Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Cây Người

Patrick White không chỉ viết về những vấn đề phổ quát của thời đại: sự cô đơn, sự đơn độc của bản thể; văn của ông còn đi sâu vào chủ đề quen thuộc, những khía cạnh trần thế đời thường, ứng xử của con người với thiên nhiên vạn vật. Và Cây Người là đại diện tiêu biểu xuất sắc cho bút pháp ấy, một cuộc phản kháng văn chương, chống lại chủ nghĩa duy vật và nêu bật lên những mâu thuẫn của chủ nghĩa hiện thực… Cây Người còn là một áng văn tuyệt mỹ về nước Úc sơ khai trữ tình, về những con người được tôi luyện trong gió và cát, cũng giống như cái cây nơi hoang dã, con người phải sống bằng chính sức lực của mình, phải chống lại mọi bão giông cuộc sống, giống như cái cây “không hề có phút giây yên tĩnh”… Dù bị đau đớn quằn quại, người ta vẫn tha thiết yêu thương cái mảnh đất ấy. Đến tận cùng, xứ sở cội nguồn của ta mới là điều quan trọng, dù ta có thích hay không… Tất cả những điều đó đã đưa Patrick White thành một tượng đài văn chương, ông cũng là người Úc đầu tiên được trao giải Nobel Văn học, vì “những tác phẩm có nghệ thuật phân tích tâm lý sâu sắc tinh tế và bút pháp sử thi, nhờ đó đã mở ra một châu lục văn chương mới.” *** Quyển sách đã đến tay mình trong một một buổi tối, một cách nhanh nhảu và dễ dàng, theo cách khác lạ mà ít khi mình được trãi nghiệm: không mua, không thuê, mà là mượn. Cái tiêu đề thật cũn cỡn và bí hiểm đã cuốn hút mình đến quả tạ 5 lạng này. Nhưng thật may mắn, nó rớt đúng vào chất văn mình đang theo đuổi, cũ kỹ mà hiện thực. Nên, đến cuối cùng, qua rất nhiều lần lăn lê bò lết, mình cũng hoàn thành một cách thuận lợi. Stan Parker, cả câu truyện đều xoay quanh cuộc đời nhân vật này. Từ lúc cậu còn là một đứa bé, đến khi đi khai hoang, cưới vợ, lập vườn tược, nhà xưởng trên chính mảnh đất mẹ anh di chúc trước lúc qua đời. Có thể xem, anh là lớp người tiên phong trong việc định cư ở vùng này. Biết bao nhiêu gốc cây anh đốn hạ. Thì bấy nhiêu chất “mộc” thẩm thấu vào từng thớ thịt hơi thở. Để rồi không biết từ bao giờ cái tên “Stan” đã thành một “đại thụ” để những người đến ở vùng đất ấy sau này có thể nương tựa vào chính cái tính cách mộc mạc và nhiệt thành của mình. Cũng như cây cao bóng cả. Người đến trước giúp người đến sau. Cái quy luật của cây cỏ ấy cũng đúng với người. Dù có trãi qua qua bao thiên tai hay cám dỗ của bản năng, anh vẫn là một người đáng mến trong mắt người thân và láng giềng. Cốt truyện có vẻ đơn giản, nhưng cách tác giả miêu tả về tình, về cảnh và tâm trạng nhân vật thì lại không. Có chút gì đó vị kỷ, cô độc mâu thuẫn với cái vị tha, khoáng đạt đã làm bật lên nhiều số phận, với những cái kết rõ ràng và đầy tính nhân quả. Qua đó, ta có thêm nhiều gia vị, trong việc chọn lựa và nhận biết nhiều nhân cách khác nhau. Cũng như Stan Parker, cái người ta thấy ở ông là cũ kỹ, khờ khạo. Còn ông thấy ở mình là mạnh mẽ và bình yên như cây, như cỏ. Review Hiếu Phạm *** Cỗ xe ngựa chạy giữa hai cây bạch đàn to và dừng lại. Hai cây đó sừng sững giữa một khoảng rừng cây bụi, chúng cao vượt những cây bao quanh, trông đường bệ mà cũng thật mộc mạc. Chiếc xe dừng lại cho ngựa gặm cỏ phía bên kia cây, còn con ngựa, bờm xờm và bình thản như cái cây, thở phì phì rồi đứng yên. Người đàn ông ngồi trên xe bước xuống. Anh xoa hai tay vào nhau vì trời đã lạnh, mây lạnh tích tụ trên bầu trời nhợt nhạt, còn phía tây ráng màu nâu đỏ như đồng thau. Bầu không khí tỏa ra mùi sương giá. Làn da tê cóng ma sát vào nhau làm không khí lạnh hơn và cảnh yên tĩnh nơi đó càng thêm cô quạnh. Chim ngơ ngác trên cành, còn những con thú giương mắt nhìn xem chuyện gì đang diễn ra. Người đàn ông hạ một bọc xuống khỏi xe. Con chó nhấc chân tè lên một tổ kiến. Con ngựa nhễ nhại mồ hôi môi trề xuống. Sau đó, người đàn ông lấy rìu bổ vào thân cây sợi cốt chỉ để được nghe một âm thanh chứ chẳng vì lý do nào khác. Âm thanh lạnh lẽo và vang vọng. Anh bổ, bổ tiếp cho đến lúc mấy mảnh vỏ cây trắng rơi xuống. Anh nhìn vào vết xước trên thân cây. Im lặng mênh mang. Đây là lần đầu tiên mới có sự việc như vậy xảy ra ở khoảnh rừng này. Chợt như cố tình xua đi một giấc mơ, anh nhanh chóng tháo càng xe, để lại trên lưng ngựa vệt mồ hôi đậm. Anh chằng chặt cặp vó trước của chú ngựa nhỏ chắc mập và đeo túi cỏ vào cái đầu trụi lủi của nó. Anh dùng mấy cái túi và vài cây nhỏ dựng một mái che. Anh nhóm lửa. Cuối cùng, anh thở dài, vì ánh lửa nhỏ đó đã nhen lên trong anh một hơi ấm đầu tiên của niềm thỏa mãn. Của việc được ở một nơi nào đó. Cái mảnh rừng đặc biệt ấy đã trở thành của anh nhờ ánh lửa bập bùng. Nó liếm láp và nuốt trọn nỗi cô đơn. Lúc này, con chó lông đỏ cũng đến ngồi bên đống lửa, gần, nhưng không ngay sát người vốn dĩ chẳng thân thiện gì với vật nuôi. Anh không vuốt ve hay nói chuyện với chúng. Chúng có mặt ở đó - cách xa một quãng - là đủ rồi. Con chó đã ngồi đó. Nó đưa mắt hau háu nhìn, vẻ muốn được ăn vì chủ vẫn chưa chịu lấy hộp đồ ăn ở trên xe xuống. Con chó chăm chú nhìn. Cái đói khiến nó phải xếp chân ngay ngắn. Đôi mắt vàng mòn mỏi dán vào chủ trong khi đợi được ăn thịt. Người đó còn trẻ. Đời chưa để lại dấu ấn trên khuôn mặt anh. Anh trông dễ ưa; bản thân anh hình như cũng là người tốt. Do chẳng có gì để giấu giếm, nên xem ra cái thế mạnh ấy bị kém một chút. Nhưng đấy lại là sự trớ trêu của lòng trung thực. Cây cối ở quanh biến mất dần. Trong ánh chiều tối, dưới bầu trời trắng, màu đen của những cành cây, cùng màu đen kịt của rừng cây bụi nhòa trộn vào nhau. Chỉ có đống lửa vẫn cháy. Và trong vòng ánh lửa, khuôn mặt người đó không lộ chút ưu tư trong khi anh xoa thuốc lá sợi trong lòng bàn tay thô ráp một mảnh giấy vuông nheo lại dính ở môi dưới. Con chó khịt cái mũi. Qua ánh lửa, lông mõm nó sáng lóng lánh. Nó vẫn ngồi theo dõi hành động dằng dai tưởng chừng như không hồi kết. Mọi chuyện vẫn tiếp diễn, và khói thuốc bắt đầu bay lên. Người đó đứng dậy. Anh phủi tay. Anh lấy hộp thức ăn xuống. Con chó lúc ấy mới run rẩy làm sao. Tiếng đĩa, tiếng nước trà rót vào sắt tây, tiếng bột mì nghe bình bịch. Đâu đó có tiếng nước chảy. Chim ríu rít về tổ. Con ngựa non, sáng lên giữa chùm lông trán, cùng con chó đói bụng, cả hai đều đứng chực con người trẻ đó. Ánh mắt và ánh lửa có một sự hòa đồng. Lửa hắt ánh vàng lên dáng người đang ngồi cắt thịt. Thấy vậy con chó điên cuồng nhảy cẫng lên như con ngựa bất kham. Anh ném thịt cho con chó, nhưng do bản chất, anh làm bộ miễn cưỡng phải làm vậy. Con chó ngốn ngấu những tảng thịt béo ngậy, chiếc vòng xích bị đẩy trồi lên phía trên cổ, khiến mắt nó lồi ra. Người đó ăn, miệng nuốt trông đến thô tục do có một mình nên cứ phồng miệng mà nuốt cho trôi, sau đó uống nước trà nóng có pha mùi sắt, cốt để cho trôi hẳn. Hơi ấm dâng lên. Giờ anh thấy tỉnh người. Anh ngửi thấy mùi rơm phảng phất từ cái giỏ thức ăn khi con ngựa đang nhai. Anh ngửi thấy mùi gỗ tươi cháy. Anh gối đầu lên chiếc vòng ẩm ướt tháo ở cổ ngựa. Và cái hang lửa to lớn, như một chốn cung mê, cuốn anh vào. Anh dang chân tay, bừng bừng trong ánh lửa, người mỗi lúc một ấm lên, nhưng đột nhiên lại bị tắt ngấm giữa làn khói nhè nhẹ và giữa dòng suy tư mệt mỏi. Tên người đàn ông này là Stan Parker. Lúc anh chưa ra đời, mẹ anh đã muốn đặt tên con mình là Ebenezer, nhưng rồi anh không phải mang cái tên đó vì ông bố, một con người tục tĩu, có lông bụng, đã cười nhạo. Do đó, bà mẹ không nghĩ đến cái tên ấy nữa. Bà là một phụ nữ không có tính hài hước và hơi sợ sệt. Lúc đẻ anh ra, bà gọi anh là Stanley, vì dẫu sao cái tên đó cũng thuộc loại đáng kính trọng. Bà vẫn nhớ đến tên nhà thám hiểm mà bà đã đọc. Mẹ cậu bé đã đọc khá nhiều qua cặp kính gọng vàng, mỏng mảnh hầu như không ôm được hết cặp mắt xanh ướt át của bà. Bà đọc sách, lúc đầu là để tự vệ trước những nỗi sợ và những chuyện khó chịu. Bà tiếp tục đọc vì, ngoài câu chuyện ra, văn học còn mang lại một vẻ phong nhã mà bà khát khao. Sau đó, bà trở thành nhà giáo. Tất cả những chuyện ấy đã diễn ra trước khi bà lấy chồng. Tên bà là Noakes. Và bà nhớ là mẹ mình đã kể rằng ở quê nhà có một người tên là Noakes đã cưới giáo sĩ của chúa đất. Bản thân bà không làm điều như vậy. Do sai lầm hoặc do bị quyến rũ bà đã lấy Ned Parker, một anh thợ rèn tại khe Willow, một kẻ nát rượu và đã có lần xung phong trả lời bài giảng của cha xứ, nhưng lại là người có thể uốn cong thanh sắt thành nút thắt đồng tâm. Chuyện đó không có gì hào hoa phong nhã, nhưng ít nhất bà còn được sức mạnh cơ bắp bảo vệ. Vì vậy cô Noakes đã trở thành bà Parker, và về mặt nào đó cũng trở nên sợ hãi nhiều hơn trước. - Stan - có lần mẹ anh nói - con phải hứa sẽ yêu Chúa và đừng bao giờ đụng đến một giọt rượu nhé. - Vâng ạ, cậu bé trả lời, vì cậu đâu đã trải qua những cái đó, và mặt trời ánh lên trong đôi mắt cậu. Trong ánh lửa vật vờ mà anh nhóm lên, chàng thanh niên nhớ đến bố mẹ và Chúa của mẹ - một hình ảnh dịu dàng lờ nhờ xanh. Anh đã cố hình dung Chúa của mẹ bằng đường nét có thực, nhưng không sao thấy được. Nào, Chúa ơi, anh đã từng bật kêu lên, nằm mở mắt nhìn vào bóng tối. Đôi lúc anh lại nghe thấy bố chửi bới và văng tục ở phía bên kia cửa. Bố anh không phủ nhận Chúa. Trái lại. Ông là một thợ rèn, chỉ chăm chăm nhìn vào lò lửa. Ông đập đe và những tia lửa bắn tung tóe. Sức khỏe trong ông bốc cháy, tiếng nhạc kim loại đinh tai nhức óc, át đi mùi hôi thối của móng ngựa cháy, nhưng không làm lòng tin của ông mai một. Có lần, lóp ngóp từ dưới mương lên, về nhà sau cơn bí tỉ, ông thậm chí đã trò chuyện với Chúa, rồi chơi vơi bấu lấy cánh của thiên thần đang phẫn nộ, trước khi ông say không biết trời đất gì nữa. Chúa của bố mà cậu bé nhìn thấy, căn bản là một ông Chúa nổi giận, hung hăng, Người xuất hiện giữa những tiếng ợ hơi, ngón tay đầy vết chai vung lên kết tội. Ông là Chúa của những vị Tiên tri. Và đây là vị Chúa mà bản thân cậu bé ngờ vực và sợ hơn là vị Chúa dịu dàng của mẹ mình. Dẫu sao, đấy mới là khởi đầu. Ở khe Willow, Chúa vít những cây tới mức chúng lay phấp phới theo chiều gió như những chùm râu. Chúa đổ mưa xuống những mái nhà lợp tôn, cho đến khi thậm chí những ông già bà cả trở nên trầm tư, nhỏ bé hơn và vàng vọt hơn trước ngọn đèn muội khói, và Chúa đã cắt cổ cụ Joe Skinner, mà nào cụ có tội tình gì, mọi người quen biết đều thấy cụ là ông già tử tế, thích bẻ vỏ bánh mì vãi cho chim ăn. Đấy là một trong những điều, chàng thanh niên nhớ lại, mẹ anh không cố gắng giải thích. “Đó là một trong những sự việc đã xảy ra”, bà bảo. Nói vậy, rồi bà lúng túng quay mặt đi. Có nhiều điều bà không có lời giải đáp. Vì lý do đó, bà không hợp lắm với những người đàn bà khác, đa số gần như biết tuốt, còn những gì họ không biết nghĩa là chẳng đáng để biết. Thế nên mẹ của Stan Parker sống cô độc. Bà vẫn tiếp tục đọc; nào là tập thơ của Tennyson đóng bằng khóa móc đồng, bên trong có ép những bông hoa violet, nào là tuyển tập Shakespeare ố lỗ chỗ vì bị ngập nước, rồi đến những cuốn danh mục sách, niên giám, những sách công thức nấu nướng, một bộ bách khoa toàn thư và cuốn từ điển địa lý, tất cả tạo nên cung cách đọc sách riêng biệt nhằm để che chở cho tâm hồn bà. Bà đọc sách, rồi bà thực hành sự ngăn nắp, tựa như bà có thể sắp xếp mọi thứ trật tự theo cách đó; chỉ có thời gian và mọt sách phá hủy những nỗ lực của bà cùng linh hồn những con người cố bật khỏi bất cứ cảnh ngộ tù túng nào giam hãm họ.   Mời các bạn đón đọc Cây Người của tác giả Patrick White.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Núi Thần
Nếu như Buddenbrooks là ngôi sao tỏa sáng trong sự nghiệp của Thomas Mann, hay Chết ở Venice là một cuốn tiểu thuyết ngắn nhưng vô cùng hoàn hảo của ông, thì Núi thần lại là kiệt tác thể hiện những tư tưởng lớn lao của nhà văn cũng như những đối lập trong nền văn hóa châu Âu. Lấy bối cảnh là một viện điều dưỡng trên vùng núi cao ở Thụy Sĩ trong những năm trước Thế chiến thứ nhất, Núi thần là bản tổng hòa của một tác phẩm kinh điển trường phái hiện đại, một bildungsroman (tiểu thuyết triết lý) truyền thống, màn kịch đầy đủ những tính cách, và bức tranh về giới tư sản châu Âu đầu thế kỷ 20. Người ta có thể thấy trong Núi thần tư tưởng của chủ nghĩa nhân văn và những tư tưởng cấp tiến, tình yêu và trách nhiệm.  Núi thần còn là cuốn tiểu thuyết về bệnh tật, không chỉ là bệnh tật trong cơ thể mà còn là bệnh tật trong tâm hồn. Và nơi bệnh tật ngự trị cũng là triệu chứng của sự suy thoái của chủ nghĩa tư bản và giới tư sản Âu châu. Ở một cấp độ cao hơn, Núi thần cũng đặt ra câu hỏi về bản chất của thời gian, thời gian là phương tiện và được phản ánh qua trải nghiệm của nhân vật chính, chàng kỹ sư trẻ tuổi Hans Castorp. Núi thần là cuốn sách đầy sự thông thái với ngòi bút tả thực mỉa mai, đập nhịp cùng sự sống giữa cái chết u ám. *** Paul Thomas Mann (1875 - 1955) là nhà văn Đức đoạt giải Nobel Văn học năm 1929 và Giải Goethe năm 1949. Ông được coi là nhà văn lớn nhất của Đức thế kỷ 20. Thomas Mann là nhà văn có tư tưởng nhân đạo. Ông tập trung miêu tả quá trình suy sụp của giai cấp tư sản với một ngòi bút hiện thực, mỉa mai, chú trọng phân tích tâm lý. Văn của Thomas Mann chính xác, từ ngữ gọt giũa kỹ lưỡng, đòi hỏi người đọc phải tập trung suy nghĩ; ông sử dụng nhiều kiến thức về triết học, tôn giáo, lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, y học, xã hội học, phân tâm học. Năm 1913, cuốn tiểu thuyết ngắn Der Tog in Venedig (Chết ở Venice) được xuất bản, cùng với Tonio Kroger được coi là những tác phẩm xuất sẳc nhất thuộc thể loại này. Thế chiến thứ nhất đã đẩy nhà văn vào một cuộc khủng hoảng tinh thần trầm trọng, ông viết tập ký 600 trang Betrachtungen eines Unpolitischen (Những suy ngẫm ngoài chính trị, 1918) trong thời gian này. Sau chiến tranh ông trở lại với văn học nghệ thuật, hoàn thành một trong những đỉnh cao sáng tác của minh là Der Zauberberg (Núi thần, 1924). Năm 1929, ông được nhận giải Nobel, chủ yếu vì bộ tiểu thuyết vĩ đại Buddenbrooks - Verfall einer Familie.  Từ những năm 1930, Thomas Mann tích cực tham gia các hoạt động chính tri chống chủ nghĩa phát xít; dưới thời Đức quốc xã sách của ông bị cấm và bị đốt ở Đức, ông bị tước quốc tịch Đức (1936), phải sống lưu vong. Năm 1938 ông sang Mỹ và trở thành công dân Mỹ (1944). Sau chiến tranh ông về thăm cả Đông và Tây Đức, được đón tiếp long trọng nhưng ông không ở lại Đức mà sang định cư ở Zurich (Thụy Sỹ) cho đến khi mất. Ngoài giải Nobel, ông được cả Đông và Tây Đức trao tặng giải thưởng Goethe năm 1949; ông cũng được Đại học Oxford và Đại học Cambridge trao bằng danh dự. *** Khi tới nhà điều dưỡng để thăm anh họ của mình, kỹ sư Hans Castorp không biết trước rằng, thay vì ở đó một vài tuần như dự định, anh sẽ ở lại nhiều năm, suốt chiều dài cuốn tiểu thuyết dày ngàn trang của Thomas Mann. Với những người bạn Âu châu mà tôi trở nên đủ thân thiết để hỏi: cuốn tiểu thuyết nào là cuốn bạn thích nhất, câu trả lời “Núi thần” xuất hiện với một tần suất lớn đáng ngạc nhiên. Tôi thử tự lý giải như thế này: Các nhân vật chính hay phụ trong sách: từ Hans Castorp người đi tìm kiếm ý nghĩa cuộc đời trong khu điều dưỡng cho những người lao phổi, Joachim Ziemßen người anh họ ốm yếu nhưng chỉ có một hoài bão là được ra trận, bà Chauchat người phụ nữ mà Hans Castorp yêu trong tâm tưởng và ghen tuông, bác sĩ trưởng Behrens, nhà hiền triết Settembrini cho đến ông Pepperkorn, chồng của bà Chauchat người chỉ xuất hiện vào nửa cuối của truyện, đều là những nhân vật vô cùng đặc sắc. Đây là một cuốn sách đậm đặc phong vị của châu Âu, đầy sự lịch lãm và hài hước, những gì mà người châu Âu coi là sự biểu đạt của văn hóa. Nhưng cái quan trọng nhất có lẽ lại là cái khác. Đó là thái độ của Hans đối với một cuộc sống tù túng và vô nghĩa, cuộc sống của người bệnh nằm dài ngoài ban công của tòa nhà điều dưỡng, mình cuộn trong tấm chăn mỏng dệt từ lông lạc đà, miệng ngậm hàn thử biểu, nằm để chờ đợi một cái gì khủng khiếp xảy ra, có thể là cái chết, có thể là chiến tranh. Cả chiến tranh và cái chết sẽ đều tới thật. Tiếp nhận cuộc sống như một tấn bi kịch tàn độc và vô nghĩa, với một nụ cười tủm tỉm là lựa chọn của Hans, có lẽ của Thomas Mann và của nhiều người trong số chúng ta. Ngô Bảo Châu *** CÁNH CỬA MỞ RỘNG   Tủ sách hợp tác giữa nhà toán học Ngô Bảo Châu, nhà văn Phan Việt với Nhà xuất bản Trẻ   Tủ sách CÁNH CỬA MỞ RỘNG được thực hiện nhằm mục đích giới thiệu những đầu sách có giá trị của thế giới và trong nước đến bạn đọc Việt Nam, đặc biệt là bạn đọc trẻ, góp phần thúc đẩy việc đọc sách, tinh thần hiếu học, coi trọng tri thức và những giá trị sống. Các tựa sách trong tủ do nhà toán học Ngô Bảo Châu và nhà văn Phan Việt tuyển chọn và giới thiệu. Tủ sách được phân thành ba mảng: văn học, khoa học xã hội – kinh tế, và khoa học tự nhiên; trước mắt cấu tạo tủ sách gồm 80% các sách có khả năng tiếp cận đông đảo bạn đọc và 20% cho các sách chuyên ngành. *** Câu chuyện của Hans Castorp mà chúng tôi dự định kể hầu quý vị - không phải kể về bản thân chàng ta (vì quý độc giả sẽ gặp ở đây một chàng trai trẻ rất đỗi bình thường, mặc dù cũng không kém phần đáng mến), mà kể về câu chuyện theo thiển ý của chúng tôi rất đáng lưu truyền (có lẽ cũng nên vì Hans Castorp xin lưu ý quý vị rằng đây là câu chuyện của chàng ta, và không phải bất kỳ ai cũng có được một câu chuyện để kể): một câu chuyện xảy ra đã lâu lắm rồi, có thể nói rằng những lớp rỉ sét lịch sử đã phủ đầy lên đó, và vì vậy phải được kể bằng thời quá khứ xa xưa nhất. Điều này chẳng phải là một điểm bất lợi cho câu chuyện, đúng ra phải coi đó là lợi điểm; vì đã là chuyện kể thì phải xưa cũ chứ, và có thể nói không ngoa rằng chuyện càng lùi xa vào dĩ vãng lại càng hấp dẫn, càng có lợi cho bản thân câu chuyện lẫn cho người kể chuyện, kẻ rì rầm đọc thần chú gợi lên một thời quá khứ chưa khép lại. Tuy nhiên đối với câu chuyện này, cũng như giờ đây đối với mọi người và dĩ nhiên trong số họ bao gồm cả những người kể chuyện, phải hiểu rằng: nó già cỗi hơn rất nhiều so với tuổi của mình, sự già nua tuổi tác không thể tính bằng ngày bằng tháng, không thể tính bằng những vòng quay của trái đất quanh mặt trời; nói một cách ngắn gọn: mức độ xa xưa của nó đúng ra không được đo bởi thời gian - một nhận định kín đáo ám chỉ và lưu ý ta về tính khả nghi và bản chất tráo trở của cái yếu tố bí hiểm tên gọi thời gian. Để cho sự việc không bị bao phủ dưới bức màn thiếu tự nhiên, xin được giải thích: tính cổ xưa của câu chuyện này bắt nguồn ở chỗ, chuyện xảy ra trước một ranh giới đồng thời là bước ngoặt lịch sử, một vực thẳm xẻ ra trống hoác trong cuộc sống và trong tiềm thức… Chuyện xảy ra, hay, để tránh dùng thời hiện tại một cách có dụng ý, chuyện đã xảy ra và đã từng xảy ra khi ấy, trước kia, vào những ngày xa xưa, trong một thế giới đứng trước cuộc chiến tranh lớn mở đầu cho biết bao nhiêu sự kiện, và sự mở đầu này cho đến nay vẫn còn chưa kết thúc. Vậy là câu chuyện này đã xảy ra trước đó, mặc dù trước đó chẳng bao lâu. Nhưng phải chăng tính xưa cũ của một câu chuyện càng sâu đậm, trọn vẹn và thần thoại khi diễn biến của nó càng xích lại gần thời điểm “trước đó”, trước cái mốc lịch sử kia? Như vậy thì rất có thể câu chuyện của chúng ta, với nội dung của nó, cũng có chút hơi hướng liên quan với thần thoại. ... Mời các bạn đón đọc Núi Thần của tác giả Thomas Mann.
Gã Cướp Biển Quý Tộc - Johanna Lindsey
Gã Cướp Biển Quý Tộc kể lại chuyện tình độc đáo giữa hai con người có quá khứ không hề hoàn hảo nhưng vô cùng thú vị. Georgina Anderson - cô gái người Mỹ 22 tuổi lăn lội vượt Đại Tây Dương đi tìm vị hôn phu đã xa cách 6 năm để rồi chính thức bị bỏ rơi sau chừng ấy năm nàng chung thuỷ với hắn. Tuy nhiên, sự bất hạnh của Georgina không dừng lại tại đó. Sự liều lĩnh khi vượt biển đến nước Anh đã đặt cô vào tình thế oái ăm, cô - Georgina Anderson - chủ chiếc tàu Amphitrite, cổ đông của công ty đường biển Skylark Line, cô có tài sản của riêng mình, nhưng giờ lại không đủ tiền để trở về mà phải làm việc dưới dáng vẻ một cậu bé trên tàu của James Malory để có thể trở về nhà. James Malory – chàng quý tộc 36 tuổi với một đứa con ngoài giá thú 17 tuổi mới được phát hiện cách đây 6 năm. To cao, tóc vàng và đẹp trai là những gì người ta thường nói về chàng. "Chàng là một người muốn ra khơi theo ý thích, đi đến bất cứ nơi nào mà tâm trạng chàng muốn đến". James vừa bước qua tuổi ba mươi sáu, nhưng sẽ không có một người phụ nữ nào có thể ràng buộc chàng vào hôn nhân được. Yêu họ rồi rời xa họ là cách duy nhất để tồn tại được với họ, một đức tin đã sống cùng chàng ngần ấy năm trước đây, và sau này cũng vậy. Thế nhưng, đức tin ấy sắp bị phá hủy hoàn toàn bởi một người cô gái 22 tuổi xinh đẹp tràn đầy thú vị. *** Johanna Lindsey, tên thật là Johanna Helen Howard, sinh ngày 10 tháng 3 năm 1952 tại Đức, nhưng lại là một trong những nhà văn nổi tiếng ở Mỹ. Bà được mệnh danh là một trong những tác giả thành công nhất trên thế giới về tiểu thuyết lịch sử lãng mạn. Các tác phẩm của bà thường xuyên lọt vào danh sách bán chạy nhất do New York Times bình chọn.   Lindsey xuất bản cuốn sách đầu tay vào năm 1977, với tựa đề Captive Bride, và ngay lập tức đưa tên tuổi của bà đến với các độc giả yêu văn học. Đó chính là độc lực để bà tiếp tục cho ra đời rất nhiều cuốn tiểu thuyết ăn khách khác.   Tính đến năm 2006, những tác phẩm của bà đã bán được trên năm mươi tám triệu ấn bản và dịch ra mười hai ngôn ngữ trên toàn thế giới.   Bằng lối kể chuyện hài hước song cũng không kém phần lãng mạn và bất ngờ, Johanna đã không hề khiến người đọc thất vọng với những câu chuyện của mình. Bà đã gắn kết những con người với hoàn cảnh và số phận hoàn toàn khác biệt, tưởng chừng như không bao giờ có thể ở bên nhau, và cho hộ một kết thúc viên mãn.   Không chỉ có vậy, giọng văn tinh tế và vô cùng đặc trưng của Johanna cũng là điều luôn hấp dẫn độc giả. Mỗi nhân vật của bà luôn được khắc họa với cá tính nổi bật. Ngoài ra, chính sự kiên cường của họ trong tình yêu cũng góp phần tạo ra nét đặc sắc cho ngòi bút của bà.   Mời độc giả đọc các tác phẩm của Johanna Lindsey đã và sẽ được Bách Việt xuất bản: Ma lực tình yêu (2012), Nàng công chúa lưu lạc (2012), Gã cướp biển quý tộc (2012), Em là của anh (2012), Hãy nói yêu em (2013), Người thừa kế (2015), The devil who tamed her, A rogue of my own, Let love find you. *** “James, chúng ta nên xuống nhà thôi. Những cỗ xe ngựa đã đến từ một tiếng trước rồi.” “Đó là gia đình ta đến tham dự sự kiện trọng đại này. Nếu may mắn, mấy ông anh của em sẽ không tìm thấy ngôi nhà.” Nàng xoắn một lọn tóc vàng của anh quanh ngón tay và nhẹ nhàng giật nó. “Anh sẽ không cố chấp nữa đấy chứ?” “Ta chưa bao giờ cố chấp, em yêu. Chẳng qua là em vẫn chưa thuyết phục được ta tha thứ cho các anh trai của em.” Đôi mắt nàng mở to, rồi lại mở to hơn nữa khi anh lăn người trên giường, đè nàng xuống bên dưới anh một lần nữa. Cơn thịnh nộ của Georgina muốn bùng lên, nhưng khi James đặt người vào giữa hai đùi nàng, nàng chẳng còn thấy giận dữ nữa. Tuy nhiên, nàng vẫn nhắc anh, “Anh đã mời họ đến đây mà”. “Đúng là ta đã mời họ, nhưng đây là nhà của Tony. Chú ấy có thể đá đít họ ra khỏi cửa.” “James!” “Vì vậy hãy thuyết phục ta đi.” Người đàn ông đáng ghét này đang nhoẻn miệng cười với nàng và Georgina không thể không cười đáp lại. “Anh thật quá quắt. Đáng lẽ em không bao giờ được nói là anh sẽ thích điều này.” “Nhưng em đã nói rồi… và ta rất thích.” ... Mời các bạn đón đọc Gã Cướp Biển Quý Tộc của tác giả Johanna Lindsey.
Điệu Waltz Dưới Ánh Trăng - Catherine Anderson
Cuốn sách kể về mối tình cảm động giữa một ông chủ trang trại điển trai, giàu có, Ryan Kendrick với cô gái khuyết tật sở hữu óc hài hước và nụ cười tuyệt đẹp, Bethany Coulter. Điệu Waltz dưới ánh trăng, cuốn tiểu thuyết lãng mạn được yêu thích nhất của nhà văn Catherine Anderson đã được  xuất bản tại Việt Nam vào cuối năm 2013. Catherine Anderson sinh năm 1948 tại Oregon, Mỹ, là nữ nhà văn chuyên về tiểu thuyết cổ điển lãng mạn và tình cảm hiện đại. Ngoài những tiểu thuyết lãng mạn truyền thống với các nhân vật chính đều hoàn hảo về mặt hình thể thì bà còn có những tác phẩm lấy nhân vật chính là những người khuyết tật, tiêu biểu như tác phẩm Phantom Waltz (Điệu Waltz dưới ánh trăng); Annie’s song (Giai điệu của Annie); Blue Skies… Catherine Anderson đã nhận được giải “Thành tựu trọn đời” do Romantic Times trao tặng cho những cống hiến của bà trong dòng tiểu thuyết lãng mạn. *** Trong cuốn kinh thánh nhà Kendrick giờ có thêm ghi chép mới rằng Ryan Kendrick, con trai của Ann và Keefe Kendrick, cưới Bethany Ann Coulter vào ngày 31 tháng 8, năm 2000. Vẫn còn thiếu một thông tin rằng đám cưới diễn ra bên hồ Bear Creek vào ngày hè tươi đẹp đó và thực tế là có thêm một đám cưới khác cũng được tổ chức đồng thời. Đó là hôn lễ giữa Sylvester Bob Glass và Helen Marie Boyle. Một thông tin khác nữa cũng không được ghi vào đó là cô dâu trẻ hơn vừa phát hiện ra mình đã có mang và vô cùng hạnh phúc. Có mặt trong buổi thành hôn toàn những vị khách ăn vận theo lối cao bồi bụi bặm. Tất thảy đều đi ngựa ba tiếng đồng hồ từ Rocking K đến hồ. Nhà Coulter có mặt đông đủ, bố mẹ Bethany và năm ông anh trai cứ quắc mắc nhìn Ryan cho đến khi anh nói, “Con đồng ý”. Không gấu hay báo gì xuất hiện cả. Tuy nhiên đang giữa buổi lễ thì một con bò có tên Cốt Lết ở đâu lù lù xuất hiện chứng kiến hôn lễ. Dè chừng quá nhiều người lạ, nó dừng lại ở khoảng cách nhất định và chỉ rống lên một lần để báo cho ông chủ của mình biết là nó đã tìm thấy ông. Trên lưng con bò là con mèo ú chễm chệ liếm láp. Sau buổi lễ Mary Coulter nhìn chồng tủm tỉm cười, đưa cho ông chiếc quần cộc được gấp lại gọn gàng. Harv bật cười, nhìn nó săm soi, rồi hỏi. “Mình có mang theo muối tiêu không đấy? Tôi muốn thêm chút gia vị cho ngon miệng.” Mary mỉm cười quàng tay ôm eo chồng. Zeke, nhạc công nhà Coulter, kéo một điệu nhạc chậm rãi du dương bằng chiếc violin của anh. Bố mẹ Bethany ngắm nhìn khi người chồng mới của cô con gái bồng cô lên từ chiếc xe lăn cùng nhau lướt một điệu Waltz trên mặt đất lốm đốm những tia nắng mặt trời - một điệu Waltz đẹp đến nao lòng vì chân cô dâu không hề chạm đất. “Anh đã nghĩ sai về nó”, Harv thú nhận. “Anh có thể nhìn thấy ánh sáng yêu thương lấp lánh trong đôi mắt nó mỗi khi nhìn con gái mình.” “Con gái mình cũng vậy thôi”, Mary thì thầm. “Em cũng sai. Mình có thấy nét mặt con bé khi cưỡi ngựa không? Con bé sinh ra là để cưỡi ngựa. Vì em mà nó phải từ bỏ niềm vui đó một thời gian quá lâu. Em thấy có lỗi quá.” Harve hích khuỷu tay vào vợ, “Tại vì mình quá yêu nó, sợ nó lại bị thương nếu để nó cưỡi ngựa. Con bé hiểu điều đó”. “Tình yêu thật diệu kỳ.” Mary nói khẽ. “Em thật mừng vì Ryan bước vào cuộc đời nó và thấy được điều vợ chồng mình không thấy. Tốt hơn hết là cứ để con bé dấn thân và tận hưởng cuộc sống hơn là được bảo bọc mà không thấy vui.” ... Mời các bạn đón đọc Điệu Waltz Dưới Ánh Trăng của tác giả Catherine Anderson.
Darling, Chúng Ta Ly Hôn Nhé Tập 1 - Chu Y Điểm Thủ
Thông qua vấn đề ngoại tình trong hôn nhân, tác giả muốn gửi tới bạn đọc thông điệp: những ai đã từng phạm phải sai lầm đều sẽ phải trả giá cho hành vi sai lầm đó. Hi vọng các thế hệ thanh niên hiện đại có cái nhìn đúng đắn về tình yêu, hôn nhân! Nếu hôn nhân đã rời khỏi quỹ đạo của nó, khi bạn ngoảnh đầu lại sẽ phát hiện ra tình yêu không còn ở vị trí cũ chờ bạn nữa rồi. - Lưu Hồng Huy, đạo diễn phim “Liệu ngày mai có đến” Tôi luôn nghĩ rằng trong xã hội hiện nay không có quá nhiều người hoàn mỹ, cho dù là về tâm hồn hay thể xác. Tuy nhiên cho dù là người thế nào cũng đều có thể tìm cho mình một thế giới hoàn mỹ ngay cả khi bản thân không hoàn mỹ. - Hồng Linh, chuyên gia tình cảm, hôn nhân nổi tiếng của Trung Quốc. Người nghèo khổ có cách hạnh phúc của người nghèo khổ, người giàu có cách hạnh phúc của người giàu. Cho dù là kiểu hạnh phúc nào thì trước tiên phải tìm được nguồn gốc của hạnh phúc. Nếu không tìm được nguồn gốc của hạnh phúc, chúng ta sẽ không bao giờ thoát ra khỏi sự đeo bám của thứ tình cảm nội tâm đầy rắc rối. Có thể cuốn tiểu thuyết này sẽ hướng dẫn mọi người làm thế nào để nhận định rõ bản chất của hạnh phúc, để từ đó có thể sống một cách đúng đắn hơn. - Tô Hà, nhà chế tác điện ảnh. *** Trương Hoa vui vẻ dẫn vợ đi họp lớp. Đây là lần đầu tiên Trần Dĩnh đồng ý tham dự các buổi tụ tập kiểu như thế này kể từ sau khi kết hôn. Trần Dĩnh là mẫu phụ nữ không thích tham gia các hoạt động xã giao, cứ hết giờ làm là về nhà. Hôm nay khó khăn lắm mới chịu cùng đi với Trương Hoa, vì vậy Trương Hoa rất vui. Nhưng niềm vui này chẳng duy trì được lâu, bởi vì người bạn cũ của anh là Lí Dương Uy đã nói nhỏ với anh: - “Là một bạn học cũ, có một số chuyện tôi buộc phải nói với cậu, hôm nay tôi mới biết cô gái này là vợ cậu, nhưng đây không phải lần đầu tiên tôi gặp cô ta, trước đây tôi đã gặp cô ta nhiều lần rồi, chỉ có điều cô ta không biết tôi mà thôi”. Trương Hoa hỏi Lí Dương Uy gặp Trần Dĩnh ở đâu? Lí Dương Uy liền nói: - “Ở ngay khách sạn của chúng tôi, mỗi tháng cô ta thường xuất hiện vài lần với tổng giám đốc công ty cô ta, phòng thuê cố định là phòng 1608.” Trương Hoa đờ người ra khi nghe những lời ấy. Lí Dương Uy tiếp tục nói: “Mấy nhân viên phục vụ của khách sạn chúng tôi đều biết, cô ta với tổng giám đốc cứ sau giờ làm là đến thuê phòng mấy tiếng đồng hồ rồi mới đi. Bởi vì đã gần một năm nay rồi nên tôi gặp cô ta nhiều lần. Nhưng cô ta lần nào cũng vội vàng đến rồi đi, chẳng để ý gì đến tôi”. Trương Hoa định thần lại, gắt lên: “Đừng nói vớ vẩn, Trần Dĩnh từ xưa đến nay rất yên phận!”. Lí Dương Uy cười khẩy: “Bạn bè cũ tôi mới nói thẳng, lần sau tổng giám đốc cô ta gọi điện đến đặt phòng, tôi sẽ gọi cho cậu!” ... Mời các bạn đón đọc Darling, Chúng Ta Ly Hôn Nhé Tập 1 của tác giả Chu Y Điểm Thủ.