Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Án Mạng Mười Một Chữ

Tình cờ phát hiện những điều bất thường sau cái chết thảm khốc của người yêu, nhân vật “tôi”, một nữ nhà văn viết tiểu thuyết trinh thám đã cùng bạn mình, Hagio Fuyuko, cũng là biên tập viên phụ trách sách của “tôi” quyết định điều tra về cái chết này. Trong quá trình điều tra hai người phát hiện người yêu của “tôi” đã từng gặp tai nạn lật thuyền trong chuyến du lịch đảo một năm trước. Và khi họ tìm tới những người cũng tham gia chuyến đi đó để tìm hiểu thì những người này cũng lần lượt bị sát hại. Cuối cùng “tôi” buộc phải tự mình phán đoán, điều tra để tìm ra chân tướng sự việc. Án mạng mười một chữ cũng đã được chuyển thể thành phim truyền hình vào năm 2011. GIỚI THIỆU TÁC GIẢ: Higashino Keigo là tiểu thuyết gia trinh thám hàng đầu Nhật Bản với nhiều tác phẩm hàng triệu bản bán ra trong và ngoài nước, gặt hái vô vàn giải thưởng. Ông từng là Chủ tịch thứ 13 của Hội nhà văn Trinh thám Nhật Bản từ năm 2009 tới năm 2013. Mỗi tác phẩm của ông đều có phong cách khác nhau, nhưng nhìn chung đều có diễn biến bất ngờ, khắc họa tâm lý nhân vật sâu sắc, làm nên nét riêng biệt trong chất văn của Higashino Keigo. *** Review Mọt Mọt:   Án mạng mười một chữ: Higashino Keigo – Những kẻ vừa là nạn nhân, vừa là hung thủ Khi một vụ án chẳng ai là người trong sạch. Khi tình bạn bị lợi dụng cho mục đích cá nhân. Khi sự thật được phơi bày khiến tất cả đều thương tổn. Bên tình, bên lý, biết chọn bên nào? Án mạng mười một chữ, nỗi đau quá khứ, kéo dài tới hiện tại, lạnh lùng, tàn nhẫn mà đắng cay, chua chát. Cuốn tiểu thuyết mang âm hưởng của trinh thám cổ điển Ra đời vào năm 1987, có thể nói, Án mạng mười một chữ được Higashino Keigo xây dựng rất khác so với các tác phẩm sau này: ngắn gọn, súc tích, tập trung nhiều hơn về mặt tình tiết, quá trình điều tra, phá án. Từ đấy, ông đã đưa sáng tác tiến gần hơn với thể trinh thám cổ điển. Xét về mặt dung lượng, tiểu thuyết Án mạng mười một chữ chỉ gói gọn trong 258 trang truyện, ngắn hơn nhiều khi đặt cạnh hàng loạt các tác phẩm về sau của Keigo-sensei như Bí mật của Naoko, Đơn phương, Bạch dạ hành hay Phương trình hạ chí… Bởi thế, dòng sự kiện của tác phẩm được chú trọng vào cốt truyện chính: quá trình một nhà văn chuyên viết truyện trinh thám đi tìm lời giải đáp cho cái chết đầy bí ẩn của người đàn ông cô yêu. Và trong quá trình đó, cô gái ấy khám phá ra hàng loạt bí ẩn cả trong quá khứ lẫn hiện tại, cả các bí mật về những con người cô vốn không quen biết tới người bạn cô vốn tưởng đã rất thân quen. Từ đấy, Keigo tiên sinh tạo lên kết cấu truyện lồng truyện, sự việc này nối tiếp, là nhân quả cho sự việc kia: Bí ẩn hôm nay, liên đới với cái chết năm xưa; hành động trả thù cho quá khứ, làm nên án mạng trong hiện tại. Một khía cạnh nữa khiến cho Án mạng mười một chữ trở lên gần gũi với các tác phẩm trinh thám cổ điển còn nằm ở yếu tố: Keigo-sensei đặc biệt chú trọng tới việc xây dựng tình tiết và tạo dựng những cuộc đối thoại, tương tác giữa các nhân vật. Nói như thế không có nghĩa Án mạng mười một chữ thiếu đi các phân cảnh miêu tả nội tâm hay sự biến đổi tâm trạng nhân vật. Vẫn có những day dứt, những hối hận, những mệt mỏi, những sợ hãi… của một con người theo đuổi đến cùng hai chữ chân lý, của một cô gái lần đầu vướng vào những bí ẩn liên hoàn đã cướp đi người đàn ông cô yêu, người bạn thân của cô, thậm chí bản thân cô thiếu chút nữa cũng đã mất mạng. Nhưng trong cuốn sách 258 chương, tình tiết liên tiếp, dồn dập diễn ra; cùng với đó là bản thân nhân vật tôi gặp gỡ hàng loạt nhân vật khác, những người liên đới trực tiếp tới vụ án; vì thế tần suất của các cuộc đối thoại cũng trở nên dày đặc. Không chỉ vậy, trong Án mạng mười một chữ, tác giả còn kết hợp sử dụng nhiều câu văn ngắn, điều đó càng góp phần đẩy mạnh nhịp truyện cũng như tiến trình sự kiện diễn ra nhanh hơn nữa. Nhưng tất cả, đều nằm trong một trục quá trình: Hành trình tìm kiếm sự thật của nữ nhà văn viết truyện trinh thám, đang tự đặt mình vào vai thám tử trong câu chuyện cuộc đời của chính cô. Đồng thời, tác giả cũng khước từ việc gắn Án mạng mười một chữ với những vấn đề quá mức đao to búa lớn trong xã hội. Cho nên tác phẩm dẫu mang hình thức truyện lồng truyện, một án mạng không đứng độc lập mà luôn gắn với bí ẩn phía sau – động cơ gây án của hung thủ và án mạng có thể tiếp nối án mạng mãi chẳng dừng nếu hận thù con người chẳng dứt thì cốt truyện của Án mạng mười một chữ vẫn rất gọn. Từ đó mà làm cho cuốn tiểu thuyết trở nên gần gũi hơn với trinh thám cổ điển. Những kẻ, vừa là nạn nhân, vừa là hung thủ. Mặc dù mang nội dung, cốt truyện và cách triển khai cốt truyện gần với trinh thám cổ điển thì Án mạng mười một chữ vẫn là một tác phẩm trinh thám chứa đựng những yếu tố trinh thám hiện đại do Higashino Keigo sáng tạo lên. Nhân vật trung tâm trong tác phẩm – xưng tôi, tự kể lại trải nghiệm của bản thân về vụ án, về quá trình cô điều tra, phá án để đi tới được ánh sáng ẩn sau bức màn. Nhưng nhân vật ấy lại không phải thám tử hay điều tra viên chuyên nghiệp. Cô chỉ là một nhà văn tự do viết tiểu thuyết trinh thám mà thôi. Vì thế bản thân cô hẳn chưa khi nào tưởng tượng tới việc chính mình lại trở thành nhân vật chính cho tấn bi kịch kéo dài với đủ plot twist như một cuốn truyện trinh thám như vậy. Cũng bởi không phải người điều tra chuyên nghiệp, tiếp cận vụ án với tâm thế của người đến sau, bị động nên “tôi” không tránh khỏi những hành động, suy đoán có phần nghiệp dư, nhẹ dạ, thậm chí ngây thơ. Và đây hoàn toàn là tâm lý tự nhiên của con người khi phải ứng phó với một hoàn cảnh bất ngờ, khi phải đối diện trước sự phức tạp của sự việc lẫn lòng người như thế. Sáng tạo lên một nhân vật chuyên sáng tác trinh thám đồng thời đặt nhân vật đó một tác phẩm trinh thám để giải quyết vụ án chính nhân vật vướng phải, đây vừa là sáng tạo, cũng vừa là cách thức Keigo-sensei phần nào tái hiện hiện thực: sự khác biệt rất lớn giữa đời sống với trang văn. Bên cạnh đó, ngoài hình thức truyện lồng truyện, Án mạng mười một chữ còn mang kết cấu đa thanh, đa bội ngôi kể, đa dạng điểm nhìn ở từng chương truyện. Đó là sự đan xen của bốn màn độc thoại ngắn vào mạch truyện chính. Ở đó, người độc thoại không phải nhân vật “tôi” – nữ nhà văn trinh thám mà là một “tôi” khác, theo sát bước chân nhân vật chính đồng thời tham gia trực tiếp vào hàng loạt vụ án mạng trong hiện tại. Tất nhiên, nếu độc giả là một người đã quá quen thuộc với dòng truyện trinh thám thì không thật khó khăn để biết được, tôi trong bốn màn độc thoại ngắn kia là ai. Nhưng sáng tạo lên một cái “tôi” bí ẩn, Keigo-sensei đã tạo lên tính phức hợp, phức điệu cho cuốn tiểu thuyết chỉ hơn 200 trang của ông. Ở đấy, có sự đa thanh của lời kể, đặt độc giả vào những dòng tự sự khác nhau, qua những điểm nhìn khác nhau để từ đó, người đọc có được cái nhìn tổng quan, toàn diện, đa chiều về hệ thống nhân vật cũng như toàn bộ câu chuyện ông xây dựng. Để từ đó, người đọc nhận ra, Án mạng mười một chữ gần gũi với trinh thám cổ điển, cũng dễ đoán biết hung thủ của những vụ án liên hoàn là ai, song đây không phải một cuốn tiểu thuyết được tạo dựng lên một cách đơn giản. Mà trong câu chuyện đó, trong tấn bi kịch kéo dài mãi từ quá khứ cho tới hiện tại và có thể vẫn tiếp nối tới tương lai, là muôn vàn gương mặt: vừa là nạn nhân, vừa là hung thủ, không ai hoàn toàn trong sạch song cũng không ai lại đáng trách hoàn toàn. Kẻ là nạn nhân hôm nay, trong quá khứ khi xưa đã từng là hung thủ của một vụ ám sát đầy tàn độc. Hung thủ trong hiện tại, lại là nạn nhân của bi kịch quá khứ. Nạn nhân trong quá khứ, phần nào lại trở thành hung thủ khi đặt trên sự phán xét của khía cạnh đạo đức. Kẻ như đứng sau tất cả bi kịch, lại bỗng trở thành nạn nhân nếu toàn bộ sự thật bị phơi bày… Ai cũng có động cơ riêng, ai cũng có nỗi khổ tâm riêng đẩy người ta vướng vào tội ác. Xây dựng lên những khuôn mặt đó, Keigo-sensei lần nữa, đưa tác phẩm của ông tiến gần tới hiện thực cuộc sống. Bởi cuộc sống đa diện và phức tạp, phải – trái, trắng – đen, đúng – sai,… vốn đâu thể lúc nào cũng có thể phân định rạch ròi. Vì thế, sự thật vốn được giấu trong chiếc hộp Pandora, khi người ta nhất quyết khai mở, chạm vào đó chỉ là nghiệt ngã, khổ đau, day dứt. Và con người, đứng trước hiện thực tàn nhẫn, chỉ có thể lựa chọn cách giải quyết để xoa dịu tâm hồn, để bản thân không phải hối hận về sau. Giống như một phương trình có vô số nghiệm, người ta chỉ có thể lựa chọn nghiệm tối ưu cho cuộc đời mà thôi. Và ở khía cạnh này, Higashino Keigo đã gặp gỡ tác giả Agatha Christie, khi bà viết lên Án mạng trên chuyến tàu tốc hành Phương Đông cũng với những gương mặt vừa là hung thủ, vừa là nạn nhân như vậy. Nhưng với lối tạo dựng cốt truyện, cách tạo dựng hệ thống nhân vật và khắc họa từng cá nhân, mỗi cái “tôi” khác nhau mà Keigo-sensei đã tạo lên Án mạng mười một chữ thật sự là của riêng bản thân ông, một tác phẩm, vừa cổ điển cũng vừa hiện đại. Dẫu sự thật ra sao, cuộc sống vẫn tiếp tục chảy trôi không ngừng. Có lẽ, cách kết truyện của Án mạng mười một chữ với một hiện thực phơi bày: ai cũng là nạn nhân, ai cũng là hung thủ và chẳng kẻ nào phải trả giá trước pháp luật là một cái kết khó chiều lòng tất cả độc giả, đặc biệt những ai muốn có sự rạch ròi, muốn kiếm tìm sự trắng – đen phân minh trong một tác phẩm trinh thám. Nhưng như đã nói, cuộc đời vốn không phải lúc nào cũng thể phân rõ phải – trái, đúng – sai và dẫu sự thật có ra sao, người ta chọn cách sống thế nào, thì thời gian vẫn tiếp tục chảy trôi, cuộc đời vẫn tiếp tục diễn tiến và con người vẫn phải tiếp tục hướng đến tương lai. Chỉ là, hận thù chắc chắn không thể giải quyết bằng hận thù, kéo dài đau thương, bi kịch chỉ khiến cho tâm hồn thơ dại, trong sáng của những đứa trẻ vô tội như cô bé Yumi càng thêm đau khổ mà thôi. Vậy tại sao, mỗi người không buông bỏ thù hằn, như nhân vật “tôi”, đã chấp nhận sự phức tạp của cuộc đời để có thể đối diện với tương lai bằng thái độ bình thản nhất: “Nhưng từ giờ mọi chuyện ra sao cũng được, tôi sẵn sàng đón nhận. Vì tôi đã chuẩn bị sẵn tinh thần. Dù ngày mai có xảy ra chuyện gì, thì hôm nay cứ đi ngủ cái đã.” *** Anh đang bị đưa vào tầm ngắm đấy.” Anh nghiêng ly rượu bourbon. Những viên đá trong ly lanh canh nhảy múa. “Bị đưa vào tầm ngắm?” Nghĩ anh đang đùa, tôi nhếch môi cười, hỏi lại. “Nhưng cái gì… bị ngắm cơ?” “Tính mạng anh.” Anh trả lời. “Hình như ai đó đang muốn giết anh.” Tôi vẫn cười. “Tại sao người đó lại muốn giết anh?” “À thì…” Anh im lặng chốc lát rồi tiếp tục. “Anh cũng không biết. Tại sao vậy nhỉ?” Giọng anh nặng nề quá đâm tôi không cười nổi nữa. Ngắm nghía khuôn mặt nhìn nghiêng của anh một hồi, tôi quay qua nhìn gương mặt người pha chế đang đứng quầy, rồi nhìn lại tay mình. “Tức là anh không biết tại sao, nhưng linh cảm thế à?” “Không chỉ linh cảm thôi đâu.” Anh nói. “Anh đang gặp nguy hiểm thật đấy.” Rồi anh gọi thêm một ly bourbon nữa. Tôi nhìn quanh, để chắc chắn không ai để ý, rồi mới quay sang gương mặt nhìn nghiêng của anh, cất lời: “Anh có thể giải thích rõ hơn được không? Rốt cuộc đã có chuyện gì?” “Thì đấy…” Anh uống cạn ly rượu, rồi châm lửa hút thuốc. “Anh đang gặp nguy hiểm. Vậy thôi.” Rồi anh nói khẽ: “Anh cũng thật là… Không định nói với em, mà lại lỡ lời. Chắc do ảnh hưởng của câu chuyện hồi trưa.” “Chuyện hồi trưa?” “Không có gì đâu,” anh lắc đầu. “Nói chung em không cần biết chuyện này.” Tôi chăm chú nhìn cái ly trong tay mình. “Vì em có biết cũng chẳng giải quyết được gì à?” “Không chỉ vì mỗi lý do đó.” Anh nói. “Em biết chỉ thêm lo thôi. Trong khi nỗi bất an của anh thì vẫn còn đó.” Tôi không đáp lại lời anh, chỉ bắt tréo hai chân đang để dưới quầy. “Này, tức là ai đó đang muốn hãm hại anh à?” “Ừ, cứ cho là vậy đi.” “Anh có thấy gì khả nghi không?” “Em hỏi lạ quá!” Lần đầu tiên anh bật cười kể từ lúc bước vào quán bar này. Làn khói màu trắng bồng bềnh phả ra từ kẽ răng. “Em nghĩ có ai đang yên đang lành lại kêu tính mạng mình đang bị đe dọa không? Em thì sao?” “Ừ thì…” tôi ngập ngừng. “Có thể không mà cũng có thể có. Vì em nghĩ chủ ý sát nhân xét cho cùng cũng giống với quan điểm sống thôi.” “Anh cũng nghĩ vậy.” Anh khẽ gật đầu. “Vậy là anh thấy gì đó khả nghi đúng không?” “Không phải tự mãn đâu, nhưng anh tìm được manh mối ở nhiều việc lắm.” “Nhưng anh lại không thể nói ra.” “Vì anh có cảm giác nếu nói ra rồi, thì những hoài nghi ấy sẽ trở thành sự thực.” Rồi anh tiếp. “Anh nhát gan lắm.” Sau đó chúng tôi im lặng ngồi uống rượu, đến khi mệt rồi thì đặt ly xuống, rời khỏi quán, thả bộ trên con đường mưa rơi. _Anh nhát gan lắm._ Tôi vẫn nhớ lời sau cùng của anh. 2 Tôi quen Kawadu Masayuki qua sự giới thiệu của một người bạn. Người bạn đó biên tập sách của tôi, tên Hagio Fuyuko. Fuyuko bằng tuổi tôi, là người phụ nữ chỉ biết đến công việc, và làm ở nhà xuất bản đã gần mười năm nay. Cô luôn đóng bộ áo vest đĩnh đạc như phụ nữ nước Anh, bước đi đầy tự tin. Tôi chơi với cô từ khi bước vào giới này, thấm thoắt cũng đã được ba năm. Nhưng khoảng hai tháng gần đây, một Fuyuko như thế bỗng nhiên lại hăng say bàn tán chuyện đàn ông nhiều hơn là bản thảo. Đúng cái hôm có thông báo quần đảo Amami sắp bước vào mùa mưa. “Tớ biết một anh chàng tuyệt lắm.” Cô nói với gương mặt nghiêm túc. “Một nhà văn tự do tên là Kawadu Masayuki. Cậu biết anh ấy không?” Tôi trả lời là không biết. Tên người cùng ngành lắm lúc tôi còn chẳng biết. Huống chi mấy nhà văn tự do. Theo lời Fuyuko kể thì anh Kawadu Masayuki đó sắp ra sách, và họ đã dần trở nên thân thiết sau vài lần tình cờ cùng tham gia mấy buổi họp xuất bản. “Anh ấy cao, đẹp trai lắm.” “Ừ.” Fuyuko mà lại nói về đàn ông cơ đấy, thật hiếm hoi làm sao. “Tớ thật muốn gặp người được Fuyuko khen hết lời như vậy một lần.” Nghe tôi nói, cô cười đáp: “Ừ, vậy để lần tới nhé.” Tôi chỉ tiện miệng nói chơi, mà hình như cô cũng chẳng cho là thật. Thế nên chẳng bao lâu sau tôi đã quên béng mất lời hẹn như mấy câu chuyện làm quà khác ấy. Nhưng sau đó vài tuần, rốt cuộc tôi cũng gặp Kawadu Masayuki. Anh tình cờ có mặt trong quán bar tôi đến cùng Fuyuko. Cùng đi với anh là một họa sĩ to béo đang mở triển lãm cá nhân tại Ginza. Kawadu Masayuki quả là một người đàn ông bảnh bao. Anh cao khoảng một mét tám, gương mặt thon gọn, rám nắng. Chiếc áo jacket màu trắng trông thật hợp với anh. Vừa nhìn thấy Fuyuko, anh liền vẫy cánh tay đang đặt trên mặt quầy gọi. Fuyuko thoải mái bắt chuyện với anh, rồi giới thiệu tôi. Đúng như tôi dự đoán, anh chưa từng nghe đến tên tôi. Kể cả khi nghe giới thiệu tôi là nhà văn viết truyện trinh thám, anh cũng chỉ gật đầu như thể đang bối rối. Hầu hết mọi người đều có phản ứng tương tự khi nghe tôi giới thiệu như vậy. Sau đó, cũng tại quán bar ấy, chúng tôi trò chuyện một lúc lâu. Giờ ngẫm lại, tôi vẫn thấy lạ, không hiểu sao chúng tôi có thể nói chuyện lâu đến vậy. Tôi cũng không nhớ nổi chúng tôi đã nói những gì với nhau. Trừ một việc là sau cuộc nói chuyện đó, chỉ có tôi và Kawadu Masayuki rời khỏi quán. Chúng tôi đi đến một quán khác, rồi rời đi sau khoảng một tiếng đồng hồ. Tôi hơi say, nhưng chưa tới mức cần anh đưa về. Mà anh cũng không gượng ép đề nghị. Ba ngày sau, anh gọi điện, mời tôi đi ăn. Tôi không có lý do nào để từ chối, sự thực thì anh là một người đàn ông không tồi, nên tôi cũng chẳng mấy do dự, cứ thế nhận lời. “Tiểu thuyết trinh thám hay ở điểm nào vậy?” Anh hỏi khi chúng tôi đang nhâm nhi chút rượu vang ở nhà hàng trong khách sạn. Tôi không nghĩ ngợi gì, chỉ máy móc lắc đầu. “Nghĩa là cô không biết?” anh hỏi. “Tôi mà biết thì sách của tôi đã bán chạy hơn rồi,” tôi đáp. “Thế anh nghĩ nó hay ở điểm nào?” Anh vừa gãi gãi mũi vừa nói, “Hay ở điểm người ta đã tạo ra nó chăng?” “Những vụ án trong đời thực nhiều khi không phân định rạch rời trắng đen. Ranh giới giữa cái đúng và cái sai rất mơ hồ. Vậy nên dù vấn đề được đặt ra rồi, nhưng người ta lại không thể mong chờ một kết luận tương xứng. Bởi vì nó chỉ là một phần của cái gì đó lớn lao mà thôi. Nhưng ở điểm đó thì tiểu thuyết lại làm trọn vẹn. Đó là một dạng kết cấu. Và tiểu thuyết trinh thám chẳng phải là thể loại kỳ công nhất trong việc xây dựng kết cấu đó hay sao?” “Có lẽ là vậy,” tôi nói. “Anh đã bao giờ phải trăn trở trước ranh giới giữa cái đúng và cái sai chưa?” “Có chứ.” Anh nhếch môi. Tôi nghĩ anh không nói dối. “Rồi anh có đem nỗi trăn trở ấy viết vào sách không?” “Cũng có,” anh đáp. “Nhưng phần lớn là tôi không thể làm được.” “Tại sao lại không thể?” “Vì nhiều lý do lắm.” Gương mặt anh hơi khó chịu, nhưng chỉ một loáng sau anh đã lấy lại vẻ hiền lành vốn có, và rồi bắt đầu nói về tranh vẽ. Tối hôm đó anh đến căn hộ của tôi. Căn hộ vẫn còn vương lại mùi của người chồng cũ. Thoạt đầu trông anh có vẻ hơi lúng túng nhưng chỉ một lát sau anh lập tức quen ngay. “Anh ấy từng là nhà báo,” tôi nói về chồng cũ. “Anh ấy hiếm khi ở nhà. Rồi rốt cuộc cũng chẳng còn lý do nào để trở về ngôi nhà này nữa.” “Và thế là anh ta không quay lại đây nữa?” “Vâng.” Trên chiếc giường chồng cũ từng ôm ấp tôi, Kawadu Masayuki đã cho tôi những khoái cảm dịu dàng hơn rất nhiều so với người chồng cũ. Làm tình xong, anh còn vòng tay ôm vai tôi, đề nghị, “Lần sau em đến chỗ anh nhé?” Chúng tôi gặp nhau khoảng một, hai lần một tuần. Hầu hết là anh đến chỗ tôi, nhưng cũng đôi khi tôi tới nhà anh. Anh độc thân, hình như cũng chưa từng kết hôn, vậy mà phòng ốc lại ngăn nắp như thể phòng của người đã lập gia đình. Tới mức tôi còn tưởng tượng hay là có ai đó dọn dẹp phòng giúp anh? Rồi chẳng mấy sau đó, mối quan hệ của chúng tôi bị Fuyuko phát hiện. Số là Fuyuko đến chỗ tôi lấy bản thảo đúng lúc anh đang có mặt ở đó, nên tôi không thể bịa ra được lý do nào để giải thích. Mà thật ra tôi cũng đâu cần phải giải thích điều gì. “Cậu yêu anh ta à?” Fuyuko hỏi lúc chỉ có hai người chúng tôi. “Tớ thích anh ấy,” tôi trả lời. “Thế cậu có định kết hôn không đấy?” “Làm gì có chuyện.” “Vậy à.” Fuyuko thở phào như trút được gánh nặng, đôi môi khẽ nở một nụ cười duyên dáng. “Thấy hai người thân thiết, người bắc cầu như tớ đây cũng vui lắm. Nhưng cậu đừng sa đà quá. Cứ duy trì mối quan hệ như hiện tại thôi.” “Không sao đâu. Tớ đã có bài học nhớ đời rồi mà,” tôi nói. Rồi hai tháng trôi qua. Mối quan hệ giữa tôi và Kawadu Masayuki vẫn được duy trì đúng mực như lời hứa với Fuyuko. Ngay cả hồi tháng Sáu, khi chúng tôi đi du lịch cùng nhau, may thay anh cũng không đả động gì tới chuyện kết hôn. Bằng không hẳn tôi phải bối rối lắm. Nhưng nghĩ lại, dẫu anh có nhắc đến chuyện kết hôn thì cũng chẳng có gì là lạ. Anh đã ba mươi tư tuổi, tính chuyện lập gia đình cũng là lẽ đương nhiên. Hay là anh cũng đang cố duy trì một mức độ nhất định nào đó trong mối quan hệ với tôi? Nhưng nếu cứ mải bận tâm đến điều đó e là tôi sẽ làm mất đi ý nghĩa của mối quan hệ này mất. Thế rồi khi chúng tôi quen nhau được hai tháng. Thì Kawadu Masayuki chết ngoài biển. 3 Vào một ngày tháng Bảy, cảnh sát đến thông báo cho tôi về cái chết của anh. Anh ta điềm tĩnh, song vẻ ngoài tầm thường hơn nhiều so với những cảnh sát tôi vẽ ra trong tiểu thuyết của mình. Có thể dùng từ “có sức thuyết phục” để miêu tả về người này. “Sáng nay, người ta phát hiện một thi thể nổi trên vịnh Tokyo. Khi vớt thi thể ấy lên, từ di vật còn sót lại chúng tôi xác định đó là anh Kawadu Masayuki.” Vị cảnh sát nhỏ nhắn nhưng có vẻ khỏe mạnh gần bốn mươi tuổi thông báo. Bên cạnh anh ta là một cảnh sát trẻ khác. Anh này thì chỉ yên lặng đứng đấy. Tôi mất vài giây không thốt nên lời, sau đó nuốt nước bọt. “Vậy là các anh xác định được danh tính rồi ạ?” “Vâng,” vị cảnh sát thu cằm lại. “Nạn nhân quê ở Shizuoka. Em gái anh ta đã đến nhận dạng thi thể, ngoài ra chúng tôi cũng đã giám định răng và chụp X quang.” Rồi vị cảnh sát nhấn mạnh thêm, “Kết quả cho thấy đó là anh Kawadu Masayuki.” Thấy tôi vẫn im lặng, anh ta tiếp, “Có thể phiền cô bớt chút thời gian để chúng ta thong thả trao đổi không?” Cánh cửa trước sảnh ra vào vẫn đang mở. Tôi đề nghị họ đợi ở quán cà phê gần nhà, nghe vậy hai vị cảnh sát khẽ gật đầu rồi rời đi. Nhưng đến khi họ đi khuất, tôi vẫn đứng ở cái sảnh ấy, lơ đễnh nhìn ra bên ngoài, mãi sau mới thở dài, đóng cửa, đi về phòng ngủ, thay đồ để ra khỏi nhà. Đứng trước bàn trang điểm để tô chút son mà tôi như ngừng thở. Gương mặt phờ phạc của tôi phản chiếu trong tấm gương. Trông tôi có vẻ mệt mỏi ngay cả với việc biểu lộ cảm xúc. Tôi rời mắt khỏi cái gương, lấy lại nhịp thở, rồi nhìn lại khuôn mặt mình trong gương. Lần này có vẻ khá hơn rồi. Tôi gật gù hài lòng với biểu cảm ấy. Tôi thích anh ấy. Nhưng anh đã chết, tôi buồn là lẽ đương nhiên. Vài phút sau, tôi đã ngồi đối diện hai vị cảnh sát trong quán cà phê mình vẫn thường hay lui tới. Ở đây còn bán cả bánh ngọt nữa. Bánh ở đây tươi, vị ngọt thanh. “Anh ta bị sát hại,” vị cảnh sát nói như tuyên bố. Nhưng tôi không lấy gì làm ngạc nhiên lắm. Vì đó là lời mà tôi đã lường trước. “Anh ấy bị sát hại như nào vậy ạ?” tôi hỏi. “Cực kỳ khủng khiếp,” vị cảnh sát nhăn mặt. “Gáy bị đập mạnh bởi một vật cùn. Thi thể thì bị vứt lại bên cạnh vịnh. Chỏng chơ như rác.” Người yêu tôi đã bị người ta vứt ở đó như một đống rác. Vị cảnh sát ho một tiếng. Tôi ngẩng mặt lên. “Vậy nguyên nhân tử vong là do xuất huyết bên trong não hay là…?” “Không phải.” Anh ta ngắt lời, nhìn lại gương mặt tôi rồi nói tiếp. “Hiện tại chúng tôi chưa thể khẳng định chắc chắn điều gì. Tuy có dấu vết bị đập vào gáy, nhưng chừng nào chưa có kết quả giải phẫu thì tất cả chỉ là phỏng đoán.” “Vậy ạ?” Nghĩa là có khả năng anh ấy bị sát hại bằng một phương thức khác, nhưng sau đó hung thủ còn đập mạnh vào gáy và vứt anh đi ư? Nếu đúng như vậy, thì tại sao hung thủ phải tàn bạo đến mức đó? “Còn chuyện này…” Vị cảnh sát gọi tôi, chắc do thấy tôi lơ đễnh quá. “Hình như cô cũng gần gũi với anh Kawadu Masayuki nhỉ?” Tôi gật đầu. Chẳng có lý do gì để phủ nhận điều đó. “Cô là người yêu của anh ấy à?” “Tôi nghĩ vậy.” Vị cảnh sát hỏi quá trình chúng tôi gặp gỡ. Tôi trả lời thành thật. Tôi cũng sợ sẽ phiền đến Fuyuko nhưng cuối cùng vẫn nhắc đến tên cô. “Lần cuối cùng cô nói chuyện với anh Kawadu là khi nào?” Tôi suy nghĩ giây lát rồi trả lời. “Tối hôm kia. Anh ấy gọi tôi tới.” Chúng tôi dùng bữa ở nhà hàng, sau đó uống rượu ở quán bar. “Hai người đã nói những chuyện gì?” “Chúng tôi nói nhiều chuyện lắm… trong đó…” Tôi cúi mặt, mắt nhìn cái gạt tàn bằng thủy tinh. “Anh ấy có nói rằng mình đang bị ai đó nhắm.” “Bị nhắm sao?” “Vâng.” Tôi kể những điều mình đã nghe từ anh trong buổi tối hôm kia. Đôi mắt vị cảnh sát bỗng sáng lên lấp lánh. “Và anh Kawadu cũng thấy có điều gì khả nghi?” “Tôi không dám khẳng định.” Vì anh cũng không khẳng định chắc chắn điều đó. “Nhưng cô thì không thấy có gì khả nghi à?” Tôi gật đầu. “Vâng.” Sau đó vị cảnh sát hỏi về quan hệ bạn bè và công việc của anh. Tôi hầu như không biết gì. “Tiện đây xin hỏi tối qua cô đã ở đâu vậy ạ?” Câu hỏi cuối cùng của anh ta nhằm mục đích xác nhận chứng cứ ngoại phạm của tôi. Họ không hỏi thời gian cụ thể hẳn là do chưa xác định được thời gian tử vong chính xác. Nên dù tôi có đưa ra thời gian cụ thể thì cũng chẳng giúp ích gì cho chứng cứ ngoại phạm của mình cả. “Hôm qua tôi ở nhà cả ngày,” tôi trả lời. “Tôi làm việc.” “Nếu có ai làm chứng được cho cô thì tốt.” Vị cảnh sát ngước lên nhìn tôi với vẻ kẻ cả. “Tiếc là không có,” tôi lắc đầu. “Việc đó e là không thể. Vì tôi ở nhà một mình, cũng chẳng có ai đến chơi cả.” “Tiếc thật. Cuộc đời đúng là có nhiều chuyện đáng tiếc quá.” Sau đó vị cảnh sát xin lỗi vì đã làm phiền tôi rồi đứng dậy. Đúng như tôi đoán, chiều tối hôm đó Fuyuko tới. Cô thở gấp như thể đã chạy như bay đến nhà tôi vậy. Khi ấy tôi đã mở sẵn văn bản để soạn thảo, dù chưa đánh được chữ nào, và đang uống bia. Trước khi uống bia tôi đã khóc. Khóc mệt nên tôi mới uống bia. “Cậu nghe rồi chứ?” Vừa nhìn thấy tôi, Fuyuko lập tức hỏi. “Cảnh sát tới đây rồi,” tôi đáp. Cô có vẻ hơi ngạc nhiên, nhưng nhanh chóng chấp nhận điều hiển nhiên ấy. “Cậu có thấy gì khả nghi không?” “Tớ không, chỉ biết là anh ấy bị người ta nhắm đến thôi.” Đôi mắt Fuyuko tròn xoe, miệng há hốc vì ngạc nhiên, tôi kể cho cô chuyện hôm kia. Cô ấy lắc đầu tiếc nuối y chang vị cảnh sát đó. “Chẳng nhẽ không có cách gì để ngăn chặn sao? Như là báo cảnh sát chẳng hạn.” “Tớ cũng không biết. Nhưng chắc anh ấy có lý do riêng nên mới không làm vậy.” Cô lại lắc đầu. “Vậy nghĩa là cậu không thấy có gì khả nghi à?’ “Không. Thật ra…” tôi ngập ngừng, rồi tiếp tục, “Tớ hầu như chẳng biết gì về anh ấy cả.” “Thế à?” Fuyuko nghe chừng thất vọng lắm. Biểu cảm của cô y hệt vị cảnh sát đến đây hồi trưa. “Từ nãy tới giờ tớ cứ nghĩ về anh ấy mãi,” tôi nói. “Nhưng mà tớ không biết gì cả. Có một đường kẻ được vạch ra giữa tớ và anh ấy, cả hai đều cố để không xâm phạm đường kẻ ấy. Mà vụ án lần này lại xảy ra bên vùng của anh ấy.” Tôi hỏi Fuyuko có muốn uống gì không, cô gật đầu nên tôi vào bếp mang bia ra. Giọng Fuyuko vang lên từ sau lưng tôi. “Trong số những chuyện anh ấy nói, có chuyện nào để lại ấn tượng với cậu không?” “Dạo gần đây bọn tớ không chuyện trò với nhau nhiều.” “Nhưng cũng phải nói chuyện gì chứ. Chẳng lẽ gặp nhau là lên giường ngay à?” “Cũng gần như là vậy đó,” tôi nói, má hơi rúm lại. Mời các bạn đón đọc Án Mạng Mười Một Chữ của tác giả Higashino Keigo & Phương Phương (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Trứng Chim Cúc Cu Này Thuộc Về Ai
Siêu phẩm mới nhất đến từ bậc thầy trinh thám hàng đầu Nhật Bản Higashino Keigo Hơn 800.000 bản tiểu thuyết đã được bán ra đồng thời được chuyển thể thành bộ phim truyền hình đình đám phá đảo mọi kỉ lục về tỉ suất người xem năm 2016 trên kênh WOWOW. Đằng sau mỗi con người đều ẩn chứa một bí mật. Dù cố gắng che giấu đến mấy cũng sẽ có ngày những điều chôn sâu giấu kĩ đó bị phơi bày trước ánh sáng. Vậy thì sau cùng, ai mới là người chịu tổn thương sâu sắc nhất ? Là chúng ta hay người mà chúng ta tìm cách che giấu bí mật đó ? Nếu bạn đang băn khoăn và chưa tìm được ra câu trả lời cho những thắc mắc này, hãy tự đi tìm đáp án cho mình trong cuốn sách đặc biệt này. Hiromasa Hida từng là một trong những vận động viên trượt tuyết hàng đầu Nhật Bản, đại diện cho đất nước đi tham gia nhiều giải đấu quốc tế; con gái anh Kazami cũng là một vận động viên trượt tuyết. Lúc Kazami hai tuổi, vợ anh, mẹ của Kazami tự sát. Hida lúc đó đang trong giải đấu quốc tế khi Kazami trào đời, và chỉ khi anh vượt qua nỗi đau sau cái chết của người vợ anh mới biết rằng cô ấy có một bí mật cần che dấu: Kazami không phải là con gái ruột của họ. Bỏ qua nỗi đau của sự thật phũ phàng ấy, Hida tiếp tục nuôi dạy Kazami và con bé dần trở  thành một vận động viên tài giỏi hơn anh. Một thời gian sau, với khát vọng tìm ra được mối liên kết giữa gien di truyền và kĩ năng đạt được của những vận động viên trượt tuyết trong một cuộc huấn luyện, đội của Kazami mong muốn được nghiên cứu bộ gen của cả người cha lẫn con gái nên đã đưa ra lời đề nghị mời cặp bố con Hida. Không muốn tiết lộ bí mật về sự ra đời của con gái mình, Hida từ chối yêu cầu đó. Kazami nhận được một bức thư đe dọa khi cô ấy chuẩn bị tham gia một giải đấu, và rồi có một cuộc đánh bom xe buýt rõ ràng là nhằm vào cô. Bị thương nặng trong vụ đánh bom là Nobuyuki Kamijo, chủ tịch một công ty xây dựng đã đến gặp Kazami, người tuyên bố là một fan hâm mộ của cô. Ai là người đứng đằng sau vụ đe dọa và mục đích của họ là gì ? Ai là cha mẹ ruột thực sự của Kazami ? Hida tự tiến hành điều tra để trả lời những câu hỏi này, và anh đã tìm ra cha đẻ của Kazami. Nhưng việc tiết lộ sự thật kinh hoàng này với Kazami luôn là điều mà anh đắn đo. Giữa ranh giới của việc nói ra sự thật hoặc tiếp tục che dấu thân phận thực sự của Kazami. Đã đến lúc Hida phải đưa ra một quyết định quan trọng. Bằng giọng văn ma mị sắc bén, tiết tấu dồn dập như đang sống trong những thước phim trinh thám gay cấn, Higashino Keigo đã dẫn dắt người đọc đi từ bất ngờ này sang bất ngờ khác, từng bước gỡ bỏ những nút thắt quan trọng và đẩy tình tiết câu truyện lên đến đỉnh điểm. Lôi cuốn, ám ảnh, và đầy tính nhân văn, cuốn sách này xứng đáng là cuốn tiểu thuyết được tác giả Higashino Keigo dành nhiều tâm huyết nhất trong sự nghiệp văn chương của mình chắc chắn sẽ khiến các bạn độc giả hài lòng. Còn chần chừ gì nữa mà không sở hữu ngay cuốn sách đứng top đầu những cuốn sách trinh thám bán chạy nhất năm 2016. *** Cô gái xuất phát trong màn tuyết mỏng đang rơi lất phất. Cô cảm thấy chưa hài lòng vì phần thân trên hơi cao quá. Hễ dồn nhiều cảm xúc, cô thường có thói quen ngước mặt lên. Nhưng trong lúc băng qua mấy cọc chướng ngại vật, các cơ đang căng cứng cũng dần thả lỏng ra một chút. Cách sử dụng cạnh ván trượt cũng không dư thừa. Cô chẳng sợ hãi trước địa hình tuyết dốc, dựng đứng. Cô vốn mạnh mẽ, quả cảm. Ngay trước khi vào địa hình dốc nhẹ, cô đã mắc một lỗi nhỏ. Vẫn luôn như vậy, cô rất hay bị mất tập trung mỗi khi trượt qua đỉnh dốc. Cứ thế này, dù có chiến thắng ở các giải trong nước đi chăng nữa cũng không thấm gì so với các giải thế giới. Quả nhiên, vào tới địa hình dốc, cô không thể tăng tốc được. Cô cũng không thể mở to mắt để nhìn thời gian. Nhưng dù vậy, cô đã hoàn thành chặng đường với kết quả không đến nỗi nào. Xem hết đến cả đoạn cô gái cán đích, khẽ lắc đầu, Hida Hiromasa với lấy chiếc điều khiển đầu DVD. Ông tua lại tới đoạn địa hình tuyết dốc. Lần này, ông để cho video chạy ở chế độ chậm vì tư thế lao vào cọc chướng ngại của cô có một điểm khiến Hida chú ý. Chính tình huống đó. Hida ấn vào nút tạm dừng của chiếc điều khiển đang cầm trên tay để dừng đoạn video lại. Trên màn hình hiện lên hình ảnh của một nữ vận động viên với vai trái đang chuẩn bị lao về phía cọc chướng ngại. Ông rướn người, mặt gí sát vào màn hình. Đúng lúc ông đang lẩm nhẩm rằng “Thân trụ đổ xuống quá nhiều,” thì có tiếng gọi “Ông Hida.” Hida nhìn ra cửa. Cô nhân viên mặc áo thun có cổ màu xanh thẫm đang nhìn vào. “Ông Hida, có khách muốn gặp ông ạ.” “À!” ông gật đầu nói. “Tôi biết rồi. Cứ để họ vào.” “Vâng.” Cô nhân viên trả lời, rồi biến mất sau cánh cửa. Ngay sau đó, một người đàn ông bước vào phòng. Anh ta rất hợp với bộ vest xám đang mặc, cơ thể rắn chắc, vạm vỡ. Tuổi ước chừng chưa quá ba mươi lăm. “Xin lỗi đã làm phiền lúc ông đang bận.” Vừa nói anh ta vừa chia ra tấm danh thiếp, phía trên có đề dòng chữ Yuzuki Yousuke - Phó phòng Trung tâm nghiên cứu khoa học phát triển thể thao Shinsei. Đúng như lời giới thiệu từ trước. “Cậu ngồi đi. Xin lỗi cậu, phòng hơi chật.” Ông Hida mời khách ngồi xuống chiếc ghế gấp văn phòng. Văn phòng này thật sự khá chật chội bởi những chiếc thùng các tông và tủ đựng tài liệu. Nếu tất cả các nhân viên và huấn luyện viên cùng vào phòng một lúc thì không còn chỗ để ngồi. “Cảm ơn ông.” Yuzuki ngồi xuống ghế, ánh mắt anh ta không ngừng chú ý vào một điểm. Nhận ra Yuzuki đang chăm chú nhìn vào màn hình, Hida vội vàng với lấy chiếc điều khiển. “Khoan đã.” Yuzuki nói. “Vận động viên Hida Kazami phải không ạ?” “Hừm, đúng.” “Ông lấy đoạn phim này ở đâu vậy?” Hida đưa chiếc phong bì cạnh mình ra trước mặt Yuzuki. Tên người nhận là Hida Hiromasa. “Takakura đã gửi cho tôi. Hình như nó được ghi hình trong đợt huấn luyện tập trung dạo trước.” “Đợt huấn luyện ở Canada phải không? Thật tuyệt vời. Ông không phiền nếu tôi xem một chút chứ?” “Cái đó thì… cũng không vấn đề gì.” Hida trao cho Yuzuki chiếc điều khiển. Yuzuki đón lấy, tua lại đoạn video từ đầu. Khi video quay đến đoạn Kazami bắt đầu trượt, Hida lại dán mắt về phía màn hình như ban nãy. Yuzuki cho dừng đoạn video lại sau khi Kazami hoàn thành phần trượt tuyết của mình. “Ông nghĩ thế nào?” Yuzuki cất tiếng, tay vẫn cầm chiếc điều khiển. Ánh mắt ấy nhuốm màu hiếu kỳ xen lẫn tham vọng. “Nghĩ gì nhỉ?” Hida cố giữ cho giọng nói của mình không bị lạc đi. Thực sự ông thấy vui khi được nhìn thấy con gái mình trượt tuyết, nhưng không ngờ niềm vui sướng lại dâng trào đến vậy. “Tôi rất muốn nghe suy nghĩ của ông Hida. Suy nghĩ với tư cách của một người cha cũng được nhưng tôi sẽ rất biết ơn nếu những ý kiến đó là trên quan điểm của cựu tuyển thủ Olympic.” “Hừm.” Hida khịt khịt mũi. “Tôi thấy vận động viên thời nay quá sướng. Chẳng phải thi đấu chính thức gì mà cũng được quay phim thế này. Lại còn đi tu nghiệp ở nước ngoài về nữa. Công ty cũng đã đầu tư đáng kể cho thế hệ này đó.” Yuzuki cười gượng gạo. “Chắc chắn công ty cũng không tiếc gì mà đầu tư cho Kazami vì cô ấy là niềm hy vọng của chúng ta mà. Nhưng ông có lời khuyên nào mang tính chuyên môn, kỹ thuật trượt tuyết không ạ? Sắp tới tôi cũng có hẹn gặp huấn luyện viên Takakura. Lúc đó tôi sẽ truyền đạt lại lời khuyên của ông.” Hida xua tay như thể đuổi con ruồi bay trước mặt. “Cậu tha cho tôi. Cậu là chuyên gia về khoa học thể thao nên quá rõ rồi còn gì. Những kỹ thuật trượt tuyết của hai mươi năm về trước chẳng giúp ích được gì nữa rồi. Với lại chuyện của con gái tôi đã có Takakura lo. Tôi chẳng có điều gì cần nói cả. Cậu có gặp Takakura thì cho tôi gửi lời hỏi thăm ông ấy.” Hida vừa nói đến đây thì Yuzuki tỏ thái độ nghiêm nghị. “Đúng là do sự phát triển của dụng cụ thể thao và luật chơi đã thay đổi nên kỹ thuật trượt tuyết cũng thay đổi hàng năm. Có những lý thuyết của ngày xưa nay đã không còn đúng nữa. Nhưng không có nghĩa tất cả đều thay đổi. Người ta vẫn xỏ hai chân vào hai tấm ván trượt rồi trượt trên tuyết mà thôi. Nếu thử đưa ra lập luận về thể lực có thể đem lại hiệu quả cho những vận động nói trên như thế nào thì hai mươi năm trước cũng như bây giờ chắc chắn không có sự khác biệt gì quá lớn. Mà không, cũng có khi hoàn toàn chẳng có gì khác ấy chứ.” Mời các bạn đón đọc Trứng Chim Cúc Cu Này Thuộc Về Ai của tác giả Higashino Keigo & Nguyễn Hải Hà (dịch).
Kẻ Sống Sót
Cuốn sách bắt đầu với với đoàn khách 13 người tham gia hành trình tham quan bằng khinh khí cầu tại Công viên Quốc gia Northumberland, nước Anh. Nhưng khung cảnh nên thơ chẳng mấy chốc đã nhường chỗ cho cảnh tượng hãi hùng khi các du khách vô tình chứng kiến một gã đàn ông xuống tay sát hại một cô gái trẻ. Bắt đầu từ đây, hung thủ bắt đầu thảm sát toàn bộ hành khách trên khinh khí cầu. Cơn khát máu của hắn chỉ được thỏa mãn đến khi loại bỏ được nhân chứng cuối cùng. "Người phụ nữ này, Jessica Lane, lẽ ra đã chết rồi. Mười một người đã thiệt mạng trong vụ tai nạn đó. Chỉ có Lane chẳng những vẫn sống sót, cô ta còn đang trốn chạy. Cô ta vẫn đang tiếp tục trốn chạy. Vậy nên, tôi muốn biết cô ta sẽ đi đâu; tại sao cô ta lại không liên lạc với ai; Tại sao cô ta không yêu cầu trợ giúp; tại sao cô ta lại cố tình né tránh cảnh sát. Tôi muốn biết cô ta đang trốn chạy khỏi ai; Và hơn tất cả, tôi muốn tìm thấy cô ta!" *** Truyện xảy ra khi Jessica Lane đưa chị gái, xơ – Isabel, đi du lịch bằng khinh khí cầu nhân dịp sinh nhật của xơ. Nhóm hành khách tình cờ chứng kiến một vụ giết người ở trên mặt đất. Kẻ giết người tìm cách giết hết tất cả nhân chứng, ngoại trừ Jessica vẫn sống sót và phải trốn chạy một mình, mang theo bằng chứng có thể buộc tội tên giết người. Liệu cuối cùng, Jessica có trốn thoát được kẻ giết người đó? KẺ SỐNG SÓT Câu chuyện được tác giả viết dưới dạng các chương ngắn chỉ khoảng vài trang tạo cho truyện nhịp điệu gay cấn. Xen kẽ những chương ở thời gian hiện tại là những chương kể chuyện quá khứ, thuật lại những cuộc gặp gỡ của Isabel và Jessica. Từ những chương đó cho thấy một tình cảm chị em gắn bó, sẵn sàng hi sinh mọi thứ vì nhau chỉ vì muốn người còn lại hạnh phúc. Về điên biến truyện có một lượng kha khá plot twist khiến mình đi hết từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác đến tận chương cuối cùng. Các nhân vật cũng được tác giả xây dựng tốt. Ngoài nữ chính Jessica -một cô gái can đảm, mạnh mẽ mình còn ấn tượng với Ajax Maldonado – viên cảnh sát với tình yêu dành cho người vợ của mình. Tuy nhiên ở cuốn này, bộ phận cảnh sát có vai trò khá mờ nhạt trong toàn bộ vụ án. Truyện đề cập đến vấn nạn buôn bán người người nghèo, dân di cư để lấy nội tạng bán cho những gia đình có điều kiện. Đáng giận là một số kẻ thực thi pháp luật lại tiếp tay cho những kẻ buôn người đó. Đối lập là tấm lòng của các xơ theo dòng Cát Minh. Nhờ có sự trợ giúp hết mình từ họ mà cuối cùng Jessica cũng hoàn thành được nhiệm vụ của mình. Điểm: 7,75/10 Đen Đá Không Đường   KẺ SỐNG SÓT – Sharon Bolton Điểm: 4/5  Biết nói sao nhỉ… quyển này thực sự làm mình ngạc nhiên và xúc dộng. Ngoài việc đây là một cuốn sách trinh thám, có điều tra có đủ yếu tố giật gân, hành động, cuốn sách còn đề cập đến tình cảm anh chị em. Trong mỗi trang giấy mình đều cảm nhận được tình cảm này, giữa hai nhân vật Jessica và Isabel, thậm chí còn thể hiện qua hành động của nhân vật phản diện, và mấu chốt toàn bộ vụ án xảy ra cũng vì tình cảm anh chị em trong nhà, kết thúc vụ án được giải quyết cũng là nhờ tình cảm này. Toàn bộ cuốn sách làm mình vô cùng cảm động. Truyện xảy ra khi Jessica đưa chị gái, một bà xơ – Isabel, đi du lịch bằng khinh khí cầu nhân dịp sinh nhật của Isabel. Nhóm hành khách tình cờ chứng kiến một vụ giết người ở trên mặt đất. Kẻ giết người tìm cách giết hết tất cả nhân chứng, ngoại trừ Jessica vẫn sống sót và phải trốn chạy một mình, mang theo bằng chứng có thể buộc tội tên giết người. Đây chỉ là phần mở đầu cho một vụ án còn lớn hơn thế rất nhiều, liên quan đến một đường dây buôn bán nội tạng người bất hợp pháp, lợi dụng dân nhập cư. Cuộc điều tra về tai nạn khinh khí cầu được chỉ huy bởi thanh tra Ajax. Có rất nhiều tình tiết quan trọng được hé lộ trong quá trình điều tra của Ajax, ngoài việc người đọc theo dõi cuộc chạy trốn đầy nguy hiểm của Jessica khi cố gắng lẩn thoát khỏi tên giết người. Hắn có một thế lực khá lớn, và cảnh sát chắc chắn có liên quan. Vì vậy, Jessica đã phải rất cẩn thận để che giấu tung tích của mình. Cô thậm chí còn bị coi là một nghi phạm giết người bị truy nã. Tuy vậy, vì những bằng chứng quan trọng mà cô mạo hiểm mọi thứ để giữ gìn chúng, quyết giấu ở nơi mà cô tin tưởng nhất. Xen kẽ những chương truyện kể ở thời gian hiện tại là những chương kể chuyện quá khứ, thuật lại những cuộc gặp gỡ của Isabel và Jessica. Từ những chương đây, mình biết được mối quan hệ vô cùng thân thiết giữa hai chị em, cô chị Isabel có một quá khứ với người anh trai Ned của họ, và quyết định đi tu, còn Jessica, không đồng tình với quyết định của chị, trở thành một cảnh sát. Dù có những bất đồng nhưng hai người họ vẫn dính chặt vào nhau, thân thiết như hai người bạn vậy. Phải nói là truyện có rất nhiều cú twist bất ngờ mà mình không tài nào ngờ trước được. Mọi tình huống được đưa đẩy đến mức đỉnh điểm, căng thẳng tột cùng. Có những chi tiết mà sau khi đã biết được twist, mình dò lại mới thấy hợp lí đến mức nào. Không có thử thách tài suy luận gì cả, vì các đầu mối đưa ra cũng không quá rõ ràng để thử tài độc giả. Dĩ nhiên có những dấu hiệu báo trước, nhưng mình bị cuốn vào truyện quá, cũng chẳng để ý nó đóng vai trò gì, phải đến lúc đọc qua twist mới để ý những dấu hiệu đó, tại sao tác giả lại quá chú trọng vào chi tiết đó vậy. Đến cuối cùng truyện vẫn có bất ngờ, mà bất ngờ này thì mình chắc chắn là không ai đoán được đâu. Một khía cạnh nữa trong truyện mà mình cần nhắc đến đó là các nữ xơ trong tu viện mà Isabel thề nguyền ở đó. Mình không chỉ cảm động bởi tình cảm chị em ruột thịt mà còn là sự gắn bó chị em giữa các nữ tu. Họ cũng là những người phụ nữ nhỏ bé, im lặng trong tu viện nhưng cuộc sống cùng nhau đã khiến họ trở thành một cá thể độc nhất, không có ai tách ra. Sự đoàn kết của họ đã tạo sức mạnh cho Jessica và Isabel, đi theo Jessica đến cuối truyện và đóng một vai trò không hề nhỏ trong quá trình phá án của Jessica. Toàn bộ câu chuyện mang một màu sắc cảm xúc khó tả, mơ hồ, buồn buồn, lâng lâng, cho dù có những sự gay cấn căng thẳng đó, mình vẫn dễ dàng đọc hết quyển sách mà không phải cảm thấy thần kinh lúc nào căng như dây đàn vậy. Hương Spy *** Thứ Tư, ngày Hai mươi tháng Chín. Chiếc khinh khí cầu lơ lửng giữa không trung trông giống hệt một quả cầu Giáng sinh treo ngược, những đường cong mang theo sọc vằn sặc sỡ của nó phản chiếu vô cùng rõ nét trên mặt hồ. Khi những tia sáng đầu tiên của buổi sớm mai ló rạng, mặt nước ánh lên màu đào chín, một màu vàng nhạt phản chiếu lên các cạnh bên của khinh khí cầu, rồi đến màu hồng đậm chiếu sáng khắp bề mặt khinh khí cầu. Không gian im lìm, tĩnh lặng, không có lấy một ngọn gió nào. Hàng cây dọc theo bãi biển cũng ngừng xào xạc trước khi bình minh ghé đến, và cả mười ba hành khách trên chiếc khinh khí cầu kia đều đứng đó im lìm, không ai nói với ai lời nào. Cả thế giới dường như cũng đang nín thở. Ở phía dưới, đủ xa để các hành khách có thể quan sát được mọi thứ, là một vùng đất hoang vu rộng lớn mọc đầy những cây thạch nam, trực thuộc công viên quốc gia Northumberland. Những bãi cỏ gợn sóng rung rinh trông chẳng khác nào lớp lông của một con thú khổng lồ đang lắc lư tản bộ, những dòng suối tỏa sáng lấp lánh trông hệt như những con rắn bạc đang uốn mình, và mặt trời giống như quả cầu lửa rực cháy đang dần nhô lên trên các ngọn núi cao. Hàng trăm năm qua, khung cảnh nơi đây vẫn cứ bao la và hoang vu như vậy, và chiếc khinh khí cầu kia chính là một cỗ máy thời gian, mang theo mười ba vị khách trở về quá khứ, khi mà khu vực phía bắc xa xôi của nước Anh này vẫn còn rất ít người sinh sống. Ở đó không có những con đường tấp nập, không có những tuyến xe lửa, không có cả các thành trấn hay làng mạc. Cả thế giới dường như trống rỗng, ngoại trừ mười ba hành khách ấy. Như thường lệ, chuyến bay bắt đầu đầy hứng khởi. Giỏ hành khách vuông vắn, rộng rãi và được chia thành bốn khoang riêng biệt để hạn chế hành khách di chuyển quá nhiều trong suốt hành trình, ở trung tâm là vị trí của phi công điều khiển chuyến bay. Tại một trong số các khoang hành khách ấy, có hai người phụ nữ tuổi khoảng hơn ba mươi, một người khoác trên mình bộ trang phục màu đen, người còn lại mặc trang phục màu xanh lục. Tuy họ trông không giống nhau như hai giọt nước, nhưng chắc chắn phải là hai chị em. Người mặc đồ đen khẽ thở ra thành tiếng, nghe không hẳn là một tiếng thở dài, lại cũng không phải là một tiếng rên than. “Chuyến đi này là của chị.” Cô gái mặc trang phục màu xanh lá khẽ mỉm cười. Hai chị em họ chung khoang với một kế toán viên đến từ Dunstable. Vợ và hai con nhỏ của anh ta ở khoang bên cạnh. Phía bên kia khoang lái là ba người đàn ông đang đi nghỉ mát, họ ăn mặc trông chẳng khác nào những chiếc đèn tín hiệu giao thông với các màu đỏ, cam và xanh lá; cùng với một cặp đôi trung niên đến từ Scotland và một nhà báo đã nghỉ hưu. Giỏ hành khách tiếp tục xoay tròn chậm rãi, lững thững trôi qua mặt hồ. Các hành khách trên chuyến hành trình đã có được những trải nghiệm đầy kinh ngạc khi họ vừa cảm nhận được những chuyển động xoay tròn liên tục, lại vừa thưởng thức được bầu không khí ở độ cao này. Bằng cách nào đó mà bầu không khí trên đây có vẻ trong lành và thoáng đạt hơn nhiều so với trên mặt đất. Làn sương sớm lành lạnh nhưng lại không mang đến cho người ta bất kỳ cảm giác khó chịu nào. Không khí như mơn trớn làn da và cứ thế thấm dần vào trong từng lá phổi con người ta theo cách riêng của nó. Cô gái mặc trang phục màu xanh lục, Jessica, tiến đến bên cạnh chị gái mình là cô gái có gương mặt tái nhợt và đang bấu chặt tay vào thành giỏ. Đôi mắt cô chị mở to, nhìn chằm chằm xuống mặt hồ bên dưới như thể đang băn khoăn điều gì đó. Trong đầu Jessica đột nhiên xuất hiện một suy nghĩ đáng sợ nhất, rằng chị gái cô có thể lập tức nhảy ra ngoài. Chỉ trong nháy mắt sau đó, cô lại nghĩ rằng nếu cả hai người cùng nhảy ra có khi sẽ tốt hơn, hoặc giả cái cảm giác một vài giây vừa kinh ngạc lại vừa đau đớn khi va chạm với mặt nước ấy cũng không tệ chút nào. Cái bóng tối nghẹt thở và mát lạnh nơi đáy hồ có thể nhấn chìm họ, hoặc cũng có thể đẩy họ lên trên mặt nước và đưa họ dạt vào bờ. Nếu họ cùng nhảy ra ngay lúc đó, có thể cả hai đều đã còn sống sót rồi. “Thật khó tin, đúng không?” Jessica lên tiếng, vì rất lâu về trước cô đã học được rằng sự sao nhãng đôi khi lại có thể ngăn chị gái cô thực hiện một hành động liều lĩnh nào đó. “Chị có thích nó không? Em không thể hiểu được tại sao trước đây chúng ta lại không làm việc này cơ chứ.” Isabel khẽ mỉm cười, nhưng không lên tiếng, vì cô biết câu trả lời của cô lúc này cũng chẳng có ý nghĩa gì cả. “Thật sự tuyệt vời, phải không? Chị hãy nhìn những màu sắc đó mà xem.” Vẫn không có câu trả lời, nhưng Jessica cũng đã thấy hài lòng hơn khi chị gái mình ngẩng đầu lên nhìn về phía những bụi cây mọc sát cạnh bờ nước. Lúc này, họ chẳng khác nào những quý cô đang trong phòng vũ hội, xoay tròn giữa không gian, chiếc áo choàng của họ phồng lên rồi lại xẹp xuống, xoắn lại với nhau cho đến khi chẳng ai biết được đâu là điểm đầu và đâu là điểm cuối. Ở tít phía xa bên ngoài hàng dãy ngọn cây, những ngọn đồi rực nắng như những viên ngọc quý giá trải dài bất tận. “Chúng ta đang ở phía trên dinh thự Harcourt.” Từ lúc bắt đầu chuyển đi, người điều khiển chiếc khinh khí cầu này vẫn luôn nói chuyện nhẹ nhàng như thế. “Tòa nhà nguyên bản vốn nằm ngay phía trước kia thôi, nhưng nó đã bị cháy rụi vào cuối thế kỷ mười chín rồi.” “Chúng ta có cần lên cao thêm chút nữa không?” Nhà báo về hưu có cái đầu hói và cái bụng phệ cau có nhìn những ngọn cây đang càng lúc càng gần. “Đừng lo lắng, mọi người, tôi có kinh nghiệm rồi mà.” Viên phi công tên Sean có mái tóc đỏ, cao khoảng trên một mét tám mươi khuấy nhẹ không khí bên trên lò đốt và tất cả những ai ở gần anh ta đều cảm nhận được một luồng khí nóng bùng lên ngay trên đầu họ. “Ở khu vực này, tôi thích xuống thấp một chút bởi vì những khu rừng này chính là địa điểm tuyệt vời nhất để xem sóc đỏ tại Northumberland. Còn có cả chim ưng biển nữa, dù năm nay có vẻ chúng xuất hiện muộn hơn.” Mời các bạn đón đọc Kẻ Sống Sót của tác giả Sharon Bolton & Thùy Dương (dịch).
Quỷ Sứ Cũng Phải Dè Chừng
Một vụ hành quyết man rợ trong khu ngoại ô hoang vắng ở Paris đã mở đầu cho một chuỗi những tình tiết được sắp đặt để dẫn tới một thảm họa toàn cầu, khi trào lưu của thứ ma túy chết người đe dọa nhận chìm nước Anh những năm sáu mươi; một chiếc máy bay dân dụng của Anh bị mất tích trên vùng trời Iraq và tiếng sấm của cuộc chiến tranh đang vang rền khắp vùng Trung Đông... Bond đã tìm thấy kẻ đồng lõa tự nguyện trong dáng hình của một phụ nữ Paris xinh đẹp và quyến rũ tên là Scarlett Papava. Chàng sẽ phải cần tới mọi sự trợ giúp của nàng trong trận đấu sinh tử với kẻ thù nguy hiểm nhất - đó là kẻ luôn sẵn lòng nhảy múa với cả quỷ sứ. Bond đã trở lại. Cùng sự báo thù Phiên bản mới này là phần tiếp theo đầy uy lực của di sản James Bond - một chương mới rất giật gân trong cuộc đời của một điệp viên hình tượng nhất trong văn học và phim ảnh. "Việc một người viết tiểu thuyết tầm cỡ như Faulks, chứ không phải ai khác, mang vào mình chiếc áo khoác của Fleming là sự tôn kính phù hợp nhất đối với một trong những nhà văn vĩ đại nhất của nước Anh chuyên viết về đề tài li kì và giật gân." Ben Macintyre - The Times *** Loạt tác phẩm James Bond xoay quanh một nhân vật mật vụ người Anh hư cấu, được sáng tạo bởi nhà văn Ian Fleming vào năm 1953. Fleming đã khắc họa Bond trong 12 cuốn tiểu thuyết và 2 tuyển tập truyện ngắn. Sau khi ông qua đời vào năm 1964, đã có tám tác giả tiếp tục viết tiếp các tác phẩm tiểu thuyết hoặc tiểu thuyết chuyển thể về James Bond, bao gồm: Kingsley Amis, Christopher Wood, John Gardner, Raymond Benson, Sebastian Faulks, Jeffery Deaver, William Boyd và Anthony Horowitz. Forever and a Day của Anthony Horowitz, xuất bản vào tháng 5 năm 2018, là cuốn tiểu thuyết James Bond mới nhất. Ngoài ra, có thể kể đến loạt truyện viết về Bond thời trẻ của Charlie Higson hay Kate Westbrook với bộ ba tiểu thuyết dựa trên cuốn nhật ký của Moneypenny, một nhân vật từng xuất hiện trong loạt truyện. Nhân vật James Bond còn được biết tới với mã tên 007, được chuyển thể rộng rãi thành các tác phẩm truyền hình, phát thanh, truyện tranh, trò chơi điện tử và phim ảnh. Loạt phim về James Bond hiện đang là loạt phim liên tục dài nhất mọi thời đại và thu về tổng doanh thu 7.04 tỉ đô la Mỹ, trở thành loạt phim có doanh thu cao thứ sáu lịch sử. Nó được khởi đầu vào năm 1962 bằng phần phim Dr. No với ngôi sao Sean Connery trong vai Bond. Tính tới năm 2020, loạt phim do Eon Productions sản xuất đã có 24 phần. Spectre (2015) là bộ phim James Bond gần nhất, có sự tham gia diễn xuất của Daniel Craig với lần thứ tư anh thủ vai mật vụ Bond trong loạt phim của Eon. Ngoài ra, còn có hai tác phẩm độc lập: Casino Royale (một phiên bản giễu nhại ra mắt năm 1967, với sự tham gia của David Niven) và Never Say Never Again (bản làm lại bộ phim do Eon sản xuất trước đó của Thunderball, ra mắt năm 1965, cả hai bản đều có sự tham gia của Connery). Năm 2015, với trị giá ước tính 19.9 tỷ đô la Mỹ, James Bond trở thành một trong những thương hiệu truyền thông có doanh thu cao nhất từ trước tới nay. Các bộ phim về Bond nổi tiếng bởi một số điểm đặc trưng, như phần nhạc đệm với các bài hát chủ đề đã nhiều lần được đề cử Oscar và chiến thắng hai lần. Vài yếu tố xuyên suốt quan trọng khác bao gồm những chiếc xe hơi của Bond, các khẩu súng của anh và những thiết bị mà anh được Q Branch cung cấp. Mỗi phần phim cũng chú ý khắc họa mối quan hệ của Bond với nhiều phụ nữ khác nhau, đôi khi được gọi là các "Bond girl". *** Đó là một buổi tối lạnh lẽo ở Paris. Mưa vẫn không ngừng rơi lộp độp trên mái ngói đá đen của những tòa nhà dọc theo những đại lộ và cả trên những căn nhà nhỏ hai mái ở khu Latin. Phía ngoài khách sạn Crillon và khách sạn George 5, nhân viên gác cửa đang huýt gọi những chiếc taxi đến từ trong màn đêm, rồi hối hả chạy tới giương dù che cho những người khách mặc áo lông thú khi họ bước lên xe. Cả một khoảng không bát ngát của quảng trường Concorde ẩn hiện lấp lánh mờ ảo trong cơn mưa ào ạt. Ở khu Sarselles, một vùng xa phía bắc ngoại ô, Yusuf Hashim đang trú mưa trên hè đường. Trên đầu hắn không phải là mái vòm duyên dáng của cây cầu số Chín, nơi các cặp tình nhân đang túm tụm trú mưa, mà là một mảng bê-tông dài của chiếc ban-công với những cánh cửa rẻ tiền gắn đầy then, mở vào những căn hộ ba phòng cáu bẩn của khu nhà mười tám tầng nhìn xuống một phần đông đúc của quốc lộ N1. Được kiến trúc sư đặt tên là Cầu vồng, song khu nhà được coi là một chốn đáng sợ, ngay cả khi nó tọa lạc trong cái quận khét tiếng này. Sau sáu năm trời chiến đấu chống lại quân Pháp ở Algeria, cuối cùng Yusuf Hashim cũng bỏ chạy. Hắn trốn đến Paris và tìm được một chỗ ở Arc en Ciel, nơi ba người anh em của hắn sẽ cùng tụ họp vào một lúc thích hợp. Người ta nói rằng chỉ những kẻ sinh ra ở những khu nhà gớm ghiếc mới có thể không do dự khi du thủ du thực, ấy thế mà Hashim lại chẳng sợ ai. Hắn đã bắt đầu chuyến liều mạng đầu tiên khi làm việc cho Mặt trận Giải phóng Dân tộc Algeria (FLN), lúc mới mười lăm tuổi đầu, bằng vụ đánh bom lửa một trạm bưu điện. Suốt thời gian ở Bắc Phi hoặc ở Paris, hắn chưa hề gặp một ai lại coi cuộc đời độc thân quá giá trị cả. Cuộc đua luôn dành cho kẻ mạnh, và thời gian đã chứng tỏ Hashim cũng mạnh mẽ như ai. Hắn bước ra ngoài trời mưa, mau lẹ liếc trước liếc sau. Dưới ánh đèn trắng nhạt, khuôn mặt rỗ màu xám nâu với chiếc mũi khoằm to tổ bố nhô ra giữa hai hàng lông mày đen của hắn trông đầy thận trọng. Hắn vỗ nhẹ vào túi sau của chiếc quần lao động màu xanh, nơi có 25.000 đồng franc mới, gói kĩ trong bao xốp. Từ trước đến giờ, đây là món tiền lớn nhất hắn từng giao dịch, do vậy tuy đã từng trải, hắn cũng thấy phải cẩn trọng. Giấu mình trong bóng tối, hắn liếc nhìn năm sáu lượt xuống chiếc đồng hồ đeo tay. Hắn không bao giờ biết mặt người mà hắn đang đợi vì chẳng bao giờ hắn gặp lại họ lần thứ hai. Đó là một phần xuất sắc của mưu đồ: sau mỗi phi vụ phải dứt điểm ngay với nguồn cung cấp vô tận của đám buôn lậu. Hashim cố gắng giữ an toàn đều đặn trong khi chuyển hàng. Hắn luôn nài nỉ phải thay đổi địa điểm và yêu cầu gặp người giao dịch mới, thế nhưng không phải lúc nào cũng được như ý. Các biện pháp thận trọng thì tốn tiền, và mặc dù đám bạn hàng của Hashim khá liều mạng, song chúng lại hiểu rõ giá trị đường phố về những gì chúng giao dịch. Chẳng kẻ nào trong đường dây lại có thể kiếm đủ tiền để hoạt động một cách tuyệt đối an toàn, chắc chắn chẳng có ai, ngoại trừ một vài gã gộc nhất, đầy quyền lực kiểm soát, đang ở cách xa hàng ngàn dặm cái chỗ hôi thối trong lòng cầu thang, nơi hắn đang đứng. Mời các bạn đón đọc Quỷ Sứ Cũng Phải Dè Chừng của tác giả Sebastian Faulks & Nguyễn Việt Hải (dịch).