cuộc đời của Connor Fitzgerald, một sát thủ bí mật của CIA. Suốt 28 năm trời, con người này sống cuộc đời hai mặt, vừa tỏ ra là một công dân đứng đắn, tôn trọng pháp luật, vừa bí mật thực hiện những vụ ám sát theo đơn đặt hàng của CIA. Gã đã từng là kẻ săn đuổi, nhưng cuối cùng lại trở thành kẻ bị săn đuổi bởi đã biết quá nhiều điều bí mật của chủ nhân. Mọi thứ đều có giới hạn, vậy giới hạn của “Điều lệnh thứ 11” ở đâu? *** Jeffrey Archer (sinh ngày 15/04/1940) là nhà văn người Anh và cũng là một chính trị gia. Ông từng là một thành viên Quốc hội (1969-1974), và Phó Chủ tịch Đảng Bảo thủ (1985-1986). Jeffrey Archer sáng tác cuốn tiều thuyết Hai số phận (có tên gốc tiếng Anh là Kane and Abel) vào năm 1979. Tựa đề “Kane and Abel” dựa theo câu chuyện của anh em Cain và Abel trong Kinh Thánh Cựu Ước. Tác phẩm được xuất bản tại Vương quốc Anh vào năm 1979 và tại Hoa Kỳ vào tháng 2 năm 1980 và cuốn sách đã được phổ biến trên toàn thế giới. Sách đạt danh hiệu sách bán chạy nhất theo danh sách của từ New York Times và năm 1985 nó được đưa lên chương trình truyền hình miniseries của CBS cũng với tên là Kane & Abel. Một số tác phẩm của tác giả Jeffrey Archer đã được dịch xuất bản tại Việt nam: Kẻ Mạo Danh Không Hơn Một Xu Không Kém Một Xu Vượt Lên Hàng Đầu Điều Lệnh Thứ Mười Một Luật Giang Hồ Hai số phận Bước Ngoặt Trong Câu Chuyện Quyền Lực Thứ Tư Ấn Tượng Sai Lầm ... *** Gã vừa mở cửa thì tiếng chuông báo động vang lên. Đó là thứ sai lầm chỉ có thể tin là của một tay không chuyên nghiệp, vì thế thật đáng ngạc nhiên bởi vì Connor Fitzgerald được các đồng nghiệp đánh giá là chuyên gia của các chuyên gia. Fitzgerald nghĩ rằng phải mất nhiều phút sau cảnh sát địa phương mới có những phản ứng với một tay trộm đêm ở quận San Victoria. Vẫn còn hai giờ nữa mới đến giờ bắt đầu trận đấu hàng năm với Brazil nhưng một nửa số tivi ở Colombia đã được bật sẵn. Nếu như Fitzgerald đột nhập vào tiệm cầm đồ đó sau khi trận đấu bắt đầu thì có thể phải chờ đến khi trọng tài thổi còi chấm dứt cảnh sát mới bắt đầu động đậy. Ai chẳng biết rằng Cơ quan hình sự địa phương dán mắt vào trận đấu trong suốt chín mươi phút tuần tra. Nhưng các kế hoạch của gã cho chín mươi phút đó sẽ khiến cho cảnh sát phải truy đuổi trong nhiều ngày. Và sẽ có thể là hàng tuần, hàng tháng trước khi ai đó tìm ra được những dấu ấn đặc biệt trong cuộc đột nhập vào buổi chiều Chủ nhật hôm đó. ... Mời các bạn đón đọc Điều Lệnh Thứ 11 của tác giả Jeffrey Archer.
Biểu Tượng Thất Truyền - Dan Brown
Sách Nói Biểu Tượng Thất Truyền Bán hết một triệu bản ngay trong buổi phát hành đầu tiên và được xuất bản tại bốn mươi sáu quốc gia, Biểu tượng thất truyền đã tạo nên cơn sốt cho các độc giả trên khắp thế giới.  Cuốn sách đưa người đọc song hành cùng nhà biểu tượng học lừng danh Robert Langdon trong cuộc hành trình tới thủ đô nước Mỹ và khám phá bức màn bí ẩn về Hội Tam Điểm - một hội kín có lịch sử lâu đời, cuốn quanh mình vô vàn biểu tượng và truyền thuyết kỳ bí. Trên thực tế, toàn bộ câu chuyện chỉ diễn ra trong vỏn vẹn mười hai tiếng, địa điểm chỉ khoanh vùng ở thủ đô Washington, nhưng không gian và thời gian xây dựng trên ký ức nhân vật lại bao trùm suốt chiều dài lịch sử, tôn giáo, triết học, lý luận, giả kim và nghệ thuật của cả đất nước.  Báo chí ca ngợi tác phẩm là cuộc khám phá những bí mật cổ kim đầy lý thú, là cuốn Bách khoa toàn thư về kiến thức và là văn phẩm hấp dẫn vì tính gay cấn điện ảnh. Nhưng trên tất cả, Biểu tượng thất truyền chính là một hành trình hồi tưởng và truy nguyên, là lời nhắc nhở thế nhân về những điều họ đã bỏ quên trong quá khứ. Hơn lúc nào hết, đồng hành với những phát minh tương lai, con người cũng cần chấn hưng hiểu biết và tiếp bước thành tựu của tiền nhân trước khi chúng thất truyền mãi mãi.  *** Dan Brown  là một nhà văn Mỹ chuyên viết tiểu thuyết hư cấu, nổi tiếng với tác phẩm gây tranh cãi Mật mã Da Vinci xuất bản năm 2003 và gần đây nhất là tác phẩm Địa ngục (Inferno), lấy bối cảnh thành phố Florence của Ý. Một tháng sau khi phát hành, quyển tiểu thuyết Địa ngục của nhà văn Dan Brown đã bán được chín triệu bản tại 13 nước trên thế giới. Có thể chắc chắn một điều rằng dù là một fan trung thành hay một độc giả thờ ơ với các tiểu thuyết trinh thám, cái tên Dan Brown ắt hẳn cũng vẫn ít nhiều để lại ấn tượng trong mỗi người đọc. Sở hữu cuốn sách bán chạy nhất nhì làng văn học hiện đại với hơn 80 triệu bản in - hiện tượng của dòng tiểu thuyết trinh thám - lịch sử Mật mã Da Vinci, cùng những tựa sách gây sốt trên toàn thế giới nhưThiên thần và Ác quỷ hay mới đây nhất là Biểu tượng thất truyền, nhà văn người Mỹ đã nhanh chóng trở nên nổi tiếng và được hàng triệu độc giả yêu thích cũng như hâm mộ.   Các tác phẩm của Dan Brown:  - Pháo đài số (Digital Fortress), 1998 - Thiên thần và ác quỷ (Angels and demons), 2000 - Điểm dối lừa (The deception point), 2001 - Mật mã Da Vinci (The Da Vinci code), 2003 - Biểu tượng thất truyền (The Lost Symbol), 2009 - Hỏa Ngục (Inferno), 2013    - Nguồn Cội (Origin), 2018 Mời các bạn đón đọc Biểu Tượng Thất Truyền của tác giả Dan Brown.