Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Ngôi Nhà Mũi Tên

Bà Harlowe - một người phụ nữ giàu có qua đời. Di chúc của bà không hề đề cập đến người em rể. Như một lẽ tất nhiên, người đàn ông này bực tức cáo buộc người thừa kế - Betty Harlowe, đã giết bà Harlowe nhằm chiếm đoạt tài sản. Jim Frobisher, cộng sự tại công ty, lập tức đến Pháp để bảo vệ quyền lợi cho Betty. Tham gia cùng anh còn có thám tử Hanaud lừng danh của Sở Cảnh sát Pháp. Liệu tất cả mọi chứng cứ được phơi bày có giống như vẻ bề ngoài của nó? Liệu đây có đơn thuần chỉ là một vụ tống tiền lộ liễu hay là một âm mưu được dàn dựng công phu? Liệu Hanaud danh nổi như cồn đó có hoàn thành sứ mệnh của mình một cách xuất sắc giống như mọi người vẫn hằng khen ngợi?... *** Review: Ngôi nhà mũi tên - A.E.W.Mason Dịch giả: Nguyễn Thành Long Người viết Hà Quang Huy #trinh_thám_cổ_điển #ngôi_nhà_mũi_tên Nếu các bạn thích trinh thám cổ điển thì không nên bỏ qua cuốn này, cái twist khá ấn tượng . Cái thủ pháp thấy tuy là đơn giản, nhưng ngộ ra nó quả là cao siêu khó lường  Mở đầu là cái chết của bà Harlowe - người phụ nữ giàu có ra đi không để lại tý di chúc nào cho ông em rể, ông ta liền viết thư tống tiền trắng trợn cho Haslitt đồng thời đâm đơn kiện Betty bé nhỏ đã đầu độc bà Harlowe. Nhận được thư, Haslitt điều phụ tá của mình là Jim đến bảo vệ quyền lợi cho thân chủ là Betty xinh đẹp quyến rũ. Hanaud - vị thám tử trứ danh của sở cảnh sát Pháp được đặc quyền điều tra vụ án khó khăn nhất trong cuộc đời của ông. Một vị thám tử toát lên vẻ trang nghiêm, chói loà rất thân thiện ân cần và khâm phục trước vị thần May Rủi. Căn biệt thự được thiết kế tinh xảo trang nhã lại ẩn giấu âm mưu u tối xám xịt chết chóc lạnh lẽo. Một tội ác đã xảy ra trong ngôi nhà bất hảo vào cái đêm 27/4 định mệnh dưới bàn tay của "Kẻ gieo tai hoạ". Thứ thuốc độc quỷ quyệt hoang dã giết người không để lại dấu vết được trưng bày qua bao năm tháng đã phát tác mạnh bạo. Hanaud cùng Jim lần mò trong bóng tối mờ mịt vô phương để tìm ra mạnh mối, giải đáp các bí ẩn dưới đôi bàn tay tội lỗi...Những gì ông cần làm đều đã được đào tạo qua đấu trường bò tót, ông đã quá chai sạn với những bất ngờ, điều khiến ông bất ngờ chỉ là thần May Rủi. Ông đã sống trong thế giới tội ác và tội phạm nên ông hiểu chúng một cách thanh tao, nhìn thấu chúng bằng ánh mắt lạnh lùng sắt đá. Bằng suy luận sắc bén của một kẻ lập dị ông phải diễn trò trên cái sân khấu bất đắc dĩ để lấp đầy nỗi buồn chán và cô độc của bản thân! Đánh giá khách quan: 8.5/10 *** Trong số các thân chủ của công ty Frobisher & Haslitt, một công ty tư vấn luật nằm tại mạn đông quảng trường Russell, rất nhiều người sở hữu doanh nghiệp tại Pháp; và họ rất lấy làm tự hào về điều ấy. “Nhờ đó mà chúng tôi trở nên có chỗ đứng trong lịch sử,” ông Jeremy Haslitt vẫn hay nói. “Mọi chuyện bắt đầu từ năm 1806, khi ông James Frobisher, cộng sự cấp cao rất nhiệt huyết thời bấy giờ của chúng tôi, đã tổ chức cho hàng trăm công dân Anh bị giam giữ theo sắc lệnh của Napoleon Đệ Nhất thoát khỏi Pháp. Công ty được Chính phủ bệ hạ bày tỏ lòng cảm ơn và vẫn may mắn duy trì được mối quan hệ ấy. Tôi đích thân coi sóc mảng đó của công ty.” Bởi thế, trong số thư từ ông Haslitt nhận được hàng ngày, lúc nào cũng có một lượng lớn thư dán con tem xanh thẫm của Pháp trên phong bì. Tuy nhiên, vào buổi sáng đầu tháng Tư hôm nay, chỉ có duy nhất một bức như vậy. Chữ viết trên đó trông ngoằn ngoèo, nguệch ngoạc, và ông Haslitt không nhận ra là chữ ai. Nhưng nó mang dấu bưu điện Dijon, thế nên ông Haslitt nhanh chóng xé bao thư ra. Ông có một thân chủ ở Dijon, một góa phụ, bà Harlowe, và như ông nghe kể thì tình trạng sức khỏe của bà đang tệ lắm. Chắc chắn bức thư được viết tại nhà bà ấy, biệt thự Grenelle, nhưng không phải do đích thân bà viết. Ông lật sang phần chữ ký. “Waberski?” Ông vừa nói vừa cau mày lại. “Boris Waberski?” Và rồi ông thốt lên ngay khi nhận ra người viết thư, “À, phải rồi, phải rồi.” Ông ngồi xuống ghế và đọc. Phần đầu của bức thư chỉ đơn thuần là mấy câu văn hoa và khen ngợi, nhưng đọc được đến nửa trang hai thì mục đích của nó trở nên vô cùng rõ ràng. Đây là thư yêu cầu vay năm trăm bảng. Ông Haslitt mỉm cười và tiếp tục đọc, vừa đọc vừa độc thoại với người viết. “Tôi đang rất cần chỗ tiền đó,” Boris viết, “và…” “Hẳn là như thế rồi,” ông Haslitt nói. “Bà chị yêu quý của tôi, Jeanne-Marie…”, bức thư ghi tiếp. “Chị dâu,” ông Haslitt chỉnh lại. “… không thể sống lâu hơn được nữa, mặc dù tôi đã cố gắng chăm sóc chị ấy hết mực,” Boris Waberski tiếp tục trình bày. “Chắc hẳn ông cũng đã biết, chị ấy đã để lại cho tôi một phần lớn gia sản của mình. Vậy tức là nó đã thuộc về tôi rồi, đúng không? Có nói như vậy thì cũng sẽ không bị ai hiểu lầm ý cả. Chúng ta phải nhìn thẳng vào sự thật. Bởi vậy, xin hãy ứng trước cho tôi bằng thư đảm bảo một khoản nhỏ từ phần vốn đã thuộc về tôi, và cho tôi xin được gửi lời chào trân trọng nhất.” Nụ cười của Haslitt nở rộng hẳn ra. Bên trong chiếc hộp thiếc của ông là một bản sao tờ di chúc của Jeanne-Marie Harlowe, được công chứng viên người Pháp của bà tại Dijon viết lại theo đúng thể thức. Theo di chúc, mọi gia sản bà sở hữu sẽ được truyền lại vô điều kiện cho cháu gái chồng bà và con gái nuôi của bà, Betty Harlowe. Jeremy Haslitt thiếu chút nữa thì đã đem bức thư đi hủy. Ông gập nó lại; ngón tay giật giật trên nó; thậm chí phải đến khi xuất hiện cả một vết rách bên mép mấy tờ giấy thì ông mới đổi ý. “Không,” ông tự nhủ. “Không! Với cái tay Boris Waberski này thì không ai mà lường trước được,” và ông nhét bức thư vào một ngăn trong két riêng, sau đó khóa lại. Ba tuần sau, ông rất lấy làm mừng vì đã làm như vậy. Đó là lúc ông đọc được mẩu tin thông báo bà Harlowe đã qua đời trong cột cáo phó của tờ The Times, và nhận được một tấm thiệp lớn với viền đen rất đậm theo phong cách Pháp từ Betty Harlowe, ngỏ ý mời ông đến dự đám tang tại Dijon. Tấm thiệp mời này chỉ mang tính hình thức. Ông sẽ chẳng thể nào đến kịp Dijon để tham dự, kể cả nếu có khởi hành ngay tức khắc. Ông chấp nhận chỉ viết một vài dòng thành kính phân ưu với cô gái, và gửi một bức thư đến cho ông công chứng viên người Pháp, ghi rằng công ty ông sẽ hỗ trợ Betty. Thế rồi ông đợi. “Mình sẽ lại nghe tin từ cái tay Boris kia cho xem,” ông nói, và nội trong tuần đó, ông lại nhận được thư. Chữ viết trong thư thậm chí còn loằng ngoằng và nguệch ngoạc hơn hồi trước; sự hoảng hốt và phẫn nộ đã khiến cho câu từ của Waberski loạn hết cả lên; đồng thời hắn đã đòi lượng tiền lớn gấp đôi. “Thật không thể nào tin nổi,” hắn viết. “Chị ấy chẳng để lại chút gì cho người em trai tận tụy của mình. Có trò gì đó đang diễn ra, và tôi không ưa chút nào. Giờ số tiền sẽ phải là một ngàn bảng, gửi theo đường thư đảm bảo. ‘Boris tội nghiệp của chị, em luôn bị cả thế giới này quay lưng,’ chị ấy nói trong lúc mắt ngấn đầy lệ. ‘Nhưng chị sẽ bù đắp cho em trong di chúc.’ Và giờ thì chẳng có gì cả! Tất nhiên, tôi đã nói chuyện với cô cháu gái của tôi; ôi, con bé thật cứng đầu! Nó búng ngón tay vào mặt tôi! Hành xử theo cái thể thống gì vậy cơ chứ? Một ngàn bảng, thưa ông! Bằng không là sẽ có chuyện khó xử xảy ra! Vâng! Không ai búng ngón tay vào mặt Boris Waberski mà không trả tiền cả. Thế nên hãy trả tôi một ngàn bảng gửi theo đường thư đảm bảo, không là sẽ có chuyện khó xử”; và lần này Boris Waberski không buồn gửi lời chào nào đến cho ông Haslitt cả, cho dù có là trân trọng nhất hay không, chỉ đơn giản ký bằng một nét bút ngoáy tít, nhập nhằng khắp mặt thư. Ông Haslitt không mỉm cười với bức thư này. Ông nhẹ nhàng xoa hai lòng bàn tay vào với nhau. “Thế thì chúng ta đành phải để cho chuyện khó xử xảy ra vậy,” ông nói nhanh, và rồi cất bức thư thứ hai vào cùng chỗ với bức thư thứ nhất. Nhưng ông Haslitt cảm thấy hơi khó tập trung vào công việc. Bên trong cái ngôi nhà to lớn tại Dijon là một cô gái đơn côi, và không có người đồng hương nào ở bên cô ấy cả! Ông bất chợt đứng dậy khỏi ghế và băng qua hành lang, vào trong văn phòng của người cộng sự cấp thấp. “Jim, mùa đông này cậu đã đi Monte Carlo nhỉ,” ông nói. “Đi một tuần,” Jim Frobisher đáp. “Tôi nhớ mình có nhờ cậu đến thăm một thân chủ của chúng ta, người sở hữu một biệt thự ngoại ô tại đó - bà Harlowe.” Jim Frobisher gật đầu. “Tôi đã ghé. Nhưng bà Harlowe ốm rất nặng. Có một cô cháu gái, nhưng cô ta lúc ấy đang đi vắng.” “Thế tức là cậu không gặp ai cả?” Jeremy Haslitt hỏi. “Không, không phải,” Jim chỉnh lại. “Tôi thấy một nhân vật kỳ lạ ra mở cửa và xin lỗi thay bà Harlowe. Một ông người Nga.” “Boris Waberski,” ông Haslitt nói. “Đúng cái tên đó rồi.” Ông Haslitt ngồi xuống một cái ghế. “Kể cho tôi nghe về ông ta đi, Jim.” Jim Frobisher nhìn vào hư vô một vài giây. Anh là một thanh niên hai mươi sáu tuổi, mới chỉ tham gia làm cộng sự kể từ năm ngoái. Mặc dù rất nhanh nhẹn khi cần hành động gấp, anh lại hết sức cẩn trọng khi đánh giá bản chất người khác; và anh còn rất kính nể ông Jeremy Haslitt già, thế nên cứ mỗi khi làm gì liên quan đến công việc của công ty là lại cẩn trọng gấp đôi. Một lúc sau anh trả lời. “Ông ta là một người cao lớn, đi đứng trông có vẻ nặng nhọc, bên trên một vầng trán ngắn và một cặp mắt hoang dại là một mớ tóc bạc dựng thẳng đứng như dây kẽm gai. Ông ta gợi cho tôi nhớ đến một con rối không được gắn dây tử tế lên chân tay. Tôi tin con người này có bản chất khá ngông cuồng và dễ bị kích động, ông ta cứ liên tục miết bộ ria mép với mấy ngón tay dài ngoằng, ố màu thuốc lá. Đây là cái kiểu người có thể nổi điên bất cứ lúc nào.” Ông Haslitt mỉm cười. “Đúng như những gì tôi nghĩ.” “Ông ta gây rắc rối gì cho ông à?” Jim hỏi. “Chưa đâu,” ông Haslitt nói. “Nhưng bà Harlowe đã chết, và tôi tin rằng rất có khả năng ông ta sẽ giở trò gì đó. Ông ta có hay bài bạc gì không?” “Có, chơi rất khát,” Jim nói. “Tôi đoán là ông ta sống bám vào bà Harlowe.” “Tôi cũng nghĩ thế,” ông Haslitt nói, và ông im lặng ngồi đó một lúc. Thế rồi ông nói: “Thật đáng tiếc là cậu không được gặp Betty Harlowe. Tôi từng một lần ghé thăm Dijon trên đường đi qua miền Nam nước Pháp năm năm trước, hồi Simon Harlowe, chồng bà ấy, hãy còn sống. Betty hồi đó là một cô bé chân dài gầy gò, đi tất lụa đen, sở hữu một gương mặt trắng, sáng sủa, và mái tóc đen sẫm cùng cặp mắt lớn, xinh xắn lắm.” Ông Haslitt dịch người trên ghế một cách không thoải mái. Cả một ngôi nhà cổ với khu vườn lớn đầy dẻ và sung, trong khi cô gái kia thì một thân một mình, sống cùng với một tay đầu óc có vấn đề, đang bực bội và muốn gây chuyện khó xử cho cô. Ông Haslitt không thích cái hình ảnh đó chút nào! “Jim,” ông bất chợt nói, “cậu có thể thu xếp công việc sao cho nếu cần thiết thì sẽ có thể rời đi ngay lập tức được không?” Jim ngước nhìn lên, tỏ vẻ ngạc nhiên. Loạn cào cào, như kiểu dân sân khấu hay nói, không phải là chuyện hay xuất hiện tại công ty Frobisher & Haslitt. Dù cho đồ nội thất của họ hơi xỉn màu, tác phong của họ rất trang nghiêm; thân chủ có thể gặp chuyện khẩn, nhưng vội vã và gấp gáp là những từ công ty không bao giờ sử dụng. Chắc chắn đâu đó quanh đây sẽ có một luật sư chịu hiểu cho họ. Ấy nhưng giờ đây, đích thân ông Haslitt, cùng với mớ tóc bạc trắng và gương mặt tròn trịa khác thường, nửa trẻ con, nửa thông minh xuất sắc, lại đang đề nghị cộng sự cấp thấp của mình chuẩn bị sẵn sàng để đi thẳng sang đại lục châu Âu ngay khi có lệnh. “Tôi chắc chắn có thể làm vậy,” Jim nói, và ông Haslitt nhìn anh với vẻ hài lòng. Jim Frobisher sở hữu một nét tính cách rất khác người. Ngay cả người quen của anh, cho dù có là bạn bè thân thuộc, cũng mới chỉ từng biết đến các dấu hiệu anh để lộ ra bên ngoài. Anh là một người cô độc. Cho tới nay, anh chỉ quan tâm đến một số rất ít người, và ngay cả những người ấy anh cũng chẳng thiết tha gì mấy. Đam mê của anh là được cảm thấy rằng cuộc đời mình và ý nghĩa cuộc đời mình không phụ thuộc vào người khác. Trong những tháng được rảnh rang, anh luôn theo đuổi dam mê ấy. Một chiếc thuyền buồm nửa boong* chỉ cần một người lái, một cây rìu phá băng, một khẩu súng trường, một vài cuốn sách dài bất tận, chẳng hạn như Chiếc nhẫn và cuốn sách*. Đó chính là những người bạn đồng hành của anh trên biết bao chuyến thám hiểm cô đơn, bên cạnh các vì sao và những suy tư của riêng mình. Hệ quả là anh đã tự tạo cho bản thân mình một vẻ lạnh nhạt khác thường, khiến cho anh lập tức trở nên nổi trội giữa đám đông. Đây là một diện mạo đầy vẻ dối lừa, bởi lẽ nó dễ gợi lên sự tin tưởng cho người khác, mặc dù có khi chẳng có lý do nào để họ đặt lòng tin như vậy cả. Chính cái vẻ ngoài ấy bấy giờ đã thuyết phục ông Haslitt. “Đây đích thị là một người thích hợp để đối đầu với cái ngữ như Boris Waberski,” ông nghĩ thầm, có điều không nói hẳn ra như vậy. • Thuyền buồm nửa boong; loại thuyền half-deck, phần boong chỉ kéo dài bằng nửa thân tàu, có thể nằm ở cuối hoặc đuôi tàu. • Chiếc nhẫn và cuốn sách: tức The Ring and the Book, một tiểu thuyết dài được viết dưới dạng thơ của Robert Browning. Điều ông nói là: “Có khi cũng chẳng cần thiết phải làm vậy đâu. Betty Harlowe có một luật sư người Pháp. Chắc chắn anh ta sẽ đủ sức giải quyết. Ngoài ra…” - và ông mỉm cười lúc nhớ lại một câu trong bức thư thứ hai của Waberski - “Betty có vẻ là người rất có khả năng tự bảo vệ mình. Cứ để rồi xem.” Ông quay trở lại văn phòng của mình, và suốt một tuần liền ông không nhận được thêm bất cứ tin tức gì từ Dijon nữa. Lúc ông đã gần quên đi sự lo lắng của mình thì bất thình lình, một tin động trời xuất hiện, và nó được truyền đến thông qua một kênh rất bất ngờ. Jim Frobisher là người báo tin cho ông biết. Anh xộc vào văn phòng của ông Haslitt đúng lúc người cộng sự cấp cao đang đọc cho anh thư ký ghi lại lời phúc đáp cho mấy bức thư buổi sáng của mình. “Ông Haslitt!” Jim la lên, và ngưng bặt khi nhìn thấy viên thư ký. Ông Haslitt nhìn lướt qua gương mặt người cộng sự trẻ của mình và nói: “Godfrey, lát nữa chúng ta sẽ tiếp tục trả lời thư sau.” Viên thư ký mang cuốn sổ tay tốc ký ra khỏi căn phòng, và ông Haslitt quay sang Jim Frobisher. Mời các bạn đón đọc Ngôi Nhà Mũi Tên của tác giả A. E. W. Mason.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Truy Lùng
Masao đau đớn khi nhận tin cả hai bố mẹ đã tử nạn sau một tai nạn máy bay. Kinh hoàng và xót xa tột độ nhưng bằng trí thông minh, sự tỉnh táo của mình, Masao kịp nhận ra phía sau đó là một âm mưu… Bản năng sinh tồn cùng với quyết tâm làm sáng rõ cái chết của cha mẹ đã giúp Masao tẩu thoát và truy tìm sự thật. Nhưng ở bất cứ đâu, Masao cũng phải đối diện với sự truy lùng ráo riết đầy nguy hiểm của người chú - kẻ chủ mưu chiếm đoạt tài sản của cha mẹ anh. Cuộc chạm trán cuối cùng đầy bất ngờ và kịch tính, Masao tưởng rằng, mọi chuyện đã chấm hết. Nó cũng kết thúc, nhưng người phải chết lại không phải Masao… *** Sidney Sheldon , là một tiểu thuyết gia người Mỹ, đoạt giải của Viện Hàn Lâm nghệ thuật Mỹ, ông còn là một kịch tác gia và một người viết kịch bản phim và chương trình truyền hình chuyên nghiệp. Sheldon sinh tại Chicago, Illinois, với tên khai sinh là Sidney Schechtel, có bố là người Do Thái gốc Đức, mẹ là gốc Nga. Phần lớn tác phẩm của ông thuộc thể loại trinh thám, hình sự, tình cảm, và đều thuộc hàng best-seller. Các tác phẩm như Rage of Angels (Thiên thần nổi giận), The Other Side of Midnight (Phía bên kia nửa đêm), If Tomorrow Comes (Nếu còn có ngày mai)... đã làm nên tên tuổi Sheldon. Với cốt truyện ly kỳ, hồi hộp, gây thích thú, những quyển sách này đã lôi kéo khá đông độc giả đến với Sheldon. Sidney Sheldon đã xuất bản 18 tiểu thuyết, bán ra đến 300 triệu bản, và là tác giả sách nổi bật nhất trong nhiều thập kỷ. Các bản dịch tác phẩm sang 71 ngôn ngữ ở 180 quốc gia giúp ông được Sách Kỷ lục Guinness công nhận là “tác giả được dịch nhiều nhất thế giới”. Ông qua đời tại bệnh viện Eisenhower ở thành phố Rancho Mirage thuộc bang California, Hoa Kỳ và thọ 89 tuổi. Ước tính tổng tài sản sau khi qua đời của Sidney Sheldon là 3 tỷ USD. Các bộ tiểu thuyết của Sidney Sheldon: The Naked Face (1970) - Lộ mặt The Other Side of Midnight (1973) - Phía bên kia nửa đêm A Stranger in the Mirror (1976) - Người lạ trong gương Bloodline (1977) - Dòng máu Rage of Angels (1980) - Thiên thần nổi giận Master of the Game (1982) - Bậc thầy của trò chơi (Tên khác: Người Đàn Bà Quỷ Quyệt) If Tomorrow Comes (1985) - Nếu còn có ngày mai Windmills of the Gods (1987) - Sứ giả của thần chết The Sands of Time (1988) - Cát bụi thời gian Memories of Midnight (1990) - Kí ức lúc nửa đêm The Doomsday Conspiracy (1991) - Âm mưu ngày tận thế The Stars Shine Down (1992) - Sao chiếu mệnh Nothing Lasts Forever (1994) - Không có gì là mãi mãi Morning, Noon and Night (1995) - Sáng, trưa và đêm The Best Laid Plans (1997) - Kế hoạch hoàn hảo Tell Me Your Dreams (1998) - Hãy kể giấc mơ của em The Sky is Falling (2001) - Bầu trời sụp đổ Are You Afraid of the Dark? (2004) - Bạn có sợ bóng tối? (Bóng tối kinh hoàng) *** Sidney Sheldon Truy Lùng   Mở đầu   - Chú ý! Phi công biết chắc rằng tất cả họ sẽ chết. Trong cơn bão giật điên cuồng, chiếc máy bay Silver Arrow Jet mười hai chỗ ngồi bị nhồi lên dội lên dội xuống như một thứ đồ chơi giữa đất trời vùng Appalache. Phi công chính và phụ lái cố ráng sức giữ mũi bay nhoi vượt thoát trận cuồng phong mãnh liệt. Chiếc Silver Arrow Jet quả là một chiếc máy bay tuyệt diệu, được thiết kế và lắp ráp hoàn hảo. Song, vào những giây phút cuối cùng, máy móc bị trục trặc. Một trong hai hành khách ngồi ở cabin sang trọng trên máy bay đứng dậy, tiến vào buồng lái và nói: - Máy móc bị trục trặc, cánh quạt quay không đủ lực đưa máy bay thoát lên cao. Thông thường, phi công đã bảo vị khách nọ quay về chỗ của ông. Nhưng điều đó không thể áp dụng vào trường hợp này. Vị khách nọ là ngài Yoneo Matsumoto, người sáng lập và chủ tịch một trong những tổ hợp công nghiệp lớn nhất thế giới. Phi công vội đáp: - Dạ thưa, kiệt lực rồi ạ. Cả ba người đàn ông hiểu rõ ý nghĩa của câu nói đó. Hết hy vọng sống sót. những ngọn núi nhấp nhô như lớp lớp tên nhọn chĩa cao chờ dịp là lao xô vào máy bay. Lực tàn sức cạn, nó khó bề thoát lên tránh hiểm họa. Máy bay bắt đầu mất độ cao và lê lết như con thú bị thương. Yoneo Matsumoto quan sát một lát các thiết bị trong buồng lái, rồi quay về bên chỗ vợ ngồi. Qua nét mặt bình thản, không để lộ chút hoảng hốt của vợ, ông biết rằng bà không hề sợ hãi. Ông âu yếm nắm tay bà. Bà mỉm cười nhìn ông chan chứa yêu thương. Yoneo Matsumoto sẵn sàng đón nhận cái chết. Ông đã sống một cuộc đời sôi động, đầy ý nghĩa, ông đã thành đạt hơn biết bao người khác. Từ hai bàn tay trắng, ông đã gây dựng nên nền công nghiệp Matsumoto, doanh nghiệp mà mọi ông chủ đều có quyền tự hào. Ông có hàng ngàn nhân viên làm việc trong cả trăm công xưởng nằm khắp thế giới. Họ tận tụy với ông và rất mực yêu mến, quý trọng ông. Tâm trí ông quay trở lại những ngày đầu, khi ông còn rất trẻ, vừa tốt nghiệp trường đại học. Ông có năng khiếu bẩm sinh về ngành điện tử và mọi cửa đều rộng mở đón chào ông. Ông đã gặp Eiko và yêu bà say đắm. Bà tiếp thêm cho ông sức mạnh của lòng can đảm và nghị lực để xây dựng nên hãng công nghiệp của chính mình. Trong năm năm đầu, ông lăn lộn suốt ngày đêm, cố kiếm miếng ăn manh áo nuôi Eiko và Massao, đứa con trai nhỏ của hai vợ chồng. Con đường Yoneo Matsumoto lựa chọn thật chông gai, gian khổ, nhưng vốn là người trọng danh dự và có tài, ông không hề nao núng chùn bước trước bất kỳ khó khăn, trở ngại nào. Đường doanh nghiệp của ông mỗi ngày một thênh thang rộng lớn rồi từ một hãng sản xuất, nó phát triển thành một tổ hợp kinh doanh hùng mạnh. Nền công nghiệp Matsumoto dần dà thu hút các hãng và chi nhánh khác, và từ một cơ sở kinh doanh non trẻ, nó trở thành một công ty khổng lồ - một triều đại công nghiệp bao trùm thế giới chuyên sản xuất các loại máy bay và máy tính điện tử, các loại máy quay phim, máy ảnh, máy thu thanh, truyền hình và hàng trăm chủng loại khác nữa. Một tiếng sét đột ngột dội lên bứt ông ra khỏi mọi suy tư. Tiếp ngay sau đó, một làn chớp sáng ngời rạch ngang bầu trời tựa hồ như vừa có một quả tên lửa khổng lồ điên cuồng lao vút vào khoảng không. Những người ngồi trên máy bay thấy rõ trong khoảnh khắc toàn bộ khung cảnh ngoài trời: quanh họ nhìn đâu cũng chỉ toàn vách núi hiểm trở. Ánh chớp tắt lặn, cảnh vật lại chìm trong bóng đen dày đặc. Yoneo Matsumoto siết chặt tay người vợ thân yêu đã cùng ông chia sẻ mọi nỗi buồn vui, đã từng cổ vũ, động viên ông vượt qua bao sóng gió cuộc đời. Lúc này đây, giữa cảnh trời đất đảo điên trong cơn giông tố cuồng phong, bà lại ở bên ông hiền hậu, dịu dàng và bình tĩnh. Chỉ dăm phút nữa, cả hai ông bà sẽ xa lìa cuộc đời này. Nhưng họ còn đứa con trai Massao, nó sẽ tiếp tục sự nghiệp của họ. Massao sẽ thừa kế để chế Matsumoto và nó sẽ vững vàng cai quản đế chế mà hai vợ chồng đã cùng chung sức tạo dựng nên. Ánh chớp khủng khiếp lại vụt loé và họ thấy rõ cảnh tượng bên ngoài như cảnh địa ngục: một đỉnh núi phủ đầy tuyết đùn lên những áng mây đen tựa chiếc vạc dầu sôi bốc khói nghi ngút và, ngay trước mặt họ, là sườn núi dựng đứng lởm chởm đá như những chiếc răng nhọn nhe ra chỉ chờ họ lao vào là phanh thây xé xác. Mấy giây sau, cả thế giới dường như bị nổ tung thành hàng ngàn tia lửa nhỏ. Sau đó, cảnh vật lại chìm vào bóng đêm chết chóc rùng rợn, gió gào rú thê lương, vang vọng khắp một vùng đất cô đơn trải dài vô tận... Mời các bạn đón đọc Truy Lùng của tác giả Sidney Sheldon.
Cô Gái Trong Mạng Nhện
Cuốn sách Cô gái trong mạng nhện của David Lagercrantz là phần nối tiếp tam bộ khúc Cô gái có hình xăm rồng mà Stieg Larsson hoàn thành trước đó. Cô gái trong mạng nhện là phần nối dài tam bộ khúc Millennium (Cô gái có hình xăm rồng, Cô gái đùa với lửa, Cô gái chọc tổ ong bầu) mà Stieg Larsson đã hoàn thành cách đây một thập kỷ. Tác phẩm đã càn quét các bảng xếp hạng uy tín và tiêu thụ được hơn 8 triệu bản trong năm 2015. Qua ngòi bút của David Lagercrantz, Cô gái trong mạng nhện đã hoàn toàn chinh phục giới phê bình khó tính cũng như độc giả toàn cầu nhờ văn phong tuyệt vời kết hợp giữa phong cách hành động quyết liệt của trinh thám Mỹ và lối phân tích sắc sảo đến từng chi tiết của trinh thám Thụy Điển. Đây được xem như một siêu phẩm kịch tính về chuyến phiêu lưu đầy rủi ro để đi tìm sự thật, công lý và tính minh bạch; phơi bày mối quan hệ móc ngoặc bẩn thỉu giữa giới chính khách, các nhà tài phiệt, các cơ quan tình báo và các tổ chức bí mật ngoài vòng luật pháp. Kể từ sau “vụ Salander”, Lisbeth đột ngột biến mất khỏi thế giới của Mikael Blomkvist, trong khi anh vẫn tiếp tục bám trụ tòa soạn Millennium giữa cơn bão khủng hoảng tài chính và chiến dịch bôi nhọ ác ý trên mạng xã hội. Nhưng một lần nữa, số phận lại đưa đẩy họ bước vào chiến tuyến mới khi Linus Brandell – một nhà nghiên cứu trẻ tuổi đã bất ngờ đến tìm gặp Mikael và khẩn khoản nhờ anh điều tra một vụ tấn công tin tặc động trời nhằm vào nhà khoa học đầu ngành trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, giáo sư Frans Balder.  Mikael vốn dĩ không thành thạo mảng công nghệ thông tin, cũng chẳng biết Balder là ai, và đáng lẽ anh đã bỏ qua vụ việc nếu trong câu chuyện Linus không nhắc đến một “nữ hacker lập dị”. Sự nghi hoặc của Blomkvist càng được củng cố hơn, khi ngay sau đó đích thân giáo sư Balder gọi điện thuyết phục anh đến gặp ông vì nghi ngờ có sự rò rỉ thông tin từ một dự án tuyệt mật quy tụ những bộ óc hàng đầu thế giới mà ông tham gia: Dự án Siêu Máy tính Nhân tạo. Tuy nhiên, khi đến nơi hẹn, những gì Blomkvist chứng kiến lại là một đứa trẻ có ánh nhìn vô định ngồi giữa những vòng tròn số bên cạnh thi thể lạnh cứng của vị giáo sư già...  Những bí ẩn giăng mắc, những nhân vật lẩn khuất trong tam bộ khúc Millennium đã dần bước ra từ bóng tối để tiếp tục đưa người đọc vào một câu chuyện cuốn hút ngay từ phần mở đầu và dị thường cho đến tận những dòng cuối cùng. Từ những tổ chức ngầm ở Stockhlom cho tới giới chính trị thao túng Thung lũng Silicon, một âm mưu thâm hiểm đã vượt ra ngoài biên giới Thụy Điển, bao trùm lên toàn thế giới, đe dọa phá vỡ thế cân bằng của cán cân quyền lực. Và sẽ phá vỡ mãi mãi nếu chìa khóa của sự việc không được tìm ra. Ngay từ ban đầu, David Lagercrantz đã đặt độc giả vào một không gian căng thẳng tột độ, khiến họ phải lặng đi trước khả năng vô hạn của khoa học và rùng mình trước cái bắt tay đầy toan tính máu lạnh giữa giới chóp bu với đám tội phạm quốc tế. Lôi cuốn và kịch tính, sự kết hợp giữa các ẩn số toán học và bí ẩn đằng sau những vụ án mạng đã làm nên sự hấp dẫn trí tuệ rất riêng cho Cô gái trong mạng nhện. Và đó cũng là lí do tác phẩm này được các nhà phê bình đánh giá là sự trở lại tuyệt vời của một trong những sê-ri tiểu thuyết trinh thám hay nhất thế kỉ 21. *** đôi lời gửi độc giả   Tôi rất nhớ những buổi sáng sớm, khi Stockholm chìm trong yên lặng và gia đình tôi vẫn đang say giấc. Tôi sẽ uống cà phê, ngồi vào máy tính và viết như thể nó là cứu cánh duy nhất của cuộc đời mình. Đúng vậy, không phải lúc nào cũng dễ dàng, nhưng đôi khi tôi thấy nhớ cảm giác cuồng nhiệt đến phát sốt và mấp mé bờ vực sợ hãi ấy – nỗi sợ hãi rằng mình không đủ tầm để kế tục sự nghiệp của Stieg Larsson. Mối quan ngại ấy là thứ dẫn dắt tôi, và có thể nói Lisbeth Salander là người khiến tôi sợ hãi nhất. Làm sao tôi có thể mô tả một nhân vật ấn tượng đến thế mà không làm độc giả thất vọng? Tôi còn nhớ lúc đầu mình rất hăm hở vào cuộc. Dường như tôi đã cố gắng quá mức, nên phải mất nhiều thời giờ để cắt gọt và tinh giản mọi thứ. Chủ yếu tôi phải lược bớt cảm xúc. Sự ủy mị và sướt mướt không thích hợp với Lisbeth. Cảm xúc của cô ấy chỉ nên được bóng gió đề cập thông qua câu chữ, và tôi nhận ra cô tốt nhất khi có hành động, khi cô chiến đấu Với vị thế của một kẻ dưới cơ. Chỉ cần tôi tìm được đúng tình huống, cô sẽ xuất hiện sống động. Nhưng vẫn còn một vấn đề khiến tôi phải mất một thời gian dài để tháo gỡ: Lisbeth Salander nhớ về quá khứ thế nào? Các bạn cũng biết đấy, thứ làm cho Lisbeth trở thành một nhân vật đặc biệt không chỉ là cá tính. Cũng giống như Người dơi, Siêu nhân hay bất cứ vị siêu anh hùng nào khác, Lisbeth có sự huyền bí của riêng mình, đó chính là một yếu tố quyết định làm nên sức công phá dữ dội của cô. Tôi nhận ra mình cần phải khai thác và phát triển nó. Do vậy, tôi đã quay về thời thơ ấu của Lisbeth, khi người cha tàn ác ngược đãi mẹ Lisbeth và cô thề sẽ trả thù. Tôi cũng nhận ra mình sẽ làm hỏng một phần sự huyền bí của Lisbeth nếu để cô tự nhớ ra những biến cố đó. Chúng sẽ có vẻ bạo liệt hơn nếu được nhìn từ bên ngoài, với chỉ một chút xíu bóng gió về nỗi uất hận và đau đớn của Lisbeth. Tôi cũng cảm thấy mình cần một chiếc kính lọc. Tôi nhận thấy bản thân Stieg Larsson cũng vất vả với vấn đề này: anh gần như luôn nhờ đến ông luật sư già Holger Palmgren, người giám hộ cũ của Lisbeth, để kể lại thời thơ ấu của cô. Tất nhiên đó là một mánh khóe kinh điển. Những hình tượng nhân vật có sức mê hoặc lớn trong văn chương thường được quan sát tốt nhất từ một khoảng cách nhất định. Bạn cần một bác sĩ Watson để tạo nên huyền thoại và duy trì sự bí ẩn xung quanh nó. Từ góc nhìn của nhân vật chính, đa phần mọi thứ sẽ chỉ mang tính logic và hiển nhiên, nhưng khi cùng một quá trình đó được quan sát bởi một người khác, nó sẽ giúp chúng ta hiểu ra vì sao mọi thứ lại đáng chú ý đến như vậy. Nó giúp chúng ta cảm thấy kinh ngạc. Tôi quyết định sử dụng cùng những thủ pháp như Stieg Larsson đã dùng. Tuy nhiên tôi cũng không nhượng bộ hoàn toàn. Tôi tiếp tục đào sâu vào những suy nghĩ và ký ức của Lisbeth Salander, thử thách các giới hạn. Không quá lời khi nói rằng chính quá trình đó đã giúp tôi nắm bắt được cô ấy, và một buổi tối nọ, một buổi tối tuyệt vời, sáng sủa, tôi đã khám phá bí mật lớn nhất của cô gái ấy. Sau cái ngày hôm đó, mọi thứ giống như thể được cô tự viết ra. Tôi bắt đầu hiểu tại sao Lisbeth phải tấn công một lần nữa, mạnh mẽ và không khoan nhượng. Tôi đã nhận ra câu chuyện phải tiếp tục như thế nào, và tôi đã bắt đầu nhớ tiếc nó. Tôi hi vọng các bạn sẽ thích thú câu chuyện! David Lagercrantz, Stockholm, ngày 15 tháng 5 năm 2015 *** Ra mắt độc giả từ năm 2005, bộ trường thiên tác phẩm Milennium gồm "Cô gái có hình xăm rồng", "Cô gái đùa với lửa", "Cô gái chọc tổ ong bầu" của tác giả Stieg Larsson đã tạo nên một cơn địa chấn với hơn 80 triệu bản trên toàn cầu và vẫn chưa hề có dấu hiệu hạ nhiệt. Mười năm sau, độc giả hâm mộ lại háo hức khám phá cuộc điều tra mới của cặp đôi nhà báo Mikael Blomkvist và hacker Lisbeth Salander, dưới ngòi bút của David Lagercrantz, với tựa đề "Cô gái trong mạng nhện". Tác phẩm nối dài này đã tiêu thụ được hơn 8 triệu bản trong năm 2015. Chấp bút dưới áp lực cái bóng khổng lồ của Stieg Larsson, David Lagercrantz đã hoàn toàn chinh phục giới phê bình khó tính cũng như độc giả toàn cầu bằng văn phong tuyệt vời kết hợp giữa phong cách hành động quyết liệt của trinh thám Mỹ và lối phân tích sắc sảo đến từng chi tiết của trinh thám Thụy Điển. Tại buổi giới thiệu sách, dịch giả Vũ Hoàng Anh, họa sĩ Dũng Choai, nhà văn Di Li cùng đại diện Đại sứ quán Thụy Điển tại Việt Nam đã chia sẻ những nét đặc sắc của bộ tiểu thuyết trinh thám cuốn hút này và những dấu ấn của nó trong phản ánh đời sống văn hóa, xã hội Thụy Điển với tất cả sự lôi cuốn và kịch tính, đặc biệt là sự kết hợp giữa các ẩn số toán học và bí ẩn trong "Cô gái trong mạng nhện" - lý giải vì sao tập sách xứng đáng nối dài bộ series tiểu thuyết trinh thám được đánh giá trong nhóm sách trinh thám hay nhất thế kỉ 21. David Lagercrantz sinh năm 1962 tại Thụy Điển, tốt nghiệp trường báo chí Gothenburg. Ông là cựu phóng viên điều tra của nhật báo Expressen và là người được Nhà xuất bản cũng như Hội đồng bảo vệ tài sản của Stieg Larsson chọn mặt gửi vàng để viết tiếp câu chuyện về Salander. *** Cô gái trong mạng nhện - David Lagercrantz Dịch giả Hoàng Anh người review Trà Phạm #cô_gái_trong_mạng_nhện #trinh_thám_bắc_âu Nối tiếp tam bộ khúc millennium, David Largercrantx tiếp tục mang đến phần 4: cô gái trong mạng nhện với bức tranh toàn diện hơn về cô gái kì quặc Lisbeth và câu truyện đầy hấp dẫn của bộ đôi Lisbeth và Blokvist cùng một mớ rắc rối khác xung quanh hai người. Thực ra đọc xong cũng được 1 tuần rồi, nhưng vì bận chuyện nọ chuyện kia rồi gặp đủ các vấn đề liên quan đến điện thoại và internet nên chẳng thể viết vài dòng ngay được. Nhân ngày mưa, trốn việc viết vội vài dòng vậy. Nội dung truyện khá hấp dẫn, tuy nhiên vẫn có phần hơi gượng gạo khi giới thiệu về các nhân vật, sự ngang tàng, kì quặc của Lisbeth cũng bị giảm bớt phần nào. Các phần đào sâu quá khứ và những bí ẩn xoay quanh Lisbeth cũng gượng gạo không kém. Cảm giác khi đọc là tính cách của các nhân vật không còn được "nguyên vẹn" nữa nên nếu như các phần trước đọc đến đoạn nào, vỗ đùi sung sướng "đúng là Lisbeth có khác" hay "đúng là Blomkvist có khác" thì nay cảm giác như không đúng vậy. Truyện tập trung về mảng IT, hoặc được gọi là tên khác, nhưng cơ bản là về tin học, tin tặc,.v.v. đọc thực sự như đọc tiếng ngoài hành tinh ý, không thuộc phạm trù hiểu biết của mình nên phải đọc đi đọc lại nhiều lần và có đoạn phải bỏ qua (thà toán em còn hiểu được chứ mấy cái này em chịu). Truyện cũng nói đến một loạt các vấn đề trong đời sống hằng ngày mà ta có thể bắt gặp ngoài đời thực và khiến ta nhức nhối, phải suy nghĩ, phải lo lắng cho thực tế không tốt đẹp chút nào. Nói chung truyện ổn, hơi gượng gạo nhưng nội dung vẫn đầy đủ các yếu tố hấp dẫn. *** Nửa đầu dài dòng với những giới thiệu về vô số cục, ngành, cơ quan nhà nước. Cục tình báo, cục điều tra thương nghiệp, cục gì gì gì gì và các tổ chức tội phạm. Đọc mà loạn xà ngầu. Có lẽ vì mình không nhạy trong việc nhớ các chi tiết như thế. Nửa sau nhanh hơn, có chút gay cấn, chút xíu thôi à. Xong rồi mọi chuyện được giải quyết cái rụp xong rồi hết chuyện. Mình đọc nửa đầu trong chừng 2 tháng và nửa sau trong chừng 3 ngày. Vậy là hiểu rồi nha. Mình nghĩ sẽ có vài phần tiếp theo khi tác giả đã xây dựng một nhân vật phản diện mới (và chưa chết). Nhưng truyện xuất bản từ 2015 mà đến giờ vẫn không thấy thông tin về quyển tiếp. Không muốn nhìn nhận nhưng cả Mikael Blomkvist và Lisbeth Salander đều mờ nhạt so với tầm vóc đồ sộ của các cục đoạn đầu. Họ không làm gì nhiều. Mà thật ra không ai làm gì nhiều cả. Trừ nỗ lực của tên sát thủ chính phải hành động những 3 lần. Nguyen Anh *** Boog đã đọc hết cả 3 tập trong series Cô gái có hình xăm rồng và đây là tập 4 trong series đó nhưng lại do người khác chắp bút nên Boog lần lữa mãi mới đọc. Cũng bởi nghe nói phim chuyển thể từ tập 4 này chuẩn bị ra rạp nên Boog quyết định đọc để xem phim cho dễ hiểu. Hơn nữa lại được biết quyển này do dịch giả Hoàng Anh dịch nên Boog có phần nào yên tâm. Bởi biết dịch giả Hoàng Anh qua một số tác phẩm Boog đã đọc như: Kẻ nhắc tuồng, người ru ngủ, bộ ba quyển Người đàn ông mang tên Ove, Bà ngoại tôi gửi lời xin lỗi, Britt marie đã ở đây, đọc mới nhất là Chênh Vênh thì Boog đều có cảm tình với mấy tác phẩm đó cả. Mở đầu tập này có vẻ khá chậm nhưng càng về cuối thì nó càng hấp dẫn. Một nhà khoa học đang nghiên cứu một công trình mà nhiều tổ chức muốn có bị ám sát. Đó là một công trình nghiên cứu siêu máy tính có trí tuệ nhân tạo có thể hiểu được con người. Nhưng nếu công trình này được hoàn thiện thì mọi con người sẽ bị kiểm soát, mọi thứ sẽ bị phơi bày không còn gì là bí mật. Công trình nghiên cứu này còn liên quan tới mạng lưới của nhiều các tổ chức từ Duma của Nga tới NSA của Mỹ tới cả các tổ chức tội phạm, chúng rối tung và chằng chịt như một mạng nhện. Mới đầu có vẻ mọi sự việc chẳng liên quan, dính dáng gì tới cô gái đặc biệt Lisbeth Salander. Nhưng hoá ra không phải vậy, việc nhà khoa học bị ám sát đó lại gợi mở thêm về quá khứ của Salander. Boog thấy tập này khá thú vị là Lisbeth tìm được một đứa trẻ khá giống mình, mắc chứng tự kỷ thiên tài. Không phải đứa trẻ nào tự kỷ cũng là thiên tài nhưng nếu đó là tự kỷ thiên tài thì nên quan tâm và phát huy khả năng đặc biệt đó. Điểm trừ mà Boog dành cho tập này là Lisbeth hoàn hảo quá, Lisbeth giống như kiểu anh hùng quá giỏi không mắc một sai lầm nào. Nếu như mấy tập trước cô ấy giỏi nhưng vẫn mắc sai lầm thì tập này mọi việc Lisbeth làm quá hoàn hảo, khiến cô ấy không thực tế như mấy tập trước. Ở tập này còn xuất hiện một nhân vật nữ rất đặc biệt. Đẹp, ánh mắt hút hồn khiến người khác mê mẩn và dễ dàng bị sai khiến nhưng phụ nữ đẹp là phụ nữ nguy hiểm một lần nữa lại đúng. Chết vì gái là cái chết êm ái nên các đấng mày râu cẩn thận nha, còn nếu các vị tự nguyện chết vì người đẹp thì Boog không còn gì để nói
Vụ Án Họ Trình
Vụ Án Họ Trình - Frances Noyes Hart & Hoàng Hải Thuỷ (phóng tác) Frances Newbold Noyes Hart là một nhà văn Mỹ có truyện ngắn được đăng trên tạp chí của Scribner, tờ Saturday Evening Post, tờ Ladies 'Home Journal.  Mời các bạn đón đọc Vụ Án Họ Trình của tác giả Frances Noyes Hart & Hoàng Hải Thuỷ (phóng tác).