Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Những Vụ Án Nổi Tiếng Thế Giới: Món Nợ Truyền Kiếp - Ed McBain

Evan Hunter lúc chưa lấy tên Ed Mc Bain, đã viết nhiều tiểu thuyết và truyện ngắn dưới nhiều tên khác nhau, được một nhà xuất bản đề nghị viết một loạt truyện về vụ án. Ông chọn nhân vật chính trong loạt truyện đó là cả một đơn vị cảnh sát. Ông nói: “Tôi muốn nói về những người khám phá ra án mạng trong thực tế. Tôi cố gắng thể hiện công việc hàng ngày của những nhân viên cảnh sát ở một thành phố lớn, muốn xây dựng một lớp người hình dạng và tính cách khác nhau nhưng tập hợp lại cùng tạo ra một người anh hùng: đội Cảnh sát Quận 87. Việc đó chưa từng được làm và quan niệm này cho phép tôi đưa những nhân vật mới vào tập thể đã có. Toàn đội là người anh hùng trong truyện và không người nào trong đội buộc phải có hoặc không thể thay thế được. Trong đời sống thực tế, một cảnh sát có thể bị giết hay bị thương.” Trong các thanh tra cảnh sát ở Quận 87 Steve Carella được nói đến nhiều nhất, cả về tiểu sử. Gốc Ý, sinh ở Jsola, anh tham gia mặt trận Ý trong thế chiến thứ hai và vào ngành Cảnh sát 21 tuổi. Steve Carella là một cảnh sát liêm khiết, nhân hậu, có trách nhiệm cao trong công việc. Anh cũng là còn người bình tĩnh, không tha thứ đầu óc phân biệt chủng tộc, không thờ ơ với cái chết và có khả năng thông cảm với tất cả những ai anh phải tiếp xúc vì nghề nghiệp. Trực giác nhạy cảm, minh mẫn, ngoan cường, anh có khả năng cảm thụ rất cao: điều này được Mc Bain nói lên một cách hình ảnh bằng gán cho anh một người vợ câm điếc: Teddy. Gia đình sống hạnh phúc - họ có hai con sinh đôi - Carella không ngừng suy nghĩ về cuộc đời mỗi khi có dịp nghề nghiệp đưa lại. Chính tiềm năng nhân đạo, cái nhìn nhiệt tình đối với mọi người và cuộc sống làm anh trở thành hấp dẫn, được trìu mến. Xung quanh Carella, Quận 87 như là cả một gia đình: cảnh sát trưởng Peter Byrnes lãnh đạo đơn vị, như một người cha; Meyer Meyer là anh cả có đức tính kiên nhẫn nổi bật. Là người Do thái nhưng không cố chấp về giáo lý, anh đặt ra nhiều vấn đề về tính cách Do Thái và vị trí của người Do Thái hiện đại. Bert Kling là em út, rất gắn bó với Carella, trải qua hai cuộc thực tập khó khăn trong quá trình trưởng thành: nghiệp vụ cảnh sát nhiều khi rất nguy hiểm và lĩnh vực tình cảm riêng tư. Và những người khác: Cotton Hawes tóc hung, con của một mục sư, rất nhiều quan hệ với phái nữ; Arthur Brown, người da đen duy nhất trong đội; Hal Willis người nhỏ bé nhưng không kém nổi danh; Rogeru Havilland, anh cảnh sát hung bạo và thoái hóa; Grossman, người phụ trách phòng xét nghiệm. Tất cả đều có vai trò; quan trọng trong bối cảnh xuất hiện, len lỏi khắp nơi và có vẻ trở về hậu trường Quận 87. Còn một lớp người khác không là thành phần của Quận 87 nhưng đóng vai trò những kẻ điên khùng, lúc này lúc khác làm cho các thanh tra cảnh sát “điên người”: Những hung thủ, những kẻ vô lại gian ngoan luôn xuất hiện từ hư không, chơi trò trốn tìm với cảnh sát. Ed Mc Bain diễn tả những vụ việc trong một thành phố tưởng tượng, thành phố lớn Isola với những khu vực xen kẽ rất khác nhau: có những khu dinh cơ tầng lớp trên, những khu trung lưu, những khu Do Thái và những căn nhà lụp xụp, rác bẩn. Thành phố tập trung mọi tầng lớp xã hội và tiếp nhận dân cư của mọi bộ tộc thiểu số. Việc điều tra những vụ án tiến hành trực diện hoặc theo bước nhảy trong cùng một việc như diễn biến ở một đơn vị mà cảnh sát viên phải giải quyết nhiều vụ cùng một lúc. Như vậy, sự việc này có thể đối chiếu với sự việc khác, phối hợp giữa chúng với nhau, gây ra những bất ngờ, nhận rõ được nhiều mặt của sự việc. Tác giả biết thay đổi kết cấu, nhiều khi dựa vào tính chất xảo quyệt của tội phạm, thay đổi phương pháp kể, phân tích diễn biến tâm lý phá án, phong cách xã hội trong suốt ba mươi năm tại của Quận Cảnh sát 87 sử dụng lối ghi chép việc để dõi theo số phận các nhân vật. *** Nhà văn trinh thám Mỹ Salvadore Lombino sinh năm 1926 tại một xóm người Italia ở New York. Sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông, ông vào học Trường cao đẳng Mỹ thuật. Trong những năm chiến tranh, Lambino phục vụ tại binh chủng Hải quân và bắt đầu viết truyện ngắn. Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, ông tốt nghiệp Trường cao đẳng Hunter. Năm 1952 Lombino chính thức đổi tên thành Evan Hunter, theo tên của ngôi trường phổ thông và cao đẳng nơi ông đã học. Ông từng làm nhân viên bán tôm hùm, chơi piano trong một giàn nhạc jazz, dạy học ở trường phổ thông, làm nhân viên quảng cáo. Một lần, với tư cách là đại lý văn học, Salvadore Lambino đã mang tới nhà xuất bản những tập bản thảo của Evan Hunter, nghĩa là của chính mình.  Evan Hunter rất nổi tiếng trong giới những người hâm mộ thể loại trinh thám với bút danh Ed McBain độc nhất vô nhị, tác giả của những cuốn tiểu thuyết về đồn cảnh sát 87 - một chùm tiểu thuyết trinh thám dài, đa dạng và rất nổi tiếng. Theo ý đồ của tác giả, đồn 87 nằm ở một “thành phố tưởng tượng” nào đó, tuy nhiên độc giả tinh ý dễ dàng nhận ra trong đó New York, mặc dù tên gọi các đường phố, đại lộ và các địa danh khác đã được thay đổi. “Thành phố” chia thành 5 quận: Isola (Manhattan), nơi đồn 87 đóng, Riverhad (Bronks), Magesta (Quins), Calm-Point (Brooklin) và Bestawn (Steiten-Ireland). Ai đó có thể lấy làm ngạc nhiên rằng hai con sông xuyên qua “thành phố” - Hurb và Dike (Goojon và East-River), chảy về phía tây, trong khi “thành phố” lại nằm bên bờ phía đông. Theo chủ ý của Ed McBain, New York “quay” xung quanh trục của nó, vì vậy phía bắc trở thành phía đông, phía đông trở thành phía nam... phù hợp hoàn toàn với cực từ của trái đất. Đồn 87 nằm ở một vị trí khiến các nhân viên của nó buộc phải trình diễn tài năng trinh thám của mình khi khám phá các vụ tội phạm xảy ra trong các tầng lớp trên, cũng như ở dưới “đáy” xã hội của nước Mỹ. Phạm vi của đồn bao quát cả những khu sang trọng, vùng ngoại vi trù phú, phần lãnh thổ, nơi sinh sống của đại diện giai cấp trung lưu, lẫn các khu nhà ổ chuột, phố “đèn đỏ”, và thậm chí một số biệt thự kiến trúc kiểu gothique cổ kính. Các cuốn tiểu thuyết của Ed McBain đáp ứng tất cả những tiêu chuẩn của thể loại trinh thám. Hoạt động trong đó không chỉ là một người hùng đơn độc, mà còn cả một đội cảnh sát nhà nghề được phối hợp chặt chẽ. Thậm chí nếu một nhân vật nào đó của Ed McBain trở nên vượt trội (ví dụ, trong nhiều tiểu thuyết công lao khám phá tội phạm thuộc về Stev Carrele), hành động của anh ta cũng không thể mang lại những kết quả mong muốn, nếu như không có sự giúp đỡ và ủng hộ của các thám tử khác. Đồn 87 có cái gì đó giống như Con thuyền Noe, nơi tập hợp rất nhiều những con người khác nhau, được liên kết bởi một mục đích chung: quét sạch bọn tội phạm, xây dựng cuộc sống trong “thành phố” trở nên hạnh phúc và bình yên. Trong số đó có Trung úy Berne, Cảnh sát trưởng, được các nhân viên cấp dưới của mình, thậm chí cả bọn tội phạm nể trọng; Meier Meier, một thám tử cực kỳ chịu khó, xuất thân từ một gia đình gốc Do Thái, tuổi thơ của anh ta trôi qua trong sự đụng độ của những tín điều; Bert Kling trong cuộc sống và trong công việc không tìm kiếm những con đường dễ dãi, vì vậy anh đã phạm phải rất nhiều sai lầm mà lẽ ra có thể tránh được; Coton House, con trai của một linh mục đạo Tin Lành được phái đẹp hết sức hâm mộ, cũng như những chiến binh tận tụy khác đấu tranh vì sự bình yên của những người dân lương thiện. Một điều hết sức đặc trưng đối với Ed McBain là nhân vật của ông không phải là những con người xơ cứng, bất biến, không phải là những chiếc mặt nạ nào đó, ngược lại, họ biết tận hưởng cuộc sống, trưởng thành và hoàn thiện tài năng của mình. Nhân vật Stev Carelle là một ví dụ, một cảnh sát mẫu mực “đến tận xương tủy”. Thông thường, khi một nhà văn gặt hái được thành công ban đầu thì anh ta hay sản xuất ra những tác phẩm na ná nhau cho tới khi độc giả chán ngấy sự đơn điệu đó. Tuy nhiên, đối với Ed McBain, điều đó đã không xảy ra. Ông không bao giờ ngần ngại thử nghiệm. Trong tiểu thuyết “Cái nêm” có hai cốt truyện cùng phát triển song song, thoạt đầu không hề liên quan gì với nhau: một bên là câu chuyện khủng khiếp về một người phụ nữ mất trí vì quá đau khổ đã dọa đánh bom Đồn 87, và bên kia là một thủ pháp hơi lỗi mốt, khi một nhân vật xuất thân từ thành phần bất hảo đã trở thành kẻ sát nhân và chỉ bằng con đường suy diễn logique các thám tử mới vạch mặt được kẻ tội phạm. Hai cốt truyện này nối với nhau bằng một biểu tượng nào đó được tác giả gửi gắm trong tên gọi của tác phẩm. “Giá của sự ngờ vực” là câu chuyện về một “vụ giết người lý tưởng”, hơn nữa tác giả còn thử nhìn các sự kiện bằng con mắt của kẻ tội phạm, trong khi các thám tử thể hiện vai trò của mình một cách mờ nhạt. Tiểu thuyết “Công việc bình thường” đáng chú ý bởi trong đó có sự tham gia của hầu hết các thám tử thuộc Đồn 87 và họ buộc phải khám phá 14 vụ án. Tiểu thuyết “Sợi lông tơ” là một hài kịch, mặc dù luôn luôn tỏ ra làm việc căng thẳng, các nhân viên cảnh sát không thể vượt qua được bọn tội phạm. Không thể không nhắc tới nhân vật gã Điếc rất thành công của Ed McBain - đó là một kẻ bất khả chiến bại, may mắn thoát chết trong tiểu thuyết “Tên cướp”, lại xuất hiện trong tiểu thuyết “Sợi lông tơ” và muộn hơn trong “Hãy nghe gã điếc nói gì”. Mỗi một cảnh có sự tham gia của nhân vật này đều một pha mạo hiểm tiếp theo của y mà các thám tử tìm mọi cách ngăn chặn. Nhưng gã điếc đều thoát chết và lành lặn sau những hoàn cảnh hiểm nghèo, để rồi lại bất ngờ xuất hiện trong một cuốn tiểu thuyết tiếp theo nào đấy. Ed McBain được công nhận là một bậc thầy về văn xuôi trào phúng. Thực sự không một cuốn tiểu thuyết nào về Đồn 87 thiếu chất hài hước, điều này góp phần làm nên thành công của chùm tiểu thuyết nói trên. Chính chất hài hước đã “hồi sinh” các nhân vật, vì những nguyên nhân nào đó mà chân dung tâm lí của họ chỉ được tác giả phác qua một cách sơ sài. Tất nhiên, đôi khi trong các tác phẩm của Ed McBain bạn đọc cũng bắt gặp những hoàn cảnh và số phận bi kịch thực sự, nhưng chính chất hài hước đã trở thành một phẩm chất lành mạnh của toàn bộ chùm tiểu thuyết của ông Mời các bạn đón đọc Những Vụ Án Nổi Tiếng Thế Giới: Món Nợ Truyền Kiếp của tác giả Ed McBain.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Luật Sư Nhí
Một vụ án hoàn hảo Một nhân chứng giấu mặt Duy chỉ một người biết sự thật… Đó là một cậu bé mười ba tuổi Thị trấn Strattenburg nhỏ bé có rất nhiều luật sư, và dù mới mười ba tuổi, Theodore Boone luôn nghĩ mình là một trong số họ. Ấp ủ ước mơ được trở thành một luật sư vĩ đại, cậu vẫn thường hình dung về cuộc sống của mình nơi tòa án. Nhưng Theodore bắt gặp mình ở tòa án sớm hơn cậu tưởng. Bởi một vụ án nhạy cảm đã xảy ra, vụ án lớn nhất trong lịch sử thị trấn Strattenburg, và nếu Theodore không sớm hành động, tên giết người máu lạnh sẽ còn tiếp tục. Căng thẳng và đầy kịch tính, với giọng kể biến hóa của John Grisham, bậc thầy trong thể loại truyện trinh thám hình sự, Theodore Boone: Luật sư nhí khiến độc giả phải liên tục phán đoán và không thể rời mắt khỏi trang sách. *** John Grisham (sinh ngày 8/2/1955) là một tác giả người Mỹ nổi tiếng với những tiểu thuyết trinh thám hình sự. Sau khi tốt nghiệp đại học Mississippi, ông học thêm chuyên ngành luật của trường này và hoạt động trong ngành luật hình khoảng mười năm. Ông cũng phục vụ trong Hạ nghị viện từ năm 1984 đến năm 1990. Khởi đầu sự nghiệp viết lách năm 1984, năm 2008 số sách của ông bán ra đã vượt quá con số 250 triệu bản trên toàn thế giới. Tác giả từng đoạt giải Galaxy British Book Awards này còn là một trong số ba tác giả ít ỏi bán được hai triệu cuốn trong bản in đầu tiên, cùng Tom Clancy và J. K. Rowling. Các tác phẩm của John Grisham được dịch ra 38 ngôn ngữ. Hiện ông đang sống ở Virginia và Mississippi. ***Lời khen tặng dành cho Theodore - Luật sư nhí “Nhịp truyện diễn tiến nhanh, và độc giả trẻ sẽ bị hút vào màn tranh tụng quyết định tại phiên tòa.”– BookPage  “Không nghi ngờ gì nữa, Grisham là một tác giả xuất chúng!” – Washington Post *** Theodore Boone là con một, vì thế thường phải ăn sáng một mình. Bố của cậu, một luật sư bận rộn, có thói quen ra khỏi nhà lúc 7 giờ sáng, tụ tập bạn bè tại đúng một quán quen trong khu trung tâm để uống cà phê và tán gẫu. Mẹ cậu, cũng là một luật sư bận rộn, suốt hơn mười năm nay vẫn đang cố giảm năm cân nên luôn tự thuyết phục mình rằng bữa sáng không cần gì hơn ngoài cà phê và tờ báo. Vì thế, Theodore một mình trong bếp, ăn ngũ cốc nguội, uống nước cam, mắt không rời đồng hồ. Gia đình nhà Boone có đồng hồ khắp nơi, minh chứng rõ ràng cho những con người có nề nếp. Thực ra, cậu không hoàn toàn chỉ có một mình. Bên cạnh cậu, chú chó Judge cũng đang ăn. Judge là con chó lai, tuổi và giống của nó vẫn luôn là điều bí ẩn. Hai năm trước, Theodore cứu nó thoát chết trong gang tấc khi xuất hiện vào phút cuối tại Phiên tòa Súc vật, và Judge luôn tỏ ra biết ơn. Con chó thích Cheerios, hệt như Theodore; mỗi sáng, cả hai cùng ăn với nhau trong yên lặng. Tám giờ sáng, Theodore tráng bát trong chậu rửa, cất sữa và nước quả trở lại tủ lạnh, bước đến phòng làm việc, hôn lên má mẹ. “Con đi học đây”, cậu chào. “Con đã có tiền ăn chưa?” mẹ cậu hỏi, cùng một câu năm buổi sáng mỗi tuần. “Rồi ạ.” “Bài tập của con xong cả rồi chứ?” “Chuẩn rồi mà mẹ.” “Thế khi nào mẹ gặp con?” “Học xong con sẽ ghé qua văn phòng.” Ngày nào học xong, Theodore cũng ghé qua văn phòng mẹ, không sai một li, nhưng bà Boone vẫn luôn hỏi như vậy. “Cẩn thận đấy,” bà dặn. “Và nhớ mỉm cười nhé.” Theodore đã đeo niềng răng cả hai năm trời nay, và cậu vẫn luôn muốn tháo nó ra chết đi được. Vậy mà, mẹ cậu không ngừng nhắc cậu mỉm cười và biến thế giới trở nên tươi đẹp hơn. “Con vẫn cười mà mẹ.” “Yêu con, cục cưng.” “Con cũng yêu mẹ.” Theodore, miệng vẫn mỉm cười dù bị gọi là “cục cưng”, vắt ba lô qua vai, xoa đầu tạm biệt chó Judge, rồi ra khỏi nhà qua lối cửa bếp. Cậu nhảy lên xe đạp, chẳng mấy chốc đã tăng tốc lao ra hẻm Mallard, một con phố nhỏ rợp bóng cây trong khu phố cổ nhất của thị trấn. Cậu vẫy chào ông Nunnery, ông đã ở bên hiên nhà, chuẩn bị cho một ngày dài ngồi nhìn dòng xe cộ thưa thớt qua lại. Cậu phóng vọt qua bà Goodloe bên lề đường mà không nói lời nào vì bà bị lãng tai và còn gần như đãng trí. Tuy vậy, Theodore vẫn mỉm cười với bà, còn bà thì không cười đáp lại. Răng của bà đang ở đâu đó trong nhà. Trời chớm xuân, không khí khô lạnh. Theodore dấn pê đan, gió táp vào mặt cậu. Chín giờ kém 20 là điểm danh, mà trước giờ học cậu còn có việc quan trọng phải làm. Theodore cắt qua một con phố nhỏ, phi vào một con hẻm, lượn lách qua mấy chiếc xe, và vượt qua cả đèn đỏ. Đó là “bài” của Theodore, là tuyến đường ngày nào cậu cũng đi. Qua bốn dãy nữa, nhà ở sẽ nhường chỗ cho các tòa văn phòng, cửa hàng cửa hiệu. Tòa án hạt là tòa nhà lớn nhất ở Strattenburg (bưu điện lớn thứ hai, kế đến là thư viện), nằm oai vệ bên mạn Bắc của phố Main, giữa một cây cầu bắc qua sông và một công viên đầy rẫy chòi ngắm cảnh, bồn nước cho chim rỉa lông và tượng đài kỷ niệm những người lính tử trận. Theodore yêu thích tòa án với vẻ uy quyền của nó, với cảnh mọi người hối hả qua lại đầy quan trọng, và những thông báo nghiêm túc hay lịch làm việc đính chi chít trên bảng tin. Và hơn tất cả, Theodore thích các phòng xử án. Có những phòng nhỏ để giải quyết các vụ việc cá nhân không cần bồi thẩm đoàn tham dự, còn cả phòng xử chính trên tầng hai nơi các luật sư chiến đấu như võ sĩ còn thẩm phán thì quyền lực như nhà vua. ... Mời các bạn mượn đọc sách Luật Sư Nhí của tác giả John Grisham.
Linh Hồn Tội Lỗi
“Thật ra, tôi chẳng phải là loại người tốt đẹp gì cho cam. Tôi chỉ là một kẻ tàn nhẫn đứng ngoài cuộc quan sát, một tòng phạm, hay thậm chí là một kẻ phản bội đã hèn nhát trốn chạy để bảo vệ bản thân.” “Hình phạt lớn nhất cho tội ác của con người là mãi mãi không thoát khỏi tòa án lương tâm của chính mình.” LINH HỒN TỘI LỖI, xoay quanh hành trình phá án của nữ thám tử Reiko để giải câu đố đằng sau chuỗi án mạng mà các nạn nhân có mối liên hệ bí ẩn với nhau. Bắt đầu từ một vụ án không tìm thấy thi thể, tại hiện trường chỉ sót lại một bàn tay trái đứt lìa ngâm trong một túi máu, tổ trọng án của Reiko tưởng như lâm vào ngõ cụt khi mọi manh mối đều không đem lại kết quả. Nhưng bằng linh cảm nhạy bén của mình, Reiko đã phát hiện mối liên hệ đáng ngờ giữa nạn nhân và những vụ tự sát từng xảy ra trong quá khứ, với những khoản tiền bảo hiểm bồi thường lên tới hàng trăm triệu yên Nhật. Hàng ngàn câu hỏi được đặt ra thách thức tổ trọng án. Thi thể nạn nhân đang ở đâu? Sợi dây liên hệ giữa nạn nhân và những người đã chết? Sự thật ẩn giấu đằng sau những vụ tự tử trước kia? Nạn nhân có thực sự là nạn nhân? Kẻ hung thủ tàn nhẫn đứng đằng sau mọi chuyện đang ở đâu? Những bí ẩn đau lòng của quá khứ, những dằn vặt khôn nguôi của hiện tại, những hồ nghi về tương lai, tất cả đan xen vào nhau, tạo nên một vòng xoáy tội lỗi đầy ám ảnh, giằng xé, day dứt. Cái sai lại càng sai, tội lỗi chồng chất tội lỗi. Song song với những tội ác rùng mình, Soul Cage còn là khúc ca đẫm máu về tình thân, tình bạn, tình người, đặt mối quan hệ giữa người với người vào ranh giới thiện ác vô cùng mong manh. Trong sâu thẳm bản ngã Con Người, cán cân giữa phần Con và phần Người chỉ cần lệch khỏi điểm cân bằng một chút thôi, cũng có thể đẩy một con người lương thiện vào con đường tội ác không lối thoát. *** Review bởi: Tiểu Thuần Một bộ truyện hơn cả sức tưởng tượng. Câu chuyện về một người đàn ông đã nhận nuôi và yêu thương hết mực đứa trẻ vốn không phải ruột thịt của mình. Từ bỏ cuộc đời và thân phận của mình chỉ vì người thân, vì đứa con trai tội nghiệp của mình. Giữa người và người có thật sẽ tồn tại thứ tình cảm kỳ diệu đó hay không?
Vụ Án Lerouge
Vào ngày thứ 5, 6 tháng 3 năm 1862, một vụ án mạng đã làm ngôi làng La Jonchère thanh bình bị chấn động: bà quả phụ giàu có Lerouge bị sát hại dã man tạị nhà riêng. Điều tra viên Lecoq đã phải nhờ sự giúp đỡ của một thám tử nghiệp dư cũng là người thầy của mình, lão Tabaret, tham gia vào cuộc điều tra. Với sự cẩn trọng, tỉ mỉ,  kĩ thuật  phát họa tâm lí tội phạm xuất sắc cùng phương pháp suy luận chặt chẽ, tài tình, lão Tabaret đã lần theo manh mối và dễ dàng tóm được thủ phạm. Khi vụ án tưởng chừng đã khép lại thì những bước ngoặt của số phận lại bất ngờ mở ra một hướng đi mới, khiến các điều tra viên phải xem xét lại toàn bộ những suy luận của mình. Những tình tiết mới xuất hiện sẽ đưa vụ án này đi đến đâu? Những bí mật đen tối nào đang bị lớp màn của thời gian che phủ. BẤT NGỜ, HẤP DẪN là những gì độc giả nhận xét khi đọc cuốn tiểu thuyết trinh thám này của Gaboriau. Giới thiệu tác giả Émile Gaboriau Émile Gaboriau (1832 - 1873) là một trong những tiểu thuyết gia “mở màn” cho thời kỳ đỉnh cao của trinh thám Pháp, đưa trinh thám Pháp sánh ngang với trinh thám Anh, trinh thám Âu Mĩ.  Bạn đọc ở Việt Nam biết đến ông với Hồ sơ số 113 và Tội ác ở Orcival.  Bằng việc xây dựng thành công hình tượng nhân vật thám tử tài ba, tài trí Lecoq, Émile Gaboriau đã trở thành một trong những nhà văn trinh thám kiệt xuất trên thế giới và được mệnh danh là "Ông tổ" của tiểu thuyết trinh thám Pháp.  *** “Liệu có gì ghê tởm hơn sự gán ghép hai ý nghĩ ấy với nhau, lòng căm hận và công lý! Không cần coi thường mình hơn so với những kẻ xấu xa mà mình đã kết án, liệu một quan tòa có thể cho phép nhớ rằng một kẻ tội nhân mà số phận đang nằm trong tay mình đã từng là kẻ thù của ông? Một Thẩm phán điều tra liệu có được phép sử dụng những quyền lực thái quá của mình để chống lại một bị can, khi mà sâu trong tâm can ông ta vẫn còn một giọt mật đắng?” Một đoạn miêu tả tâm lý nhân vật thật xuất sắc với những đấu tranh nội tâm về việc có nên đem chuyện riêng tư vào phép công hay không? Thực chất, nếu đặt bản thân vào hoàn cảnh của nhân vật, chúng ta liệu có công tư phân minh được hay không? Hay cũng chỉ áp dụng quyền hành mà bản thân đang có để triệt tiêu tất cả những mối thù hận và căm hờn lên kẻ thù đang đứng trước mặt? Đôi khi đọc sách là thế, là khiến tôi phải suy ngẫm về những đoạn nhỏ trong sách để tự vấn lòng mình xem bản thân sẽ làm như thế nào với tình huống đó. “Vụ án Lerouge” mở ra với bối cảnh làng La Jonchere bình yên, thế nhưng tất cả mọi người đã bị chấn động bởi cái chết của bà quả phụ Lerouge. Hàng loạt thắc mắc được đặt ra và người ta không hiểu tại sao bà ta bị giết, ai có thể ra tay tàn độc như vậy. Lần này, sự xuất hiện của ông thám tử nghiệp dư Tabaret là một điểm nhấn thú vị và rõ ràng là ông ta có phần tài giỏi hơn cả Lecoq khi sớm tìm ra được hung thủ. Ở nhân vật này, chúng ta sẽ thấy được bóng dáng của Holmes bởi khả năng quan sát mọi việc và tình tiết rất cẩn trọng. Một chút tự mãn được thêm vào tài năng phá án của lão đã tạo ra một cá tính hết sức riêng biệt, đôi chút hài hước và đôi chút khó ưa. Thực ra, ở “Vụ án Lerouge”, việc hung thủ bị lộ diện không còn là yếu tố hút bạn đọc nữa. Điểm hay nhất chính là mối tình xưa cũ của nhân vật được tiết lộ khiến cho chúng ta thêm phần đồng cảm và thích thú nhiều hơn. Tình yêu bi ai được khai thác triệt để và rõ ràng sẽ lấy được nước mắt bạn đọc. Khổ trong tình yêu và tội ác được nảy sinh không phải là một mối kết nối quá mới nhưng với việc khai thác sâu sắc đã khiến cho câu chuyện thật sự thành công và đầy sâu sắc. Nếu những định kiến của xã hội và kiêu hãnh của con người có thể áp chế tình yêu thì sao nó không thể áp chế được luôn cả những bi kịch đã nảy sinh từ những uất ức đó?! Nhìn chung, “Vụ án Lerouge” đã mang tới một câu chuyện đầy ai oán cho bạn đọc với sự lồng ghép tuyệt vời giữa miêu tả tâm lý nhân vật với những đoạn phá án khá kịch tính. Sự thật và những mâu thuẫn tâm lý đã đẩy câu chuyện đến mức cao trào nhất; đôi lúc, tôi còn cảm thấy bất ngờ như chính cảm xúc của nhân vật trong truyện vì không ai có thể ngờ mọi chuyện lại diễn biến theo chiều hướng ấy. Tham, sân, si của lòng người đều hiện rõ qua cách diễn đạt của tác giả Émile Gaboriau và nếu phải suy ngẫm về tình đời, tình người thì mọi chuyện đều diễn ra cay đắng quá, khó mà chấp nhận được. (Trần Nguyễn Phước Thông, FB Trần Thông, 25-01-2020) Trần Thông *** Émile Gaboriau Chắc các bạn chưa quên “trai đẹp” trong Hồ sơ số 113, “gái đẹp” trong Tội ác ở Orcival. Nay các bạn sẽ biết thêm “ông già” Tabaret rất thú vị. Tại ngôi làng La Jonchere thanh bình, bà quả phụ Lerouge bị sát hại tại nhà. Ở một ngôi làng từ trước tới giờ luôn thanh bình, tại sao bà quả phụ Lerouge lại bị sát hại? Nguyên nhân khiến bà bị sát hại là gì? Tất cả các câu hỏi đó được giải đáp nhờ sự trợ giúp của vị thám tử nghiệp dư, lão Tabaret. Người được gọi là thầy của anh chàng thám tử gà trống Lecoq. Dưới con mắt của thanh tra Gevol, lão Tabaret là một ông già tự phụ như một con công, dễ nổi khùng, dễ mắc lừa, lão làm trinh thám chỉ để chứng tỏ tài năng của mình, giống như một nghệ sĩ không hơn không kém. Mặc dù đôi lúc có sự nhiệt tình thái quá nhưng không thể phủ nhận tài năng của lão Tabaret. Sự cẩn trọng, tỉ mỉ, khả năng quan sát, suy luận sắc bén. (Sự quan sát tỉ mỉ có bóng dáng của thám tử Sherlock Holmes quen thuộc). Dĩ nhiên có sai lầm thì mới là con người, đâu phải ai cũng thông minh hoàn hảo. Lecoq “trai đẹp” chỉ là cameo trong tập này thôi. Sân khấu chính là lão Tabaret. Không biết có phải do đọc kha khá trinh thám rồi nên “khôn” hơn hay do vụ án mà Boog đoán được cả hung thủ lẫn nguyên nhân gây ra tội ác nên không bất ngờ lắm về hung thủ. Tuy nhiên, để lại cảm xúc ở vụ án này không phải ở khía cạnh trinh thám mà là khía cạnh tình cảm. Boog khá là xúc động, cảm thông cho mối tình bi ai của nhân vật. Tại sao yêu nhau không đến được với nhau, để giờ đây hai ta phải khổ đau. Những rào cản định kiến, sự ngăn cách của xã hội, sai lầm bồng bột của tuổi trẻ đã để lại một bi kịch mà lớp đất thời gian không thể chôn vùi. Đánh giá cá nhân: 7,5/10 Binh Boog *** Thứ Năm ngày 6 tháng Ba năm 1862, hai ngày sau ngày Thứ Ba Ăn Mặn*, năm người đàn bà ở làng La Jonchère đã đến trình diện tại Sở Cảnh sát xã Bougival. Ngày được ăn thịt sau Mùa chay (ND). Họ báo với cảnh sát rằng từ hai ngày nay không ai nhìn thấy hàng xóm của họ là bà quả phụ Lerouge, người sống một mình trong một ngôi nhà nhỏ biệt lập. Sự im ắng này khiến họ lo lắng. Sợ là có án mạng hay ít nhất là một tai nạn gì đó, họ yêu cầu “luật pháp” phá cửa vào nhà xem có chuyện gì để được yên tâm. Bougival là một xứ sở đáng yêu, cứ Chủ nhật là trai gái lại chèo xuồng về đây; tội phạm cũng nhiều nhưng hiếm có án mạng. Vì thế, ban đầu viên thanh tra khước từ lời cầu xin của mấy người đàn bà, nhưng họ cứ nài nỉ mãi và cuối cùng nhà chức trách đã phải nhượng bộ. Ông cho gọi viên cai đội hiến binh đến cùng với hai nhân viên, sai người tìm một anh thợ khóa, rồi cả tốp cùng đi theo hàng xóm của bà quả phụ Lerouge. Làng La Jonchère là một ngôi làng nhỏ nằm trên triền dốc đổ xuống sông Seine, giữa xã Malmaison và xã Bougival. Nó cách con đường lớn hai mươi phút, con đường lớn đó chạy từ Paris đi Saint-Germain qua Rueil và Port-Marly. Dẫn đến làng là một con đường dốc đứng mà ngành cầu đường chưa hề biết đến. Thế là nhóm người, dẫn đầu là tốp hiến binh, đi theo con đường lớn đắp thành một con đê ngăn cách sông Seine với khu vực này, rồi chẳng mấy chốc họ quẹo phải rẽ vào một con đường ngang sâu hút kẹp giữa hai dãy tường gạch. Đi khoảng một trăm bước, họ dừng lại trước một căn nhà đơn sơ nhưng có vẻ ngoài lịch sự. Với bề sâu kéo dài hơn bề rộng, ngôi nhà có một tầng trệt hai phòng và một tầng áp mái ở trên. Quanh nhà trải rộng một khu vườn gần như không được chăm sóc. Thông ra vườn là một chiếc cổng gỗ nhẹ được buộc hờ bằng một sợi dây thép. - Ở đây này. - Mấy người đàn bà lên tiếng. Viên thanh tra cảnh sát dừng bước. Trong lúc đi đường, nhóm người của ông đã nhanh chóng được những kẻ hiếu kỳ và những kẻ vô công rồi nghề ở quanh đây gia nhập. Giờ đây ông đang bị khoảng bốn mươi kẻ tò mò vây quanh. - Không ai được vào đây! - Ông nói. Và, để cho mệnh lệnh của mình chắc chắn được tuân thủ, ông cắt cử hai anh hiến binh đứng gác trước lối vào, rồi ông bước tới, theo sau là viên cai đội và anh thợ khóa. Ông đích thân chĩa đầu cây gậy cạp chì gõ mạnh nhiều lần, đầu tiên là vào cánh cửa, sau đó là tất cả các ô cửa con. Sau mỗi cú gõ ông lại áp tai vào vách gỗ nghe ngóng. Không thấy động tĩnh gì, ông quay sang anh thợ khóa, ra lệnh: - Mở khóa đi. Anh thợ khóa mở túi dụng cụ và chuẩn bị đồ nghề. Anh đang lùa một cái que móc vào ổ khóa thì trong đám người hiếu kỳ có tiếng reo lên: - Chìa khóa! Chìa khóa đây này! Quả thực, một cậu bé chừng mười hai tuổi, trong lúc đang chơi với tụi bạn đã nhìn thấy một chiếc chìa khóa to nằm trong cái rãnh bên đường; cậu bé nhặt lên và đắc thắng đem tới. - Đưa đây, cậu bé, - viên cai đội nói - đưa chúng ta xem nào. Chìa khóa được đưa vào mở thử; đúng là chìa của ngôi nhà. Ông thanh tra và anh thợ khóa nhìn nhau đầy vẻ lo lắng sợ sệt. - Không hay rồi! - Viên cai đội lẩm nhẩm. Rồi họ vào trong nhà, trong khi đám đông, bị hiến binh vất vả giữ lại, vừa giậm chân sốt ruột, vừa cố ngó qua tường để nhìn vào trong xem chuyện gì đã xảy ra. Thật đáng tiếc là những kẻ phỏng đoán có án mạng đã không nhầm, ông thanh tra cảnh sát tin chắc như vậy ngay từ ngưỡng cửa. Trong căn phòng đầu tiên, tất cả đã tỏ rõ sự có mặt của những kẻ bất lương. Đồ đạc trong nhà, một chiếc tủ ngăn kéo và hai chiếc hòm lớn, đã bị phá đáy. Trong căn phòng thứ hai, là phòng được dùng làm buồng ngủ, quang cảnh còn lộn xộn hơn. Có thể hình dung rằng một bàn tay giận dữ đã vô cớ làm đảo lộn mọi thứ. Cuối cùng, bên cạnh lò sưởi, xác bà quả phụ Lerouge nằm dài với khuôn mặt vùi trong tro. Nửa khuôn mặt và tóc bị cháy thui, và thật kỳ diệu là lửa không bén đến quần áo. - Bọn vô lại, - viên cai đội thì thầm - chẳng lẽ chúng không thể ăn cắp mà không phải giết chết người đàn bà tội nghiệp này ư! - Nhưng bà ta bị đâm ở chỗ nào? - Ông thanh tra hỏi - Tôi không thấy máu. - Đây này, giữa hai vai đó, thưa ngài thanh tra. - Viên cai đội nói tiếp. - Hai cú đâm mạnh! Tôi xin lấy quân hàm của tôi để đánh cược là thậm chí bà ta đã không kịp kêu lên một tiếng “Ối!”. Ông cúi người, đặt tay lên thi thể. - Ồ, - ông nói tiếp - xác bà ấy đã lạnh thật rồi. Mặc dù có vẻ chưa cứng lắm, ít nhất bà ấy cũng đã tắt thở được ba mươi sáu giờ đồng hồ. Ông thanh tra ngồi vào một góc bàn ghi vội tờ biên bản. - Thôi không nói dông dài nữa, - ông bảo viên cai đội - giờ là lúc phải tìm ra thủ phạm. Hãy đi báo cho ngài Thẩm phán hòa giải và ngài xã trưởng đi. Còn nữa, hãy chạy đi Paris đưa bức thư này cho Viện Công tố. Trong hai giờ đồng hồ một Thẩm phán điều tra sẽ có mặt tại đây. Trong khi chờ đợi, tôi sẽ tiến hành một cuộc khám xét sơ bộ. - Chính tôi phải đưa bức thư này ư? - Viên cai đội hỏi. - Không, hãy cử một nhân viên của ông đi. Ông sẽ ở đây giúp tôi ngăn đám người tò mò kia và kiếm cho tôi các nhân chứng. Cứ để yên hiện trường đó, tôi sẽ sang căn phòng đầu tiên kia. Bà quả phụ Lerouge này là ai, quê ở đâu, bà làm nghề gì, lấy gì để sống, và sống như thế nào? Bà có thói quen gì, những mối giao du của bà thế nào? Kẻ nào có hiềm thù với bà, bà có hà tiện không, liệu bà có tiền không? Đó là những điều quan trọng mà ông thanh tra muốn biết. Nhưng cho dù có nhiều nhân chứng thì họ cũng chẳng biết gì hơn. Khi lần lượt được hỏi, những người hàng xóm chỉ đưa ra những lời khai vô nghĩa, thiếu mạch lạc và không đầy đủ. Chỉ có một bà làm vườn và một bà bán sữa cho bà quả phụ Lerouge là có vài thông tin chính xác, mặc dù chẳng mấy giá trị. Cuối cùng, qua ba giờ hỏi cung mệt mỏi, sau khi thu thập những lời chứng mâu thuẫn nhất và những chuyện ngồi lê đôi mách khôi hài nhất, ông thanh tra cảnh sát hình dung được sự việc gần đúng như sau: Cách đây hai năm, bắt đầu từ năm 1860, bà Lerouge đến xã Bougival với một chiếc xe dọn nhà lớn chở đầy đồ đạc, chăn mền và quần áo. Bà vào một quán trọ và bày tỏ ý định muốn ở lại trong vùng, rồi bà lập tức đi tìm thuê một căn nhà. Khi tìm thấy căn nhà vừa ý này, bà thuê ngay không mặc cả, với điều kiện trả trước 320 franc nửa năm, nhưng bà không đồng ý ký hợp đồng thuê nhà. Thỏa thuận thuê nhà xong, bà dọn đồ vào ở ngay hôm đó và bỏ ra khoảng 100 franc cho việc sửa chữa. Đó là một người phụ nữ tầm năm mươi tư, năm mươi lăm tuổi, trông rất trẻ, đẫy đà và rất khỏe mạnh. Chẳng ai biết tại sao bà lại chọn cái nơi hoàn toàn không quen biết một ai này để về ở. Người ta đoán bà là người Normandie vì thường thấy bà đội chiếc mũ trùm bằng vải bông vào buổi sáng. Thứ mũ dùng cho ban đêm này vẫn khiến bà rất duyên dáng vào ban ngày. Bà thường mặc những chiếc váy dài rất đẹp, cuốn nhiều dải ruy băng quanh mũ và đeo đầy đồ trang sức giống như một bức tượng thờ. Có thể bà là người miền biển, vì trong lúc chuyện trò bà rất hay nhắc đến biển và tàu thủy. Bà không thích nói đến chồng mình, là người, theo bà, đã mất trong một vụ đắm tàu. Chưa bao giờ bà hé mở một chi tiết nhỏ nhất nào về chuyện này. Chỉ có một lần bà nói với bà bán sữa trước sự có mặt của ba người khác, “Chưa có một người đàn bà nào bất hạnh như tôi trong chuyện vợ chồng.” Bà quả phụ Lerouge được coi là giàu có, hoặc ít nhất là rất sung túc. Bà không phải là người hà tiện. Bà thích sống thoải mái, tiêu nhiều cho chuyện ăn uống và thường mua rượu vang từng nửa thùng. Niềm vui của bà là được thiết đãi bạn quen và những buổi dạ tiệc của bà thật thịnh soạn. Nếu người ta khen bà giàu có thì bà cũng chẳng phản đối nhiều. Người ta thường nghe bà nói, “Tôi không có tiền lợi tức, nhưng tôi có tất cả những gì cần thiết. Nếu tôi muốn hơn nữa thì tôi sẽ có.” Ngoài ra, chưa bao giờ người ta nghe thấy có lời bóng gió nào, dù là nhỏ nhất, về quá khứ, về quê hương hay về gia đình bà. Bà rất hay nói chuyện, nhưng khi nói chuyện, bà chỉ nói đến những điều xấu xa của đồng loại. Dù sao, chắc là bà đã trải đời và biết nhiều chuyện. Với tính rất hay ngờ vực, bà cố thủ trong nhà mình như trong một pháo đài. Buổi tối không bao giờ bà ra khỏi nhà. Người ta biết rằng bà thường uống rượu say vào bữa tối và sau đó đi nằm luôn. Rất hiếm khi người ta nhìn thấy có người lạ đến nhà bà. Khoảng bốn, năm lần có một quý bà và một cậu thanh niên trẻ, và một lần khác có hai quý ông, một ông già đeo đầy huân huy chương và một chàng trai trẻ; hai người này đi trên một chiếc xe lộng lẫy. Nói tóm lại, người ta không tôn trọng bà mấy. Bà thường có những lời lẽ chướng tai và lập dị phát ra từ miệng một người ở tuổi đó. Người ta đã nghe thấy bà đưa ra những lời khuyên khó chịu nhất dành cho một cô gái. Tuy nhiên có một ông bán thịt lợn ở Bougival, một người buôn bán vụng về, cũng tán tỉnh bà. Bà đã gạt đi và nói bà lấy chồng một lần là đủ rồi. Mấy lần khác, người ta nhìn thấy có những người đàn ông đến nhà bà. Đầu tiên là một chàng trai trẻ trông có vẻ là một nhân viên hỏa xa, rồi sau đó có một ông cao lớn tóc nâu khá già, mặc một chiếc áo blouse và trông có vẻ rất dữ tợn. Người ta đoán rằng cả hai đều là nhân tình của bà. Vừa hỏi cung, ông thanh tra vừa ghi tóm tắt lời khai của nhân chứng, và ông đang viết đến đây thì ông Thẩm phán điều tra xuất hiện. Ông này dẫn theo ông Đội trưởng an ninh cùng một nhân viên. Ông Thẩm phán điều tra Daburon, người mà sau này bạn bè đã từng vô cùng ngạc nhiên thấy ông xin từ chức để về quê vui thú ruộng vườn vào đúng lúc vận may đang đến với ông, năm nay ba mươi tám tuổi, có thân hình đẹp, trông dễ mến mặc dù có vẻ lạnh nhạt, có một khuôn mặt hiền hậu và hơi buồn, vẻ buồn rầu này là di chứng của một căn bệnh hiểm nghèo mà cách đây hai năm đã suýt khiến ông mất mạng. Làm Thẩm phán điều tra từ năm 1859, ông nhanh chóng trở nên nổi tiếng. Là người cần cù, kiên nhẫn, có trực giác tinh tế cùng óc sáng suốt hiếm có, ông biết cách tháo gỡ những vụ án rắc rối nhất, và, giữa trăm nghìn mối tơ vò, ông biết cách nắm được sợi dây dẫn lối. Được trang bị một bộ óc lập luận logic chặt chẽ, chỉ ông mới có thể giải quyết được những vấn đề hóc búa mà gã X nào đó là thủ phạm. Là người biết khôn khéo suy luận từ cái đã biết để tìm ra cái chưa biết, ông rất giỏi trong việc tập hợp các sự kiện và tập trung những tình tiết phù phiếm nhất và có vẻ ngoài vô can nhất thành một cụm chứng cứ không thể chối cãi. Tuy nhiên, mặc dù có những phẩm chất đáng quý như thế, nhưng ông lại tỏ ra không phải sinh ra để làm những chức phận khủng khiếp này. Ông rùng mình thực hiện những chức phận đó với sự ngờ vực trước sự lôi kéo của những năng lực tài hoa của mình. Ông không có sự táo bạo để thực hiện những cú bất ngờ mạo hiểm có khả năng làm bộc lộ sự thật. Mời các bạn mượn đọc sách Vụ Án Lerouge của tác giả Émile Gaboriau & Nguyễn Văn Dân (dịch).
Người Gác Đêm Tập 3
Tóm tắt phần trước Một vụ án vượt ngục ly kỳ, 22 đào phạm trốn thoát ra ngoài trở thành cơn ác mộng cho người dân thành phố Nam An. Dưới vô vàn áp lực nặng nề, tổ chức thần bí Người gác đêm đã bị lãng quên bao lâu được khởi động lại. Một Tiêu Lãng nhanh nhạy bướng bỉnh, một Lăng Mạc lạnh lùng ít nói, cùng với các đồng đội khác trở thành lực lượng chủ lực trẻ trung của Người gác đêm thế hệ mới. Đằng sau vụ án vượt ngục, họ phát hiện ra một gã trẻ tuổi chuyên truy sát các đào phạm - “Kị sĩ u linh” . Hắn không chỉ có khả năng chính là người lập kế hoạch của vụ vượt ngục, còn có khả năng nắm được những thông tin cơ mật của nội bộ Người gác đêm, từ đó mới có thể luôn ra tay trước một bước mỗi lần Người gác đêm hành động. Sau nhiều khó khăn, Tiêu Lãng và Lăng Mạc cuối cùng đã hợp sức cùng bắt sống được tên “Kị sĩ u linh” xuất quỷ nhập thần, nhưng rồi ngay trong bệnh viện được canh phòng nghiêm ngặt, “Kị sĩ u linh” đã bị ám sát, chỉ lưu lại một mảnh giấy thần bí in mấy chữ “Người gác đêm”. Ai là hung thủ sát hại “Kị sĩ u linh” ? Ai là “nội gián” tiết lộ thông tin của nội bộ Người gác đêm? Trong quá trình truy bắt hung thủ, tổ chức Người gác đêm lần lượt phải đối mặt với những thách thức bởi từng vụ án đột ngột xảy ra: Đoạn đường cao tốc vào một đêm mưa bão, trước cửa kính ô tô đột nhiên xuất hiện một bóng ma trắng toát; ở một thị trấn nhỏ yên bình, mấy bé gái sơ sinh còn đang quấn tã bị đâm vào người những cây kim bạc một cách tàn nhẫn; Trong một nhà nghỉ nhỏ nằm cạnh bệnh viện, chỉ trong một đêm xuất hiện năm “con nhộng” đẫm máu đáng sợ… Các vụ án ly kỳ xảy ra ở những nơi khác nhau, song đều có liên quan đến một thế lực đen tối tiềm tàng nào đó. Mỗi hung thủ đều có một mặt sở trường “thiên phú khác người”, trong quá trình trưởng thành, bọn chúng đều phải chịu sự tác động của một nhân tố nào đó, kích thích gây ra biến đổi năng lực. Những năng lực này khiến cho đám người biến đổi này luôn gây án một cách thành thạo lão luyện, khó mà bắt giữ được. Nhưng thế hệ trẻ tuổi của Người gác đêm bất luận bằng mọi giá, từ trong những manh mối bất thường, tìm được cách phá án đối phó với những kẻ biến đổi, bọn họ còn lần theo vụ án “Kị sĩ u linh” bị giết hại, kết nối với một loạt nghi án trẻ sơ sinh mất tích, vén lên một góc tảng băng bí mật về một tổ chức to lớn đằng sau “Kị sĩ u linh” . Thì ra, trong đám người biến đổi có rất nhiều người đều là những đứa trẻ sơ sinh bị mất tích năm nào, còn đối tượng ra tay của đám người này là những người có mối liên quan mật thiết đến một vụ án cũ từ nhiều năm trước. Năm đó, thành viên của tổ chức Người gác đêm là Đổng Liên Hoa phụ trách điều tra phá án một vụ án mạng giết chồng, hai mẹ con nhiều năm phải sống trong bóng đêm u ám của bạo lực gia đình đã bỏ trốn ngay trong đêm, nhưng cuối cùng vẫn bị Lão Đổng tìm ra. Người mẹ bị xét xử tử hình, chỉ còn lại một mình người con trai Đỗ Xá. Lão Đổng thương cho cảnh ngộ của Đỗ Xá, sau khi đưa đứa trẻ vào viện phúc lợi còn thường xuyên đến thăm hỏi, song không ngờ rằng, Đỗ Xá lại này sinh âm mưu giết hại Lão Đổng. Cho đến tận khi vớt được phần thi thể rời rạc của Lão Đổng trên sông, tội ác của Đỗ Xá mới bị phát hiện. Nhưng Đỗ Xá đã thoát khỏi án tử nhờ một tờ giấy chứng minh mắc bệnh tâm thần, cho đến giờ vẫn đang bị giam giữ trong nhà tù Kim Ninh. Nạn nhân bị những kẻ biến đổi giết chết, đều là những người năm đó từng giúp đỡ Đỗ Xá. Đổng Lạc con trai Lão Đổng cũng đã chết rồi, vậy thì, những kẻ biến đối này rốt cuộc có mối liên hệ gì với Lão Đổng? Sau những tranh đấu gian khổ, cuối cùng bọn họ đã bắt được Sơn Tiêu - hung thủ của vụ án “Kị sĩ u linh” , những tưởng rằng mọi nghi vấn sẽ theo đó mà được lý giải, không ngờ, vào đúng đêm hôm thầy giáo hướng dẫn Đường Tuấn của tổ chức Người gác đêm thẩm vấn xong Sơn Tiêu, ông đã chôn thân bên dưới chiếc máy xúc ở khu công trường hoang vắng trống trải… Cái chết của Đường Tuấn có vẻ như là một sự cố ngoài ý muốn. Nhưng không một ai biết được, tại sao ông lại xuất hiện ở đó vào giữa đêm. Duy nhất có chiếc vòng đeo tay trên cổ tay Đường Tuấn là tiết lộ ra một thông tin vi diệu: Số bước đi thể hiện trên vòng đeo tay và số bước đi được ghi lại trong điện thoại của Đường Tuấn có sự cách biệt vô cùng lớn… *** Lời tựa Chống lại bóng tối, bảo vệ ánh sáng. Cuốn thứ ba “Người gác đêm 3” trong series Người gác đêm đã xong rồi. Điều đáng mừng là, “Người gác đêm 2” vừa ra mắt, lập tức vươn lên dẫn đầu trên bảng tiêu thụ, điều đó khiến tôi vô cùng cảm động. Chính là vô vàn độc giả, đã cổ vũ tôi, thúc giục tôi, kịp thời chỉ ra những thiếu sót của tôi, đưa ra những ý kiến góp ý và kiến nghị, mới khiến cho tôi tiếp tục đi được đến ngày hôm nay. Không chỉ vậy, tôi còn tự nhận thấy rằng mình đang tiến bộ lên từng ngày. Còn nhớ khi đó vào lúc xuất bản tập đầu “Người gác đêm 1“, không ít bạn bè cũ của tôi vẫn còn chưa thích nghi được. Là do sự thay đổi trong kết cấu của toàn bộ câu truyện cũng như trong phong cách sáng tác, khiến cho bộ truyện Người gác đêm và bộ truyện Pháp y Tần Minh có phong cách khác biệt hẳn với nhau. Bởi vậy, tôi đã nhận được rất nhiều phê bình và kiến nghị. Quả thực, bản thân tôi cũng ý thức được rằng, nhược điểm trong viết lách của mình đã hiển hiện ra đó. Nói thật lòng, vào lúc đó tôi đã tính chuyện rút lui. Nhưng tôi biết rằng, nếu như thực sự không lấp đầy hố trống nữa, vậy thì đây mới là một biểu hiện không có trách nhiệm, vậy thì không phải là Lão Tần nữa rồi. Để series Người gác đêm ngày càng hay hơn, cùng lúc với quá trình sáng tác tập 1 “Kẻ trời phạt” trong series Pháp y Tần Minh thứ hai, tôi cũng đã bắt đầu tiến hành chỉnh sửa toàn bộ thế giới quan cũng như hệ thống câu chuyện của “Người gác đêm 3”. Một điều vô cùng vinh hạnh nữa là, luôn có một đội ngũ ưu tú ủng hộ giúp đỡ tôi. Đó chính là đội ngũ lập kế hoạch của nhà xuất bản Nguyên Khí, còn cả các bạn học sinh của đội ngũ biên tập trang wechat Pháp y Tần Minh. Họ đã cung cấp cho tôi rất nhiều hướng tư duy hợp lý, đồng thời phát huy vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa tuyến truyện chính cho các tác phẩm sau này của series Người gác đêm. Trong vòng nửa năm, đã sửa chữa tất cả 13 lần bản thảo, tuyến truyện chính của “Người gác đêm 2” mới được định hình xong. Trong khoảng thời gian này, đau khổ có, tiều tụy có, bàng hoàng có, nhưng rồi bản thân tôi đều kiên trì vượt qua, cuối cùng thực sự đã thu được thành quả to lớn. Sau khi “Người gác đêm 2”xuất bản, được sự ủng hộ của bạn bè, lượng tiêu thụ tăng lên một cách ổn định. Điều quan trọng hơn cả là, đánh giá của bạn đọc cũng tăng lên một cách rõ rệt. Đây là niềm an ủi lớn nhất đối với tôi. Cho nên, tôi đã cầm bút viết ra phần lời dẫn này với tâm trạng vô cùng hứng khởi. Đương nhiên, trước đó, tôi vẫn dành thời gian mấy tháng liền để nghiền ngẫm cốt truyện chính của “Người gác đêm 3”. Sửa bản thảo rất nhiều lần, hao tổn rất nhiều trí lực. Tôi tin tưởng rằng, bản thảo đã thành hình lần này của “Người gác đêm 3“, có thể khiến cho các bạn được đọc những câu chuyện càng thú vị hơn. Ngoài việc chuẩn bị trước một cách đầy đủ, còn có một việc khiến cho tôi tràn đầy niềm tin và mong đợi rằng sẽ viết tốt cuốn truyện này. Có một hôm, vào lúc tôi và bố tôi cùng uống rượu trò chuyện với nhau, vô tình nhắc đến trạng thái cảnh sát và ý thức pháp trị thời bố tôi còn trẻ, đã gợi mở cho tôi rất nhiều. Bố tôi kiên nhẫn giải thích cho tôi tiến trình phát triển từ “quy kết có tội” cho đến “suy đoán vô tội”, thậm chí còn đưa ra vài vụ án ví dụ sinh động. Sau đó ông có đưa ra một quan điểm: Chúng ta bây giờ đều biết rằng “suy đoán vô tội” là chân lý, nhưng mà, trong lòng mọi người, có đều thực sự đồng tình với “suy đoán vô tội” hay không? Cho dù “suy đoán vô tội” thật sự đi vào lòng người như vậy, vậy thì, yếu tố “đoán tội” nói đến ở đây, nên được định nghĩa như thế nào? Chứng cứ như thế nào được coi là “suy đoán”, chứng cứ như thế nào được coi là “xác thực”? Có ranh giới rõ rệt để phân định hay không? Một vấn đề nghe có vẻ rất đơn giản, mà nói ra như vậy, có phải là đáng để xem xét hay không? Tôi tin rằng, vào lúc tôi bắt đầu cầm bút viết ra cuốn sách, cũng đồng thời luôn suy nghĩ về vấn đề này, đem những câu hỏi thấm nhuần vào trong từng câu chữ. Nếu như cuốn sách này có thể khiến cho độc giả đi tìm hiểu về những vấn đề này, vậy thì mục đích của tôi coi như là đạt được rồi. Đương nhiên, nếu như mọi người có thể thông qua việc đọc cuốn sách này mà thấy được những vinh quang và trách nhiệm của những người cảnh sát nhân dân “gánh vác trọng trách đi về phía trước” kia nữa, thì tôi lại càng thêm hài lòng hơn. Đồng thời, tôi cũng chuẩn bị được nhiều những tình tiết câu chuyện phá án “có vẻ huyền ảo, thực ra chân thực” đan xen chặt chẽ trong tuyến truyện chính, tin rằng những bạn độc giả yêu thích việc suy luận phá án nhất định có thể thông qua việc đọc truyện mà thỏa mãn cơn nghiện của mình. Cuối cùng, có một tin không biết là tin tốt hay tin xấu để báo với mọi người. Vào lúc sáng tác đề cương “Người gác đêm 3”, tôi phát hiện ra những điều tôi muốn biểu đạt càng ngày càng nhiều, vốn dự định cuốn “đại kết cục” này đến giờ về cơ bản là không thể dung nạp được nhiều câu chuyện và tư tưởng như vậy, cho nên, tôi chỉ còn cách là hoạch định bộ truyện Người gác đêmtừ 3 cuốn thành 4 cuốn. Cũng có nghĩa là, xem xong cuốn sách này, câu chuyện vẫn chưa đi đến hồi kết. Các bạn sẽ thấy không thoải mái, hay là mong đợi đây? Bất luận thế nào, tôi đã không thể đừng được nỗi khát khao cầm bút bắt đầu viết ra câu truyện rồi, lời dẫn dài dòng văn tự đến đây là hết. Cảm ơn các bạn vẫn luôn ủng hộ tôi như ngày nào, cảm ơn các bạn đã luôn động viên cổ vũ cho những người cảnh sát nhân dân “chống lại bóng tối, bảo vệ ánh sáng” của chúng ta! Câu chuyện, xin được bắt đầu! Tần Minh Ngày 4 tháng 8 năm 2018 *** Con người có ba thứ không nên nhớ đến, Kiếp nạn, cái chết và tình yêu; Anh muốn nhớ đến thì anh sẽ khổ đau tận cùng. Vladimir Nabokov 1 Mưa to như trút. Cô gái trẻ không che ô. Toàn thân đã ướt sũng, cô tựa người vào bức tường gạch màu xanh xám, không còn cảm nhận được sự ấm áp của bức tường. Bức tường gạch màu xanh xám còn rất mới, dấu vết các đường gân dọc do máy móc ép xuống hằn in bên trên còn chưa bị bào mòn đi theo năm tháng, nhưng rồi, vào thời điểm đúng dịp mùa mưa trời âm u suốt như thế này, rêu xanh cũng đã mọc đầy ở khe hở giữa những viên gạch. Cô gái không biết đang nghĩ ngợi điều gì, cả phần lưng phía sau dựa sát vào bức tường gạch, đầu ngẩng lên, để mặc những hạt mưa to như hạt đậu tùy ý rơi trên khuôn mặt non nớt mà thanh tú của cô. Trong làn mưa mịt mù, dường như cô có thể nhìn thấy phía trên cùng của bức tường cao, chỗ cách phía trên đỉnh đầu cô hơn 3 mét, là tấm lưới bằng dây thép gai đang nhe nanh múa vuốt. Đôi tay cô bám chặt vào bức tường, mười ngón tay đang cào vào các khe tường, cứ ra sức cào, tựa như muốn cào bằng hết bức tường gạch màu xanh vô cùng kiên cố này. Đám rêu xanh bị móng tay tác động vào, dồn hết sang một bên, còn thừa cơ ra sức dính chặt vào trong các kẽ móng tay cô gái. “Này, làm gì đó? Hãy tránh xa nơi này!” Một giọng thanh niên trẻ trung vang lên cắt đứt tiếng mưa rơi đều đều, vọng đến tai cô gái trẻ, toàn thân cô run lên nhè nhẹ. “Làm gì đó? Tránh xa nơi này!” Giọng người thanh niên lặp lại một lần nữa, nhưng lần này khẩu khí thêm nặng hơn. Cô gái theo hướng giọng nói nghiêng mặt nhìn sang phía trên bên phải của mình, trong làn mưa mịt mù, dường như cô nhìn thấy trên đỉnh bức tường có một căn chòi gác, bên trong chòi gác có một bóng người mơ hồ đang mặc áo mưa, tay ôm súng trường. “Nghe thấy không? Tránh xa nơi này!” Âm thanh một lần nữa to hơn, khẩu súng trong tay của bóng người đó cũng giơ lên cao. Hai bên nhìn nhau chăm chú hồi lâu, rồi cô gái quay đầu bỏ chạy. Bóng người bên trong chòi gác một lần nữa lại đứng thẳng người lên, đeo súng vòng ra sau lưng, cầm chiếc máy bộ đàm đặt trên bàn lên. “Bảo vệ cổng chính chú ý, một người phụ nữ không rõ danh tính đang di chuyển về phía các anh.” Mặt trước của khối kiến trúc là một quảng trường rộng lớn, ngay đến một cái cây cũng không có, đất cát trên mặt đất bị nước mưa rơi xuống bắn ra tung tóe. Cô gái đứng giữa quảng trường, hai bàn tay nắm chặt, nhìn thẳng vào khối kiến trúc to lớn trước mặt. Cô đứng im bất động, mặc cho những giọt nước mưa giá lạnh xuôi theo đuôi tóc xuống cổ rồi chảy vào phía bên trong người, toàn thân cô đã bị ướt hết. Cô nhìn trân trân vào bốn chữ màu đen lớn phía trên đỉnh tòa kiến trúc, ánh mắt đầy vẻ giận dữ, cũng có thể là bi thương nữa. Cô đã hòa lẫn vào trong làn nước mưa ngập trời, nếu như không phải là đôi mắt đang đỏ hoe, cơ bản là không phát hiện ra cô đang khóc mãi không thôi. Rầm. Sau khi một tiếng động lớn vang lên từ chiếc cổng sắt, hai cánh cổng sắt lớn trước mắt từ từ di chuyển chậm chạp, cho đến khi xuất hiện một lối đi hẹp đủ cho hai người có thể đi qua. Từ trong lối đi đó, hai chiếc ô lớn màu đen xuất hiện, bên dưới chiếc ô đen là hai người mặc trang phục cảnh sát màu xanh lá. Hai người bước ra khỏi chiếc cổng sắt, chiếc cổng sắt sau lưng ngay lập tức đóng chặt lại. Hai người tiến đến chỗ cô gái đang đứng trên quảng trường, mưa lớn dội vào bên trên chiếc ô, phát ra tiếng “rào rào rào” ầm ĩ. Cô gái không hề di chuyển, vẫn cứ chăm chú nhìn không chớp mắt vào bốn chữ đen lớn phía xa. Lúc tiến đến chỉ còn cách cô gái khoảng 2 mét, người cảnh sát lớn tuổi dừng lại, đồng thời đưa tay ra ngăn người cảnh sát trẻ tuổi vẫn đang định tiến về phía trước lại. Người cảnh sát trẻ hiếu kỳ nhìn sang người cảnh sát lớn tuổi. “Đảm bảo cự ly an toàn.” Người cảnh sát lớn tuổi nói nhỏ nhưng bị tiếng mưa át đi nên nghe không rõ ràng. Yết hầu của người cảnh sát trẻ tuổi chạy lên chạy xuống mấy cái, muốn nói gì đó, lại không nói ra lời. Cậu giơ chiếc ô đen cầm trong tay ra, dường như muốn che chắn cho cô gái khỏi cơn mưa to như trút nước, song do khoảng cách quá xa, không thể nào vươn tới được. “Cô gái, mưa lớn như thế này, bị ướt là sinh bệnh đó.” Người cảnh sát lớn tuổi nói bằng giọng thăm dò. Cô gái trẻ dường như không nhìn thấy gì, cũng không nghe thấy gì hết, vẫn cứ đứng trong làn mưa lớn chăm chú nhìn về phía xa. “Cô gái? Cô gái?” Người cảnh sát lớn tuổi làm điệu bộ giơ tay trước mắt cô gái, dường như muốn thu hút sự chú ý của cô, “Cô đến đây làm gì thế? Có phải là đi lạc đường không? Chỗ này ngoài nhà tù ra, không có cơ quan đơn vị nào cả. Đi tiếp về phía sau là nông thôn rồi.” Cô gái vẫn cứ chẳng nói chẳng rằng. Người cảnh sát trẻ tuổi thực sự không đành lòng đứng nhìn tiếp, cậu tiến lên phía trước mấy bước, giương chiếc ô che lên trên đầu cô gái, còn bản thân mình thì ngay lập tức bị mưa lớn làm ướt hết. Có thể do cơn mưa lớn trên đỉnh đầu đột nhiên ngừng hẳn, khiến cô gái có vẻ đã định thần trở lại. Cô chậm rãi nhìn thẳng vào người cảnh sát trẻ tuổi chỉ đứng cách mình một bước chân, dường như cậu ta trạc tầm tuổi với mình, 17, 18 tuổi, chiếc cầu vai* học viên một sao gắn trên vai áo. So với người cha ruột của mình, trên cầu vai của cậu ta còn ít hơn bốn vạch. Chàng trai mặt mũi khôi ngô tuấn tú, sáng sủa sạch sẽ, trong ánh mắt lúc này không giấu được vẻ hiếu kỳ và đồng cảm. “Có gì cần chúng tôi giúp đỡ không? Tôi họ Tần.” Chàng trai nói. Cô gái nhìn chăm chú vào đôi mắt chàng trai, không nói gì cả. Mặc dù mưa lớn đã bị chiếc ô che mưa chặn lại, song từ khóe mắt cô gái những giọt nước vẫn không ngừng rơi xuống. Cho dù bị ngăn cách bởi làn nước mưa chảy xuống từ trên vành mũ của mình, chàng trai cũng vẫn nhìn thấy rõ ràng. “Trong kia chúng tôi có điện thoại, có thể giúp cô liên hệ với người nhà của mình.” Chàng trai nói thêm. Cô gái vẫn nhìn chàng trai không chớp mắt, khiến cậu có chút lúng túng không biết phải làm sao. “Cô gái, chắc cô chưa đến 18 tuổi nhỉ? Nếu cô vẫn cứ không nói gì, tôi phải thông báo cho công an đấy.” Người cảnh sát lớn tuổi cũng tiến lại gần rồi nói. “Các người, các người không phải là công an ư?” Giọng nói của cô gái rất nhỏ, trong tiếng mưa lớn hầu như không nghe rõ được. “Tôi là cảnh sát tư pháp, cậu ấy là học viên của Học viện Công an.” Người cảnh sát lớn tuổi nói, “Cô đến chỗ này làm gì?” “Tôi, tôi, tôi đến tìm người.” Cô gái cúi thấp đầu xuống, bất giác chạm tay mình vào bên eo. “Tìm người ư? Vậy sao cô không nói sớm, để bị mưa làm ướt vậy làm gì chứ.” Người cảnh sát trẻ tuổi đưa chiếc ô đen trong tay về phía tay cô gái. Cô gái không nhận, cậu dứt khoát ấn chiếc ô vào tay cô, rồi sau đó nhanh chóng đứng nép vào bên dưới chiếc ô của người cảnh sát lớn tuổi. “Cô tìm ai vậy?” Giọng điệu cảnh giác của người cảnh sát lớn tuổi đã giảm bớt phần nào. “Đỗ Xá.” Cô gái trả lời vẫn với giọng nói nhỏ nhẹ như tiếng của một con muỗi. “Đỗ Xá? Chỗ chúng tôi không có người này đâu.” Người cảnh sát trẻ tuổi nói. Người cảnh sát lớn tuổi xua xua tay, nói: “Cô có giấy tờ không? Thăm phạm nhân cần phải có giấy tờ.” “Ồ, Đỗ Xá là phạm nhân ư.” Người cảnh sát trẻ tuổi bất chợt hiểu ra. “Tôi là người nhà anh ta, tôi chỉ muốn gặp anh ta chút thôi, nói một câu rồi đi.” Cô gái lại chạm tay vào bên eo mình một cách vô thức. “Người nhà? Tôi lại nghe nói anh ta không có ai thân thích cả.” Anh mắt người cảnh sát lớn tuổi một lần nữa ánh lên vẻ cảnh giác, “Hơn nữa, cho dù có phải là người nhà hay không, đều phải tiến hành theo trình tự là có giấy tờ.” “Nhưng mà, tôi chỉ muốn nhìn anh ta một cái, nhìn một cái thôi cũng không thể được sao?” Giọng cô gái đã trở nên to hơn, trong giọng nói đầy vẻ cầu khẩn. “Đây là trình tự pháp luật, chứ không phải trò chơi trẻ con.” Người cảnh sát lớn tuổi nói. “Thật đấy, tôi chỉ muốn nhìn anh ta thôi, không nói gì cả, nhìn một cái xong tôi sẽ đi!” Cô gái không đừng được gào lên. “Cô gái, thật sự là không thể.” Người cảnh sát lớn tuổi đưa chiếc ô cho người cảnh sát trẻ tuổi, giơ cổ tay lên nhìn đồng hồ đeo tay, nói: “Cô đứng ở đây lâu như vậy rồi, cần phải rời khỏi đây thôi.” “Không! Tôi không đi! Ông không cho tôi gặp anh ta, tôi sẽ không đi!” Cô gái vung tay một cái vứt chiếc ô che mưa trong tay xuống đất. “Chúng tôi là muốn tốt cho cô thôi, cô không đi cũng không gặp được đâu.” Người cảnh sát trẻ tuổi nhặt chiếc ô lên, đưa lại cho cô gái, nhưng cô gái không cầm. Thế nên cậu đành phải cùng với cô gái đứng dưới một chiếc ô. Mời các bạn mượn đọc sách Người Gác Đêm Tập 3 của tác giả Tần Minh & Nguyễn Quỳnh Trang (dịch).