Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Tess Một Tâm Hồn Trong Trắng

Tess là tác phẩm được độc giả thuộc mọi tầng lớp yêu thích nhiều nhất trong số 14 tiểu thuyết của Hardy. So với Eustacia xinh đẹp theo kiểu hoang dã, tham vọng vật chất trong Trở lại cố hương và Sue xinh đẹp trong theo kiểu trí thức, tính nết thất thường, với quan điểm mâu thuẫn về đạo đức, tôn giáo, hôn nhân trong Jude-Kẻ vô danh thì Tess Durbeyfield chỉ là một nàng thôn nữ, học hết lớp sáu trường làng, nàng xinh đẹp một cách dân dã như một đóa hoa đồng nội. Nhưng số phận thảm thương, Tess bị tử hình bằng cách treo cổ do đâm chết Alec. Số phận đen tối một cách cùng cực dù nàng chỉ có ước mơ rất tầm thường, nhỏ nhoi, rất con người: có một người chồng mà mình yêu và yêu mình, sống một cuộc sống vừa đủ, sẵn sàng làm bất cứ công việc chân tay vất vả nào. Nhưng Alec một điền chủ trẻ tuổi, phóng đãng quyến rũ và hãm hiếp từ năm nàng mới có mười sáu tuổi, sau đó lại dùng sức mạnh vật chất để chi phối nhằm mục đích sở hữu nàng như sở hữu một món đồ chơi ưa thích. Khi Tess kết hôn với Angel nàng đã thú nhận với chồng của mình về quá khứ vào đêm tân hôn. Do quan niệm quá cứng nhắc về trinh tiết và Angel nghĩ rằng mình bị lừa đã rời nước Anh đến Brazil lập nghiệp để suy nghĩ kĩ hơn về mối quan hệ vợ chồng anh. Thông qua Tess, Thomas Hardy đã thẳng thắn phê phán những quan niệm cổ hủ và cứng nhắc về tín ngưỡng, đạo đức trong tình yêu và hôn nhân của thời kì Victorian. Chính vì lẽ đó mà khi nó được công bố lần đầu năm 1891 đã bị chỉ trích kịch liệt. Khi đọc về những cuộc đời, những con người có tâm hồn mộc mạc, thiện lương, với những mơ ước đơn sơ bình dị lại gặp toàn tai ương, hoạn nạn, một mặt chúng ta xót thương, đồng cảm với họ, mặt khác, chúng ta mơ ước một xã hội trong đó những bi kịch đó không còn tái diễn. Có lẽ đó cũng là mơ ước hoài vọng của tác giả khi viết tác phẩm này. *** Dịch từ nguyên bản tiếng Anh Tess of the d’Urbervilles – A Pure Woman Faithfully Presented Của Thomas Hardy Dịch giả giữ bản quyền bản tiếng Việt Dù không được xếp hạng trong danh mục 100 tiểu thuyết tiếng Anh hay nhất mọi thời như Jude- Kẻ vô danh – vốn đẩy những phê phán xã hội và tôn giáo của Thomas Hardy lên đến đỉnh điểm, và tạo nên nhiều phê phán tiêu cực đến độ ông dứt khoát từ bỏ văn xuôi và chuyển sang sáng tác thơ cho đến cuối đời – Tess, một tâm hồn trong trắng vẫn được khẳng nhận rộng rãi là một trong số các kiệt tác của ông.  Có thể nhấn mạnh một điểm đặc biệt khác ở Tess: trong số 14 tiểu thuyết của Hardy, nó là tác phẩm được độc giả thuộc mọi tầng lớp yêu thích nhiều nhất, ngay từ thời điểm được công bố lần đầu, dù có những chỉ trích gay gắt về chủ đề tư tưởng từ phía các nhà phê bình cực đoan, cho tới tận hôm nay. Và các tác phẩm chuyển thể từ Tess sang sân khấu, điện ảnh lên đến một số lượng đáng ngạc nhiên so với các tiểu thuyết khác của ông. Về sân khấu, có tổng cộng tám vở kịch hoặc ca nhạc kịch (opera) của các tác giả khác nhau được trình diễn nhiều lần trên các sân khấu lớn ở London, New York, Stratfort-upon-Avon (quê hương của Shakespeare). Về điện ảnh, có 7 phim màn ảnh rộng (công chiếu lần đầu vào các năm 1913, 1924, 1967, 1979, 2000, 2011, 2013); 4 phim truyền hình (1952, 1960, 1998, 2008), trong đó tôi đã được xem hai phiên bản: năm 1998, do London Weekend Television sản xuất, đạo diễn Ian Sharp, với các diễn viên chính Justine Waddell (Tess), Jason Flemyng (Alec), và Oliver Milburn (Angel); và năm 2008, do BBC sản xuất, đạo diễn David Blair, các diễn viên chính Gemma Artenton (Tess), Hans Matheson (Alec), Eddie Redmayne (Angel); cả hai phiên bản có những ưu điểm và khuyết điểm khác nhau, nhưng nhìn chung đều thể hiện được khá chính xác tính cách của các nhân vật như miêu tả của Thomas Hardy.[1] Vì sao như vậy, bạn đọc sẽ đặt câu hỏi. Và tôi xin được trả lời vắn tắt: so với Eustacia xinh đẹp theo kiểu hoang dã, có nhiều tham vọng vật chất trong Trở lại cố hương, và Sue xinh đẹp theo kiểu trí thức, tính nết thất thường, với những quan điểm về tôn giáo, đạo đức, hôn nhân cực kỳ mâu thuẫn trong Jude – Kẻ vô danh, Tess Durbeyfield chỉ là một nàng thôn nữ, học hết lớp sáu trường làng. Nàng xinh đẹp một cách dân dã, như một đóa hoa đồng nội. Cả ba nhân vật nữ trong ba tiểu thuyết này đều có số phận không may: Eustacia tự sát; Sue bị mất ba đứa con và sống một cuộc đời tàn tạ héo hon với Philoston; nhưng số phận của Tess còn thảm thương hơn: nàng bị tử hình bằng cách treo cổ do đâm chết Alec. Số phận của nàng đen tối đến mức cùng cực như vậy, dù nàng chỉ có những mơ ước rất tầm thường, nhỏ nhoi, rất con người: có một người chồng mà mình yêu và yêu mình, sống một cuộc sống vừa đủ, sẵn sàng làm bất cứ công việc chân tay vất vả nào. Mặt khác, nàng là một thiếu nữ, và sau là một  phụ nữ có tâm hồn hoàn toàn trong trắng dịu hiền, nhưng  lại bị Alec, một điền chủ trẻ tuổi, phóng đãng quyến rũ và hãm hiếp từ năm nàng mới mười sáu tuổi, rồi sau đó lại dùng sức mạnh vật chất để chi phối, nhằm mục đích sở hữu nàng như sở hữu một món đồ chơi ưa thích lần nữa, khi nàng đã kết hôn với Angel, nhưng hai vợ chồng đang sống xa nhau. (Nàng đã thú nhận với chồng quá khứ của mình vào đêm tân hôn. Do quan niệm quá cứng nhắc về trinh tiết và nghĩ rằng mình bị lừa, Angel đã rời nước Anh sang Brazil để lập nghiệp với tư cách một chủ nông trại, cũng để chờ thời gian lắng lại để suy nghĩ  kỹ hơn về mối quan hệ của vợ chồng anh.) Ở tựa sách nguyên bản, ngoài tựa chính Tess of the D’Urbervilles, Thomas Harsy chủ tâm đưa thêm một tiểu tựa: A Pure Woman Faithfully Presented, chính là muốn nhấn mạnh đặc tính trong trắng thuần khiết này của Tess. Một nữ nhân vật đáng yêu và đáng thương như vậy, đương nhiên sẽ đi vào lòng người đọc, và khơi gợi ở họ những cảm xúc thật sự khó quên. Tess còn đáng yêu ở nhiều điểm khác: nàng yêu thiên nhiên, yêu cỏ cây hoa lá trong môi trường xung quanh, yêu các loài động vật nhỏ bé, yếu ớt và vô phương tự vệ như nàng. Thông qua Tess, Thomas Hardy đã thẳng thắn phê phán những quan niệm cổ hủ và cứng nhắc về tín ngưỡng, đạo đức trong tình yêu và hôn nhân của thời kỳ Victorian. Chính vì lẽ đó mà khi nó được công bố lần đầu vào năm 1891 dưới hình thức đăng nhiều kỳ trên tờ họa báo The Graphic và sau đó xuất bản dưới hình thức sách (ba tập) cũng trong năm 1891, nó đã bị chỉ trích kịch liệt. Một tác phẩm lớn đương nhiên sẽ có nhiều cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau, từ nhiều góc độ. Ở phần giới thiệu này, tôi xin không nêu tóm tắt cốt truyện vì như thế sẽ rất dài dòng, không cần thiết; cũng không đưa ra những phân tích sâu về chủ đề hay về tính cách của các nhân vật, vì mong muốn độc giả sẽ là người tự có những nhận định của chính mình sau khi đọc tác phẩm. Chỉ xin đưa ra một nhận định nhiều cảm xúc của tôi với tư cách một người đọc, và một người dịch: Khi đọc về những cuộc đời, những con người có tâm hồn mộc mạc, thiện lương, với những mơ ước đơn sơ bình dị lại gặp toàn tai ương, hoạn nạn, một mặt chúng ta xót thương, đồng cảm với họ, mặt khác, chúng ta mơ ước một xã hội trong đó những bi kịch đó không còn tái diễn. Có lẽ đó cũng là ước mơ hoài vọng của tác giả khi viết tác phẩm này. Sài Gòn, tháng 01/2020 Nguyễn Thành Nhân *** Thomas Hardy (1840 - 1928) là một tiểu thuyết gia, nhà thơ và kiến ​​trúc sư người Anh. Các văn bản của ông có một phong cách hiện thực, nhưng bị ảnh hưởng ở một mức độ lớn bởi chủ nghĩa lãng mạn văn học có trước thời Victoria.. Nhờ thành công của ngòi bút của mình, ông đã từ bỏ sự nghiệp của kiến ​​trúc sư để cống hiến hết mình cho các bức thư. Mặc dù Hardy đã nhanh chóng nhận được sự hoan nghênh của một nhà tiểu thuyết, nhưng ông luôn cảm thấy hứng thú với thơ và tác phẩm của ông có tác động lớn đến các thế hệ nhà thơ kế vị ông.. Phong cách mà tác giả in cho các tác phẩm của mình tập trung hơn nhiều và ít khoa trương hơn so với những người cùng thời. Nó có tông màu tối và định mệnh, trái ngược với hy vọng thấm đẫm các văn bản Victoria. Hardy đã đặt gần như tất cả các tác phẩm kể chuyện của mình ở Wessex, một quốc gia tưởng tượng lấy tên của vương quốc từng nắm giữ quyền lực lớn trên đảo. Nhưng trong cuộc đời của tác giả, khu vực địa lý thực sự ngày càng nghèo nàn. Hardy Wessex nằm ở phía nam và tây nam nước Anh. Ông thậm chí còn tạo ra các bản đồ chỉ ra vị trí chính xác của từng thành phố hư cấu. Tác giả đã được đề cử 12 lần cho giải thưởng Nobel Văn học. Thomas Hardy cũng làm việc trong việc viết những ký ức của mình, mặc dù chúng được kết thúc bởi người vợ thứ hai của ông, Florence Hardy, và chúng đã được xuất bản thành hai tập tiếp cận chi tiết từng giai đoạn của cuộc đời của tác giả người Anh. *** Vào một xế chiều cuối tháng Năm, một người đàn ông trung niên đang từ Shaston đi bộ trở về nhà. Ông ở thôn Marlott, nằm tiếp giáp với Thung lũng Blakemore, hoặc Blackmoor. Đôi chân của ông yếu ớt, và dáng đi của ông có xu hướng hơi nghiêng sang trái. Thỉnh thoảng ông lại gật đầu, như thể xác nhận một ý nghĩ nào đó, dù ông không hề nghĩ tới một điều gì cụ thể. Ông móc lủng lẳng trên tay một cái giỏ đựng trứng trống rỗng, đội một cái mũ nỉ đã sờn,  vành mũ bị rách toạc một mảng to và ông đưa ngón cái lên để giật nó ra. Đúng lúc đó ông nhìn thấy một vị cha xứ lớn tuổi ngồi vắt vẻo trên lưng một con lừa xám, miệng đang ngâm nga một khúc du ca. “Chúc buổi tối tốt lành.” Ông cất tiếng chào. “Chúc buổi tối tốt lành, Ngài John.” Vị cha xứ đáp lễ. Kẻ bộ hành bước thêm một hai bước nữa, rồi dừng chân và quay lại. “Xin thứ lỗi, thưa ông; chúng ta đã gặp nhau vào phiên chợ lần trước trên con đường này, cũng vào khoảng giờ này, tôi đã nói ‘Chúc buổi tối tốt lành,’ và ông cũng đáp lại ‘Chúc buổi tốt tốt lành, Ngài John,’ như hiện giờ.” “Đúng thế.” Vị cha xứ đáp. “Và một lần trước đó nữa, gần một tháng trước.” “Có lẽ tôi đã chào như thế.” “Vậy ý của ông là gì khi gọi tôi là ‘Ngài John’ trong những lần này, khi tôi chỉ là Jack Durbeyfield, một người bán dạo quê mùa?” Vị cha xứ giục lừa tới gần hơn. “Đó chỉ là sở thích nhất thời của tôi.” Ông đáp; và nói thêm sau giây lát ngần ngừ: “Cách đây ít lâu tôi phát hiện ra một việc, trong lúc đang săn lùng những phả hệ cho một cuốn sách lịch sử mới của hạt. Tôi là cha xứ Tringham, nhà khảo cổ, ở làng Stagfoot Lane. Durbeyfield, chẳng lẽ ông thật sự không biết rằng ông là đại diện của dòng tộc hiệp sĩ cổ xưa d'Urbervilles, vốn là hậu duệ của Ngài Pagan d'Urberville, vị hiệp sĩ lừng danh đến từ Normandy cùng với William Kẻ Chinh phục, như được ghi trong Văn kiện của Tu viện Battle[2] hay sao?” “Chưa bao giờ nghe nói tới nó, thưa ông!” “Vâng, đúng thế đó. Hãy ngẩng cằm ông lên giây lát, để tôi có thể ngắm nét mặt nhìn nghiêng của ông rõ hơn. Phải, đó là cái mũi và cằm của dòng họ d'Urberville, dù hơi kém phẩm chất hơn chút đỉnh. Tổ tiên của ông là một trong mười hai hiệp sĩ của Lãnh chúa xứ Estremavilla ở Normandy trong cuộc chinh phục xứ Glamorganshire. Các nhánh gia tộc của ông có điền trang trên toàn bộ vùng này của nước Anh; tên của họ xuất hiện trong Văn kiện vào thời Vua Stephen. Dưới triều Vua John, một người trong số họ đủ giàu để tặng một điền trang cho các Hiệp sĩ dòng Thánh John, và vào thời của Vua Edward Đệ Nhị, tổ tiên Brian của ông được mời tới Westminster để tham gia Đại hội đồng tại đó. Dòng tộc của ông bị sa sút đôi chút vào thời của Oliver Cromwel[3], nhưng không nghiêm trọng lắm, và dưới triều của Charles Đệ Nhị họ được phong làm Hiệp sĩ Cây Sồi Hoàng gia[4] vì lòng trung thành. Phải, đã có những thế hệ các Ngài John trong số tổ tiên của ông, và nếu tước hiệp sĩ có thể kế thừa như thuở trước, khi cha có thể truyền lại tước hiệu này cho con trai, giờ ông sẽ là Ngài John.” “Ông đừng nói như thế!” “Nói tóm lại,” vị cha xứ kết luận, vụt nhẹ roi vào chân mình với vẻ quả quyết, “khó mà có một gia tộc khác như thế ở nước Anh.” “Một thông tin choáng cả người, phải không?” Durbeyfield đáp. “Và tôi đã lăn lóc từ nơi này sang nơi khác, hết năm này sang năm khác, như thể tôi không hơn gì một gã tiều phu tầm thường nhất trong xứ đạo… Tin tức này về tôi đã được biết từ bao lâu rồi, thưa Cha xứ Tringham?" Vị cha xứ giải thích rằng, trong chừng mực ông biết, thông tin này đã hoàn toàn tuyệt tích từ lâu, và hầu như không ai biết cả. Những điều tra riêng của ông đã được bắt đầu vào mùa xuân năm ngoái, trong lúc truy tìm dấu tích thăng trầm của gia tộc d'Urberville, ông đã nhìn thấy cái tên Durbeyfield trên cỗ xe ngựa của Jack, và từ đó đã tiến hành những điều tra về cha và ông nội của Jack cho tới khi không còn hồ nghi gì về vấn đề này nữa. “Thoạt tiên tôi quyết định không quấy rầy ông với một thông tin vô ích như thế.” Ông nói. “Tuy nhiên, đôi khi những thôi thúc quá mạnh mẽ so với lý trí của chúng ta. Tôi nghĩ có lẽ lâu nay ông cũng biết đôi điều gì đó về việc này.” “Vâng, đúng thế, tôi có nghe nói một hai lần, rằng tổ tiên tôi từng có những ngày tháng tốt đẹp hơn trước khi họ tới Blackmoor. Nhưng tôi không chú ý tới nó, nghĩ rằng nó chỉ có nghĩa rằng chúng tôi từng có thời làm chủ hai con ngựa trong khi bây giờ chỉ có một con. Tôi có một cái muỗng bạc, và một con dấu niêm phong ở nhà; nhưng Lạy Chúa, một cái muỗng và một con dấu là gì chứ?... Và hãy nghĩ rằng tôi và những người cao quý họ d'Urbervilles này luôn có chung huyết thống mà xem. Tôi nghe nói ông cố của tôi có những bí mật, và không muốn nói về xuất xứ của mình… Và, thưa cha xứ, xin đánh bạo hỏi hiện giờ dòng họ d'Urbervilles của chúng tôi sống ở đâu?” “Không ở đâu cả. Dòng họ của ông đã tuyệt tận, với tư cách một gia tộc từng sống trong hạt suốt nhiều thế hệ.” “Thế thì tệ thật.” “Phải, đó là cái mà những biên niên sử gia tộc viết sai sự thật gọi là sự tuyệt tự ở phía bên nội, nghĩa là đã chết, đã xuống mồ hết.” “Vậy chúng tôi nằm ở đâu?” “Ở Kingsbere-sub-Greenhill, có hàng hàng lớp lớp tổ tiên ông nằm trong những hầm mộ, với những chân dung khắc bên dưới những mái vòm cẩm thạch Purbeck.” “Thế các dinh thự và thái ấp của gia tộc chúng tôi ở đâu?” “Không có bất cứ thứ gì cả.” “Ồ, cả đất đai cũng không?” “Không; dù họ từng có thừa thãi, như tôi đã nói, vì gia tộc của ông bao gồm rất nhiều nhánh. Trong hạt này từng có một vùng đất của họ ở Kingsbere, một chỗ khác ở Sherton, một chỗ khác ở Millpond, một chỗ khác ở Lullstead, và một chỗ khác ở Wellbridge.” “Vậy chúng tôi có khấm khá trở lại được không?” “Chà, tôi không thể nói được điều đó!” “Vậy tốt nhất tôi nên làm gì về việc này, thưa ông?” Durbeyfield hỏi, sau một giây im lặng. “Ồ, không gì cả, không gì cả; ngoại trừ tự kềm chế bản thân với ý nghĩ kẻ quyền quý đã suy sụp thế nào. Đây là một thực tế đáng chú ý với sử gia và nhà phả hệ học địa phương, chỉ thế thôi. Có nhiều gia tộc của những nông dân trong hạt này cũng có gốc tích vẻ vang gần như tương tự. Buổi tối tốt lành.” “Nhưng ông sẽ quay lại và nhấm nháp một vại bia với tôi chứ, cha xứ Tringham? Có một loại bia rất khá ở quán Giọt Trong Lành, dù chắc chắn nó không ngon bằng ở quán của Rolliver.” “Không, cám ơn, chiều nay thì không, Durbeyfield. Ông đã uống đủ rồi.” Sau khi kết luận như thế, vị cha xứ giục lừa đi tiếp, hơi băn khoăn với quyết định của mình trong việc tiết lộ thông tin về gia tộc huyền thoại này. Khi ông ta đã đi khỏi, Durbeyfield đi vài bước nữa trong trạng thái mơ mộng say sưa, rồi ngồi xuống bờ cỏ ven lộ, đặt cái giỏ trước mặt. Vài phút sau, một thiếu niên xuất hiện ở phía xa và đang đi về hướng của ông. Khi nhìn thấy nó, ông giơ tay lên, và nó dấn bước tới gần hơn. “Cậu bé, hãy cầm cái giỏ này lên! Ta muốn cậu làm giúp ta một việc vặt.” Thằng bé gầy như que củi cau mày. “John Durbeyfield, ông là ai mà ra lệnh cho tôi và gọi tôi là ‘cậu bé’? Ông biết tên tôi rõ như tôi biết tên ông mà!” “Vậy sao, vậy sao? Đó là điều bí mật… Đó là điều bí mật! Giờ hãy làm theo lời ta, và đón nhận thông điệp ta sẽ nói với cậu… Ờ, Fred, ta không ngại nói với cậu rằng bí mật đó là ta là hậu duệ của một dòng dõi cao quý, ta mới phát hiện ra nó ngay chiều nay.” Trong lúc tuyên bố như thế, Durbeyfield, ngả người ra và thoải mái nằm duỗi người trên bờ cỏ, giữa những lùm cúc dại. Thằng bé đứng trước mặt ông, và ngắm nghía ông từ đầu tới chân. “Ngài John d'Urberville, đó chính là ta,” người đàn ông đang nằm nói tiếp, “nếu tước hiệu hiệp sĩ có thể kế thừa, mà đó là lẽ đương nhiên. Toàn bộ những điều về dòng dõi của ta đã được ghi chép trong sử sách. Cậu bé, cậu có biết một nơi gọi là Kingsbere-sub-Greenhill không?” “Có. Tôi đã tới Hội chợ ở Greenhill.” “Ờ, bên dưới nhà thờ của thành phố đó là…” “Nơi tôi muốn nói không phải là một thành phố; ít ra là khi tôi tới đó. Nó là một địa điểm nhỏ xíu.” “Đừng bận tâm tới điều đó, cậu bé, đó không phải là vấn đề quan trọng. Nằm bên dưới ngôi nhà thờ của giáo xứ đó là những tổ tiên của ta, hàng trăm người, trong những bộ áo giáp đính đầy châu báu, trong những cỗ quan tài bằng chì nặng hàng tấn. Không kẻ nào trong hạt South Wessex có những bộ xương tiên tổ vĩ đại và cao quý hơn ta.” “Ồ?” “Giờ hãy cầm lấy cái giỏ đó, và tới thôn Marlott, và khi cậu tới quán Giọt Trong Lành, hãy bảo họ hãy lập tức cho một cỗ xe ngựa tới để chở ta về nhà, trong thùng xe phải có thêm một chai rượu rum nhỏ. Và khi làm xong việc đó, cậu hãy mang cái giỏ tới nhà ta, và bảo vợ ta hãy ngưng việc giặt giũ, vì bả không cần hoàn thành nó, và chờ cho tới khi ta về nhà, vì ta có tin tức cần nói với bả.” Trong lúc cậu bé đứng phân vân, Durbeyfield thò tay vào túi và móc ra một siling, một trong số vài đồng ít ỏi mà ông có. “Đây là tiền công của cậu, cậu bé.” Việc này tạo nên một khác biệt trong suy đoán của cậu bé về địa vị của ông. “Vâng, Ngài John. Cám ơn. Tôi có thể làm gì khác nữa, thưa Ngài John?” “Bảo với vợ ta rằng ta muốn ăn bữa tối với thịt cừu rán nếu bả có thể kiếm được, còn nếu không có thì dồi tiết heo, và nếu không có món này thì phèo heo cũng được.” “Vâng, thưa Ngài John.” Thằng bé cầm lấy cái giỏ, và khi nó cất bước, một điệu kèn đồng vang lên từ hướng ngôi làng. “Gì thế?” Durbeyfield nói. “Không phải vì ta đó chứ?” “Đó là đám rước của hội phụ nữ, Ngài John. Con gái của Ngài là một trong số các hội viên của nó.” “Chắc vậy rồi. Ta quên bẳng việc này vì đang nghĩ tới những điều lớn lao hơn. Được rồi, hãy tới Marlott và gọi cỗ xe ngựa, có lẽ ta sẽ đánh xe đi một vòng và kiểm tra cái hội đó.” Thằng bé lên đường, và Durbeyfield nằm chờ giữa những bụi cỏ và cúc dại dưới ánh nắng chiều. Suốt một hồi lâu không có ai đi ngang qua đó, và những điệu kèn đồng văng vẳng là những âm thanh con người duy nhất giữa những dãy đồi xanh Mời các bạn đón đọc Tess Một Tâm Hồn Trong Trắng của tác giả Thomas Hardy & Nguyễn Thành Nhân (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Đọc Sách

Bảy Ngày Phiêu Lãng
Minerva Highwood, một cô nàng không màng đến yêu đương của Vịnh Spindle, cần đến Scotland. Colin Sandhurt – Huân tước Payne, một kẻ phóng đãng bậc nhất, đếm từng ngày để rời khỏi Vịnh Spindle. Họ trở thành đối tác một cách thần kì và bất đắc dĩ. Trong vòng một tuần, họ giả vờ bỏ trốn cùng nhau để thuyết phục họ gia đình và bạn bè tin rằng họ đang ‘’yêu’’. Họ thoát khỏi những hiểm nguy vào ban ngày và vượt qua cơn ác mộng vào ban đêm, cứ thế du hành bốn trăm dặm mà không giết chết nhau. Họ không có thời gian để ý rằng sự thu hút lẫn nhau đang ngày càng lớn dần, từ lúc nào đã trở thành đam mê. Bất ngờ, một tuần dường như vừa đủ cho cuộc phiêu lưu đầy phiền phức và đủ cho tình yêu của chính họ. Một tác phẩm đầy kịch tính nhưng không kém phần ngọt ngào, sâu lắng của nhà văn Tessa Dare dành tặng các cô gái vừa tản bộ vừa đọc sách. *** A WEEK TO BE WICKED   Khi một quý ngài ranh mãnh và một nữ học giả bắt đầu lên đường đến chỗ hủy hoại… Thời gian không đứng về phía họ. Minerva Highwood, một trong những cô gái ế chồng thâm căn cố đế của Vịnh Spindle, cần đến Scotland. Colin Sandhurst, Huân tước Payne, một kẻ phóng đãng bậc nhất, cần ở… bất cứ nơi đâu ngoài Vịnh Spindle. Hai đối tác kì lạ này có một tuần để giả vờ bỏ trốn cùng nhau để thuyết phục gia đình và bạn bè tin rằng họ đang “yêu” để qua mặt những tên cướp có vũ trang để sống sót qua những cơn ác mộng tồi tệ nhất để du hành suốt bốn trăm dặm mà không giết chết nhau Họ làm tất cả những việc đó trong lúc đi chung một xe ngựa rất nhỏ vào ban ngày và ngủ chung một giường còn nhỏ hơn nữa vào ban đêm. Họ không có thời gian dành cho sự thu hút lẫn nhau đang ngày càng lớn dần. Huống chi là niềm đam mê mãnh liệt. Và hy vọng là họ không có khoảng thời gian quý báu nào để thổ lộ tâm tư và tình cảm. Bất ngờ, một tuần dường như là vừa đủ để tìm thấy nhiều điều phiền phức. Và có lẽ… chỉ có lẽ thôi… tình yêu nữa. Lời đề tặng Dành tặng các cô gái vừa tản bộ vừa đọc sách. *** Tóm tắt Cuốn tiểu thuyết Bảy Ngày Phiêu Lãng của tác giả Tessa Dare kể về câu chuyện tình yêu giữa Minerva Highwood, một cô nàng không màng đến yêu đương của Vịnh Spindle, và Colin Sandhurst – Huân tước Payne, một kẻ phóng đãng bậc nhất. Minerva cần đến Scotland để gặp gỡ một người bạn, nhưng cô không thể đi một mình vì sẽ bị gia đình và bạn bè ngăn cản. Colin cũng cần rời khỏi Vịnh Spindle để thoát khỏi những rắc rối do quá khứ của mình gây ra. Họ trở thành đối tác bất đắc dĩ và cùng nhau thực hiện một chuyến đi giả vờ bỏ trốn trong vòng một tuần. Trên đường đi, họ gặp phải nhiều khó khăn và nguy hiểm, nhưng cũng dần dần bị thu hút bởi nhau. Bất chấp những khác biệt về tính cách và hoàn cảnh, họ đã tìm thấy tình yêu đích thực. Đánh giá Bảy Ngày Phiêu Lãng là một cuốn tiểu thuyết lãng mạn hài hước, với những tình tiết hấp dẫn và nhân vật thú vị. Câu chuyện xoay quanh hai nhân vật chính với tính cách trái ngược nhau, nhưng cuối cùng lại tìm thấy tình yêu đích thực. Tessa Dare đã xây dựng hai nhân vật Minerva và Colin một cách rất thành công. Minerva là một cô gái thông minh, mạnh mẽ và độc lập, còn Colin là một chàng trai quyến rũ, đào hoa nhưng cũng rất chân thành. Sự tương tác giữa họ vô cùng hài hước và đáng yêu. Cuốn tiểu thuyết cũng có những tình tiết phiêu lưu hấp dẫn, khiến người đọc không thể rời mắt. Những khó khăn và nguy hiểm mà họ gặp phải đã giúp họ hiểu nhau hơn và gắn kết với nhau chặt chẽ hơn. Nhìn chung, Bảy Ngày Phiêu Lãng là một cuốn tiểu thuyết đáng đọc dành cho những ai yêu thích thể loại lãng mạn hài hước. Một số ý kiến bổ sung Cuốn tiểu thuyết có những tình tiết hài hước, nhưng cũng không kém phần sâu lắng. Các nhân vật được xây dựng một cách chân thực và đáng yêu. Cốt truyện hấp dẫn, với những tình tiết bất ngờ. Kết luận Bảy Ngày Phiêu Lãng là một cuốn tiểu thuyết lãng mạn hài hước, với những tình tiết hấp dẫn và nhân vật thú vị. Cuốn tiểu thuyết là một lựa chọn tuyệt vời dành cho những ai yêu thích thể loại này. Mời các bạn mượn đọc sách Bảy Ngày Phiêu Lãng của tác giả Tessa Dare.
Tiểu Thuyết Đàn Bà
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Tiểu Thuyết Đàn Bà của tác giả Lý Lan. Đàn bà! Rõ ràng không phải một con báo. Không phải một con cọp. Cũng không phải một con vượn, mà là một con đàn bà. Người đàn ông đứng sững lại sau đám dây mây chằng chịt. Con đàn bà trần trụi. Tóc nó đen, dợn sóng, dài tới thắt lưng, xoã loà xoà quanh thân thể săn chắc ngăm ngăm nâu. Nó đang nhón gót vói tay hái một trái chuối chín bói trên cái quày chuối mà người đàn ông đã tìm thấy mấy hôm trước, và hôm nay trở lại với mục đích mà con đàn bà đó đang làm. Nó rướn mình giơ cả hai tay vói lên quày chuối, một tay bợ đít quày, một tay cầm trái chuối chín vàng xoay nhè nhẹ. Cuốn trái chuối còn xanh không chịu lìa nãi. Con đàn bà cứ rướn mình lên, day day trái chuối cho đến khi hái được. Nó xoay mình lại, nhìn thẳng về phía đám dây mây bao bọc người đàn ông. Phản ứng tức thì của ông ta là giật mình, co lại trong thế thủ. Tim ông đập loạn lên, vừa sợ vừa xấu hổ. Con đàn bà bình thản lột vỏ trái chuối và thong thả ăn. Nó hất tóc ra sau lưng, hơi uỡn ngực lên, hai vú căng và đứng. Từ thắt lưng cho đến quá đầu gối của con đàn bà được quấn một tấm vải thô màu lam, phần bắp chân lộ ra và bàn chân trần đứng vững chãi trên nền đất pha cát do con sông bồi những khi triều cường. Ánh sáng còn loáng thoáng trên mặt sông ẩn hiện sau cây cỏ ven bờ. Con đàn bà đang đứng nơi khá trống, nên người đàn ông nhìn rõ từng đường nét thân thể nó... “Chiến tranh nghĩa là phân ly, thù hận, chết chóc… Nghĩa là người ta đánh mất mình, bị giết hoặc không được sống để thương yêu. Người ta thất lạc nhau trong cuộc đời rộng lớn, hận thù rộng lớn. Người ta cũng có thể thất lạc nhau dưới cùng một mái nhà. Và thất lạc chính mình ngay trong cuộc đời của riêng mình. Đi tìm nhau và đi tìm chính mình, đó là những người đàn bà của Lý Lan trong Tiểu thuyết đàn bà”. *** Tôi đọc “Tiểu thuyết đàn bà” của Lý Lan vào một ngày nào đó của tuổi 20 trôi qua tựa một đám mây nhẹ xốp, không âu lo, không vướng bận. Rồi đọc lại “Tiểu thuyết đàn bà” vào sinh nhật tuổi 25, khi bạn đem cuốn sách gói trong những lớp giấy màu xanh đỏ và viết nắn nót mấy lời đề tặng. Bạn bảo: “Hãy đưa tay nắm lấy số phận của chính mình”. Tôi cười bạn sao mà… sến. 30 tuổi, lại đọc “Tiểu thuyết đàn bà” trong một lần dọn dẹp tủ sách cũ. Chợt nhớ ngày 20 tuổi, lần nào ngồi chải mái tóc dài cho con gái, mẹ cũng thở dài: “Làm thân đàn bà khổ lắm con ơi…”. Chợt nhớ ngày 25 tuổi vẫn kiêu kì trước những chàng trai trồng cây si trước cửa, bố lại lắc đầu nhắc khéo: “Già kén kẹn hom”. Và 30 tuổi, như một chớp mi dài. 10 năm và 3 lần tái ngộ, vậy mà có lẽ ta vẫn chưa hiểu hết “Tiểu thuyết đàn bà”…   “Tiểu thuyết đàn bà” - ngay cái tên sách đã là một thành công. Khó có thể kiếm cho tác phẩm này một cái tên nào hay hơn thế, ngắn gọn hơn thế và bao trọn nội dung câu chuyện hơn thế. Đây là một cuốn tiểu thuyết, và không gì khác, nó viết về đàn bà, bằng một ngòi bút “rất đàn bà”. Một cuốn tiểu thuyết có thể khiến cô gái 20 tuổi dửng dưng, cô gái 25 tuổi đau đầu, cô nàng 27 tuổi lướt qua một chút rồi quên bẵng, nhưng một người đàn bà 30 tuổi sẽ rất nhớ và rất “thấm”. Cuốn tiểu thuyết như một cây phả hệ đầy phức tạp và rối rắm, về 4 thế hệ đàn bà trong một gia đình. Băt đầu từ “bà ngoại” – một người đàn bà không tên đã sống non một thế kỷ cuộc đời nhưng chưa từng có ngày vui vì phải lo lắng cho 10 người con. Rồi đến những cô con gái, mỗi người một số phận, nhưng tựu trung lại đều không thoát khỏi chữ “bạc” của kiếp người. Đến đời những cô cháu gái, người ta lại gặp lại những “vết xe đổ”: Đen theo các cậu đi làm cách mạng rồi mất tích, Thoa bị tù Côn Đảo sau khi thất bại trong nhiệm vụ cách mạng, Liễu lấy phải một người chồng nhu nhược, mẹ chồng đối xử hà khắc và bị buộc phải xa đứa con trai, chỉ được ôm theo đứa con gái chưa đầy 8 tháng tuổi rời khỏi nhà chồng với hai bàn tay trắng...   Thế hệ phụ nữ thứ tư trong gia đình tưởng rằng sẽ “sáng sủa” hơn khi Không Bé xuất ngoại, lấy chồng Tây, nhưng dường như cái mệnh đề “làm đàn bà thì khổ” vẫn không ngừng đeo bám. Cô sống trong nỗi cô đơn nơi đất khách quê người, lạ lẫm với những khác biệt văn hóa và lạc lõng trong chính ngôi nhà của mình. "Tiểu thuyết đàn bà" đã nằm im lìm suốt 16 năm trong chồng bản thảo của nhà văn Lý Lan. Mãi đến năm 2001, khi sang Mỹ học, trong nỗi khắc khoải của người xa xứ, chị viết lại cuốn sách. Lý Lan đã từng nói về tác phẩm của mình: “Đây là một cuốn tiểu thuyết nói về chiến tranh, ở một mặt trận không có tiếng súng, đó là thành phố, nhưng thực chất là chiến tranh vẫn diễn ra hết sức khắc nghiệt…Trong cuộc chiến tranh đó, những nhân vật của tôi chỉ là những con người hết sức bình thường. Họ là đàn bà con gái nhưng không than thân trách phận, cũng không so bì, than vãn, biện bạch… Họ cứ sống giữa cuộc đời như vậy thật bình thường…”.   Và quả là một cuộc chiến đúng nghĩa. Cuộc chiến của Thoa chống lại những ám ảnh về một quá khứ đã lùi xa. Cuộc chiến của Liễu chống lại những hà khắc của người đời để bảo vệ con mình. Cuộc chiến của Không Bé chống lại thói gia trưởng và cục cằn của người đàn ông mang tên “chồng”… Và còn biết bao những thân phận phụ nữ khác nữa không được nhắc tên. Những người đàn bà đau khổ và bất hạnh, nhưng là những người đàn bà không cam chịu. Như lời của Thoa khuyên cô cháu gái Không Bé: “Mình phải tự quyết định cho dù số phận hay thế lực này nọ luôn áp đặt hay xô lệch con đường đời mình chọn”. Không phải những cô gái tuổi teen vẽ cuộc sống màu hồng, Lý Lan viết “Tiểu thuyết đàn bà” bằng cái “đằm” của một người phụ nữ từng trải, một người đàn bà có chồng. Bởi thế, người đọc không chỉ tìm thấy trong cuốn sách những thân phận đàn bà, những cuộc đời đầy sống động, mà còn thấy cả những triết lý sống, những đúc kết mà chỉ một ngòi bút “thuần đàn bà” mới có thể viết ra: “Giáo dục chỉ cho chúng ta những lớp áo quần để mặc trong xã hội. Ai cũng mặc quần áo trước mặt người khác, dù là cha mẹ, anh em, bè bạn thân thiết. Chỉ có vợ chồng mới trần truồng với nhau. Chỉ có vợ chồng mới biết bản chất của nhau!” - Quả rất đúng và rất “thấm”!   30 tuổi, đọc “Tiểu thuyết đàn bà”, có lẽ ta mới nghiệm hết lời chúc năm nao của bạn ngày sinh nhật - “Hãy đưa tay nắm lấy số phận của chính mình”. Và ta tin, dù 20 hay 30, dù là một cô gái phơi phới tuổi xuân hay một người đàn bà đã ủ những nếp nhăn nơi khóe mắt, chẳng bao giờ là muộn cho một cái nắm tay. Mời các bạn mượn đọc sách Tiểu Thuyết Đàn Bà của tác giả Lý Lan.
Những Cuộc Hôn Thú Man Dại
Những Cuộc Hôn Thú Man Dại là câu chuyện một đứa trẻ vô tội bị nguyền rủa vì kẻ đáng nguyền rủa đã thành vô tội. Đây là câu chuyện thuơng tâm của lòng con yêu mẹ, một nỗi niềm mẫu tử. Con người có thể lưa chọn được mọi thứ, nhưng không ai lựa chọn được dòng giống để sinh ra. Đầu thai vào cõi người, dù trong hoàn cánh nào di nữa, chú bé Ludôvic củng phải được đối xử bình đẳng như mọi thành viên khác của xã hội. Phẩm chất người của Ludôvic quả có phần hoang dã mông muội vì nó không đuợc nền văn minh của xã hội khai thác phát triển, nó là chất người uyên nguyên sơ khởi mà tính trội là yêu thương và ham muốn hòa đồng. Vậy mà tâm hồn chú bé đã bị đánh rất đau vào chính hai mối người cơ bản đó: chú bị ghét bỏ ngay lúc còn là cái mồm trong bụng mẹ và suốt đòi chú bị dây vào cô đơn, biệt lập. *** "Con người có thể lựa chọn được mọi thứ, nhưng không ai lựa chọn được dòng giống để sinh ra. Đầu thai vào cõi người, dù trong hoàn cảnh nào đi nữa, chú bé Ludôvic cũng phải được đối xử bình đẳng như mọi thành viên khác của xã hội. Phẩm chất người của Ludôvic quả có phần hoang dã mông muội vì nó không được nền văn minh của xã hội khai thác phát triển, nó là chất người uyên nguyên sơ khởi mà tính trội là yêu thương và ham muốn hòa đồng. Vậy mà tâm hồn chú bé đã bị đánh rất đau vào chính hai mối người cơ bản đó: chú bị ghét bỏ ngay lúc còn là cái mầm trong bụng mẹ và suốt đời chú bị đẩy vào cô đơn, biệt lập. Đây là câu chuyện một đứa trẻ vô tội bị nguyền rủa vì kẻ đáng nguyền rủa đã thành vô tội. Đây là câu chuyện thương tâm của lòng con yêu mẹ, một nỗi niềm mẫu tử." Vũ Quần Phương giới thiệu​ *** Tóm tắt Câu chuyện bắt đầu khi Ludovic, một cậu bé sinh ra với hình dạng kỳ lạ, bị chính mẹ ruột của mình ruồng bỏ. Ludovic bị coi là một đứa trẻ con lai giữa người và thú, và bị mọi người trong làng xa lánh, ghẻ lạnh. Mẹ Ludovic, bà Marie, là một người phụ nữ xinh đẹp và sang trọng. Bà đã kết hôn với một người đàn ông giàu có và quyền lực, nhưng cuộc hôn nhân của họ không hạnh phúc. Bà Marie đã ngoại tình với một người đàn ông nghèo khổ, và Ludovic là kết quả của mối quan hệ này. Bà Marie đã cố gắng che giấu sự tồn tại của Ludovic khỏi chồng và gia đình mình. Nhưng khi Ludovic được sinh ra, bà Marie đã không thể chịu đựng được sự xấu hổ và đã bỏ rơi cậu bé. Ludovic được một người đàn ông nghèo khổ tên là Jean nhận nuôi. Jean yêu thương Ludovic và coi cậu như con đẻ của mình. Nhưng Ludovic vẫn phải chịu đựng sự kỳ thị và phân biệt đối xử của mọi người xung quanh. Ludovic lớn lên trong cô đơn và đau khổ. Cậu bé luôn khao khát được yêu thương và được chấp nhận. Nhưng cậu bé biết rằng điều đó là không thể. Một ngày nọ, Ludovic gặp gỡ một cô gái tên là Marie-Christine. Marie-Christine là một người con gái xinh đẹp và tốt bụng. Cô bé không quan tâm đến ngoại hình của Ludovic, và cô bé yêu cậu bé vì chính con người của cậu. Ludovic và Marie-Christine đã yêu nhau và họ quyết định kết hôn. Cuộc hôn nhân của họ đã gây ra một cuộc tranh cãi lớn trong làng. Nhưng Ludovic và Marie-Christine không quan tâm đến những lời chỉ trích của người khác. Họ chỉ muốn được ở bên nhau. Cuối cùng, Ludovic và Marie-Christine đã tìm thấy hạnh phúc. Họ đã sinh ra một đứa con gái, và họ sống hạnh phúc bên nhau. Review "Những Cuộc Hôn Thú Man Dại" là một câu chuyện cảm động về tình yêu, lòng dũng cảm và sự chấp nhận. Cuốn sách đã lên án sự kỳ thị và phân biệt đối xử, và ca ngợi sức mạnh của tình yêu. Cuốn sách được viết theo lối kể chuyện tự sự, với giọng văn nhẹ nhàng và sâu lắng. Tác giả Yann Queffélec đã khắc họa thành công hình ảnh của những nhân vật trong truyện, đặc biệt là Ludovic và Marie-Christine. Cuốn sách mang đến cho người đọc những bài học ý nghĩa về cuộc sống. Chúng ta cần học cách chấp nhận sự khác biệt của người khác, và chúng ta cần yêu thương và trân trọng những người xung quanh. Đánh giá "Những Cuộc Hôn Thú Man Dại" là một cuốn sách đáng đọc. Cuốn sách sẽ mang đến cho bạn những giây phút lắng đọng và suy ngẫm về cuộc sống. Một số nhận xét của độc giả: "Cuốn sách rất cảm động và ý nghĩa. Tôi đã khóc khi đọc đến đoạn Ludovic và Marie-Christine gặp nhau." "Cuốn sách đã mang đến cho tôi một cái nhìn mới về sự khác biệt. Chúng ta cần học cách chấp nhận những người khác, bất kể họ là ai." "Cuốn sách được viết rất hay. Tôi đã bị cuốn hút bởi câu chuyện và các nhân vật." Mời các bạn mượn đọc sách Những Cuộc Hôn Thú Man Dại của tác giả Yann Queffélec.
Người Đẹp Phi Châu
Nhà văn Henri Vernes tên thật là Charles-Henri Dewisme, sinh ngày 16/10/1918 tại Ath, thuộc vùng nói tiếng Pháp của Wallonia (Bỉ). Ông là người đã sáng tạo nên nhân vật nhà thám hiểm người Pháp Bob Morane - người đã xuất hiện trong 200 cuốn tiểu thuyết, bán được 40 triệu bản trên toàn thế giới. Ông Jacky Legge - phụ trách tại Bảo tàng Văn hóa Dân gian ở Tournai, nơi có một gian trưng bày cố định về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Henri Vernes, cho biết ông rất thán phục trí nhớ siêu phàm, cách nắm bắt và đặc tả chi tiết, cùng niềm đam mê kể chuyện của nhà văn Vernes. Tác phẩm: Bảy Cây Thánh Giá Bằng Chì Pho Tượng Thần Kâli Người Đẹp Phi Châu ... *** Tóm tắt Câu chuyện bắt đầu khi Bob Morane đang thực hiện một chuyến thám hiểm ở vùng rừng rậm Congo. Anh gặp gỡ một cô gái trẻ tên là M'Bona, người đang bị một nhóm thổ dân săn đuổi. Bob Morane đã giúp M'Bona thoát khỏi tay thổ dân và đưa cô đến một ngôi làng gần đó. Tại ngôi làng, Bob Morane biết được rằng M'Bona là một người con gái của một bộ tộc cổ đại. Bộ tộc này đã bị một nhóm kẻ xấu hãm hại và buộc phải sống ẩn náu trong rừng rậm. Bob Morane quyết định giúp M'Bona tìm lại bộ tộc của mình và trả thù cho những kẻ đã hãm hại họ. Review "Người đẹp Phi Châu" là một cuốn tiểu thuyết phiêu lưu hấp dẫn, với những tình tiết gay cấn và những nhân vật thú vị. Bob Morane là một nhân vật nhà thám hiểm tài giỏi và dũng cảm, luôn sẵn sàng giúp đỡ những người gặp khó khăn. M'Bona là một cô gái trẻ xinh đẹp và thông minh, với trái tim nhân hậu và gan dạ. Cuốn sách cũng mang đến cho người đọc những kiến thức thú vị về văn hóa và lịch sử châu Phi. Henri Vernes đã dành nhiều thời gian nghiên cứu để khắc họa chân thực và sinh động hình ảnh của châu Phi trong tác phẩm của mình. Đánh giá "Người đẹp Phi Châu" là một cuốn tiểu thuyết phiêu lưu đáng đọc, phù hợp với mọi lứa tuổi. Cuốn sách sẽ mang đến cho bạn những giây phút giải trí thú vị và những bài học ý nghĩa về tình yêu, lòng dũng cảm và tinh thần nhân đạo. Một số nhận xét của độc giả: "Cuốn sách rất hấp dẫn và kịch tính. Tôi đã rất hồi hộp khi theo dõi Bob Morane và M'Bona vượt qua nhiều thử thách để tìm lại bộ tộc của mình." "Cuốn sách mang đến cho tôi những kiến thức thú vị về văn hóa và lịch sử châu Phi." "Cuốn sách có một thông điệp ý nghĩa về tình yêu, lòng dũng cảm và tinh thần nhân đạo." Mời các bạn mượn đọc sách Người Đẹp Phi Châu của tác giả Henri Vernes.