Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Linh Hồn Của Quảng Cáo

"Concept – ý tưởng lớn" là khái niệm trung tâm vận hành doanh nghiệp, thị trường và sản phẩm; và chúng ta cần toàn bộ cảm tính và lý tính để tạo ra nó. "Nó không chỉ dừng lại ở ý nghĩa là khái niệm và ý tưởng, mà còn là "các đề xuất ra giá trị quan mới mà thời đại yêu cầu, và sẽ trở thành đường lối chỉ đạo của tất cả các hành động". Có thể nói tạo ra khái niệm trung tâm này là "công việc mang tính sáng tạo" cực độ. Bởi đó là công việc mà ta vừa phải có hiểu biết về những chiến lược tổng thể bằng cách thu thập thông tin, phân tích, tưởng tượng, đặt giả thuyết, vừa phải diễn giải ra bằng từ ngữ. Thêm nữa, cùng với việc tạo ra cách suy nghĩ mang tính trung tâm – nền tảng cho toàn thể hành động – "concept – ý tưởng lớn" còn phải "tạo ra đặc điểm nhận dạng kết nối với tương lai". Người ta nói "Ý tưởng lớn là chiếc la bàn (kim chỉ nam)", vì thế những doanh nghiệp không có ý tưởng lớn giống như là bị ép buộc đi biển mà không có la bàn trong tay. Bởi vì “tạo ra các ý tưởng lớn” chính là việc tạo ra đường lối chỉ đạo cho toàn bộ hành động. Hiện nay trên thị trường có rất nhiều dòng sách nói về phương pháp sáng tạo ý tưởng lớn. Tuy nhiên cuốn sách này – Linh hồn của quảng cáo - đi theo một lối tiếp cận rất đặc biệt, tác giả coi việc tạo ra các ý tưởng lớn là cốt lõi của mọi sự vật, giống như tạo ra xương sống cho con người. Vì thế, trong cuốn sách tác giả đưa ra nhiều vấn đề liên quan đến việc tạo ra các ý tưởng lớn và đưa ra các câu trả lời rõ ràng, dễ hiểu cho độc giả như Tại sao bây giờ lại nhất định phải có ý tưởng lớn, Ý tưởng lớn là gì, Làm thế nào để tạo ra ý tưởng lớn, ngôn từ hóa các ý tưởng lớn trong đầu như thế nào và làm sao để biến việc đưa ra ý tưởng lớn trở thành một kỹ năng thuần thục của mình. Cùng với 86 lời gợi ý và ví dụ, độc giả sẽ hiểu rõ hơn về cách tạo ra các ý tưởng lớn cũng như học hỏi được nhiều kinh nghiệm, bài học từ các thương hiệu lớn mà tác giả đã sử dụng để làm dẫn chứng phân tích. Cách tư duy, lối lập luận của một tác giả Nhật Bản khá logic và liền mạch, sẽ đem lại cho những người làm trong ngành quảng cáo nhiều bài học, cũng như đem lại cho tất cả mọi người những góc nhìn, cách thức để làm việc sáng tạo hơn, dù là bạn làm trong bất cứ ngành nghề nào. "Đời người vui thích với việc sáng tạo ra ý tưởng lớn là tuyệt vời nhất." - Nobuyuki Takahashi Trích đoạn sách: Ý tưởng chủ đạo trong Marketing Hiện giờ, khi suy nghĩ về thị trường ta sẽ có cách suy nghĩ gì, hình dung ra sao và có sự đánh giá nào? Có lẽ câu trả lời cho những câu hỏi trên sẽ hoạt động một cách có lợi cho việc kinh doanh từ giờ trở đi. Ý tưởng chủ đạo trong marketing, là "những điều doanh nghiệp phải nên nắm giữ toàn hệ thống bằng cách thức tiếp cận hoặc bằng cách suy nghĩ về thị trường đang được cho là cần thiết ngay tại thời điểm kinh doanh của doanh nghiệp". Những chiến lược của doanh nghiệp đang thâm nhập vào đó – tạo lập vị trí của doanh nghiệp vào thị trường như thế nào để dễ kinh doanh? Bằng chí hướng của sản phẩm? (sản phẩm OOO có chất lượng tốt nhất, sản phẩm OOO được cải tiến về mặt kỹ thuật) Bằng chí hướng của khách hàng? (dịch vụ OOO, thiết kế an toàn OOO) Bằng chí hướng của xã hội? (OOO quan tâm đến môi trường, OOO nuôi dưỡng văn hóa) Từng cách thức tiếp cận một sẽ thay đổi khi kết hợp cùng với thời đại và doanh nghiệp. Để tạo ra cảm giác tồn tại rằng "ngoài bạn ra không còn ai tồn tại trên thị trường"; cũng như để không những làm cho mối quan hệ với khách hàng ngày càng thân thiết hơn và bền vững hơn mà còn tang sức mạnh cho bản chất kinh doanh, thì không thể thiếu ý tưởng chủ đạo trong marketing. *** MARKETING - BRANDING Review sách Linh Hồn Của Quảng Cáo - Takahashi Nobuyuki Linh hồn của quảng cáo - Takahashi Nobuyuki là cuốn sách cần có cho bất kì bạn trẻ nào có hứng thú với ngành quảng cáo. Sách sẽ giúp bạn tóm lược ngay những nguyên tắc chính, từng bước định hình phần xương sống cốt lõi để xây dựng một quảng cáo thành công. Nếu đã từng nghe đến khái niệm concept marketing nhưng chưa thực sự hiểu rõ về cụm từ này. Vậy thì hãy đọc Linh hồn của quảng cáo dưới ngòi bút tác giả Nobuyuki Takahashi để biết làm thế nào định nghĩa một ý tưởng lớn, tầm quan trọng của ý tưởng lớn và cách thực hành chúng để marketing thành công.  Tựa sách “Linh hồn của quảng cáo” được viết bởi tác giả Nobuyuki Takahashi – đồng tác giả của hai cuốn sách thành công khác về lĩnh vực marketing “Để ngôn từ trở thành sức mạnh” và “Cưỡi thuyền ngược gió”.  Sách của ông thường khai thác đến những mặt cốt lõi trong lĩnh vực marketing. Giúp độc giả có một cái nhìn đa chiều hơn qua những nhận định mang tính chuyên môn của tác giả. Đọc sách của Nobuyuki Takahashi, người đọc có thể sẽ thay đổi hoàn toàn cách nhìn nhận đối với ngành quảng cáo, hoặc suy nghĩ theo một cách toàn diện hơn về lĩnh vực này. Ý tưởng lớn là gì? Nếu đã có vốn hiểu biết cơ bản đối với lĩnh vực marketing. Chắc hẳn bạn đọc sẽ biết về concept marketing – trụ cột to lớn của ngành nghề này. Concept marketing được định nghĩa trong cuốn Linh hồn của quảng cáo - Takahashi Nobuyuki là ý tưởng lớn, ý tưởng cốt lõi.  Thực tế, nhiều người đọc thường đánh đồng hai khái niệm “concept marketing” hay ý tưởng lớn với “idea”. Tuy nhiên thực chất, idea là một trong những yếu tố nằm trong ý tưởng lớn. Hay nói cách khác, ý tưởng lớn là một định nghĩa có phạm vi rất rộng. Để xây dựng ý tưởng lớn, người ta có thể vận dụng nhiều idea để hỗ trợ thực hiện concept sản phẩm một cách hiệu quả nhất. Một cách chính xác, “ý tưởng lớn” có thể xem là cách thức sáng tạo ý tưởng để theo kịp dòng chảy của nhu cầu thời đại. Chính nhờ vậy, sản phẩm sẽ có sự đặc trưng riêng biệt so với các mặt hàng cạnh tranh trên thị trường. Trong thế giới kinh doanh, để giữ được vị thế độc quyền độc tôn thì không thể thiếu việc sáng tạo ý tưởng lớn.  Tại sao sản phẩm của chúng ta cần ý tưởng lớn? Ý tưởng lớn được xem là yếu tố cốt lõi trong mọi hoạt động của doanh nghiệp. Có thể nhận thấy rằng, doanh nghiệp sẽ không thể thành công giữa biển thương trường hay trong cuộc chạy đua với các doanh nghiệp khác nếu như không sáng tạo và duy trì một ý tưởng lớn mang tính giá trị cao. Ý tưởng lớn chính là xương sống định hình cho toàn bộ những hoạt động mà doanh nghiệp sẽ thực hiện. Trước đây, ý tưởng lớn (concept sản phẩm) được định nghĩa là những nhận định chi tiết về sản phẩm. Cũng tức là, một ý tưởng lớn theo đó sẽ bao gồm các giải thích về chức năng, ưu điểm, ứng dụng và mục đích của việc sử dụng sản phẩm. Tuy nhiên ở thời đại này, xã hội đã có sự đánh giá đúng đắn hơn về tính mới mẻ và tính cá nhân hóa. Từ đó, giá trị của một ý tưởng lớn được thể hiện qua việc đưa ra những thông điệp mới mang tính khác biệt, thậm chí là đột phá để thu hút được người xem. Cụ thể hơn, trong cuốn Linh hồn của quảng cáo - Takahashi Nobuyuki, những ý tưởng lớn cần phải có lực hướng tâm mạnh mẽ và có sức mạnh xoay chuyển tổng thể để có thể tồn tại và duy trì. Trong cuốn sách Linh hồn của quảng cáo - Takahashi Nobuyuki. Tác giả khai thác định nghĩa “ý tưởng lớn” theo một cách toàn diện để người đọc có thể nhìn nhận tổng quát nhất. Bắt đầu từ quan điểm “cách suy nghĩ là trung tâm vận hành sự vật, sự việc” cho thấy vai trò cốt lõi của ý tưởng lớn trong việc quyết định cách thức doanh nghiệp hoạt động. Cụ thể, doanh nghiệp cần phải hiểu được sứ mệnh của mình cũng như phương pháp đáp ứng nhu cầu khách hàng thế nào cho hiệu quả. Ở quy mô nhỏ hơn chính là áp dụng các kiến thức này vào việc làm quảng cáo. Đồng thời giải thích lý do tại sao ý tưởng lớn được xem là linh hồn của quảng cáo. Một quảng cáo tuyệt vời có thể được khẳng định qua việc copy tinh tế hay visual xuất sắc? Những yếu tố này có thể rất cần thiết, tuy nhiên chúng vẫn chưa đủ. Bởi vì một quảng cáo hoàn hảo nhất là khi chúng khi được tiến hành dựa trên các ý tưởng thiết thực và đúng đắn. Linh hồn của quảng cáo - Takahashi Nobuyuki hướng dẫn người đọc 7 sức mạnh – hay chính xác là 7 đặc điểm chung của những “ý tưởng lớn” tuyệt vời.  Một ý tưởng lớn giá trị cần phải mang tính đổi mới, có sự đặc trưng và mang tính chất chiến lược. Ngoài ra nó cần phải thể hiện sự đồng cảm, được trình bày một cách nhất quán. Hơn nữa không thể thiếu đi tính kế thừa và là nguồn lan truyền cảm hứng.  Để nhận dạng đâu là một ý tưởng lớn, doanh nghiệp có thể tự trả lời 6 câu hỏi sau: Giá trị của bản thân là gì? Những thứ bản thân muốn bán gì? Căn cứ điểm của “hành động” và “suy nghĩ” của bản thân là gì? Những dự án mới, chủ trương độc nhất vô nhị là gì? Điều gì sẽ tạo niềm vui và niềm kinh ngạc mới cho những người xung quanh? Điều gì sẽ có khả năng tạo sự khác biệt với những người khác? Có đang diễn đạt lại những điều ấy bằng ngôn ngữ một cách nghiêm chỉnh và kết nối nó với hiện thực hay không? Lời kết Dù bạn là chủ doanh nghiệp hay nhân viên marketing, bạn đều nên đọc cuốn sách Linh hồn của quảng cáo - Takahashi Nobuyuki để hiểu được mối quan hệ giữa một ý tưởng lớn với sản phẩm quảng cáo thành công. Từ đó có được cách nhìn nhận toàn diện và chuyên môn hóa đối với lĩnh vực marketing. Cuốn sách sẽ là hành trang trợ giúp đắc lực trên con đường vận hành và phát triển ngành nghề. Mời các bạn đón đọc Linh Hồn Của Quảng Cáo của tác giả Takahashi Nobuyuki & Nguyễn Thị Ngươi (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Đọc Sách

Ai Nói Voi Không Thể Khiêu Vũ? - Louis V. Gerstner
Quản trị doanh nghiệp lớn là một công việc đặc biệt phức tạp và khó khăn. Tại Việt Nam, bài toán và thách thức lớn nhất đối với các doanh nghiệp là hệ thống quản trị. Hiệu quả kinh doanh thấp và thiếu linh hoạt, không thay đổi kịp với sự phát triển của thị trường và khách hàng dường như là căn bệnh kinh niên của các tập đoàn lớn. Tuy nhiên, không chỉ với Việt Nam mà trên toàn thế giới, việc điều hành một tập đoàn cũng là một thách thức lớn. Câu chuyện về IBM là một ví dụ điển hình về việc điều hành và cải tổ một tập đoàn khổng lồ, cồng kềnh. Vậy đâu là giải pháp cho việc quản trị một tập đoàn lớn? Louis V. Gerstner và cuốn sách "Ai nói voi không thể khiêu vũ?" là một trong những lời giải đáp hoàn hảo cho vấn đề này. "Ai nói voi không thể khiêu vũ?" cho thấy thành công của Louis Gerstner trong việc chuyển đổi thành công nền văn hóa quan liêu của IBM thành nền văn hóa kỷ luật, coi trọng thành quả chung và hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau. Cuốn sách đồng thời cũng cho thấy tài năng của Louis Gerstner khi làm sống lại những giá trị cốt lõi của IBM cũng như mục tiêu hàng đầu của công ty: đó là vượt trội. *** Louis Vincent Gerstner Jr. là một doanh nhân người Mỹ, nổi tiếng với nhiệm kỳ là chủ tịch hội đồng quản trị và giám đốc điều hành của IBM từ tháng 4 năm 1993 đến năm 2002, khi ông nghỉ hưu làm giám đốc điều hành vào tháng 3 và chủ tịch vào tháng 12. Ông chủ yếu được ghi nhận với việc xoay chuyển vận may của IBM. Đây không phải là cuốn tự truyện về bản thân tôi. Tôi không nghĩ sẽ có ai đó ngoài bọn trẻ nhà tôi muốn đọc cuốn sách này (thậm chí tôi cũng không chắc chắn 100% như vậy). Tuy nhiên, với mong muốn giới thiệu đến các bạn bối cảnh giúp tôi khôi phục IBM, dưới đây sẽ là một bức tranh nhỏ về bối cảnh đó. Tôi sinh ngày 1 tháng 3 năm 1942, ở Mineola, New York - trung tâm của Hạt Nassau, Long Island. Cha tôi lái xe tải chở sữa và sau này ông làm nhân viên vận chuyển của Công ty F&M Schaeffer. Mẹ tôi làm khá nhiều nghề: thư ký, môi giới bất động sản, và cuối cùng là nhân viên hành chính cho một trường đại học. Cùng với ba anh em trai, tôi sống trong một ngôi nhà ở Mineola cho tới khi ra trường năm 1959. Chúng tôi là một gia đình trung lưu đầm ấm, gắn bó và theo đạo Thiên chúa. Mọi thành công trong cuộc sống của tôi đều được khơi nguồn từ những ảnh hưởng của cha mẹ. Cha tôi là một người kín đáo, say mê học tập và có ý chí quyết tâm cao. Mẹ tôi là người có kỷ luật, chăm chỉ và đặt nhiều hoài bão nơi các con. Bà hướng tôi tới sự hoàn hảo, thành tích và thành công. Học tập là ưu tiên hàng đầu trong gia đình Gerstner. Cha mẹ tôi phải cầm cố nhà 4 năm một lần để trả tiền học phí cho chúng tôi? Tôi học ở trường công, sau đó là trường Chaminade, một trường Công Giáo. Tôi tốt nghiệp năm 1959 và sau đó đến Notre Dame khi nhận được học bổng của Trường Dartmouth. Đó là một khoản tiền rất lớn so với nguồn tài chính của gia đình tôi, do vậy tôi lên đường đến Dartmouth vào tháng 9 năm 1959. Bốn năm sau, tôi tốt nghiệp với tấm bằng chuyên ngành khoa học kỹ thuật rồi tôi học thêm hai năm nữa tại Trường Kinh doanh Harvard. (Khi đó, việc sinh viên năm cuối một trường đại học học thẳng lên các trường kinh doanh là điều mà đa số các trường kinh doanh không chấp nhận.) Sau đó, ở độ tuổi 23, tôi rời trường Harvard và bắt đầu hoạt động kinh doanh. Tôi gia nhập hãng tư vấn quản lý của McKinsey tại New York vào tháng 6 năm 1965. Nhiệm vụ đầu tiên của tôi là nghiên cứu chế độ đền bù cho các nhà lãnh đạo của công ty Socony Mobil Oil Co. Tôi sẽ không bao giờ quên ngày làm việc đầu tiên trong dự án đó. Tôi hoàn toàn không biết gì về chế độ đãi ngộ cho các vị lãnh đạo cũng như ngành dầu khí. May mắn là tôi chỉ đóng vai trò thứ yếu trong dự án, nhưng trong thế giới của McKinsey, người ta luôn được kỳ vọng sẽ tạo nên những bước đột phá. Trong vài ngày tôi đã có một cuộc họp với các vị lãnh đạo cấp cao hơn tôi hàng chục tuổi. Chín năm sau, tôi trở thành cổ đông lớn của McKinsey. Tôi chịu trách nhiệm về mặt tài chính của hãng và cũng là thành viên của ủy ban lãnh đạo cấp cao. Tôi phụ trách ba khách hàng chính, hai trong số đó là các công ty cung cấp dịch vụ tài chính. Điều quan trọng nhất tôi học được từ McKinsey là phải hiểu rõ các hoạt động nền móng của một công ty. McKinsey luôn đề cao và quan tâm đến các bản phân tích sâu sắc thị trường của một công ty, vị thế cạnh tranh và định hướng chiến lược của nó. Khi gần 30 tuổi, tôi nhận thấy rõ ràng rằng mình không thể duy trì nghề tư vấn suốt cả cuộc đời. Mặc dù thích sự thách thức mang tính trí tuệ, tốc độ nhanh cũng như sự trao đổi với các lãnh đạo cấp cao, nhưng tôi ngày càng mất dần niềm say mê với vai trò cố vấn cho người ra quyết định. Tôi đã tự nhủ: “Mình không muốn trở thành một người bước vào phòng và trình bày một bản báo cáo cho một người ngồi trên chiếc ghế lớn trong phòng; tôi muốn trở thành người ngồi trong chiếc ghế đó - người ra quyết định và hành động.” Giống như nhiều cổ đông thành công khác của McKinsey, tôi nhận được vô số lời mời chào gia nhập các tổ chức của khách hàng, nhưng không có đề xuất nào thật sự đủ hấp dẫn để khiến tôi từ bỏ công việc nơi đây. Tuy nhiên, vào năm 1977, tôi nhận lời mời của American Express, khách hàng lớn nhất của tôi khi đó, vào vị trí Giám đốc Mảng các dịch vụ liên quan đến Du lịch (thẻ American Express, Séc du lịch và các hoạt động Văn phòng du lịch). Tôi làm việc cho American Express gần 11 năm, và đó là khoảng thời gian đầy ắp niềm vui và sự hài lòng. Trong một thập niên, nhóm của chúng tôi đã giúp tăng 17% tỷ lệ lũy kế mảng Các dịch vụ liên quan đến Du lịch; mở rộng số lượng thẻ từ 8 triệu lên gần 31 triệu và xây dựng toàn bộ các hoạt động kinh doanh mới liên quan đến Thẻ Doanh nghiệp, bán hàng và các lĩnh vực xử lý thẻ tín dụng. Tôi cũng học được rất nhiều điều. Tôi đã phát hiện ra ngay từ đầu rằng sự trao đổi ý tưởng cởi mở với tinh thần tự do giải quyết vấn đề khi thiếu vắng hệ thống cấp bậc mà tôi đã học được tại McKinsey không thể thực hiện dễ dàng trong một tổ chức hoạt động dựa trên cấp bậc. Tôi còn nhớ rõ mình đã gặp phải nhiều sai lầm như thế nào trong những tháng đầu tiên khi tiếp cận với những người mà tôi đánh giá là có kiến thức tốt về một lĩnh vực dù cấp bậc của họ kém tôi hai hay ba cấp. Do đó, chúng tôi phải bắt đầu một quá trình xây dựng lâu dài trong đó cho phép tổ chức có hệ thống cấp bậc nhưng mọi người phải hợp tác cùng nhau để giải quyết vấn đề, cho dù họ ở bất cứ vị trí nào trong tổ chức. Cũng tại American Express, tôi đã hiểu rõ được giá trị chiến lược của công nghệ thông tin. Hãy nghĩ về những điều Thẻ American Express biểu trưng cho. Đó là một lĩnh vực kinh doanh điện tử khổng lồ, mặc dù chúng tôi không bao giờ nghĩ tới những thuật ngữ đó vào những năm 1970. Hàng triệu người đi du lịch trên toàn thế giới với các tấm thẻ trao đổi hàng hóa và dịch vụ. Mỗi tháng, họ nhận một hóa đơn liệt kê các giao dịch, tất cả đều được chuyển đổi sang một đơn vị tiền tệ. Hiện nay, các chủ cửa hàng được thanh toán với hóa đơn giao dịch bởi hàng trăm, nếu không phải là hàng nghìn người trên toàn cầu mà họ không biết và có lẽ không bao giờ gặp lại. Tất cả những điều này đều được thực hiện chủ yếu qua điện tử, qua các trung tâm xử lý dữ liệu hàng loạt trên toàn thế giới. Tính cấp thiết của yếu tố công nghệ trong hoạt động kinh doanh này là điều mà tôi đã phải “vật lộn” trong nhiều năm. Đó cũng là lần đầu tiên tôi phát hiện ra hình ảnh một “IBM cũ”. Tôi sẽ không bao giờ quên ngày mà một vị giám đốc chi nhánh gọi cho tôi và nói gần đây họ đã lắp đặt máy tính Amdahl trong trung tâm dữ liệu lớn mà trước đó được lắp đặt toàn bộ bằng thiết bị của IBM. Anh ta nói rằng sáng đó đại diện của IBM đã đến và nói với anh ta rằng IBM đang rút lại tất cả sự hỗ trợ dành cho trung tâm xử lý dữ liệu hàng loạt theo quyết định của Amdahl. Tôi lặng người vì kinh ngạc. Vào thời điểm đó, Amercian Express là một trong những khách hàng lớn nhất của IBM, tôi không thể tin rằng nhà cung cấp lại có thể hành động ngạo mạn như vậy. Ngay lập tức, tôi gọi điện đến văn phòng giám đốc điều hành IBM hỏi liệu ông ấy có biết điều này hay không hay đã tha thứ cho hành vi này. Tôi không thể gặp được ông ấy và chỉ gặp nhân viên hành chính, cô ấy nói rằng ông ấy sẽ gọi lại. IBM là lãnh địa của những vị lãnh đạo dễ tính và vì thế, sự cố đã qua đi. Tuy nhiên, tôi không thể nào quên được sự việc đó. Tôi rời American Express ngày 1 tháng 4 năm 1989, để nhận lời tham gia cuộc thi mà giới truyền thông gọi là “cuộc thi sắc đẹp” của thập niên. RJR Nabisco, một công ty đóng gói hàng hóa lớn hoạt động được một vài năm trước khi sáp nhập với Công ty Thuốc lá R. J. Reynolds, xếp thứ chín trong số những công ty được ngưỡng mộ nhất nước Mỹ, các nhà săn đầu người gọi cho tôi nói như vậy. Tổ chức này đã trải qua một trong những cuộc phiêu lưu mạo hiểm nhất trong lịch sử kinh doanh nước Mỹ hiện đại: một cuộc đấu giá khác thường giữa các hãng đầu tư nhằm sở hữu riêng công ty này bằng cách mua lại dựa trên vay nợ (LBO). Đơn vị thắng thầu là hãng đầu tư mạo hiểm của Kohlberg Kravis Robers & Co. (KKR). Ngay sau đó, KKR mời tôi làm Giám đốc điều hành của công ty tư nhân mắc nhiều nợ này. Bốn năm sau đó, tôi hoàn toàn bị ngập trong những thách thức mới. Mặc dù hiểu rõ nhu cầu ngày càng cao về các công ty sản xuất hàng tiêu dùng ngay từ những ngày còn làm việc tại American Express, nhưng tôi thật sự dành hầu hết thời gian của mình tại RJR Nabisco để quản lý bảng cân đối vô cùng phức tạp. Bong bóng LBO trong thập niên 1980 bùng nổ ngay sau giao dịch của RJR Nabisco, mang đến vô số rắc rối cho nền kinh tế. Cuối cùng, vì nhận ra bản chất của vấn đề muộn nên KKP đã trả giá quá cao cho công ty này, và bốn năm sau đó, họ phải đối mặt với cuộc đua tái cấp vốn cho bảng cân đối, nhưng vẫn cố gắng giữ vẻ bề ngoài ổn định trong nhiều hoạt động kinh doanh riêng lẻ của công ty. Đó thật sự là một quang cảnh hỗn độn. Chúng tôi phải bán tổng tài sản trị giá 11 tỷ đô-la trong vòng 12 tháng đầu tiên. Chúng tôi có những khoản nợ mà tỷ lệ lãi suất lên đến 21% một năm. Chúng tôi có nhiều chủ nợ và hội các chủ nợ và tất nhiên là đã giải quyết hoàn toàn những khoản chi tiêu hoang phí trong thời kỳ quản lý trước đó. (Ví dụ, khi tôi tới nhậm chức, công ty có tới 32 vận động viên chuyên nghiệp trong danh sách bảng lương hàng tháng - tất cả đều trong “Nhóm Nabisco”.) Đó thật sự là thời kỳ khó khăn đối với tôi. Tôi thích xây dựng các doanh nghiệp, chứ không phải là gỡ bỏ chúng. Tuy nhiên, chúng ta đều có thể học hỏi kinh nghiệm từ tất cả những việc chúng ta làm. Tôi rời khỏi đây với kinh nghiệm này cùng sự hiểu biết sâu sắc về vai trò của tiền mặt trong hoạt động của công ty - “dòng tiền tự do” là thước đo quan trọng nhất đối với kết quả hoạt động cũng như khả năng bền vững của mỗi doanh nghiệp. Tôi cũng thu được những kinh nghiệm về mối quan hệ giữa quản lý và việc làm chủ. Tôi có được điều này tại McKinsey, một công ty tư nhân được sở hữu bởi các cổ đông. Vai trò của các nhà quản lý được coi trọng ngang với các cổ đông - không phải qua những hoạt động tài chính phi rủi ro như là quyền chọn cổ phiếu, mà qua quy trình chuyển số vốn đầu tư của họ thành quyền sở hữu trực tiếp công ty - trở thành một vấn đề quan trọng trong quan điểm quản lý tôi mang đến cho IBM. Cho đến năm 1992, tôi hiểu rằng khi RJR Nabisco đang hoạt động tốt, LBO sẽ không tạo ra nhiều lợi nhuận tài chính như mong đợi của các cổ đông. Tôi nhận ra rằng KKR đang tìm kiếm lối thoát, do vậy khiến tôi cũng có hành động tương tự. Cuốn sách này, bắt đầu từ trang tiếp theo, sẽ kể lại câu chuyện của tôi. Mời các bạn đón đọc Ai Nói Voi Không Thể Khiêu Vũ? của tác giả Louis V. Gerstner.
Từ Bản Năng Đến Nghệ Thuật Bán Hàng - Daniel H. Pink
Trong Phần 1 của “Từ bản năng đến nghệ thuật bán hàng”, Daniel trình bày các luận điểm để chúng ta suy nghĩ lại một cách rộng hơn về lĩnh vực bán hàng mà chúng ta đã biết. Ở Chương 1, tác giả sẽ chỉ cho bạn thấy các cáo phó thông báo cái chết của người chào hàng trong thế giới kỹ thuật số ngày nay đang sai lầm ghê gớm. Chỉ riêng tại Hoa Kỳ, cứ mỗi chín nhân công thì vẫn có một người kiếm sống bằng cách cố gắng khiến những người khác mua một món hàng. Có thể họ đang buôn bán các ứng dụng mẫu cho điện thoại thông minh và cung cấp các kinh nghiệm thay vì bách khoa toàn thư, nhưng họ vẫn làm việc trong lĩnh vực bán hàng truyền thống. Tuy nhiên, đáng ngạc nhiên hơn là những gì xảy ra với tám người còn lại trong số chín người đó. Họ cũng đang bán hàng. Họ không rình rập khách hàng trong một phòng trưng bày đồ nội thất, nhưng họ - và cũng chính là chúng ta - đang tham gia vào lĩnh vực mà tác giả gọi là “bán hàng phi thương mại”. Chúng ta đang thuyết phục, năn nỉ và gây ảnh hưởng đến người khác để họ từ bỏ một thứ gì đó của mình và trao đổi nó với thứ mà chúng ta có. Những phát hiện trong cuộc phân tích đầu tiên trong số những phân tích cùng loại về các hoạt động của mọi người tại nơi làm việc sẽ cho bạn thấy chúng ta đang dành hơn 40% thời gian trong công việc của mình để tác động đến người khác. Và chúng ta coi việc đó rất quan trọng đối với thành công trong nghề nghiệp của mình. Ở Chương 2, bạn đọc sẽ được khám phá việc làm thế nào quá nhiều người trong số chúng ta rốt cuộc lại thuộc về ngành nghề gây tác động đến người khác này. Trong chương 3, tác giả sẽ chỉ cho bạn thấy cán cân quyền lực đã thay đổi như thế nào - và chúng ta đã di chuyển từ thế giới caveat emptor; người mua phải thận trọng, sang thế giới caveat vendior, người bán phải thận trọng ra sao - nơi sự trung thực, công bằng và minh bạch thường là con đường sống sót duy nhất. Từ đó dẫn đến Phần 2, nơi Dan chọn lọc các nghiên cứu từ lĩnh vực khoa học xã hội để tìm ra ba phẩm chất có giá trị nhất hiện nay trong việc tác động đến những người khác. Từ lâu đã có một câu ngạn ngữ trong giao dịch bán hàng là ABC (Always be closing) - “Luôn phải dứt điểm”. Ba chương trong Phần 2 giới thiệu các chữ cái ABC mới - Hòa hợp, hăng hái, và rõ ràng. Chương 4: Viết về “sự hòa hợp” - hòa nhập bản thân một người với các cá nhân, đội nhóm, và hoàn cảnh. Tác giã đưa ra một kho nghiên cứu dồi dào để trình bày với bạn đọc ba quy tắc của sự hòa hợp - và tại sao những người hướng ngoại lại hiếm khi là những người bán hàng tốt nhất. Mời các bạn đón đọc Từ Bản Năng Đến Nghệ Thuật Bán Hàng của tác giả Daniel H. Pink.
Trinh Quán Chính Yếu - Phép Trị Nước Của Đường Thái Tông - Ngô Hách
“Trinh Quán” là niên hiệu của Đường Thái Tông Lý Thế Dân (598−649). Lý Thế Dân sinh ra vào cuối thời kỳ thống trị của Tùy Văn Đế, lớn lên tận mắt chứng kiến toàn bộ quá trình nhà Tùy từ thịnh đến suy, cuối cùng bị diệt vong, đồng thời đích thân cùng với cha là Lý Uyên tham gia các hoạt động dẹp loạn, gây dựng nhà Đường. Lịch sử rối ren cuối Tùy đầu Đường đă để lại ấn tượng sâu sắc trong ông. Bởi vậy sau khi lên ngôi hoàng đế, ông đã chú ý tổng kết và đúc rút các bài học kinh nghiệm trị nước của các đời vua trước, nhìn thẳng vào hiện thực xã hội, lập ra hàng loạt chính sách có lợi cho sự thống nhất nước nhà, đoàn kết dân tộc, phát triển sản xuất và tiến bộ xã hội, từ đó điều hòa hữu hiệu mâu thuẫn giữa các giai cấp, dân tộc cũng như nội bộ tập đoàn thống trị, dần tạo nên một cục diện thái bình thịnh trị. Theo sử sách ghi lại, thời kỳ Trinh Quán là thời kỳ thanh bình, quan lại thanh liêm, hình phạt không hà khắc, dân phong thuần phác. Khi Đường Thái Tông lên ngôi trong tình trạng rối ren cuối nhà Tùy, dân số thưa thớt, kinh tế tiêu điều, trăm họ ăn không đủ no, mặc không đủ ấm. Trước tình trạng đó, vua tôi Đường Thái Tông đã một mặt tích cực áp dụng mọi biện pháp làm trong sạch bộ máy thống trị, mặt khác tiết kiệm, đồng cam cộng khổ cùng nhân dân. Nhiều năm sau, kinh tế dần phát triển, nông nghiệp liên tục được mùa, xã hội ổn định, dân phong thuần phác, thậm chí đi đường gặp của rơi không nhặt, đêm ngủ không cần đóng cửa. Năm Trinh Quán thứ tư, cả nước chỉ có 29 người bị xử tử hình. Năm Trinh Quán thứ sáu, Đường Thái Tông cho phép 390 tử tù về từ biệt người nhà, mùa thu năm sau trở lại “thọ hình”. Đến hạn mà không một tội phạm nào bỏ trốn, đây là một kỳ tích vô tiền khoáng hậu trong lịch sử Trung Quốc. Có thể nói, “Trinh Quán chi trị” là nét son rực rỡ nhất, chói lọi nhất trong lịch sử phong kiến Trung Quốc hơn hai nghìn năm. Vậy thì Đường Thái Tông Lý Thế Dân cùng quần thần đã thực hiện “Trinh Quán chi trị” như thế nào? Các nhà chính trị và sử học từ đầu nhà Đường trở đi đã nỗ lực tìm câu trả lời. Người đầu tiên coi trọng vấn đề này và cung cấp cho hậu thế sử liệu đầy đủ và tư tưởng nghiên cứu cơ bản là Ngô Hách thời Đường qua bộ “Trinh Quán chính yếu”. Ngô Hách (670 − 749) là một nhà sử học, sinh ra vào thời Đường Cao Tông, người Tuấn Nghi, Biện Châu (nay là Khai Phong, Hà Nam). Từ nhỏ ông đã hiếu học, rất thích nghiên cứu sử sách, điều này đã đặt nền tảng vững chắc cho nghề viết sử của ông sau này. Cách viết sử của Ngô Hách trọng “giản hạch” (đơn giản mà trúng trọng tâm), được gọi là “lương sử” (sử tốt). Đồng thời ông cũng coi trọng nguyên tắc viết “thẳng thắn không kỵ húy”, được người đương thời đánh giá rất cao. “Trinh Quán chính yếu” là một bộ sử được viết theo chuyên đề, chủ yếu ghi lại lời bàn luận chính trị của vua tôi Đường Thái Tông. Bộ sách này được các nhà nghiên cứu Nhật Bản đánh giá cao hơn bộ “Tam quốc diễn nghĩa” về tư tưởng chính trị. Mời các bạn đón đọc Trinh Quán Chính Yếu - Phép Trị Nước Của Đường Thái Tông của tác giả Ngô Hách.
Từ Tơ Lụa Đến Silicon - Câu Chuyện Về Toàn Cầu Hóa Thông Qua 10 Cuộc Đời Lạ Thường - Jeffrey E. Garten
Sách nghiên cứu cuộc đời và sự nghiệp của 10 nhân vật có nhiều ảnh hưởng, tạo ra những bước ngoặt trong sự phát triển của lịch sử thế giới, bao gồm: Gengis Khan, hoàng tử Henry, Robert Clive, Mayer Amschel Rothschild, Cyrus Field, John D. Rockefeller, Jean Monnet, Magaret Thatcher, Andrew Grove, Đặng Tiểu Bình và bàn thêm về người giỏi nhất còn chưa xuất hiện. Tuy nhiên, sách không chỉ nói về lịch sử mà bàn về những việc làm của họ xét ở góc độ người quản lý hiện đại, vì thế sách có tính ứng dụng cho hiện tại và tương lai. Mời các bạn đón đọc Từ Tơ Lụa Đến Silicon - Câu Chuyện Về Toàn Cầu Hóa Thông Qua 10 Cuộc Đời Lạ Thường của tác giả Jeffrey E. Garten.