Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Truyền Kỳ Mạn Lục - Nguyễn Dữ

Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm văn xuôi duy nhất của Việt Nam từ xa xưa được đánh giá là “thiên cổ kỳ bút” (ngòi bút kỳ lạ của muôn đời), một cái mốc lớn của lịch sử văn học, sau này được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Tác phẩm gồm 20 truyện thông qua các nhân vật thần tiên, ma quái nhằm gửi gắm ý tưởng phê phán nền chính sự rối loạn, xã hội nhiễu nhương. Truyền kỳ mạn lục đã được dịch và giới thiệu ở một số nước như Pháp, Nga… *** Nhà văn Việt Nam, người xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân, nay thuộc Thanh Miện, Hải Dương. Thuộc dòng dõi khoa hoạn, từng ôm ấp lý tưởng hành đạo, đã đi thi và có thể đã ra làm quan. Sau vì bất mãn với thời cuộc, lui về ẩn cư ở núi rừng Thanh Hóa, từ đó "trải mấy mươi sương, chân không bước đến thị thành". Chưa rõ Nguyễn Dữ sinh và mất năm nào, chỉ biết ông sống đồng thời với thầy học là Nguyễn Bỉnh Khiêm, và bạn học là Phùng Khắc Khoan, tức là vào khoảng thế kỷ XVI và để lại tập truyện chữ Hán nổi tiếng viết trong thời gian ở ẩn, Tryền kỳ mạn lục (in 1768, A.176/1-2). Truyện được Nguyễn Bỉnh Khiêm phủ chính và Nguyễn Thế Nghi sống cùng thời dịch ra chữ nôm. Truyền kỳ mạn lục gồm 20 truyện, viết bằng tản văn, xen lẫn biền văn và thơ ca, cuối mỗi truyện thường có lời bình của tác giả, hoặc của một người cùng quan điểm với tác giả. Hầu hết các truyện xảy ra ở đời Lý, đời Trần, đời Hồ hoặc đời Lê sơ từ Nghệ An trở ra Bắc. Lấy tên sách là Truyền kỳ mạn lục (Sao chép tản mạn những truyện lạ), hình như tác giả muốn thể hiện thái độ khiêm tốn của một người chỉ ghi chép truyện cũ. Nhưng căn cứ vào tính chất của các truyện thì thấy Truyền kỳ mạn lục không phải là một công trình sưu tập như Lĩnh Nam chích quái, Thiên Nam vân lục... mà là một sáng tác văn học với ý nghĩa đầy đủ của từ này. Đó là một tập truyện phóng tác, đánh dấu bước phát triển quan trọng của thể loại tự sự hình tượng trong văn học chữ Hán. Và nguyên nhân chính của sự xuất hiện một tác phẩm có ý nghĩa thể loại này là nhu cầu phản ánh của văn học. Trong thế kỷ XVI, tình hình xã hội không còn ổn định như ở thế kỷ XV; mâu thuẫn giai cấp trở nên gay gắt, quan hệ xã hội bắt đầu phức tạp, các tầng lớp xã hội phân hóa mạnh mẽ, trật tự phong kiến lung lay, chiến tranh phong kiến ác liệt và kéo dài, đất nước bị các tập đoàn phong kiến chia cắt, cuộc sống không yên ổn, nhân dân điêu đứng, cơ cực. Muốn phản ánh thực tế phong phú, đa dạng ấy, muốn lý giải những vấn đề đặt ra trong cuộc sống đầy biến động ấy thì không thể chỉ dừng lại ở chỗ ghi chép sự tích đời trước. Nhu cầu phản ánh quyết định sự đổi mới của thể loại văn học. Và Nguyễn Dữ đã dựa vào những sự tích có sẵn, tổ chức lại kết cấu, xây dựng lại nhân vật, thêm bớt tình tiết, tu sức ngôn từ... tái tạo thành những thiên truyện mới. Truyền kỳ mạn lục vì vậy, tuy có vẻ là những truyện cũ nhưng lại phản ánh sâu sắc hiện thực thế kỷ XVI. Trên thực tế thì đằng sau thái độ có phần dè dặt khiêm tốn, Nguyễn Dữ rất tự hào về tác phẩm của mình, qua đó ông bộc lộ tâm tư, thể hiện hoài bão; ông đã phát biểu nhận thức, bày tỏ quan điểm của mình về những vấn đề lớn của xã hội, của con người trong khi chế độ phong kiến đang suy thoái. Trong Truyền kỳ mạn lục, có truyện vạch trần chế độ chính trị đen tối, hủ bại, đả kích hôn quân bạo chúa, tham quan lại nhũng, đồi phong bại tục, có truyện nói đến quyền sống của con người như tình yêu trai gái, hạnh phúc lứa đôi, tình nghĩa vợ chồng, có truyện thể hiện đời sống và lý tưởng của sĩ phu ẩn dật... Nguyễn Dữ đã phản ánh hiện thực mục nát của chế độ phong kiến một cách có ý thức. Toàn bộ tác phẩm thấm sâu tinh thần và mầu sắc của cuộc sống, phạm vi phản ánh của tác phẩm tương đối rộng rãi, khá nhiều vấn đề của xã hội, con người được đề cập tới. Bất mãn với thời cuộc và bất lực trước hiện trạng, Nguyễn Dữ ẩn dật và đã thể hiện quan niệm sống của kẻ sĩ lánh đục về trong qua Câu chuyện đối đáp của người tiều phu trong núi Nưa. ở ẩn mà nhà văn vẫn quan tâm đến thế sự, vẫn không quên đời, vẫn nuôi hy vọng ở sự phục hồi của chế độ phong kiến. Tư tưởng chủ đạo của Nguyễn Dữ là tư tưởng Nho gia. Ông phơi bày những cái xấu xa của xã hội là để cổ vũ thuần phong mỹ tục xuất phát từ ý thức bảo vệ chế độ phong kiến, phủ định triều đại mục nát đương thời để khẳng định một vương triều lý tưởng trong tương lai, lên án bọn "bá giả" để đề cao đạo "thuần vương", phê phán bọn vua quan tàn bạo để ca ngợi thánh quân hiền thần, trừng phạt bọn người gian ác, xiểm nịnh, dâm tà, để biểu dương những gương tiết nghĩa, nhân hậu, thủy chung. Tuy nhiên Truyền kỳ mạn lục không phải chỉ thể hiện tư tưởng nhà nho, mà còn thể hiện sự dao động của tư tưởng ấy trước sự rạn nứt của ý thức hệ phong kiến. Nguyễn Dữ đã có phần bảo lưu những tư tưởng phi Nho giáo khi phóng tác, truyện dân gian, trong đó có tư tưởng Phật giáo, Đạo giáo và chủ yếu là tư tưởng nhân dân. Nguyễn Dữ đã viết truyền kỳ để ít nhiều có thể thoát ra khỏi khuôn khổ của tư tưởng chính thống đặng thể hiện một cách sinh động hiện thực cuộc sống với nhiều yếu tố hoang đường, kỳ lạ. Ông mượn thuyết pháp của Phật, Đạo, v.v. để lý giải một cách rộng rãi những vấn đề đặt ra trong cuộc sống với những quan niệm nhân quả, báo ứng, nghiệp chướng, luân hồi; ông cũng đã chịu ảnh hưởng của tư tưởng nhân dân khi miêu tả cảnh cùng cực, đói khổ, khi thể hiện đạo đức, nguyện vọng của nhân dân, khi làm nổi bật sự đối kháng giai cấp trong xã hội. Cũng chính vì ít nhiều không bị gò bó trong khuôn khổ khắt khe của hệ ý thức phong kiến và muốn dành cho tư tưởng và tình cảm của mình một phạm vi rộng rãi, ông hay viết về tình yêu nam nữ. Có những truyện ca ngợi tình yêu lành mạnh, chung thủy sắt son, thể hiện nhu cầu tình cảm của các tầng lớp bình dân. Có những truyện yêu đương bất chính, tuy vượt ra ngoài khuôn khổ lễ giáo nhưng lại phản ánh lối sống đồi bại của nho sĩ trụy lạc, lái buôn hãnh tiến. Nguyễn Dữ cũng rất táo bạo và phóng túng khi viết về những mối tình si mê, đắm đuối, sắc dục, thể hiện sự nhượng bộ của tư tưởng nhà nho trước lối sống thị dân ngày càng phổ biến ở một số đô thị đương thời. Tuy vậy, quan điểm chủ đạo của Nguyễn Dữ vẫn là bảo vệ lễ giáo, nên ý nghĩa tiến bộ toát ra từ hình tượng nhân vật thường mâu thuẫn với lý lẽ bảo thủ trong lời bình. Mâu thuẫn này phản ánh mâu thuẫn trong tư tưởng, tình cảm tác giả, phản ánh sự rạn nứt của ý thức hệ phong kiến trong tầng lớp nho sĩ trước nhu cầu và lối sống mới của xã hội. Truyền kỳ mạn lục có giá trị hiện thực vì nó phơi bày những tệ lậu của chế độ phong kiến và có giá trị nhân đạo vì nó đề cao phẩm giá con người, tỏ niềm thông cảm với nỗi khổ đau và niềm mơ ước của nhân dân. Truyền kỳ mạn lục còn là tập truyện có nhiều thành tựu nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật dựng truyện, dựng nhân vật. Nó vượt xa những truyện ký lịch sử vốn ít chú trọng đến tính cách và cuộc sống riêng của nhân vật, và cũng vượt xa truyện cổ dân gian thường ít đi sâu vào nội tâm nhân vật. Tác phẩm kết hợp một cách nhuần nhuyễn, tài tình những phương thức tự sự, trữ tình và cả kịch, giữa ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ tác giả, giữa văn xuôi, văn biền ngẫu và thơ ca. Lời văn cô đọng, súc tích, chặt chẽ, hài hòa và sinh động. Truyền kỳ mạn lục là mẫu mực của thể truyền kỳ, là "thiên cổ kỳ bút", là "áng văn hay của bậc đại gia", tiêu biểu cho những thành tựu của văn học hình tượng viết bằng chữ Hán dưới ảnh hưởng của sáng tác dân gian. BÙI DUY TÂN Nguyễn Dữ là con trai cả Nguyễn Tường Phiêu, Tiến sĩ khoa Bính Thìn, niên hiệu Hồng Đức thứ 27 (1496), được trao chức Thừa chánh sứ, sau khi mất được tặng phong Thượng thư. Lúc nhỏ Nguyễn Dữ chăm học, đọc rộng, nhớ nhiều, từng ôm ấp lý tưởng lấy văn chương nối nghiệp nhà. Sau khi đậu Hương tiến, Nguyễn Dữ thi Hội nhiều lần, đạt trúng trường và từng giữ chức vụ Tri huyện Thanh Tuyền nhưng mới được một năm thì ông xin từ quan về nuôi dưỡng mẹ già. Trải mấy năm dư không đặt chân đến những nơi đô hội, ông miệt mài "ghi chép" để gửi gắm ý tưởng của mình và đã hoàn thành tác phẩm "thiên cổ kỳ bút" Truyền kỳ mạn lục. Nguyễn Dữ sinh và mất năm nào chưa rõ, nhưng căn cứ vào tác phẩm cùng bài Tựa Truyền kỳ mạn lục của Hà Thiện Hán viết năm Vĩnh Định thứ nhất (1547) và những ghi chép của Lê Quý Đôn trong mục Tài phẩm sách Kiến văn tiểu lục có thể biết ông là người cùng thời với Nguyễn Bỉnh Khiêm, có thể lớn tuổi hơn Trạng Trình chút ít. Giữa Nguyễn Dữ và Nguyễn Bỉnh Khiêm tin chắc có những ảnh hưởng qua lại về tư tưởng, học thuật... nhưng e rằng Nguyễn Dữ không thể là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm như Vũ Phương Đề đã ghi. Đối với nhà Mạc, thái độ Nguyễn Dữ dứt khoát hơn Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông không làm quan với nhà Mạc mà chọn con đường ở ẩn và ông đã sống cuộc sống lâm tuyền suốt quãng đời còn lại. Truyền kỳ mạn lục được hoàn thành ngay từ những năm đầu của thời kỳ này, ước đoán vào khoảng giữa hai thập kỷ 20-30 của thế kỷ XVI. Theo những tư liệu được biết cho đến nay, Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm duy nhất của Nguyễn Dữ. Sách gồm 20 truyện, chia làm 4 quyển, được viết theo thể loại truyền kỳ. Cốt truyện chủ yếu lấy từ những câu chuyện lưu truyền trong dân gian, nhiều trường hợp xuất phát từ truyền thuyết về các vị thần mà đền thờ hiện vẫn còn (đền thờ Vũ Thị Thiết ở Hà Nam, đền thờ Nhị Khanh ở Hưng Yên và đền thờ Văn Dĩ Thành ở làng Gối, Hà Nội). Truyện được viết bằng văn xuôi Hán có xen những bài thơ, ca, từ, biền văn, cuối mỗi truyện (trừ truyện 19 Kim hoa thi thoại ký) đều có lời bình thể hiện rõ chính kiến của tác giả. Hầu hết các truyện đều lấy bối cảnh ở các thời Lý-Trần, Hồ, thuộc Minh, Lê sơ và trên địa bàn từ Nghệ An trở ra Bắc. Thông qua các nhân vật thần tiên, ma quái, tinh loài vật, cây cỏ..., tác phẩm muốn gửi gắm ý tưởng phê phán nền chính sự rối loạn, không còn kỷ cương trật tự, vua chúa hôn ám, bề tôi thoán đoạt, bọn gian hiểm nịnh hót đầy triều đình; những kẻ quan cao chức trọng thả sức vơ vét của cải, sách nhiễu dân lành, thậm chí đến chiếm đoạt vợ người, bức hại chồng người. Trong một xã hội rối ren như thế, nhiều tệ nạn thế tất sẽ nảy sinh. Cờ bạc, trộm cắp, tật dịch, ma quỷ hoành hành, đến Hộ pháp, Long thần cũng trở thành yêu quái, sư sãi, học trò, thương nhân, nhiều kẻ đắm chìm trong sắc dục. Kết quả là người dân lương thiện, đặc biệt là phụ nữ phải chịu nhiều đau khổ. Nguyễn Dữ dành nhiều ưu ái cho những nhân vật này. Dưới ngòi bút của ông họ đều là những thiếu phụ xinh đẹp, chuyên nhất, tảo tần, giàu lòng vị tha nhưng luôn luôn phải chịu số phận bi thảm. Đến cả loại nhân vật "phản diện" như nàng Hàn Than (Đào thị nghiệp oan ký), nàng Nhị Khanh (Mộc miên phụ truyện), các hồn hoa (Tây viên kỳ ngộ ký) và "yêu quái ở Xương Giang" cũng đều vì số phận đưa đẩy, đều vì "nghiệp oan" mà đến nỗi trở thành ma quỷ. Họ đáng bị trách phạt nhưng cũng đáng thương. Dường như Nguyễn Dữ không tìm được lối thoát trên con đường hành đạo, ông quay về cuộc sống ẩn dật, đôi lúc thả hồn mơ màng cõi tiên, song cơ bản ông vẫn gắn bó với cõi đời. Ông trân trọng và ca ngợi những nhân cách thanh cao, cứng cỏi, những anh hùng cứu nước, giúp dân không kể họ ở địa vị cao hay thấp. Truyền kỳ mạn lục ngay từ khi mới hoàn thành đã được đón nhận. Hà Thiện Hán người cùng thời viết lời Tựa, Nguyễn Thế Nghi, theo Vũ Phương Đề cũng là người cùng thời, dịch ra văn nôm. Về sau nhiều học giả tên tuổi Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích, Phan Huy Chú đều ghi chép về Nguyễn Dữ và định giá tác phẩm của ông. Nhìn chung các học giả thời Trung đại khẳng định giá trị nhân đạo và ý nghĩa giáo dục của tác phẩm. Các nhà nghiên cứu hiện đại phát hiện thêm giá trị hiện thực đồng thời khai thác tinh thần "táo bạo, phóng túng" của Nguyễn Dữ khi ông miêu tả những cuộc tình si mê đắm đuối đậm màu sắc dục. Hành vi ấy tuy trái lễ, trái đạo trung dung nhưng lại đem đến chút hạnh phúc trần thế có thực cho những số phận oan nghiệt. Về mặt thể loại mà xét thì Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm đỉnh cao của truyện truyền kỳ Việt Nam. Nguyễn Dữ chịu ảnh hưởng của Cù Hựu nhưng Truyền kỳ mạn lục vẫn là "áng văn hay của bậc đại gia", là sáng tạo riêng của Nguyễn Dữ cũng như của thể loại truyện truyền kỳ Việt Nam. TRẦN THỊ BĂNG THANH Lời tựa(1) Tập lục này là trước tác của Nguyễn Dữ, người Gia Phúc, Hồng Châu. Ông là con trưởng vị tiến sĩ triều trước Nguyễn Tường Phiêu (2). Lúc nhỏ rất chăm lối học cử nghiệp, đọc rộng nhớ nhiều, lập chí ở việc lấy văn chương truyền nghiệp nhà. Sau khi đậu Hương tiến, nhiều lần thi Hội đỗ trúng trường, từng được bổ làm Tri huyện Thanh Tuyền (3). Được một năm ông từ quan về nuôi mẹ cho tròn đạo hiếu. Mấy năm dư không đặt chân đến chốn thị thành, thế rồi ông viết ra tập lục này, để ngụ ý. Xem văn từ thì không vượt ra ngoài phên giậu của Tông Cát (4), nhưng có ý khuyên răn, có ý nêu quy củ khuôn phép, đối với việc giáo hóa ở đời, há có phải bổ khuyết nhỏ đâu! Vĩnh Định năm đầu (1547), tháng Bảy, ngày tốt. Đại An Hà Thiện Hán kính ghi Kẻ hậu học là Tùng Châu Nguyễn Lập Phu biên. (1) Lời Tựa này được chép trong Cựu biên Truyền kỳ mạn lục. Bản này hiện chưa có trong các thư viện ở Hà Nội. Ở đây chúng tôi theo Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tùng san, Đài Loan thư cục in năm 1987. Tân biên truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú in năm Cảnh Hưng 35 (1774) lấy lại lời tựa này nhưng không ghi tên Hà Thiện Hán. Cuối bài ghi thêm "Nay xã trưởng xã Liễu Chàng là Nguyễn Đình Lân soạn in vào năm Giáp Ngọ (1774) để làm bản gốc cho nghìn vạn đời và để bán cho thiên hạ xem đọc". Chú thích (2) Nguyễn Tường Phiêu: người xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân, nay thuộc tỉnh Hải Dương, đồ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân năm Hồng Đức 27 (1496) đời Lê Thánh Tông; làm quan đến Thừa chánh sứ. Sau khi mất được tặng chức Thượng thư, phong phúc thần. (3) Thanh Tuyền: tức huyện Bình Xuyên, thuộc tỉnh Vĩnh Phúc. (4) Tông Cát: Cù Tông Cát, tên là Cù Hựu, tác giả Tiễn đăng tân thoại. Mời các bạn đón đọc Truyền Kỳ Mạn Lục của tác giả Nguyễn Dữ.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Bức Tranh Quái Dị
Một họa sĩ nghèo vô tình vẽ ra một bức tranh giết người... Và... *** Émile Erckmann là một nhà văn người Pháp, có mối liên hệ mật thiết với vùng Alsace-Lorraine. Hầu như tất cả các tác phẩm của ông được viết chung với Alexandre Chatrian dưới tên Erckmann-Chatrian.  *** Trước nhà thờ Saint Sébalt, nơi góc đường Des Trabans là một quán nhỏ, vừa hẹp vừa cao, cửa kính bụi bậm, trên nóc có dựng bức tượng Đức Mẹ Đồng Trinh bằng thạch cao. Đó là nơi tôi trải qua những ngày buồn thảm nhất đời. Tôi đến thành phố Nureemberg đê học hội họa từ các họa sư tên tuổi ở Đức, nhưng vì thiếu tiền nên đành phải vẽ ảnh, những ảnh xoàng xĩnh như các mụ to béo lắm lời, con mèo ngồi trên đầu gối, những ông xã trưởng đội mũ ba góc,những ông nhà giàu, đầu chụp tóc giả... Hết vẽ ảnh, tôi vẽ những bản phác họa (Croquis) và sau cùng vẽ hình bóng (Silhouettes). Với tôi, không có gì thê thảm cho bằng luôn luôn bị viên quản lý khách sạn hạch sách. Sáng nào ông ta cũng mím môi giọng ồn ào, vẻ xấc láo nạt nộ: "Chừng nào ông mới chịu trả tiền cho tôi? Ông có biết tiền phòng của ông lên tới bao nhiêu rồi không? Hai trăm đồng "florin" và mười đồng "kreutzer". Không có bao nhiêu phải không?". Những ai chưa nghe giọng xấc láo của tên quản lý khách sạn này không thê hiêu được nỗi khổ của tôi trong lúc bấy giờ. Tình yêu nghệ thuật, óc tưởng tượng, sự hăng hái đi tìm cái đẹp của tôi hoàn toàn khô héo. Tôi trở nên vụng về, nhút nhát. Bao nhiêu nghị lực đều biến cũng như lòng tự trọng... Và thấy ông xã trưởng từ xa là tôi đã cúi đầu chào cẩn thận. Một đêm, không một xu dính túi, quá lo ngại, sợ bị viên quản lý dê sợ kia cho vào tù, tôi nhất định tự tử bằng cách cắt họng. Với ý nghĩ đó, tôi ngồi trên chiếc giường tồi tàn ngó ra cửa sổ, triền miên nghĩ ngợi đến trăm ngàn ý nghĩ về triết lý. Tôi tự hỏi: "Con người là gì? Một con thú ăn tạp! Hai hàm răng có các loại răng chó, răng cửa, răng hàm chứng minh điều đó. Răng chó đê ăn thịt, răng cửa đê ăn trái cây và răng hàm đê nghiền. Nhưng khi không còn gì đê nghiền thì con người là một thứ vô nghĩa trong vũ trụ, một điều thừa, một bánh xe thứ năm...". Đó là những cảm nghĩ của tôi. Tôi không dám mở con dao cạo ra, sợ rằng tôi bỗng nhiên trở nên can đảm mà tự tử. Sau những lý luận như thế, tôi thổi ngọn đèn sáp, hoãn lại mọi việc vào ngày mai. Tên quản lý khách sạn đã làm cho tôi trở nên ngu ngốc hoàn toàn. Tôi không thấy gì khác hơn là những hình bóng và điều mong muốn duy nhất của tôi là có tiền đê ném vào mặt hắn mỗi khi hắn ta đến quấy rầy tôi. Nhưng đêm đó, có một cuộc cách mạng kỳ lạ trong đầu óc tôi. Tôi thức dậy vào lúc một giờ khuya, vẽ nhanh lên giấy một bức phác họa theo loại Hòa Lan, tức là loại kỳ quái, không có một chút liên hệ gì tới các quan niệm về hội họa thông thường của tôi. Các bạn hình dung, bức phác họa là một khoảng sáng tối âm u, nằm giữa những bức tường cao, loang lở. Những bức tường dầy đó có những móc sắt nhọn hoắt đóng ở trên cao vào khoảng hai ba thước. Người ta đoán ngay từ đầu khung cảnh đó là một lò sát sinh. Bên trại có một hàng rào mắt cáo. Bạn thấy một con bò mổ banh ra, treo lên trần bằng những cái móc to tướng. Những vũng máu chảy trên nền gạch và dồn xuống một đường mương đầy rác đến dị kỳ. Ánh sáng chiếu từ trên, giữa các ống khói. Bóng các mái nhà kế cận chồng chất lên nhau. Bên trong là một trại... Dưới trại là một đống củi. Trên đống củi có một cái thang, vài bó rơm, một đống dây, một chuồng gà và một chuồng thỏ phế thải. Làm sao các chi tiết ô hợp đó lại chạy vào trí tưởng tượng của tôi? Tôi cũng không biết, không thấy một cảnh nào như vậy đê nhớ lại rồi vẽ ra. Ấy vậy mà mỗi một nét bút chỉ là một nét vẽ chững chạc được nghiên cứu cẩn thận. Không thiếu một cái gì hết! Nhưng bên mặt, còn một góc bỏ trắng. Tôi không biết vẽ gì lên đó. Kìa, có một vật gì thấp thoáng cử động. Bỗng nhiên tôi thấy một bàn chân, một bàn chân lật ngược, tách khỏi mặt đất. Mặc dầu vị trí đó không thê có được tôi vẫn theo sáng kiến đó, không hề hiêu rõ mình sẽ vẽ gì đây. Bàn chân đó dính vào ống quyên... và trên ống quyên có một chéo áo... Liền sau đó, một mụ già, xanh xao, tiều tụy, tóc rối bời té sấp trên bờ giếng trong khi chống cự với một nắm tay đang siết cổ mụ... Thì ra tôi vẽ một bức tranh giết người. Ngọn bút rơi khỏi bàn tay tôi. Mụ già trong tư thế chống cự tận lực, nằm vắt lên thành giếng, mặt nhăn nhó vì kinh hãi, hay tay bám chặt lấy cánh tay của kẻ sát nhân, mụ ta làm tôi hoảng sợ... Tôi không dám nhìn mụ. Nhưng về phần tên sát nhân thì tôi không thấy, trừ cánh tay. Tôi không thê kết thúc được bức tranh. Tôi tự nhủ: "Mệt rồi. Chỉ còn có nét mặt của tên sát nhân nữa mà thôi. Ngày mai mình sẽ vẽ nốt. Dê mà!". Tôi nằm xuống giường, hãy còn kinh sợ trước những gì vừa thấy qua nét vẽ của chính mình. Năm phút sau, tôi ngủ như chết. Sáng hôm sau, tôi thức dậy khi trời hãy còn mờ tối. Vừa mặc quần áo xong và sắp sửa tiếp tục bức tranh bỏ dở thì có hai tiếng gõ cửa. Tôi lên tiếng: - Cứ vào! Cánh cửa mở. Một người đã già, cao, ốm, mặc toàn màu đen bước vào thềm. Hai mắt ông gần nhau quá, mũi ông quặp xuống như mũi két, trán ông rộng, xương xẩu. Gương mặt ông có vẻ nghiêm khắc, ông chào tôi, hỏi thật nghiêm: - Ông là họa sĩ Christian Vénius? - Chính tôi thưa ông. Ông ta gật đầu một lần nữa, tự giới thiệu: - Tôi là Nam tước Frederic Van Spreckdal! Sự xuất hiện của ông Van Spreckdal, chánh án tòa đại hình trước căn gác tối tăm của một họa sĩ vô danh khiến tôi thấy mất bình tĩnh. Tôi nhìn bàn ghế tồi tàn, sàn gác bụi bậm, xấu hổ trước cảnh nghèo của mình. Nhưng ông Van Spreckdal không chú ý đến những chi tiết đó. Ông ngồi trước bàn nhỏ của tôi nói: - Họa sĩ, tôi đến đây... Nhưng, cùng lúc đó, hai mắt ông dừng lại trên bức họa chưa hoàn thành... ông không nói hết câu. Tôi ngồi trên chiếc giường tồi tàn và sự chiếu cố bất ngờ của nhân vật này dành cho một trong các tác phẩm của tôi khiến tim tôi đập mạnh vì mối lo sợ khó nói. Độ một phút, Van Spreckdal ngước đầu lên nhìn tôi thật chăm chú. - Ông là tác giả bức họa kia? - Dạ phải. - Giá bức họa đó bao nhiêu? - Tôi không bán các bức phác họa. Đó chỉ là một dự án. Ông khách kêu lên một tiếng "A!" khi đỡ tờ giấy lên với mấy đầu ngón tay bằng vàng, ông lấy một kính phóng đại trong áo "gi lê" ra, bắt đầu nghiên cứu bức họa một cách trầm lặng. Ánh nắng mặt trời chiếu xiên xiên qua gác. Van Spreckdal không nói một lời nào, sống mũi ông quằm xuống, đôi mày ông cau lại. Không khí hoàn toàn im lặng, tôi nghe rõ tiếng vo ve của một con muỗi mắc trong lưới nhện. Sau cùng, không nhìn tôi, ông hỏi: - Khuôn khổ bức tranh này như thế nào? - Bề ngang ba bộ, bề dài bốn bộ. - Giá tiền? - Năm mươi đồng "ducat". Van Spreckdal đặt bức ảnh xuống, lấy trong túi chiếc ví dày màu xanh lá cây, giống như một quả lê. Ông trút các đồng tiền vàng ra: - Đây, năm mươi "ducát". Nam tước đứng lên chào tôi. Tôi nghe tiếng chiếc gậy cán ngà của ông nện trên các bậc thang gác. Khi ông ta xuống đến tầng dưới tôi mới hoàn hồn và sực nhớ chưa cảm ơn ông ta. Tôi chạy nhanh xuống năm tầng lầu. Nhưng ra tới đường, nhìn hai bên, con đường vắng tanh. Tôi hổn hên" "Lạ quá!", rồi hổn hên leo trở lên gác. Sự xuất hiện đột ngột của Van Spreckdai khiến tôi ngây ngất bàng hoàng. Ngắm chồng "ducat" ngời sáng dưới ánh nắng, tôi ngẫm nghĩ: "Hôm nay, mình tính cắt cổ tự tử vì mấy đồng "florin" không đáng, bây giờ thì cả một sản nghiệp từ trên trời rơi xuống. Mình không mở con dao cạo ra là phải! Và từ đây về sau, nếu có ý nghĩ tự tử nữa thì mình nên hoãn lại ngày hôm sau. Sau những cảm nghĩ đó tôi ngồi lại đê tiếp tục vẽ nốt bức tranh. Chỉ cần bốn nét bút là xong. Nhưng tôi thất vọng não nề. Bốn nét bút đó tôi không vẽ được. Tôi mất tong cảm hứng. Nhân vật bí hiêm kia, tôi không thê nào hình dung ra mặt mũi. Tôi cố suy nghĩ, cố phác họa, nhưng không vẽ ra hồn. Tôi đổ mồ hôi có giọt. Đúng lúc đó, tên quản lý bước vào phòng tôi, không gõ cửa theo thói quen. Hắn nhìn chồng tiền vàng, kêu lên: - A ha! Tôi bắt được quả tang ông có nhiều tiền vàng như thế này, thế mà ông bảo là không có tiền! Và mấy ngón tay nhọn hoắt của hắn quờ quạng về phía đống tiền vàng trên bàn. Tôi ngẩn ngơ vài giây. Rồi chợt nhớ tên quản lý luôn hoạnh họe bấy lâu nay, tôi nhảy xổ tới thộp cổ hắn tống ra khỏi phòng, rồi sập cửa, làm hắn dập cả mũi. Tất cả những việc đó xảy ra thật nhanh. Tôi nghe viên quản lý kêu ầm lên ở bên ngoài: - Trả tiền đây! Đồ ăn cắp! Những người mướn phòng xung quanh đổ ra ngoài. Tiếng họ lao xao: - Có việc gì vậy? Tôi mở cửa thật bất ngờ, đạp mạnh vào mông tên quản lý khiến hắn lăn ùng ục xuống lầu, có đến vài mươi bậc thang. Tôi hét lên: - Việc gì hả? Tôi tống cổ thằng chó đó xuống lầu. Chỉ có vậy thôi! Xong, tôi khóa cửa lại trong tiếng cười của các bạn phòng bên. Tôi rất hài lòng về chuyện vừa làm, xoa tay thích thú. Chuyện xảy ra khiến tôi hứng chí. Tôi ngồi xuống toan tiếp tục vẽ thì có tiếng động kỳ lạ. Đó là tiếng báng súng đặt xuống vỉa hè. Tôi nhìn qua cửa sổ, thấy ba cảnh sát, súng dựng dưới chân, đứng canh trước cửa nhà. Tôi lo sợ hỏi thầm: "Thằng quản lý gãy tay, lọi cẳng chăng?". Các bạn có thấy điều kỳ quái trong đầu óc con người chưa. Ngày hôm qua tôi tính cắt cổ tự tử, mà bây giờ lại run rẩy khi nghĩ tới cảnh lính bắt về tội đạp tên quản lý té lầu! Có tiếng ồn ào trên thang lầu, tiếng chân người, tiếng súng khua, tiếng những lệnh truyền cộc lốc. Bỗng người ta cố mở cửa phòng tôi. Cửa đã khóa. Có tiếng hô to: - Mở cửa! Cho lính vào! Tôi đứng lên, run rẩy, hai chân lảo đảo. Mời các bạn đón đọc Bức Tranh Quái Dị của tác giả Erckmann-Chatrian.
Cô Dâu Thứ Bảy
Một câu chuyện tình yêu giữa người và ma. Khi cô thay chị mình gả cho hắn, chỉ vì hắn đã là người chết. Ngày 15/7 âm lịch...... Cô bước chân lên xe hoa về nhà chồng, nhà chồng cô chưa một lần biết mặt, chưa một lần nhìn thấy Gia đình hắn giàu có, hắn ăn chơi trác tán, hắn chết trong một lần đua xe tại trường đua, hưởng dương 21 tuổi, ba mẹ hắn thương con còn trẻ mà đoản mệnh, dựa vào thân thế đồ sộ và danh tiếng tìm cho hắn một người vợ. Tìm thầy bói tìm xem ai hợp tuổi rồi đến nhà cưới hỏi đàng hoàng, linh đình Nhưng nhiều lần cưới vợ cho hắn tất cả các cô dâu qua đêm động phòng đều phát điên, đã 6 lần như thế, và bây giờ cô là người thứ 7. *** Ngày 15/7 âm lịch...... Cô bước chân lên xe hoa về nhà chồng, nhà chồng cô chưa một lần biết mặt, chưa một lần nhìn thấy Cô chỉ nghe nói nhà họ rất giàu, rất hưng thịnh, đáng lẽ người được gã đi là chị gái của cô, nhưng chị cô đã quỳ xuống van xin cô, mong cô sẽ thay mình gã đi Gia đình chồng giàu có, có tiếng tăm, có thể nói là danh tiếng lẫy lừng, chị cô cũng thuộc dạng ham hư vinh, ham lợi lộc, được gã vào nhà đó có thể gọi là "chuột sa hũ nếp" nhưng vì sao chị cô không muốn gã? Lí do duy nhất khiến chị cô chùng bước chỉ có một "Chú rễ là một người đã Chết " Cô và chị cô là chị em sinh đôi, từ nhỏ cô đã mắc bệnh tim bẫm sinh, còn chị cô sức khỏe lại bình thường, ba mẹ ruột chỉ yêu thương mỗi chị cô, còn cô chính là gánh nặng nên từ nhỏ đã bị ghét bỏ. Lần này cô vì thương ba mẹ, thương chị nên đành thay chị gã vào nhà đó, do hai chị em sinh đôi nên gương mặt giống nhau, cô thay chị cô gã vào nhà đó họ cũng chẳng thể phát hiện ra. Sức khỏe cô suy giảm, bệnh tình càng lúc càng nặng, những đợt điều trị đắt đỏ tại bệnh viện khiến cô cảm thấy mình thật sự là gánh nặng của gia đình, chị cô có thể kiếm tiền thay cô chăm sóc ba mẹ, còn cô sẽ thay chị gã đi, dù sao không bao lâu cô cũng phát bệnh mà chết Cô nghĩ thế cũng cắn răng mà leo lên xe hoa, mặc dù cô biết chú rể của cô bây giờ chỉ là một di ảnh Gia đình hắn giàu có, hắn ăn chơi trác tán, hắn chết trong một lần đua xe tại trường đua, hưởng dương 21 tuổi, ba mẹ hắn thương con còn trẻ mà đoản mệnh, dựa vào thân thế đồ sộ và danh tiếng tìm cho hắn một người vợ. Tìm thầy bói tìm xem ai hợp tuổi rồi đến nhà cưới hỏi đàng hoàng, linh đình Nhưng nhiều lần cưới vợ cho hắn tất cả các cô dâu qua đêm động phòng đều phát điên, đã 6 lần như thế, và bây giờ cô là người thứ 7   Mời các bạn đón đọc Cô Dâu Thứ Bảy của tác giả Cung Thiên Yết.
Con Mắt Âm Dương
Đây là 1 câu chuyện tôi được 1 nhà ngoại cảm kể lại và viết lại. Năm 1976 sau 3 năm yêu nhau thì bố mẹ tôi quyết định về chung 1 nhà . Hôm ấy bố mẹ đi nhờ 1 thầy phong thủy xem ngày để cưới hỏi , sau khi đã chọn được 1 ngày tốt thì ông thầy có nói bố mẹ tôi rằng : số 2 ông bà có tiền duyên từ kiếp trước . Nên kiếp này lấy nhau thì không có gì đáng nói cả . Nhưng đứa con trai sau này của ông bà là 1 món quà từ ông cố tổ. Và ngày thằng bé sẽ ra đời vào ngày đặc biệt nhất trong năm..... Bố mẹ tôi là người cuồng tâm linh nên răm rắp nghe lời thầy nói và vui mừng khôn xiết , nhưng đã 3 năm trôi qua kể từ ngày cưới mẹ tôi đã có 2 lần tin vui nhưng đều bị sảy hoặc thai yếu , quá buồn sau mỗi lần sảy thai làm mẹ tôi hao mòn thân xác và tiều tụy , rồi đêm hôm đó có 1 tiếng chim cú kêu liên tục trước nhà “” cú .. cú..”” mà loài đó được mệnh danh sứ giả của hắc bạch vô thường , bố tôi ném đá đuổi mấy lần nhưng nó bay đi rồi lại quay về đậu .  Kể từ cái tối hôm ấy mẹ tôi có thai và sinh ra 1 người con duy nhất chính là tôi . Cái ngày sinh ra tôi lại trùng với ngày rằm tháng bảy . Ngày mà quỷ môn quan mở cửa để thả các vong hồn . Nhiều người khi đó nói tôi là con của ma . Sau này sẽ hại bố mẹ , còn bố mẹ tôi thì lại vui mừng khôn xiết , nhớ đến lời nói của người thầy năm xưa “” đứa con sau này là món quà của ông cố “” nên bố đặt tên cho tôi là Bảo Bảo  Mình lớn lên dần theo năm tháng và sự yêu thương của cha mẹ . Nhưng vào năm 12 tuổi ,khi ấy mình đang chơi cùng đám bạn ở miếu làng thì đám nhóc chúng mình phát hiện 1 con rắn hổ mang đang bò trong miếu . Cả đám hồi ấy rất nghịch ngợm liền lấy que . Gậy đập nó . Nhưng chỉ có duy nhất mình là can ngăn đám bạn ,bảo tụi nó tha cho con rắn kẻo tội. Nhưng tụi nó không chịu nghe. Mình dọa méc bố mẹ thì tụi nó sợ không dám đập con rắn nữa và dỗi mình cả tuần.  Tối hôm ấy mình nằm ngủ thì thấy 1 người cưỡi ngựa trắng . Mang cung tên như 1 vị quan thời vua chúa vậy , người đó bị thương và máu me đầy mình. Người đó đứng trước tôi và nói : “”cậu cảm ơn con đã cứu mạng cậu. Cậu bây giờ phải đi rồi . Sau này cậu trả ơn con””  Tỉnh cơn mơ mà cứ như thật vậy . Nhưng có 1 điều là tôi không thể nhớ được mặt người đó . Tôi có kể lại cho mẹ về con rắn và giấc mơ, nhưng mẹ bảo là nhảm nhí và không tin . Và giấc mơ ấy cũng lãng quên theo năm tháng cho đến mùa hè năm đó…..  ở cái bến đình của làng mình nổi tiếng rất nhiều người chết nước , ma da, nên các bậc cha mẹ đều cấm con cái mình đi tắm sông , tắm suối , nhưng tuổi thơ mà . Dối cha lừa mẹ và nghịch ngợm đó là đám nhóc chúng tôi . Sau khi đá bóng giữa mùa hè oi bức. Chúng tôi có tổng cộng 14 đứa nhưng 8 đứa kia bỏ về tại sợ ba mẹ biết sẽ ăn đòn. 6 đứa còn lại là Tôi, NHÂN,LÂM ,MINH, VINH , HOÀNG nhưng chỉ 5 đứa xuống tắm.còn Hoàng là đứa không biết bơi nên chỉ lội trêи bờ .  Đó là ngày định mệnh của 5 đứa chúng tôi . Chúng tôi thách với nhau rằng ai bơi ra được cồn cát giữa sông sẽ được xưng là anh cả. Vậy Cả 5 đứa đồng ý và bơi đua ra cồn cát . Đang bơi giữa chừng thì tôi thấy Nhân nó chìm xuống. Cứ tưởng là nó lặn . Thì bất ngờ sau lưng tôi có tiếng la lên của 3 đứa còn lại …. Cứu..Ục ..Taoo..với..ục.ục ,chưa định thần được chuyện gì đang xảy ra thì tôi cảm thấy dưới cổ chân mình có gì đó nhờn nhờn . Và bỗng nó lôi tôi xuống dưới nước , tôi cố gắng vùng vẫy nhưng không thể được và ngất đi sau đó….. (khi đó không thể gọi là chết. Vì hồn tôi chưa xuất ra. Chỉ là không biết gì nữa)  Trêи bờ thằng hoàng thấy vậy cứ tưởng chúng tôi đùa với nó. Nhưng đã 10 phút trôi qua không thấy đứa nào nổi lên . Nó hoảng quá la lớn lên . Mọi người trong làng nghe tiếng kêu cứu liền tập trung kéo nhau ra bến đình. Trong đó có bố mẹ tôi . Nghe tôi bị ma da kéo xuống nước chết rồi 2 ông bả khóc lên khóc xuống rồi ngất lịm đi. Khi đó cái bến đình toàn những tiếng khóc đau thương của các bậc ông bà bố mẹ.  Đến gần 1 tiếng sau thì mới thuê được dân vạn chài để lặn xác . 4 cái xác của 4 đứa bạn tôi thì họ tìm rất nhanh . Chỉ có tầm 5 phút lặn xuống là thấy và đưa lên liền. Chỉ có tôi thì lạ lùng nhất . Nghe bố kể lại thì “” mày thì người ta mất phải nửa tiếng đồng hồ . Vị trí mày với chỗ mày chìm cách nhau tận 50m “” và khi đưa 4 cái xác của đám bạn lên. Tụi nó toàn tím tái khắp thân thể và máu trào ra khắp mặt mũi . Còn tôi có tím tái nhưng không hề trào máu như tụi nó , và 1 điều lạ lùng nữa đó là khi cúng cơm đắp mặt. Có 1 con rắn hổ mang từ dưới nước bơi lên bờ và bò quanh cái xác của tôi rồi lại lặn xuống nữa. Mọi người ở đó bảo nó là ma da hiện thân . Nhưng thằng hoàng nói với mọi người đó là con rắn mà tụi nó đã đập trong miếu làng.  7h tối hôn đó là lúc đặt xác của tôi vào quan tài để khâm liệm. Mẹ tôi khi đó quá sock nên phải nhập viện. Còn bố thì khóc lên khóc xuống khi chứng kiến đứa con trai duy nhất sắp đậy nắp quan tài . Bỗng con rắn đó lại bò vào 1 lần nữa đám đông hoảng sợ bàn tán . có nhiều người còn quỳ lạy nó. Xin nó tha cho tôi. Để tôi siêu thoát đừng bắt hồn tôi đi . Rồi nó bỗng dưng bỏ đi. Nắp quan tài tiếp tục đậy . Thì khi đó bỗng dưng ý thức tôi có lại. Tôi nghe tiếng khóc. Tiếng than của bố. của chú thím. Và anh em nội ngoại . Tôi vừa gọi tên bố mẹ vừa lấy chân đạp thẳng  Mời các bạn đón đọc Con Mắt Âm Dương của tác giả Hiền Nguyễn.
Ba Đường Luân Hồi
Tựa gốc: Tam tuyến luân hồi / 三线轮回 Tác giả: Vĩ Ngư / 尾鱼 Người dịch: Nguyễn Hạ Lan, Cụt Thiết kế bìa: Nhi Cá Truyện được dịch theo sở thích cá nhân, phi lợi nhuận. Đề nghị không phát tán lung tung. Cảm ơn. Giới thiệu Họ đi tới tuyệt lộ, trước mặt không còn đường nữa, muốn quay đầu. Vậy họ có thành công không? Không biết, câu chuyện chưa kết thúc. *** #REVIEW: BA ĐƯỜNG LUÂN HỒI Tác giả: Vĩ Ngư Thể loại: Hiện đại, huyền huyễn, linh dị thần quái, trinh thám, HE CP: Em bé cao to ngốc nghếch x Bà chị thô lỗ cọc cằn Tình trạng: Edit hoàn Độ dài: 133 chương (4 quyển + 10 ngoại truyện) Link đọc: https://le4fevrier.wordpress.com/ba-duong-luan-hoi-vi-ngu/ Review: Bao Yin | Chỉnh ảnh: Tâm ------ Giới thiệu: Họ đi tới tuyệt lộ, trước mặt không còn đường nữa, muốn quay đầu. Vậy họ có thành công không? Không biết, câu chuyện chưa kết thúc. ------ Review: Phải nói mình thực sự quá u mê Vĩ Ngư, dù phân đoạn tình cảm của nam nữ chính đều rất ít ỏi, ít tới đáng thương. Nhưng bù lại, nội dung truyện của cô lại có sức hấp dẫn chí mạng đối với mình. Nên khi mình biết "Ba Đường Luân Hồi" hoàn thì không do dự một phút nào mà phi thẳng xuống cái hố sâu này. Mở đầu câu chuyện là năm 1996 ở Tam Giang Nguyên, nơi khởi nguồn của ba con sông lớn: Hoàng Hà, Trường Giang và Lan Thương - Mê Kông. Người ba họ Đinh - Khương - Dịch trong một lần mở khóa canh vàng mà đã xảy ra biến cố lớn ảnh hưởng tới tính mạng nhiều người trong dòng tộc. Dịch Táp lúc này là một cô bé 3 tuổi khá láu cá, cô may mắn thoát nạn nhưng những trưởng bối khác dần hoài nghi rằng liệu cô có còn "bình thường" nữa không? Ở thời điểm hiện tại, Tông Hàng phải sang Campuchia "thực tập" theo sự sắp xếp của ba. Không những không buồn chán mà anh còn tỏ ra vui mừng. Vì cuối cùng sau hơn 20 năm trời sống trong sự sung sướng đồng thời có nhiều gò bó, nay anh đã được tự do. Tông Hàng ở đầu câu chuyện có thể thấy được là một chàng trai trắng trẻo đẹp trai, có phần công tử bột. Sợ dính phải rắc rối, khá ngoan, ít phản nghịch, nghịch lắm của anh cũng chỉ là lén ba mẹ phóng moto ở ngoại thành. Mong muốn của anh là có một cuộc sống có nhiều sự va chạm, mới mẻ và nhiều điều thú vị hơn, vì sống mãi một cuộc sống nhàn nhã cũng chán lắm chứ không vui vẻ gì. Và có lẽ ông trời đã nghe thấy tiếng lòng của Tông Hàng, bằng một sự hiểu lầm mà anh bị truy bắt và gặp Dịch Táp ở đây, tuy chỉ mới thấy cổ chân cùng với dòng chữ "đi chết" khá rừng rợn của cô. Tưởng chừng chỉ là một cô gái xấu xa đã hãm hại anh vậy thôi, nhưng khi chính thức thấy khuôn mặt Dịch Táp và sau đó được cô cứu lên bờ ở xóm bè nổi, anh biết rằng cuộc sống bình thường của mình đã chệch khỏi quỹ đạo mà nó vốn có. Tông Hàng có tính cách thuần khiết, ấm áp, và cũng rất tin người, sau khi chia tay Dịch Táp chuẩn bị về nhà vì tin nhầm người nên lại gặp xui xẻo mà mất mạng, để rồi sau khi sống lại, anh lại là anh, nhưng dường như không phải. Dịch Táp bất chợt nghĩ rằng có lẽ gia đình Tông Hàng nuôi dạy anh rất tốt, vì anh rất tôn trọng ý kiến của người khác. Trong giây phút anh đang kề cận cái chết, cần sự giúp đỡ của cô nhưng khi hỏi thì lại hỏi rằng không biết cô có phiền không. Anh sợ trở thành gánh nặng, gây rối loạn cuộc sống của Dịch Táp. Nhưng cái gì tới cũng phải tới, số mệnh của họ vốn đã dính liền bên nhau. Một tháng sau gặp lại trên con thuyền mà ba họ chuẩn bị để đi mở canh vàng, khi Dịch Táp biết rằng Tông Hàng vẫn ổn, và còn biết rằng Tông Hàng giờ cũng giống mình rồi, thì trong cô xuất hiện sự đồng cảm và muốn chia sẻ với Tông Hàng nhiều hơn. Và hai người đã trở thành cộng sự vững chắc của nhau, Dịch Táp đi đâu là Tông Hàng sẽ theo sát đó, nhiều lúc không nói chuyện, chỉ liếc mắt một cái cũng biết đối phương đang nghĩ gì. Từ đây là quá trình bắt đầu mở ra tầng tầng lớp lớp bí mật của ba họ, cái chết bí ẩn của rất nhiều người ở Tam Giang Nguyên cũng như nguyên nhân tại sao Tông Hàng và Dịch Táp có thể cải tử hoàn sinh. Cả chặng đường hai người cùng đồng hành với nhau chất chứa rất nhiều dư vị. Là niềm vui nhỏ bé khi khám phá ra một chi tiết mới, từ đó lồng thành một câu chuyện từ ngày xưa. Hay sự ấm áp bất chợt mà Dịch Táp nhận được từ sự săn sóc của Tông Hàng. Quãng thời gian này đã làm Tông Hàng trưởng thành lên rất nhiều, lột bỏ đi sự lông bông bất cần đời của mình mà khoác lên vẻ chín chắn. Suy nghĩ cũng ngày càng thấu đáo hơn mà không đơn thuần làm theo những gì mà bản thân thích như trước nữa. Gần như anh đặt an nguy của Dịch Táp lên hàng đầu, cứu người xong nhưng thấy cô vẫn bình ổn thì mới thở phào nhẹ nhõm. Hay như biết Dịch Táp thích trò câu cá ngày bé nên vẫn mua để đó cho cô chơi. Rất đáng yêu luôn! Tình cảm của hai người rất chậm, nhưng mình hoàn toàn có thể cảm nhận sự ngọt ngào bé nhỏ ấy giữa Hàng Hàng và Táp Táp. So với Dịch Táp thì Tông Hàng yếu thế hơn rất nhiều, nhưng không vì vậy mà anh không cố gắng để bảo vệ cô, khiến cho lòng Dịch Táp như có một vết mèo cào vậy, vừa ngứa nhưng cũng rất ấm áp. Hai người là một nửa tuyệt nhất của nhau, một Dịch Táp cộc tính là thế nhưng lại có thể cười hihi mà bắt nạt, nhéo má, vò đầu Tông Hàng lớn xác nhưng tính tình thì có phần ngây thơ và trẻ con. Để hình dung thì giống như bé Samoyed và một bé mèo vậy, tưởng sẽ cắn nhau nhưng khi thân thiết rồi thì lại hợp nhau không tả, bé mèo thì cứ hay vờn vờn bé chó, nhưng bé chó ngoài sủa tượng trưng thì lại âm thầm hưởng thụ cảm giác chọc ghẹo ấy. Sau khi bí mật phanh phui thì Tông Hàng nên trở về với gia đình mình rồi. Nhưng anh vẫn mong chờ sự hồi đáp của Dịch Táp đối với tình cảm của chính mình. Nhưng Dịch Táp vì lo sợ mình sẽ không thể sống lâu được, cô cũng đã có một số triệu chứng nên biết thời gian có lẽ không còn nhiều nữa, nên muốn đường ai nấy đi, không thể vì cô mà làm Tông Hàng chậm trễ cả một đời được. Nhưng định nghĩa về hạnh phúc của Tông Hàng lại không giống thế. Đối với anh, được ở bên cạnh người mình thích dù ít nhưng cũng có kỷ niệm bên nhau, còn hơn là chia tay để rồi hối hận mãi mãi. Anh lại quay về Campuchia tìm Dịch Táp, lần này có cả sự ủng hộ của ba mẹ rồi nên anh lại càng hăng hái hơn. Cuối cùng cũng ôm được người đẹp về nhà. “Tôi chỉ muốn chúng ta có thể ở bên nhau, được bao lâu hay bấy lâu.” “Không phải con người nên đi về phía trước sao? Một năm nay, em nói muốn được yên lặng, tôi không tới quấy rầy em, nhưng em thử rồi, sống cũng đâu có tốt, chỉ tàm tạm mà thôi, vậy đổi sang một kiểu tốt hơn đi. Em theo tôi đi, cho tôi một cơ hội thử sức, dù cũng chỉ trong một năm thôi cũng được. Nếu hết hạn một năm mà em vẫn chẳng thấy có gì khá hơn thì cũng đâu ảnh hưởng em tiếp tục trở về với cuộc sống yên tĩnh của em, đúng không?” Dịch Táp cúi đầu, hỏi hắn: “Sao anh lại thích em chứ?” Cô cảm thấy mình trúng số thật rồi: Không dịu dàng đáng yêu gì, cũng không làm được việc gì tốt, cứng đầu cứng cổ, từ nhỏ đến lớn đã gây phiền nhiễu cho biết bao người, đột nhiên lại có một ngày, sau lưng cứ có một tên ngốc lẽo đẽo theo đuôi, cứ như sinh ra là để ứng đối với tính tình thối hoắc của cô, đuổi thế nào cũng không đi. Về nhân vật phụ, nổi bật nhất là thanh niên hoa lá hòe rất mê bươm bướm - Đinh Ngọc Điệp. Anh này ngang lứa với Dịch Táp - là ma nước trẻ tuổi nhất của nhà họ Đinh. Quan hệ với Dịch Táp giống như anh em bình thường trong nhà vậy, gặp nhau là chí chóe. Nhưng điểm mạnh của Đinh Ngọc Điệp là tự luyến, mặc dù sau lưng anh thì Dịch Táp đã gọi anh là óc thiêu thân rất nhiều lần rồi, ngốc hơn cả Tông Hàng. Đinh Ngọc Điệp là cây hài của truyện, 90% phân đoạn của ông này đều buồn cười hết ấy. Nhân vật phản diện nhưng không ai thấu được tâm tư - Đinh Thích. Ông này từ đầu mình đã không thích rồi vì ông ác lắm luôn. Nhưng về cuối truyện thì không phải như vậy, Đinh Thích cũng muốn có cuộc sống bình ổn nhưng vốn đã bị hướng đi theo con đường tội lỗi rồi, nên mình thấy thương ổng hơn tí. Truyện Vĩ Ngư về phần nội dung quả thật rất chặt chẽ, lúc mới đọc còn thấy hơi nhạt nhạt chứ càng về sau càng cuốn. Vừa đọc vừa há hốc mồm không hiểu sao cái nội dung kiểu này mà bả cũng nghĩ ra được. Sợ thì không đáng sợ đâu nhưng biết chân tướng thì mình nổi cả da gà... Nhân vật chính của Vĩ Ngư không rập khuôn một chút nào, nhưng có điểm chung là bạn nữ chính đều là nữ cường cả. Còn nam chính thì Tông Hàng là nam chính đáng yêu nhất mà mình thấy, thực sự luôn, ngốc ngốc nhưng đó lại là điểm cộng khiến Dịch Táp ngày càng muốn hiểu thêm về Tông Hàng nhiều hơn. Một điểm nhỏ xíu mình không thích là bạn dịch giả để cách xưng của Tông Hàng là "hắn" thay vì "anh", có cảm giác nghe vậy nó không được dễ gần lắm. Truyện hay, đề cử!!! ------ #LeoSing - fb/hoinhieuchu *** Mùa đông năm 1996, khu Zadoi**, Thanh Hải. **Quận Zadoi, trong khu tự trị Yushu của người Tây Tạng ở Thanh Hải Gió thổi như dao cắt. Dưới ánh trăng, vô số vết bánh xe xiêu vẹo đan xen trên sườn dốc thoai thoải, hơn mười chiếc xe cồng kềnh rải rác dừng lại kéo dài đến tận cuối vết bánh xe, trong xe đều có người, đèn xe có sáng có tối, từ trên cao nhìn xuống, mấy chiếc xe sáng đèn giống như đèn đom đóm rải rác khắp nơi, lại giống như con diều giấy đang đà rơi xuống, phía đuôi đuôi diều là vệt bánh xe kéo dài thật dài. Chính giữa là một chiếc Jeep BJ212 màu xanh quân đội, cửa sổ bên ghế lái hạ xuống một khe hở, từ bên trong vang lên bài hát chủ đề của bộ phim truyền hình HongKong ‘Bến Thượng Hải’ bằng tiếng Quảng. “Chuyển thiên loan chuyển thiên than, diệc vị bình phục thử trung tranh đấu…”** **Qua ngàn sóng ngoặt chuyển ngàn bến bãi, cũng chưa thoát khỏi sự tranh đấu này… Trong xe có ba người đang ngồi. Trên ghế lái là một ông già ngoài năm mươi tuổi, hai bên tóc mai cũng đã lưa thưa sợi bạc, khoác một chiếc áo khoác kiểu quân đội, cho tay vào túi lấy ra một gói đậu phộng rang. Ông già bóc từng hột từng hột, dùng tay chà xát tách lớp vỏ lụa bên ngoài, đất Tạng lạnh giá, khí hậu hanh khô, mảnh vỏ lụa nhỏ vỡ ra, vì tác dụng tĩnh điện mà dính khắp nơi mùi thơm im lìm tản ra trong không khí. Trên ghế phụ là một cô gái cỡ hai mươi, đầu gối kê một chiếc cassette cầm tay hiệu Sanyo của Nhật Bản, bài ‘Bến Thượng Hải’ đang phát ra từ chiếc máy này. Nhưng cô ta cũng không mấy tập trung nghe nhạc, mà đang nhìn vào một phấn vuông nho nhỏ, dặm phấn lên mặt, lớp bột phấn màu trắng đã dày cộm, ông già bị mùi hương nồng nặc hắc lên mũi, mới trợn mắt nhìn cô ta vẻ không vui, thốt lên một câu: “Mày đi làm việc chứ có phải đi thi sắc đẹp đâu?” Không giống ai! Tóc uốn dợn sóng, mặt mày bôi bôi trét trét trắng như cái bong bóng cá, chút nữa chắc lại tô son đỏ choét như máu gà, làm gì có con gái nhà đàng hoàng nào lại ăn mặc như vậy? Đều là học mấy minh tinh Hương Cảng mà ra. Cô gái trẻ đáp trả một cách bất cần: “Trang điểm cũng không ảnh hưởng tới việc con làm.” Trong lúc nói chuyện, bài ‘Bến Thượng Hải’ đã tới đoạn cuối, trước khi vào bài khác sẽ có mấy giây ngắt quãng, tiếng hát ngưng một chút, lúc này tiếng ồn từ chiếc máy bắt cá đồ chơi phía sau nghe có vẻ chướng tai. Mua cái băng cassette này chỉ vì cô ta muốn nghe bài ‘bến Thượng Hải’, cô ta quay lại, đồng thời tức giận liếc mắt nhìn người phía sau: “Ồn quá…Con đang định hỏi, ra ngoài làm việc đưa con nhỏ này theo làm cái gì vậy!” Mỗi câu mỗi chữ đều tỏ ra vẻ ghét bỏ. Phía sau là một bé gái ba bốn tuổi, đầu đội một chiếc mũ đỏ to bằng len, mặc một chiếc áo bông nền xanh chấm trắng rất dày, chân mang một đôi giày bông mũi tròn màu đen, chất liệu rất tốt, giữa hai lớp vải dồn đầy bông, bàn chân tựa bị sưng trông quá khổ. Cô nhóc đang cúi đầu chơi, đây là món đồ chơi rất thịnh hành lúc bấy giờ, là loại đồ chơi vặn dây cót, thân máy chỉ lớn cỡ bàn tay, mô phỏng hình dạng của cái hồ cá, trong hồ có năm con cá nhỏ, tùy lúc vặn dây cót nó sẽ trồi lên sụt xuống, mỗi khi nhô lên, con cá sẽ tự há miệng, lộ ra miếng nam châm được gắn trong đó. Trên đầu sợi dây câu cũng có gắn một miếng nam châm nhỏ, khi thả đúng vị trí trên miệng cá thì có thể câu được nó lên. Nghe chị gái nói về mình, cô bé thận trọng đưa tay ra, vặn dây cót, sau đó sụt sịt mũi rồi ngẩng đầu lên, lộ ra một gương mặt nhỏ nhắn lem luốc, khuôn mặt cũng giống như hầu hết những đứa trẻ khác, hai bên má cũng ửng hồng do không được giữ ấm thích hợp, lại bị gió thổi lạnh cóng quá mà ra. Đôi mắt tròn xoe mở to, nhìn ông già, lại nhìn cô gái trẻ. Ông già sập mặt: “Ở nhà không có ai, lại ra ngoài lâu như vậy, giao em mày cho hàng xóm mà yên tâm được sao? Cô có ra dáng một người chị chút nào không vậy!” Cô gái trẻ bị chửi, ngoảnh lại đem cơn tức đổ lên đầu cô em: “Nhìn cái gì? Có tin tao móc mắt mày ra không?” Cô bé lập tức cúi gằm đầu. Mời các bạn đón đọc Ba Đường Luân Hồi của tác giả Vĩ Ngư.