Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Nhân Tướng Học (Hy Trương)

Nhân Tướng học là một môn khoa học có từ rất lâu đời. Phát triển và song hành cùng thời đại, ngày nay nhân tướng học đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu và tìm hiểu. Nghiên cứu và tìm hiểu về Nhân tướng học là công việc đòi hỏi phải có những hiểu biết nhất định và có sự kiên trì, chuyên tâm đặc biệt. Hiểu và vận dụng những tri thức về Nhân tướng học trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống là công việc khó khăn phức tạp và hữu ích

Nhân tướng học là phép dự đoán về con người thông qua các bộ vị thân thể của con người. Phép dự đoán này có từ rất lâu đời và tồn tại đến ngày nay, trở thành một nét đặc biệt luôn hấp dẫn của nền văn hóa thần bí phương Đông. Do chỉ dựa trên quan sát và kinh nghiệm mà đi đến kết luận nên nhân tướng học không được chứng minh theo kiểu khoa học thực nghiệm và tồn tại rất nhiều quan điểm phản bác. Với những nội dung được giới thiệu, chia sẻ một cách chi tiết, cụ thể trong cuốn sáchNhân tướng học, tác giả Hy Trương hy vọng sẽ mang đến cho người đọc cái nhìn sâu sắc hơn, thấu đáo hơn để đối diện với những vấn đề còn chưa được làm sáng tỏ ở lĩnh vực đầy phức tạp này.

NHÂN TƯỚNG HỌC

LỜI MỞ ĐẦU

QUYỂN I Tìm mua: Nhân Tướng Học TiKi Lazada Shopee

PHẦN I. CÁC NÉT TƯỚNG TRONG NHÂN TƯỚNG HỌC

CHƯƠNG I. TỔNG QUÁT VỀ KHUÔN MẶT

I. TAM ĐÌNH

1. Vị trí của Tam Đình

2. Ý nghĩa của Tam Đình

II. NGŨ NHẠC

1. Vị trí của Ngũ Nhạc

2. Điều kiện đắc dụng của Ngũ Nhạc

3. Những yếu tố bù trừ

4. Sự khuyết hãm của Ngũ Nhạc

III. TỨ ĐẬU

1. Vị trí của Tứ Đậu

2. Điều kiện tối hảo của Tứ Đậu

IV. LỤC PHỦ

V. NGŨ QUAN

1. Vị trí của Ngũ Quan

2. Điều kiện tối hảo của Ngũ Quan

VI. 13 BỘ VỊ QUAN TRỌNG

VII. Ý NGHĨA CỦA TỪNG BỘ VỊ

1. Thiên Trung

2. Thiên Đình

3. Tư Không

4. Trung Chính

5. Ấn Đường

6. Sơn Căn

7. Niên Thượng

8. Thọ Thượng

9. Chuần Đầu

10. Nhân Trung

11. Thủy Tinh

12. Thừa Tương

13. Địa Các

VIII. 12 CUNG TRONG TƯỚNG HỌC

1. CUNG MẠNG (h9/1)

2. CUNG QUAN LỘC (h.9/2)

3. CUNG TÀI BẠCH

4. CUNG ĐIỀN TRẠCH

5. CUNG HUYNH ĐỆ

6. CUNG TỬ TỨC (h.9/3)

7. CUNG NÔ BỘC (h.9/4)

8. CUNG THÊ THIẾP (h.9/5)

9. CUNG TẬT ÁCH (h.9/6)

10. CUNG THIÊN DI (h.9/7)

11. CUNG PHÚC ĐỨC

12. CUNG TƯỚNG MẠO

IX. TRÁN

1. ĐẠI CƯƠNG

2. CÁC DẠNG THỨC CỦA TRÁN

2.1. Trán rộng

2.2. Trán cao

2.3. Trán vuông

2.4. Trán có góc tròn

2.5. Trán gồ (lồi)

2.6. Trán tròn (h.16)

2.7. Trán lẹm (h1.7, h.18)

3. Ý NGHĨA VẬN MỆNH CỦA TRÁN

4. CÁC VẰN TRÁN

CHƯƠNG II. LÔNG MÀY

I. TỔNG QUÁT VỀ LÔNG MÀY a. Các đặc tính của Lông Mày b. Các đặc thái của Lông Mày

II. CÁC Ý NGHĨA CỦA LÔNG MÀY a) Tương quan giữa Lông Mày và cá tính.

1. Thông minh tổng quát

2.Thông minh, đa tài và khéo léo

3. Thông minh hiền hòa

4. Cứng cỏi, ngoan cố, ngu độn

5. Cô độc, quả giao

6. Hào sáng phóng khoáng

7. Mềm mỏng, nhu thuận

8. Tham lam, dâm dật

9. Tàn nhẫn, háo sắt b) Tương quan giữa Lông Mày và phú quí, bần tiện

III. CÁC LOẠI LÔNG MÀY ĐIỂN HÌNH

CHƯƠNG III. MẮT

I. TỔNG QUÁT VỀ MẮT

II. CÁC Ý NGHĨA CỦA MẮT

III. CÁC LOẠI MẮT ĐIỂN HÌNH

CHƯƠNG IV. MŨI VÀ LƯỠNG QUYỀN

A. MŨI

I. TỔNG QUÁT VỀ MŨI

II. CÁC Ý NGHĨA CỦA MŨI

III. CÁC LOẠI MŨI ĐIỂN HÌNH TRONG TƯỚNG HỌC

B. LƯỠNG QUYỀN

I. TỔNG QUÁT VỀ LƯỠNG QUYỀN

C- PHỤ LUẬN VỀ MŨI VÀ LƯỠNG QUYỀN

CHƯƠNG V. MÔI MIỆNG VÀ KHU VỰC HẠ ĐÌNH

A. MIỆNG VÀ MÔI

I. ĐẠI CƯƠNG VỀ MÔI MIỆNG

II. CÁC Ý NGHĨA CỦA MÔI VÀ MIỆNG

III. CÁC LOẠI MIỆNG ĐIỂN HÌNH TRONG TƯỚNG HỌC

B. KHU VỰC HẠ ĐÌNH

I. PHÁP LỆNH

II. NHÂN TRUNG

III. CẰM

IV. MANG TAI

CHƯƠNG VI. TAI

I. TỔNG QUÁT VỀ TAI

II. Ý NGHĨA CỦA TAI

III. CÁC LOẠI TAI ĐIỂN HÌNH

PHẦN II. CÁC LOẠI TƯỚNG

CHƯƠNG I. LOẠI TƯỚNG CHÍNH THƯỜNG

I. LỐI PHÂN LOẠI CỔ ĐIỂN THÔNG DỤNG

II. LỐI PHÂN LOẠI CỦA VƯƠNG VĂN KHIẾT

III. PHÂN LOẠI THEO 12 CHI

CHƯƠNG II. LOẠI TƯỚNG BIẾN CÁCH

I. KHÁI NIỆM TỔNG QUÁT

CHƯƠNG III. NHỮNG TƯỚNG CÁCH ĐẶC BIỆT

I. NGŨ TRƯỜNG

II. NGŨ ĐOẢN

III. NGŨ HỢP

IV. NGŨ LỘ:

V. NGŨ TÚ

VI. LỤC ĐẠI

VII. LỤC TIỂU

CHƯƠNG IV. ÂM THANH, RÂU TÓC VÀ NỐT RUỒI VÀ ĐỘNG TÁC

I. NHỮNG NÉT TƯỚNG ÂM THANH

II. NHỮNG NÉT TƯỚNG TÓC VÀ RÂU

III. NHỮNG NÉT TƯỚNG NỐT RUỒI

IV. NHỮNG NÉT TƯỚNG ĐỘNG TÁC

V. NHỮNG NÉT TƯỚNG TRÊN THÂN MÌNH

VI. - NHỮNG NÉT TƯỚNG CHÂN TAY

QUYỂN II - LÝ TƯỚNG VÀ PHÁP TƯỚNG

CHƯƠNG I. NGUYÊN TẮC THANH TRỌC

I. THỬ PHÁT HỌA HAI Ý NIỆM THANH VÀ TRỌC

II. TƯƠNG QUAN THANH TRỌC

III. THẨM ĐỊNH Ý NGHĨA CỦA TƯƠNG QUAN THANH TRỌC

IV. SỰ ỨNG DỤNG CỦA NGUYÊN TẮC THANH TRỌC TRONG TƯỚNG HỌC

CHƯƠNG II. NGUYÊN LÝ ÂM DƯƠNG VÀ NGŨ HÀNH TRONG TƯỚNG HỌC

I. ÂM DƯƠNG VÀ NGŨ HÀNH TRONG VŨ TRỤ QUAN TRUNG HOA

II. ỨNG DỤNG CỦA ÂM DƯƠNG TRONG TƯỚNG HỌC:

IV. KHÁI LUẬN VỀ NGŨ HÀNH HÌNH TƯỚNG:

V. TỔNG LUẬN PHÉP TƯƠNG HỢP NGŨ HÀNH ÁP DỤNG VÀO NHÂN TƯỚNG HỌC:

CHƯƠNG III. THẦN, KHÍ, SẮC VÀ KHÍ PHÁCH

ĐẠI CƯƠNG VỀ THẦN KHÍ SẮC

THẦN

NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU THẦN

KHÍ

I. PHÁC HỌA Ý NIỆM KHÍ

II. VAI TRÒ CỦA ÂM THANH TRONG VIỆC NGHIÊN CỨU KHÍ:

III. PHÂN LOẠI KHÍ:

IV. TƯƠNG QUAN GIỮA KHÍ VÀ SẮC

SẮC

I. Ý NIỆM SẮC TRONG TƯỚNG HỌC Á ĐÔNG

II. CÁC LOẠI SẮC TRONG TƯỚNG HỌC:

III. TƯƠNG QUAN GIỮA SẮC VÀ CON NGƯỜI

KHÍ PHÁCH

I. QUAN NIỆM CỦA TƯỚNG HỌC Á ĐÔNG VỀ KHÍ PHÁCH

II. THỬ PHÁC HỌA Ý NIỆM KHÍ PHÁCH

III. KHẢO LUẬN VỀ CÁC THÀNH TỐ CỦA KHÍ PHÁCH

CHƯƠNG IV. PHƯƠNG PHÁP XEM TƯỚNG

I. NHỮNG NGUYÊN TẮC CĂN BẢN TRONG PHƯƠNG PHÁP XEM TƯỚNG

II. CÁC TƯỚNG PHÁI

III. KỸ THUẬT XEM TƯỚNG THEO TIÊU CHUẨN THỜI GIAN

CHƯƠNG V. ỨNG DỤNG NHÂN TƯỚNG HỌC

I. ỨNG DỤNG NHÂN TƯỚNG HỌC VÀO VIỆC XỬ THẾ

A. Quan sát cá tính bằng hữu

B. Quán sát cá tính người giúp việc:

C. Quan sát cá tính người trên

II. ỨNG DỤNG NHÂN TƯỚNG HỌC VÀO VIỆC TIÊN LIỆU VẬN MẠNG

A, PHÁT ĐẠT

B. PHÁ BẠI:

C. THỌ YỂU

CHƯƠNG VI. TƯỚNG PHỤ NỮ

I. NHẬN ĐỊNH TỔNG QUÁT

II. NHỮNG TƯỚNG CÁCH PHỤ NỮ

III. PHỤ LUẬN VỀ TƯỚNG PHỤ NỮ

THAY LỜI KẾT

Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Nhân Tướng Học PDF của tác giả Hy Trương nếu chưa có điều kiện.

Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.

Nguồn: thuviensach.vn

Đọc Sách

Phi Lý Trí (Dan Ariely)
Con người có khi phi lý trí hơn chúng ta tưởng. Con người thường không hiểu được tác động của xúc cảm đối với những gì mình muốn và hay đánh giá quá cao những gì mình có. Nhưng những hành vi sai lầm này không hề ngẫu nhiên hay vô nghĩa. Chúng có thể được dự đoán. Sách đặc biệt hữu ích đối với những người làm kinh doanh, các chủ doanh nghiệp, hoặc cụ thể hơn đối với những người làm marketing, quảng cáo và truyền thôngDưới đây là những tác phẩm đã xuất bản của tác giả "Dan Ariely":Lẽ Phải Của Phi Lý TríPhi Lý Một Cách Hợp LýBản Chất Của Dối TráPhi Lý TríĐộc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Phi Lý Trí PDF của tác giả Dan Ariely nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
Phi Lý Trí (Dan Ariely)
Con người có khi phi lý trí hơn chúng ta tưởng. Con người thường không hiểu được tác động của xúc cảm đối với những gì mình muốn và hay đánh giá quá cao những gì mình có. Nhưng những hành vi sai lầm này không hề ngẫu nhiên hay vô nghĩa. Chúng có thể được dự đoán. Sách đặc biệt hữu ích đối với những người làm kinh doanh, các chủ doanh nghiệp, hoặc cụ thể hơn đối với những người làm marketing, quảng cáo và truyền thôngDưới đây là những tác phẩm đã xuất bản của tác giả "Dan Ariely":Lẽ Phải Của Phi Lý TríPhi Lý Một Cách Hợp LýBản Chất Của Dối TráPhi Lý TríĐộc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Phi Lý Trí PDF của tác giả Dan Ariely nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
Nóng Giận Là Bản Năng, Tĩnh Lặng Là Bản Lĩnh (Tống Mặc)
Sai lầm lớn nhất của chúng ta là đem những tật xấu, những cảm xúc tiêu cực trút bỏ lên những người xung quanh, càng là người thân càng dễ gây thương tổn. Cái gì cũng nói toạc ra, cái gì cũng bộc lộ hết không phải là thẳng tính, mà là thiếu bản lĩnh. Suy cho cùng, tất cả những cảm xúc tiêu cực của con người đều là sự phẫn nộ dành cho bất lực của bản thân. Nếu bạn đúng, bạn không cần phải nổi giận. Nếu bạn sai, bạn không có tư cách nổi giận. Đem một nắm muối bỏ vào cốc nước, cốc nước trở nên mặn chát. Đem một nắm muối bỏ vào hồ nước, hồ nước vẫn ngọt lành. Lòng người cũng vậy, càng nông cạn càng dễ biến chất, càng sâu sắc càng khó lung lay. Ý nghĩa của đời người không ngoài việc tu tâm dưỡng tính, để mở lòng ra bao la như biển hồ, trước những nắm muối thị phi của cuộc đời vẫn thản nhiên không xao động. “Nóng giận là bản năng, tĩnh lặng là bản lĩnh” là từ bỏ “tam độc”, tu dưỡng một trái tim trong sáng: -Từ bỏ “tham” - bớt một phần ham muốn, thêm một phần tự do. Tìm mua: Nóng Giận Là Bản Năng, Tĩnh Lặng Là Bản Lĩnh TiKi Lazada Shopee -Từ bỏ “sân” - bớt một phần tranh chấp, thêm một phần ung dung. -Từ bỏ “si” - bớt một phần mê muội, thêm một phần tĩnh tâm. Cuốn sách là tập hợp những bài học, lời tâm sự về nhân sinh, luận về cuộc đời của đại sư Hoằng Nhất - vị tài tử buông mọi trần tục để quy y cửa Phật, người được mệnh danh tinh thông kim cổ và cũng có tầm ảnh hưởng lớn trong Phật giáo. Trưởng thành, hãy để lòng rộng mở, tiến gần đến chữ “Người”, học được cách bao dung, học được cách khống chế cảm xúc. Đừng để những xúc động nhất thời như ngọn lửa, tưởng thiêu rụi được kẻ thù mà thực ra lại làm bỏng tay ta trước.*** Người xưa có câu: “Nổi giận là bản năng, kiểm soát nóng giận là bản lĩnh”. Con người ở vào lúc nóng giận sẽ không có lý trí và nói những lời làm tổn thương người khác. Sai lầm lớn nhất của chúng ta là đem những tật xấu, những cảm xúc tiêu cực trút bỏ lên những người xung quanh, càng là người thân càng dễ gây thương tổn. Cái gì cũng nói toạc ra, cái gì cũng bộc lộ hết không phải là thẳng tính, mà là thiếu bản lĩnh. Suy cho cùng, tất cả những cảm xúc tiêu cực của con người đều là sự phẫn nộ dành cho sự bất lực của bản thân. Nếu bạn đúng, bạn không cần phải nổi giận. Nếu bạn sai, bạn không có tư cách nổi giận. Một người có cảm xúc ổn định thì vẻ mặt thường sẽ ôn hòa khiến người khác dễ chịu giống như được một cơn gió mát thổi qua, giúp mọi người xích lại gần nhau hơn. Trái lại, một người động một chút là nổi giận thì ai gặp cũng không ưa nổi, trốn tránh. Đem một nắm muối bỏ vào cốc nước, cốc nước trở nên mặn chát. Đem một nắm muối bỏ vào hồ nước, hồ nước vẫn ngọt lành. Lòng người cũng vậy, càng nông cạn càng dễ biến chất, càng sâu sắc càng khó lung lay. Ý nghĩa của đời người không ngoài việc tu tâm dưỡng tính, để mở lòng ra bao la như biển hồ, trước những nắm muối thị phi của cuộc đời vẫn thản nhiên không xao động. Con người sống đều là đang “vác nặng” Có câu nói rất hay rằng: “Con người sống đều là đang “vác nặng” mà tiến về phía trước.” Con người khi đến một độ tuổi nhất định cần phải học được cách buông bỏ những gì cần buông bỏ và giữ lấy những gì nên quý trọng. Người trưởng thành cần phải ném bỏ một số loại "đồ vật” trên hành trang của mình, như những người bạn “hư tình giả ý”, những thú vui rượu chè vô nghĩa, những câu chuyện phiếm vô dụng. Thay vào đó, phải biết nắm giữ và trân quý sự tự tin, tấm lòng lương thiện, khiêm tốn, giản dị… Từ bỏ “tam độc”, tu dưỡng một trái tim trong sáng Từ bỏ “tham” - bớt một phần ham muốn, thêm một phần tự do. Từ bỏ “sân” - bớt một phần tranh chấp, thêm một phần ung dung. Từ bỏ “si” - bớt một phần mê muội, thêm một phần tĩnh tâm. Cuốn sách của Tống Mặc (Hà Giang dịch) là tập hợp những bài học, lời tâm sự về nhân sinh, luận về cuộc đời của đại sư Hoằng Nhất - vị tài tử buông mọi trần tục để quy y cửa Phật, người được mệnh danh tinh thông kim cổ và cũng có tầm ảnh hưởng lớn trong Phật giáo. Trưởng thành, hãy để lòng rộng mở, tiến gần đến chữ Người, học được cách bao dung, học được cách khống chế cảm xúc. Đừng để những xúc động nhất thời như ngọn lửa, tưởng thiêu rụi được kẻ thù mà thực ra lại làm bỏng tay ta trước. Những bài học về nhân sinh Nóng giận là bản năng, tĩnh lặng là bản lĩnh là cuốn sách thiên về tư duy và sống đẹp. Chúng ta luôn có những sai lầm và sai lầm lớn nhất của chúng ta là đem những tật xấu, những cảm xúc tiêu cực trút bỏ lên những người xung quanh, nói toạc ra những lời không hay… Nội dung cuốn sách là tập hợp những bài học, lời tâm sự về nhân sinh cách loại bỏ “tam độc” (tham, sân, si) và tu dưỡng 1 trái tim trong sáng để sống 1 đời bình thản. Con người sống đều là đang “vác nặng” Từ bỏ “tam độc”, tu dưỡng một trái tim trong sáng Nóng giận là bản năng, tĩnh lặng là bản lĩnh 1. Đừng lo lắng, mọi chuyện sẽ ổn thôi 2. Đừng sợ, bầu trời sẽ không sụp đổ 3. Đừng hối hận, ai mà không từng làm sai 4. Đừng thất vọng, cơ hội rồi sẽ đến 5. Đừng buông bỏ, ánh sáng ở cuối đường hầm 6. Đừng tức giận, hãy học cách rộng lượng khoan hồng *** Nhắc tới đại sư Hoằng Nhất[1], nhiều người sẽ lập tức nhớ tới một cái tên khác - Lý Thúc Đồng. Ngài xuất thân trong một gia đình thương nhân giàu có, hồi còn trẻ ăn ngon, mặc đẹp, thích rất nhiều thứ thuộc nhiều lĩnh vực như âm nhạc, hý kịch, mỹ thuật, thơ ca, khắc ấn, vàng bạc đá quý, thư pháp, giáo dục, triết học, dù là lĩnh vực nào ngài đều có trình độ hơn người. “Trường đình ngoại, cổ đạo biên Phương thảo bích liên thiên” (Tạm dịch: Ngoài trường đình, bên đường cũ, Cỏ thơm xanh tận chân trời.) Bài thơ “Tống biệt” đã làm cảm động biết bao người. Tuy nhiên, một tài tử tuyệt thế như vậy, tới độ trung niên lại đột ngột từ bỏ hồng trần, xuất gia đi tu, sống cuộc đời tăng lữ khổ hành với một chiếc cà sa, một cây trượng, chịu đạm bạc, ôm quạnh hiu. Trong 24 năm, từ lúc đại sư xuất gia tới khi viên tịch, ngài đã chuyên tâm tu hành, dày công nghiên cứu Phật học, phát huy mạnh mẽ Phật pháp, phổ độ chúng sinh, giúp cho Phật Giáo Nam Sơn Luật Tông thất truyền nhiều năm được phục hưng. Ngài được đệ tử Phật môn tôn là thế tổ đời thứ 11 của Luật Tông, để lại cho người đời của cải tinh thần vô tận. Tại sao đại sư Hoằng Nhất lại xuất gia, là vì ngài đã chán ngán với trần thế, hay vì ngài đã nhìn thấu nhân sinh? Rất nhiều người không hiểu được. Khi còn sống, đại sư có một câu nói, “Lấy tinh thần xuất thế, để làm sự nghiệp nhập thế”, đây có thể coi là lời giải thích hay nhất cho việc ngài xuất gia. Còn nói tới duyên cớ xuất gia, chính đại sư từng nói thế này: “Có không ít người phỏng đoán nguyên nhân tôi xuất gia, hơn nữa còn tranh luận rất nhiều. Tôi không muốn đi thông cáo với thiên hạ tại sao tôi xuất gia, vì mỗi người khi làm việc gì, đều có nguyên tắc, hứng thú, phương thức và cách lý giải của riêng họ, những thứ này sẽ không bao giờ giống nhau, cũng có thể nói người khác sẽ không thể hiểu được, vậy nên dứt khoát không nói ra, dần dần người khác cũng sẽ quên nó đi. Còn về tâm tư tôi lúc đó, tôi nghĩ phần nhiều là vì tôi muốn theo đuổi một cách thức cao hơn, lý tưởng hơn, để giáo hóa bản thân và người đời!” Nửa đời trước của đại sư Hoằng Nhất, ngài đã sống rất sôi nổi, tất cả những việc mà bản thân yêu thích, ngài đều làm từng việc một; tất cả những khổ đau mà bản thân nên gánh chịu, ngài cũng đã gánh chịu hết. Từ nhỏ ngài đã mất cha, sau khi lớn lên thì mất mẹ. Ở Nhật Bản, ngài gặp được người phụ nữ làm mình động lòng và đã mạnh dạn theo đuổi. Thân là thầy giáo, ngài đã làm tốt nhất có thể, thậm chí còn nguyện từ bỏ tu hành vì học phí của học trò, nỗ lực làm việc kiếm tiền giúp cậu học trò hoàn thành sự nghiệp học tập. Có người sẽ không hiểu được tại sao đại sư lại phải từ bỏ xuất gia tu hành, chỉ có đại sư mới biết, nếu không từ bỏ sẽ không có cách nào thực hiện được lý tưởng giáo hóa bản thân và người đời. Cũng giống như việc chúng ta cầm quá nhiều thứ trong tay, nếu không biết bỏ xuống thì sẽ càng ngày càng nặng, hơn thế nếu gặp được thứ gì thấy thích hơn, sẽ phát hiện ra rằng mình không thể đưa tay đón nhận chúng nữa. Lúc này, chỉ có bỏ thứ đang cầm trong tay xuống, mới có được thứ mới. Nếu một người vừa muốn đạt tới cảnh giới cao nhất của việc tu hành, lại không nỡ buông bỏ gia đình và tất cả những thứ thuộc về trần thế, vậy chẳng qua cũng chỉ là một câu nói suông mà thôi. Sau khi xuất gia, đại sư đã buông bỏ tất cả những thứ thuộc về trần thế, tình nguyện sống một cuộc đời thanh đạm khổ hạnh mà người thường khó lòng tưởng tượng được, tự trải nghiệm lĩnh hội đời người. Chúng ta thường nói, không phải tôi muốn có nhiều phiền não như vậy, chỉ là vì đời người có quá nhiều vướng bận và nhiều chuyện bất lực. Thật ra, đời người không gì không thể buông bỏ, nhỏ thì là bất hòa giữa làng xóm với nhau, lớn thì là sống chết, bạn có buông bỏ hay không, kết cục cũng không có gì thay đổi. Cái khác biệt là, người buông bỏ được sẽ nhận về sự thoải mái và vui vẻ, còn người không buông bỏ được chỉ có thể cõng gánh nặng cả đời mà sống, không được vui vẻ. Vậy thì, hãy để đại sư dạy chúng ta làm sao để buông bỏ đi!Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Nóng Giận Là Bản Năng, Tĩnh Lặng Là Bản Lĩnh PDF của tác giả Tống Mặc nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
Nóng Giận Là Bản Năng, Tĩnh Lặng Là Bản Lĩnh (Tống Mặc)
Sai lầm lớn nhất của chúng ta là đem những tật xấu, những cảm xúc tiêu cực trút bỏ lên những người xung quanh, càng là người thân càng dễ gây thương tổn. Cái gì cũng nói toạc ra, cái gì cũng bộc lộ hết không phải là thẳng tính, mà là thiếu bản lĩnh. Suy cho cùng, tất cả những cảm xúc tiêu cực của con người đều là sự phẫn nộ dành cho bất lực của bản thân. Nếu bạn đúng, bạn không cần phải nổi giận. Nếu bạn sai, bạn không có tư cách nổi giận. Đem một nắm muối bỏ vào cốc nước, cốc nước trở nên mặn chát. Đem một nắm muối bỏ vào hồ nước, hồ nước vẫn ngọt lành. Lòng người cũng vậy, càng nông cạn càng dễ biến chất, càng sâu sắc càng khó lung lay. Ý nghĩa của đời người không ngoài việc tu tâm dưỡng tính, để mở lòng ra bao la như biển hồ, trước những nắm muối thị phi của cuộc đời vẫn thản nhiên không xao động. “Nóng giận là bản năng, tĩnh lặng là bản lĩnh” là từ bỏ “tam độc”, tu dưỡng một trái tim trong sáng: -Từ bỏ “tham” - bớt một phần ham muốn, thêm một phần tự do. Tìm mua: Nóng Giận Là Bản Năng, Tĩnh Lặng Là Bản Lĩnh TiKi Lazada Shopee -Từ bỏ “sân” - bớt một phần tranh chấp, thêm một phần ung dung. -Từ bỏ “si” - bớt một phần mê muội, thêm một phần tĩnh tâm. Cuốn sách là tập hợp những bài học, lời tâm sự về nhân sinh, luận về cuộc đời của đại sư Hoằng Nhất - vị tài tử buông mọi trần tục để quy y cửa Phật, người được mệnh danh tinh thông kim cổ và cũng có tầm ảnh hưởng lớn trong Phật giáo. Trưởng thành, hãy để lòng rộng mở, tiến gần đến chữ “Người”, học được cách bao dung, học được cách khống chế cảm xúc. Đừng để những xúc động nhất thời như ngọn lửa, tưởng thiêu rụi được kẻ thù mà thực ra lại làm bỏng tay ta trước.*** Người xưa có câu: “Nổi giận là bản năng, kiểm soát nóng giận là bản lĩnh”. Con người ở vào lúc nóng giận sẽ không có lý trí và nói những lời làm tổn thương người khác. Sai lầm lớn nhất của chúng ta là đem những tật xấu, những cảm xúc tiêu cực trút bỏ lên những người xung quanh, càng là người thân càng dễ gây thương tổn. Cái gì cũng nói toạc ra, cái gì cũng bộc lộ hết không phải là thẳng tính, mà là thiếu bản lĩnh. Suy cho cùng, tất cả những cảm xúc tiêu cực của con người đều là sự phẫn nộ dành cho sự bất lực của bản thân. Nếu bạn đúng, bạn không cần phải nổi giận. Nếu bạn sai, bạn không có tư cách nổi giận. Một người có cảm xúc ổn định thì vẻ mặt thường sẽ ôn hòa khiến người khác dễ chịu giống như được một cơn gió mát thổi qua, giúp mọi người xích lại gần nhau hơn. Trái lại, một người động một chút là nổi giận thì ai gặp cũng không ưa nổi, trốn tránh. Đem một nắm muối bỏ vào cốc nước, cốc nước trở nên mặn chát. Đem một nắm muối bỏ vào hồ nước, hồ nước vẫn ngọt lành. Lòng người cũng vậy, càng nông cạn càng dễ biến chất, càng sâu sắc càng khó lung lay. Ý nghĩa của đời người không ngoài việc tu tâm dưỡng tính, để mở lòng ra bao la như biển hồ, trước những nắm muối thị phi của cuộc đời vẫn thản nhiên không xao động. Con người sống đều là đang “vác nặng” Có câu nói rất hay rằng: “Con người sống đều là đang “vác nặng” mà tiến về phía trước.” Con người khi đến một độ tuổi nhất định cần phải học được cách buông bỏ những gì cần buông bỏ và giữ lấy những gì nên quý trọng. Người trưởng thành cần phải ném bỏ một số loại "đồ vật” trên hành trang của mình, như những người bạn “hư tình giả ý”, những thú vui rượu chè vô nghĩa, những câu chuyện phiếm vô dụng. Thay vào đó, phải biết nắm giữ và trân quý sự tự tin, tấm lòng lương thiện, khiêm tốn, giản dị… Từ bỏ “tam độc”, tu dưỡng một trái tim trong sáng Từ bỏ “tham” - bớt một phần ham muốn, thêm một phần tự do. Từ bỏ “sân” - bớt một phần tranh chấp, thêm một phần ung dung. Từ bỏ “si” - bớt một phần mê muội, thêm một phần tĩnh tâm. Cuốn sách của Tống Mặc (Hà Giang dịch) là tập hợp những bài học, lời tâm sự về nhân sinh, luận về cuộc đời của đại sư Hoằng Nhất - vị tài tử buông mọi trần tục để quy y cửa Phật, người được mệnh danh tinh thông kim cổ và cũng có tầm ảnh hưởng lớn trong Phật giáo. Trưởng thành, hãy để lòng rộng mở, tiến gần đến chữ Người, học được cách bao dung, học được cách khống chế cảm xúc. Đừng để những xúc động nhất thời như ngọn lửa, tưởng thiêu rụi được kẻ thù mà thực ra lại làm bỏng tay ta trước. Những bài học về nhân sinh Nóng giận là bản năng, tĩnh lặng là bản lĩnh là cuốn sách thiên về tư duy và sống đẹp. Chúng ta luôn có những sai lầm và sai lầm lớn nhất của chúng ta là đem những tật xấu, những cảm xúc tiêu cực trút bỏ lên những người xung quanh, nói toạc ra những lời không hay… Nội dung cuốn sách là tập hợp những bài học, lời tâm sự về nhân sinh cách loại bỏ “tam độc” (tham, sân, si) và tu dưỡng 1 trái tim trong sáng để sống 1 đời bình thản. Con người sống đều là đang “vác nặng” Từ bỏ “tam độc”, tu dưỡng một trái tim trong sáng Nóng giận là bản năng, tĩnh lặng là bản lĩnh 1. Đừng lo lắng, mọi chuyện sẽ ổn thôi 2. Đừng sợ, bầu trời sẽ không sụp đổ 3. Đừng hối hận, ai mà không từng làm sai 4. Đừng thất vọng, cơ hội rồi sẽ đến 5. Đừng buông bỏ, ánh sáng ở cuối đường hầm 6. Đừng tức giận, hãy học cách rộng lượng khoan hồng *** Nhắc tới đại sư Hoằng Nhất[1], nhiều người sẽ lập tức nhớ tới một cái tên khác - Lý Thúc Đồng. Ngài xuất thân trong một gia đình thương nhân giàu có, hồi còn trẻ ăn ngon, mặc đẹp, thích rất nhiều thứ thuộc nhiều lĩnh vực như âm nhạc, hý kịch, mỹ thuật, thơ ca, khắc ấn, vàng bạc đá quý, thư pháp, giáo dục, triết học, dù là lĩnh vực nào ngài đều có trình độ hơn người. “Trường đình ngoại, cổ đạo biên Phương thảo bích liên thiên” (Tạm dịch: Ngoài trường đình, bên đường cũ, Cỏ thơm xanh tận chân trời.) Bài thơ “Tống biệt” đã làm cảm động biết bao người. Tuy nhiên, một tài tử tuyệt thế như vậy, tới độ trung niên lại đột ngột từ bỏ hồng trần, xuất gia đi tu, sống cuộc đời tăng lữ khổ hành với một chiếc cà sa, một cây trượng, chịu đạm bạc, ôm quạnh hiu. Trong 24 năm, từ lúc đại sư xuất gia tới khi viên tịch, ngài đã chuyên tâm tu hành, dày công nghiên cứu Phật học, phát huy mạnh mẽ Phật pháp, phổ độ chúng sinh, giúp cho Phật Giáo Nam Sơn Luật Tông thất truyền nhiều năm được phục hưng. Ngài được đệ tử Phật môn tôn là thế tổ đời thứ 11 của Luật Tông, để lại cho người đời của cải tinh thần vô tận. Tại sao đại sư Hoằng Nhất lại xuất gia, là vì ngài đã chán ngán với trần thế, hay vì ngài đã nhìn thấu nhân sinh? Rất nhiều người không hiểu được. Khi còn sống, đại sư có một câu nói, “Lấy tinh thần xuất thế, để làm sự nghiệp nhập thế”, đây có thể coi là lời giải thích hay nhất cho việc ngài xuất gia. Còn nói tới duyên cớ xuất gia, chính đại sư từng nói thế này: “Có không ít người phỏng đoán nguyên nhân tôi xuất gia, hơn nữa còn tranh luận rất nhiều. Tôi không muốn đi thông cáo với thiên hạ tại sao tôi xuất gia, vì mỗi người khi làm việc gì, đều có nguyên tắc, hứng thú, phương thức và cách lý giải của riêng họ, những thứ này sẽ không bao giờ giống nhau, cũng có thể nói người khác sẽ không thể hiểu được, vậy nên dứt khoát không nói ra, dần dần người khác cũng sẽ quên nó đi. Còn về tâm tư tôi lúc đó, tôi nghĩ phần nhiều là vì tôi muốn theo đuổi một cách thức cao hơn, lý tưởng hơn, để giáo hóa bản thân và người đời!” Nửa đời trước của đại sư Hoằng Nhất, ngài đã sống rất sôi nổi, tất cả những việc mà bản thân yêu thích, ngài đều làm từng việc một; tất cả những khổ đau mà bản thân nên gánh chịu, ngài cũng đã gánh chịu hết. Từ nhỏ ngài đã mất cha, sau khi lớn lên thì mất mẹ. Ở Nhật Bản, ngài gặp được người phụ nữ làm mình động lòng và đã mạnh dạn theo đuổi. Thân là thầy giáo, ngài đã làm tốt nhất có thể, thậm chí còn nguyện từ bỏ tu hành vì học phí của học trò, nỗ lực làm việc kiếm tiền giúp cậu học trò hoàn thành sự nghiệp học tập. Có người sẽ không hiểu được tại sao đại sư lại phải từ bỏ xuất gia tu hành, chỉ có đại sư mới biết, nếu không từ bỏ sẽ không có cách nào thực hiện được lý tưởng giáo hóa bản thân và người đời. Cũng giống như việc chúng ta cầm quá nhiều thứ trong tay, nếu không biết bỏ xuống thì sẽ càng ngày càng nặng, hơn thế nếu gặp được thứ gì thấy thích hơn, sẽ phát hiện ra rằng mình không thể đưa tay đón nhận chúng nữa. Lúc này, chỉ có bỏ thứ đang cầm trong tay xuống, mới có được thứ mới. Nếu một người vừa muốn đạt tới cảnh giới cao nhất của việc tu hành, lại không nỡ buông bỏ gia đình và tất cả những thứ thuộc về trần thế, vậy chẳng qua cũng chỉ là một câu nói suông mà thôi. Sau khi xuất gia, đại sư đã buông bỏ tất cả những thứ thuộc về trần thế, tình nguyện sống một cuộc đời thanh đạm khổ hạnh mà người thường khó lòng tưởng tượng được, tự trải nghiệm lĩnh hội đời người. Chúng ta thường nói, không phải tôi muốn có nhiều phiền não như vậy, chỉ là vì đời người có quá nhiều vướng bận và nhiều chuyện bất lực. Thật ra, đời người không gì không thể buông bỏ, nhỏ thì là bất hòa giữa làng xóm với nhau, lớn thì là sống chết, bạn có buông bỏ hay không, kết cục cũng không có gì thay đổi. Cái khác biệt là, người buông bỏ được sẽ nhận về sự thoải mái và vui vẻ, còn người không buông bỏ được chỉ có thể cõng gánh nặng cả đời mà sống, không được vui vẻ. Vậy thì, hãy để đại sư dạy chúng ta làm sao để buông bỏ đi!Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Nóng Giận Là Bản Năng, Tĩnh Lặng Là Bản Lĩnh PDF của tác giả Tống Mặc nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.