Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Tâm Lý Tội Phạm (Lôi Mễ)

Hầu hết các nhà văn nổi tiếng thế giới thành danh ở thể loại trinh thám hình sự đều không xuất thân từ ngành công an. Lôi Mễ là một hiện tượng đặc biệt. Ở tuổi ngoài 30, anh là sĩ quan cảnh sát cấp phòng (sở), giảng dạy bộ môn Hình pháp học tại một trường cảnh sát trực thuộc Bộ Công an Trung Quốc. Lôi Mễ vào làng văn trinh thám hình sự hơi muộn so với nguyện vọng của mình. Ngay từ thuở nhỏ, anh đã tập tành viết sách nhưng phải đến năm 2006, anh mới xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên Độc giả thứ 7 và ngay sau đó là liên tiếp 3 tác phẩm: Đề thi đẫm máu, Cuồng vọng phi nhân tính và Sông ngầm. Dù số lượng chưa nhiều, chỉ với những tác phẩm trên, Lôi Mễ đã được xếp hạng trong số những nhà văn trinh thám hình sự nổi tiếng của Trung Quốc.

Nếu như phần lớn tác giả trinh thám trên thế giới nói chung và Trung Quốc nói riêng đều là dân ngoại đạo, không phải là người trong ngành an ninh thì Lôi Mễ là một trong những trường hợp hiếm hoi ngược lại. Anh chẳng những có thâm niên trong công tác điều tra hình sự mà còn tham gia giảng dạy chuyên ngành này trong một trường cảnh sát. Chính vì thế, ngay từ tác phẩm đầu tay của mình, Lôi Mễ đã chứng tỏ khả năng vượt trội so với những tác giả viết truyện trinh thám hình sự khác. Đọc Lôi Mễ, người ta không tìm thấy sự rùng rợn, ly kỳ mang bóng dáng của ma quỷ nhưng lại bắt gặp hình ảnh của những tội phạm còn ghê tởm rùng rợn hơn.

Với sức hấp dẫn của hơn 1 vạn bản được bán chóng vánh sau khi phát hành tại Việt Nam của cuốn “Đề thi đẫm máu”, nhà văn viết truyện trinh thám hình sự nổi tiếng Lôi Mễ tiếp tục trình làng phần hai trong seri tâm lý tội phạm “Cuồng Vọng Phi Nhân Tính”.

Lôi Mễ là giảng viên một trường Đại học Cảnh sát của Trung Quốc. Do đặc thù nghề nghiệp, tác phẩm của anh rất chuyên nghiệp, cẩn mật, rất đáng để tìm đọc. Seri Tâm lý tội phạm khiến anh nổi danh như cồn, được độc giả đón nhận nồng nhiệt, các fan đều gọi anh là “thầy”.

Các tác phẩm trong Series Tâm lý tội phạm của Lôi Mễ: Tìm mua: Tâm Lý Tội Phạm TiKi Lazada Shopee

- Độc Giả Thứ 7

- Đề thi đẫm máu

- Cuồng vọng phi nhân tính

- Sông ngầm

- Ánh sáng thành phố

Lưu Hà xin phép được đăng bài Tạp đàm của Lôi Mễ, bài này được đăng sau khi tác giả viết xong cuốn "Giáo hóa trường" bài viết nói lên suy tư sâu sắc của tác giả về hệ tư tưởng cũng như đường hướng cho tác phẩm của mình, những nội dung này có ảnh hưởng rất lớn tới các tác phẩm về sau này của Lôi Mễ.

Sau khi viết xong cuốn “Chân dung” (Đề thi đẫm máu), tôi bị lâm vào một cuộc khủng hoảng sáng tác không lớn cũng không nhỏ. Vấn đề đau đầu nhất với tôi là: Tiếp theo tôi sẽ viết cái gì đây.

Cố sự của Phương Mộc vẫn chưa đến hồi kết, cậu ta vẫn phải tiếp tục đi. Nhưng cậu ta đã không còn là nhân vật mà tôi vô tình sáng tạo ra nữa. Trên một phương diện nào đó Phương Mộc đã hoàn toàn muốn bứt ra khỏi tôi. Hay nói cách khác tôi đã không thể tự do an bài vận mệnh của cậu ta nữa. Cậu ta giống như đang đứng dậy từ trong trang sách, bước qua cánh cửa hòa vào dòng ngựa xe tấp nập bên ngoài thành phố. Thỉnh thoảng cậu ta sẽ vô tình ghé lại, chỉ bảo tôi: Lôi Mễ ông phải thế nào, viết ra sao.

Vì thế, tôi chợt nghĩ tới một câu của Lưu Ngọc Phổ tiên sinh “Khi tác giả đạt đến một trình độ nhất định, thì tác giả không cần phải dẫn dắt tình tiết mà tình tiết sẽ tự dẫn dắt trước tác đi”. Đứng trên góc độ này mà xem xét, tôi hẳn là phải cảm thấy thỏa mãn vì tôi đã đạt đến “Trình độ nhất định” kia của một tác giả. Nhưng có điều Phương Mộc, cậu ta sẽ đi như thế nào đây?.

Vì thế cần phải quay trở lại căn nguyên của vấn đề: Anh, rốt cuộc muốn biểu đạt cái gì?

Một ngàn người Trung Quốc thì có một ngàn William Shakespeare (nhà văn nổi tiếng người Anh). Cũng vì thế tác phẩm của tôi ở trong mắt những người khác nhau, về loại hình cũng trở thành hoàn toàn khác nhau: Tiểu thuyết huyền nghi, tiểu thuyết trinh thám, tiểu thuyết kinh dị hay là loại khác. Nói thật, đối mặt với vấn đề này ngay chính bản thân tôi cũng cảm thấy có chút mơ hồ. Thậm chí có thể nói, ngay từ đầu tôi đã hoàn toàn không đặt ra vấn đề này. Chỉ có điều đối với một người viết nghiệp dư như tôi mà nói, cái gọi là kỹ xảo, kết cấu, bày ra rồi đan chéo các manh mối, tất cả tôi cũng chưa từng nghĩ qua. Ý nghĩ của tôi rất đơn giản: Viết cho xong, cố gắng hết sức viết cho thật hay.

Nếu có thể cho phép tôi tự lựa chọn thể loại tiểu thuyết cho tác phẩm của mình, tôi xin phép gọi nó là: “Tiểu thuyết phạm tội”

“Phạm tội”, vô cùng hấp dẫn lại vô cùng tà ác

Xác định có tội hay không có tội và tội danh cụ thể là công việc hàng ngày của tôi, cho nên từ cổ chí kim, hiện tượng xã hội này đối với tôi mà nói cũng không xa lạ gì. Chỉ có điều tôi muốn dùng văn chương bắt nó phải hiển hiện ra bên ngoài, không đơn giản chỉ vì muốn đem nó ra triển lãm, mà thực lòng cũng muốn qua nó để biểu đạt một cái gì đó. Nhưng “là cái gì”, rốt cuộc là cái gì, tôi cũng không biết. Loại cảm giác này nếu nói theo nghĩa rộng thì là sứ mệnh của tác giả với xã hôi, nói theo nghĩa hẹp thì là cái hồn của tác phẩm. Nhưng cho tới nay, tôi vẫn thực sự chưa bắt được loại cảm giác này, mà chính bản thân tôi lại đang bị nó bắt. Tỉnh tỉnh, mê mê tiến lên phía trước, đắp nặn bao nhiêu nhân vật, giảng giải bao nhiêu chuyện xưa, sau đó chỉ vào bọn họ nói “Này, được rồi, đây là tiểu thuyết phạm tội”

Vì thế tôi cũng thấp thỏm lo âu đôi chút, tôi bắt đầu hoài nghi những điều tôi viết, tôi thử theo chân bọn họ thăm dò: “Các người đến đây, rốt cuộc là vì cái gì?”

Sau khi “Chân dung” ra mắt, nhiều độc giả đã rất nhiệt tình và tâm huyết đưa ra các bình luận tại trang mà Ban biên tập đã ưu ái lập cho tôi. Xin chân thành cảm tạ các bạn đã không quản ngại công việc bận rộn, bớt chút thời gian phát biểu cảm tưởng với bộ tiểu thuyết thô thiển này. Những cảm tưởng đó đã mang lại cho tôi niềm vui thật lớn, đọc chúng, tôi vô cùng vui sướng, tự đắc, niềm vui đó cứ bám theo tôi mãi.

Có một đoạn như thế này đã thực sự khiến tôi rung động:

Lôi Mễ muốn kiến giải về cuộc sống đô thị, đem cốt truyện huyền nghi xa xưa xâm nhập vào đô thị. Dùng cái tốt và xấu, thiện và ác, thật và giả để giải thích về xã hội hiện đại. Có điều vấn đề lớn nhất là: Người chiến đấu cùng quái thú cũng cần đề phòng một ngày chính mình lại biến thành quái thú. Nếu suốt một thời gian dài bạn luôn luôn nhìn xuống vực sâu, và như vậy vực sâu cũng nhìn lên bạn. Thần thám cũng không thể đi sắm vai thượng đế, và rồi hắn cũng sẽ bị đô thị này, quái thú được thả ra từ chiếc hộp Pandora * (Trong thần thoại Hy Lạp, sự tích về chiếc hộp Pandora kì bí đã để lại cho nhân gian những điều thú vị và hấp dẫn. Theo truyền thuyết, đó là một chiếc hộp mà các vị thần trên đỉnh núi Olympus đã tặng cho nàng Pandora - người phụ nữ đầu tiên đến thế giới loài người. Nàng Pandora đã được các vị thần dặn kĩ rằng không được mở chiếc hộp đó ra. Nhưng với sự tò mò cua mình, Pandora đã mở chiếc hộp ra và tất cả những gì trong chiếc hộp kì bí đó đã khiến cho tất cả những điều bất hạnh tràn ngập khắp thế gian: thiên tai, bệnh tật, chiến tranh… và chiếc hộp chỉ còn sót lại một chút “ hy vọng” mang tên Pandora cho loài người để có thể tiếp tục sống.) hấp dẫn. Cho nên Phương Mộc và Tôn Phổ đôi khi giống nhau như huynh đệ, lại cũng có khi lại giống như một người bắc cực, một người nam cực.

Vì người biên tập đã cắt đi một số trang của Cố sự này nên đã vô cùng ảnh hưởng (nguyên gốc là: đặc biệt tổn hại) tới khả năng nắm bắt tâm lý Tôn Phổ của độc giả. Điều này đối với các độc giả có tâm chắc có thể bù đắp bằng sách báo. Thế nhưng đối với Phương Mộc từ bản gốc “Độc giả thứ bảy” tới huyền nghi cố sự “Chân dung” đã hoàn toàn trở thành con người mới, từng trải và kinh nghiệm hơn. Đó chính là con người mà chúng tôi cần, Holmes của chúng tôi, người có thể cởi những nút thắt của xã hội, mở những nút thắt trong lòng chúng ta. Sau đó dùng trí tuệ cao minh của mình cho chúng ta nhìn rõ con quái thú mang tên “Đô thị”. Nhìn rõ rồi mới có bình an, mới có dũng khí và trí tuệ, mở cửa chống trộm ra, đi qua vô số camera theo dõi ở các tiểu khu, đi thẳng tới những khu huyên náo, ồn ã tại ngã tư đường.

Tôi đọc đoạn văy này trong máy tính cá nhân hết lần này đến lần khác, không khoa trương một chút nào- lúc đó tôi đã “Lệ nóng lưng tròng”.

Tôi nghĩ đến một số việc kỳ quái ở văn phòng, rất nhiều buổi chiều, tôi thường núp đằng sau cửa sổ đọc sách. Bên này cửa kính là căn phòng kính màu trà trong suốt. Qua cánh cửa kính nhìn ra ngoài, thành phố buổi chiều bày ra một màu xám. Tôi thường ngóng nhìn lên ngọn pháp cao phía xa xa, cây cối và dòng người đi lại tấp nập, đoán thử xem thành phố có phải giống như tôi đã nhìn thấy hay không?

Đúng vậy, thành phố, trong mắt tôi thành phố, màu xám.

Rốt cục tôi cũng hiểu vì sao tôi thường ngồi trong xe taxi nhìn những gương mặt người lướt qua cửa kính. Xem trên mặt họ là sự bình tĩnh, vui sướng, kích động hay phẫn nộ.

Rốt cục tôi cũng hiểu được vì sao tôi thường dừng chân trên đường quan sát bọn trẻ con đuổi nhau dưới tán cây, chú ý lắng nghe từng tiếng hét chói tai của bọn chúng.

Rốt cục tôi cũng hiểu được vì sao tôi lại có thể cảm thụ được tỷ mỷ cảm giác mưa xối vào tóc, cảm thụ gió luồn qua tay áo thổi khô làn da, cmar thụ băng tuyết chậm rãi hòa tan trong tay.

Rốt cục tôi cũng hiểu được vì sao tôi lại có thể bình tĩnh đối diện với những điều không bình thường của nhân loại, lật giở và phân loại từng tội ác.

Có thể cò kè mặc cả với tiểu thương ở chợ, có thể ngồi buôn chuyện với vợ bình phẩm một người nào đó từ đầu đến chân, có thể dưa lê với bất kỳ ai về bóng đá hay thời tiết, có thể cho phép mình thoải mái chìm vào giấc ngủ về đêm.

Bởi vì tao đã sớm quen thuộc mày, thậm chí muốn dung nhập mày thật sâu.

Bây giờ tao thực lòng muốn nói với mày: “Thành phố của ta”

Tôi nghĩ, chúng ta còn sống lâu trên cuộc đời này, đôi khi có lẽ chính là để chờ đợi một lần gặp nhau, một câu nói, một ánh mắt cũng giống như khi nàng gặp một thanh kẹo, nàng nói “tao thích mày”. Như khi tôi gặp được Lưu Ngọc Phổ tiên sinh, ông ta nghiêm túc nhìn tôi nói: Cậu, rất có thiên phú. Hay như khi tôi gặp Trịnh Bảo Khiết tiên sinh, cậu ta nói với tôi: Rémi, (Lôi Mễ) thành phố này sẽ là của cậu.

Vì thế tôi phải cám ơn Trịnh Bảo Khiết tiên sinh, cậu ta đã nhìn rõ hết thảy để khiến tôi phải hạ quyết tâm thay đổi kế hoạch sáng tác của mình, quyết định viết bộ “Sông ngầm” là bộ thứ tư của Phương Mộc hệ liệt. Giúp cho tôi có thêm nhiệt huyết để hoàn thành bộ tiểu thuyết về thành thị “Giáo hóa trường”. Xét trên một góc độ nào đó mà nói thì không có Trịnh Bảo Khiết tiên sinh sẽ không có “Giáo hóa trường”.

Có một buổi chiều câu đầu tiên tôi nghe được từ miệng của Trịnh Bảo Khiết tiên sinh là cậu ta cho tôi biết cậu ta đang sắp chết cóng trong bồn tắm đọc xong cuốn “Giáo hóa trường”. Nhắc đến đoạn này tôi lại Ha ha..

Chẳng nói được gì nữa.Dưới đây là những tác phẩm đã xuất bản của tác giả "Lôi Mễ":Tâm Lý Tội PhạmSông NgầmTâm Nguyện Cuối CùngĐề Thi Đẫm Máu

Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Tâm Lý Tội Phạm PDF của tác giả Lôi Mễ nếu chưa có điều kiện.

Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.

Nguồn: thuviensach.vn

Đọc Sách

Sự An Ủi Của Triết Học (Ngô Thu Hương)
Mấy năm trước, vào một mùa đông New York lạnh buốt, có một chiều rảnh rỗi trước khi bay đi London, tôi lang thang trong một phòng tranh vắng vẻ nằm ở tầng trên của Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan. Căn phòng sáng trưng và ngoài tiếng kêu ro ro của hệ thống sưởi dưới sàn thì nó hoàn toàn yên tĩnh. Sau khi đã chán những bức họa trong các bộ sưu tập trường phái Ấn tượng, tôi đi tìm quán cà phê với hy vọng sẽ được uống một cốc sữa sô cô la kiểu Mỹ mà thời đó tôi cực kỳ thích. Đúng lúc ấy, tôi bắt gặp một bức tranh sơn dầu, phần chú thích ghi nó được vẽ tại Paris mùa thu năm 1786 bởi họa sĩ 83 tuổi Jacques-Louis David. Socrates, sau khi bị dân chúng Athens kết án tử hình, đang chuẩn bị cầm cốc thuốc độc, vây quanh ông là những người bạn đang đau khổ. Mùa xuân năm 399 trước Công nguyên, ba công dân Athens đã khởi kiện dân sự chống lại nhà triết học này. Họ buộc tội ông không tôn thờ các vị thần của thành quốc, truyền bá những tôn giáo mới và làm hư hỏng thanh niên Athens - và với những tội nghiêm trọng như vậy, họ yêu cầu kết án tử hình. Socrates đáp lại với sự thanh thản đã trở thành huyền thoại. Mặc dù được cho cơ hội để từ bỏ triết lý của mình tại tòa, ông đã kiên định với điều mình tin là đúng hơn những điều mà ông biết là phổ biến. Theo Plato, Socrates đã ngạo nghễ nói với bồi thẩm đoàn: Tìm mua: Sự An Ủi Của Triết Học TiKi Lazada Shopee Miễn là tôi còn thở và còn khả năng, tôi sẽ không bao giờ ngừng thực hành triết học, khuyến khích các vị và làm sáng tỏ sự thật cho tất cả những người tôi gặp... Và thưa các quý ông... dù các vị có tuyên bố tôi trắng án hay không thì các vị cũng biết rằng tôi sẽ không thay đổi những gì tôi làm, kể cả khi tôi có phải chết cả trăm lần. Và như thế, Socrates bị đưa đến một nhà tù của Athens, cái chết của ông đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử triết học. Một dấu hiệu cho thấy tầm quan trọng của nó có lẽ là mức độ thường xuyên mà nó xuất hiện trong hội họa. Năm 1650, họa sĩ Pháp Charles-Alphonse Dufresnoy vẽ bức Cái chết của Socrates, hiện được trưng bày tại Galleria Palatina ở Florence (phòng tranh này thì không có quán cà phê). Thế kỷ 18 là thời kỳ đỉnh cao của mối quan tâm đối với cái chết của Socrates, nhất là khi Diderot thu hút sự chú ý đến tiềm năng hội họa của nó trong một đoạn của tác phẩm Luận thuyết về Kịch thơ của mình. Jacques-Louis David nhận vẽ bức tranh vào mùa xuân năm 1786 theo đặt hàng của Charles-Michel Trudaine de la Sablière, một Nghị viên giàu có và là một học giả Hy Lạp tài năng. Tiền công rất hào phóng, với 6.000 livre tạm ứng và 3.000 livre thanh toán khi giao tranh (Louis XVI trả có 6.000 livre cho bức tranh lớn hơn Lời thề của Horatii). Khi được trưng bày tại cuộc triển lãm tranh thường niên năm 1787, nó lập tức được đánh giá là bức tranh đẹp nhất về cái chết của Socrates. Đức ông Joshua Reynolds cho rằng đó là “tác phẩm nghệ thuật tinh tế và đáng ngưỡng mộ nhất từng xuất hiện kể từ Capella Sistina*, và Stanza của Raphael. Bức tranh này có thể làm rạng danh Athens trong thời đại Pericles.” Tôi mua năm tấm bưu thiếp có tranh của David trong khu bán đồ lưu niệm của bảo tàng và sau đó, khi máy bay bay ngang qua những cánh đồng đóng băng của Newfoundland (có màu xanh nhạt khi trăng tròn và trời trong), tôi giở một tấm bưu thiếp ra xem trong khi ăn bữa tối nhạt nhẽo mà cô tiếp viên đặt trên bàn khi tưởng tôi đang ngủ. Plato ngồi ở chân giường với chiếc bút và cuộn giấy bên cạnh, một nhân chứng lặng lẽ cho sự bất công của nhà nước. Khi Socrates chết thì Plato mới 29 tuổi nhưng David biến ông thành một ông già với mái tóc bạc và vẻ nghiêm nghị. Trên lối đi, vợ của Socrates là Xanthippe đang được cai ngục đưa vào phòng giam. Bảy người bạn với những biểu hiện đau khổ khác nhau. Crito, người bạn thân thiết nhất của Socrates, ngồi cạnh ông, ngước nhìn thầy với sự tôn kính và lo lắng. Nhưng nhà triết học với dáng ngồi thẳng, thân thể và cơ bắp của một vận động viên, không biểu hiện bất kỳ sự sợ hãi hay hối tiếc nào. Việc rất nhiều người Athens cho rằng ông là kẻ ngu ngốc không làm lay chuyển niềm tin của Socrates. David định vẽ Socrates đang uống thuốc độc nhưng nhà thơ André Chenier gợi ý rằng bức tranh sẽ kịch tính hơn nhiều nếu Socrates được thể hiện ở động tác đang kết thúc một luận điểm triết học trong khi bình thản đưa tay cầm cốc thuốc độc sẽ kết liễu cuộc đời mình, điều này vừa thể hiện sự tuân thủ của ông đối với luật pháp Athens, vừa thể hiện lòng trung thành với niềm tin của mình. Chúng ta đang chứng kiến những khoảnh khắc đầy tính khai trí cuối cùng của một con người siêu việt. Tấm bưu thiếp để lại cho tôi ấn tượng mạnh như vậy có lẽ vì cái thái độ mà nó mô tả trái ngược hoàn toàn với tôi. Khi trò chuyện, tôi ưu tiên việc được người khác yêu mến hơn là nói sự thật. Mong muốn làm hài lòng người khác khiến tôi cười trước những câu đùa bình thường giống như các bậc cha mẹ khi xem buổi diễn mở màn vở kịch ở trường học của bọn trẻ. Với người lạ, tôi cư xử theo cách mà nhân viên tiếp tân chào những vị khách giàu có trong khách sạn - sự nhiệt tình đầu môi xuất phát từ mong muốn bừa bãi, bệnh hoạn được yêu mến. Tôi không công khai nghi ngờ những tư tưởng mà số đông tin theo. Tôi muốn được những nhân vật quyền lực chấp nhận, và rất lâu sau khi gặp họ, tôi vẫn lo lắng không biết họ có thấy chấp nhận được tôi hay không. Khi đi qua cửa hải quan hay lái xe bên cạnh xe cảnh sát, tôi có mong muốn kỳ cục là được những nhân viên mặc đồng phục nghĩ tốt về mình.Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Sự An Ủi Của Triết Học PDF của tác giả Ngô Thu Hương nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
Siêu Lý Tình Yêu (Phạm Vĩnh Cư)
Giới thiệu Soloviev chỉ ra 5 loại quan hệ nam nữ với loại quan hệ nam nữ có tình yêu gắn với lý tưởng hóa đối tượng yêu, làm chúng ta khi yêu mang bản nguyên thần thánh. Tình yêu nam - nữ tuyệt đích sẽ bất tử hóa tất cả bởi tình yêu chuyên trở sự sống vĩnh cửu cho cái mình yêu, tái sinh vĩnh viễn trong cái đẹp. Đó là luận điểm về tình yêu qua các tác phẩm trứ danh: Siêu lý tình yêu (1892-1893), Chiến tranh và hòa bình, Biện minh cái thiện của Vladimir Soloviev, người nhà văn, đại triết gia Nga - người đặt nền móng cho Triết học Tình yêu châu Âu. Quan điểm hoàn chỉnh về Tình yêu nam nữ Soloviev phê phán, hoàn chỉnh các ý tưởng, quan điểm về tình yêu của nhiều nhà tư tưởng lớn tại nhiều thời đại khác nhau của nhân loại từ Platon đến LevTolstoy, đến Schopenhauer… Mặc dù tình yêu là một hiện tượng to lớn, phức tạp trong cuộc sống con người, đề tài của nhiều người, nhiều giới (văn học, nghệ thuật, tâm lý, triết học…) nhưng ông đã xây dựng được và cung cấp cho chúng ta một nền tảng nhận thức đặc sắc về tình yêu nam - nữ. Các quan điểm chính về tình yêu nam nữ của Soloviev Ông đề cao tính cao đẹp của tình yêu nam nữ không coi đó là ảo giác che đậy nhục dục, một trò chơi của tự nhiên, là ác quỷ đen tối nô dịch loài người, là một dạng tồn tại trong khổ đau và cái chết hay duy đạo đức quá như coi tình yêu là phải lấy tình yêu nhân loại làm trọng, phải khổ hạnh/vị tha… như tư tưởng của triết gia Schopenhauer, Tolstoy hay một số tôn giáo. Tìm mua: Siêu Lý Tình Yêu TiKi Lazada Shopee Tình yêu là bước chuyển phôi mầm tiềm năng mới nhú của con người giống như đặc tính trí tuệ là phôi mầm của động vật. Tình yêu còn có sứ mệnh xa hơn, dài hơn mà cái chân chính là chiến thắng đến cùng chủ nghĩa cá nhân, gia tăng giá trị vô tận cho con người, nhân tính phân chia nam - nữ, hữu hạn, hữu tử thành cá thể duy nhất lưỡng tính, tuyệt đối, bất tử. Ông cũng không coi hôn nhân hợp pháp, sinh đẻ và nuôi dưỡng con cái là sứ mệnh đích thực của tình yêu say đắm nam - nữ. Theo ông, vai trò của gia đình, tình thương yêu con cái, vai trò gia đình, chuẩn mực nề nếp quan hệ là đảm bảo sự tồn tại giống loài, xã hội loài người… nhằm duy trì thế giới vật chất và làm cho xã hội vận hành tốt. Tình yêu có sứ mệnh không phải là ở thực tế vật chất đó mà sứ mệnh là dẫn dắt con người từ thế giới đó (phi lý tưởng) bước sang thế giới lý tưởng hay cải hóa thế giới phi lý tưởng thành thế giới lý tưởng. Tình yêu đi đôi với lý tưởng hóa đối tượng yêu, sùng bái hâm mộ người yêu và làm xuất hiện “phép lạ, hào quang” quanh người yêu như nhìn thấy chân lý về con người - hình ảnh môi giới giữa Thượng đế thần thánh và thế giới. Tình yêu là phương tiện cho sự nhập thân đến cùng, đến đích trong đời sống cá thể của con người. Đó là cuộc sống có hơi ấm của hạnh phúc siêu phàm, thiên đường của tình thương, trái tim ngự trị, lạc thú của con người và thần linh. Qua tình yêu, người yêu tuyệt đối hóa người ta yêu làm cho hoàn hảo, trọn vẹn, vô bờ vô hạn và qua đó chính bản thân mình. Tình yêu đòi hỏi bất tử của con người cả tinh thần lẫn thể xác. Thân phận hữu tử hiện nay và cái chết là hệ quả tất yếu của cuộc sống bất toàn và trống rỗng của con người trong thực tại. Ông đề cao tình yêu nam nữ hơn mọi dạng tình yêu khác bởi nó khẳng định và làm giàu vô tận giá trị của từng cá thể con người - trong tiềm năng nó dẫn con người tới sự bất tử. Nó vừa là kết quả của tiến trình lịch sử của chủng loài hữu hạn vừa là bản chất nhân văn của người gắn với giá trị tuyệt đối, vĩnh hằng của Thượng Đế. Đó chính là niềm tin khao khát của ông về tất cả sinh linh con người đã, đang và sẽ sống có thể bất tử thông qua tình yêu chân chính, trong Thượng đế hay cõi niết bàn… với “bầu trời mới, trái đất mới” ở vương quốc của những tinh thần vĩnh hằng. Soloviev xác định có 5 kiểu biểu hiện của quan hệ nam nữ trong đời sống nhân loại, trong đó có 3 cấp độ 3, 4, 5 là biểu hiện của tình yêu. Triết học tình yêu của Soloviev là ở hướng tới tình yêu ở cấp độ 5 - tình yêu chân chính phục vụ cơ đồ tái sinh loài người khổ đau, hữu tử thành Thần - Nhân loại bất tử. Khi tình yêu được đồng hóa ở mức tinh thần thì sẽ khơi dậy tiềm năng vô biên tính người của con người.Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Siêu Lý Tình Yêu PDF của tác giả Phạm Vĩnh Cư nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
Một Nghiên Cứu Về Các Nguyên Tắc Nhận Thức Của Con Người (George Berkeley)
Lời người dịch George Berkeley (1685-1753) là triết gia duy nghiệm kiệt xuất người Ireland, một trong những gương mặt quan trọng nhất của nền triết học Tây phương hiện đại thời kì đầu. Lập trường triết học của Berkeley là duy tâm thường nghiệm (empirical idealism), được thể hiện trong câu cách ngôn nổi tiếng “esse est percipi” (tồn tại là được tri giác). Đối với ông, không có gì hiện hữu ngoại trừ các ý niệm và các tinh thần; các ý niệm là cái được tri giác, còn tinh thần (mind hay spirit)1 là cái tri giác những cái được tri giác. Các công trình của Berkeley trải rộng trên các lĩnh vực khoa học, triết học và thần học; riêng trong lĩnh vực triết học thì Một nghiên cứu về các nguyên tắc nhận thức của con người (1710) và Ba cuộc đối thoại giữa Hylas và Philonous (1713) là hai công trình được biết đến nhiều nhất. Vài nét tiểu sử và sự nghiệp của Berkeley Berkeley chào đời vào ngày 12 tháng Ba năm 1685 ở Hạt Kilkenny, Ireland. Năm 11 tuổi, ông vào học trường Kilkenny ở Dublin. Năm 15 tuổi, ông bước chân vào Học viện Ba ngôi (Trinity College), cũng ở Dubin. Berkeley lấy bằng cử nhân tại đây vào năm 1704, đến năm 1707 lấy bằng Thạc sĩ và được tuyển làm giảng viên (Junior Fellow) của học viện này. Tìm mua: Một Nghiên Cứu Về Các Nguyên Tắc Nhận Thức Của Con Người TiKi Lazada Shopee Năm 1709, Berkeley được thụ phong chức chấp sự (deacon) trong giáo phái Anh và xuất bản công trình chính đầu tiên của mình Thử hướng đến một lí thuyết mới về cái nhìn. Trong công trình này, Berkeley bàn về những giới hạn của cái nhìn của con người và đưa ra quan niệm rằng đối tượng thực sự của thị giác không phải là các đối tượng vật chất mà là ánh sáng và màu sắc. Những luận điểm được nêu ra trong công trình này báo hiệu sự ra đời của các công trình triết học quan trọng nhất của ông. Vào năm 1710, khi chỉ mới 25 tuổi, Berkeley xuất bản công trình triết học Một nghiên cứu về các nguyên tắc nhận thức của con người - Phần I, từ đây chúng tôi sẽ nói gọn là Các nguyên tắc. Công trình này là những nỗ lực của Berkeley gắng tìm cách bác bỏ những yêu sách của John Locke, một triết gia duy nghiệm thuộc thế hệ trước ông, về bản chất của tri giác con người. Nhưng vì công trình này thuộc dạng kén độc giả, chỉ dành riêng cho giới trí thức ở thủ đô London, nên ông bắt tay viết những bài dễ đọc hơn, trong hình thức đối thoại, và cho xuất bản ở London vào năm 1713 dưới nhan đề Ba cuộc đối thoại giữa Hylas và Philonous. Trong thời gian ở London, để xúc tiến việc xuất bản các công trình triết học của mình, ông kết giao bằng hữu với một số nhà trí thức nổi danh thời bấy giờ như nhà thơ Jonathan Swift (1667-1745), nhà thơ, nhà tiểu luận Joseph Addison (1672-1719), nhà soạn kịch Richard Steele (1709-1729), và nhà thơ Alexander Pope (1688-1744). Ông tham gia viết bài cho tờ Guardian của Steele để chống lại tư tưởng tự do của thuyết bất khả tri lúc bấy giờ, nhưng do ông không kí tên vào các bài báo này nên cho đến nay các ý kiến về việc ông có phải là tác giả của chúng hay không vẫn còn bất đồng. Năm 1721, ông xuất bản cuốn Bàn về sự vận động, một luận văn ngắn bàn về những nền tảng triết học của cơ học. Ngoài ra, ông còn có một tập các bản ghi chép những nhận xét triết học trong suốt quá trình phát triển học thuyết duy tâm và thuyết phi vật chất của mình; và tập ghi chép này, thường được gọi là Những nhận xét triết học, ông chỉ viết cho riêng mình nên không có ý định công bố. Năm 1724, Berkeley được bổ nhiệm làm Trưởng Tu viện Derry. Lúc này, ông bắt tay khai triển dự án xây dựng một trường học ở Bermuda với ý nghĩ châu Âu đã trở nên già cỗi sau cuộc khủng hoảng “Bong bóng Biển Nam’’ (South Sea Bubble) và Thế giới Mới sẽ là niềm hi vọng cho tương lai con người. Được Nghị viện Anh hứa tài trợ kinh phí, ông dong buồm sang châu Mỹ vào năm 1728. Sau ba năm hoài công ngồi chờ kinh phí được hứa hẹn, ông trở về Anh. Trong thời gian ở châu Mỹ, ông đã soạn thảo Alciphron, cũng là một công trình triết học và là một suối nguồn quan trọng cho các quan niệm của ông về ngôn ngữ. Sau khi về Anh, Berkeley tập trung viết và cho xuất bản một loạt các công trình: Bài giảng trước Hội Truyền giáo Phúc âm ở nước ngoài (1732), Lí thuyết về cái nhìn (chứng minh và giải thích) (1733), Nhà giải tích hay bài luận gửi cho một nhà toán học vô tín ngưỡng (1734), Bảo vệ tự do tư tưởng trong toán học (1735), Các lí do không đáp lại câu trả lời đầy đủ của ngài Walton (1735), cũng như xem xét lại để tái bản Các nguyên tắc và Ba cuộc đối thoại (1734). Năm 1734, Berkeley được phong Giám mục xứ Cloyne, vì thế ông trở lại Ireland và sống tại đó, tập trung chăm lo cho giáo phận của mình. Năm 1752, ông rời xứ cloyne đi Oxford để giám sát việc học hành của con trai, và không lâu sau đó, ông tạ thế vào ngày 14 tháng Giêng, được chôn cất trong Thánh đường Giáo hội Kitô thuộc địa phận OxfordĐộc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Một Nghiên Cứu Về Các Nguyên Tắc Nhận Thức Của Con Người PDF của tác giả George Berkeley nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
Luận Về Yêu (Alainde Botton)
Alain de Botton Sinh năm 1969 tại Zurich, Thụy Sĩ, hiện nay sống ở London. Ông là tác giả của nhiều tiểu luận và được gọi là tác giả của một “triết học về cuộc sống thường ngày”. Các chủ đề của ông có thể là: tình yêu, du lịch, kiến trúc hay văn chương. Các tác phẩm của ông từng trở thành bestseller tại hơn 30 nước. Một số tác phẩm tiêu biểu của Alain de Botton: Luận về yêu, The News: A User’s Manual, How to Think More about Sex, Status Anxiety, The Art of Travel, How Proust Can Change Your Life. Sơ lược về tác phẩm Cuốn sách này chứa đựng chính xác những gì lâu nay ta vẫn muốn biết về tình yêu: Không thiếu ảo tưởng nhưng cũng đầy sáng suốt, mê đắm nhưng biết giữ khoảng cách, nồng nhiệt và rất hài hước nhưng cùng lúc ngập tràn phân tích lạnh lùng. Chính khía cạnh “phân tích” này làm nên sự hấp dẫn nhất của Luận về yêu, vì tác giả đã sử dụng những triết thuyết tưởng chừng khô cứng để tiếp cận tình yêu một cách thấu đáo, từ rất nhiều phương diện, kể cả những phương diện mà những người đang yêu thường muốn giấu kín. Tìm mua: Luận Về Yêu TiKi Lazada Shopee Luận về yêu, tác phẩm thời trẻ của Alain de Botton, hiện nay là một nhà văn, triết gia và diễn giả nổi tiếng thế giới, còn đặc biệt hấp dẫn vì tùy theo tạng riêng của mình, độc giả có thể đọc nó như một tập tiểu luận sâu sắc, hoặc như một cuốn tiểu thuyết vô cùng hấp dẫn và không hề thiếu kịch tínhĐộc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Luận Về Yêu PDF của tác giả Alainde Botton nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.