Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Hành Lý Hư Vô

Hành lý hư vô. Đó là thứ duy nhất có thể mang theo. Vào đúng khi bạn nhận ra có bao nhiêu đồ đạc cũng chẳng lấp nổi biển trong lòng. Vào đúng khi bạn có quá nhiều thứ để nhìn nhận lại trước và trong những cuộc chia tay. Vào đúng khi bạn hiểu cách những mối quan hệ biến dạng sau mỗi cuộc chuyển dời, nhất là giữa người với người. Vào đúng khi bạn biết là mình có thể buông, nhẹ không. Hành lý hư vô là tập tản văn mới nhất của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Đọc nó, người ta khó lòng ngăn cản được nỗi buồn, mà cũng không muốn ngăn cản nỗi buồn bởi cuối dòng chảy cảm xúc ấy là sự đồng cảm, hy vọng và cả dỗ dành. Một tập tản văn đẹp, hiền, mộc mạc và sâu lắng chứa đựng tấm lòng của người viết. *** Chúng ta cảm nhận từng cảm xúc xâm chiếm lấy tâm hồn và với "Hành lý hư vô", nó không bùng lên mãnh liệt hay ào ạt mà nhẩn nha len lỏi vào từng góc riêng tư ta cố tình giấu đi. “Hành lý hư vô. Đó là thứ duy nhất có thể mang theo. Vào đúng khi bạn nhận ra có bao nhiêu đồ đạc cũng chẳng lấp nổi biển trong lòng. Vào đúng khi bạn có quá nhiều thứ để nhìn nhận lại trước và trong những cuộc chia tay. Vào đúng khi bạn hiểu cách những mối quan hệ biến dạng sau mỗi cuộc chuyển dời, nhất là giữa người với người. Vào đúng khi bạn biết là mình có thể buông, nhẹ không”. Lần này, nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đã trở lại với một cuốn tản văn mới mang tên Hành lý hư vô. Cuốn sách với 32 mẩu chuyện như chính tác giả đã chứng kiến và kể lại cho các bạn. Những câu chuyện rất người, rất mộc mạc, gần gũi đến nỗi như bạn như đang hiện diện ở đó, cũng chạy qua con hẻm đó, cũng ở trên ngọn núi đó, thấy từng mảnh đời, từng nhân vật sao mà thật đến lạ. Là cậu chàng Khờ trong Đá trổ bông luôn chờ đợi một người mẹ từng nói: “Mẹ tui nói chừng đá trổ bông mới lên đón, giờ có trổ xíu nào đâu” mà đá thì có bao giờ nở bông, dẫu mẹ Khờ có thực sự ở đây cũng chắc gì đã lay chuyển được cậu. Là ngôi nhà cũ của ông già bán được bạc tỷ giữa khu phố sáng choang những cửa hàng thời trang, mỹ viện, khách sạn trong Bên cuộc nổi trôi, vậy mà ông vẫn ung dung, mặc kệ bao lời gọi mời. Là một gia đình cháy nắng tỉnh khô trong Mưa mai là mưa khác, dù bão giông khiến họ mắc kẹt lại ở nhà trọ, không cách nào trở về, nhưng họ vẫn tỉnh rụi “chơi được cứ chơi, mai tính tiếp”, như thể tin báo bão chẳng liên quan gì đến họ. Là ông Hồ đi tìm “mấy đứa” của ông trong Hồ đi tìm voọc, đám voọc chà vá chân nâu sắp bị mất rừng bởi những thứ xa hoa sắp được dựng lên, nơi mà chúng vẫn hay ngồi bắt rận cho nhau vào những ngày không giông bão. Là đống đồ cồng kềnh vứt dần sau mấy lần chuyển nhà, chỉ còn lại những hư vô chất đầy trên xe, thứ cần thiết hơn cả những áo khăn được gói chặt bên mình, đến lúc mục rã đi còn chưa xài tới. Cuốn sách với chất buồn man mác để lại nhiều chiêm nghiệm trong lòng người đọc. Vẫn với chất văn buồn man mác và để lại trong lòng người đọc một chút cảm giác hư ảo, một chút ngẫm nghĩ sau mỗi câu chuyện. Dường như từng câu chuyện chúng ta đều tận mắt thấy, tận tai nghe và hiện diện ở đó như thể chúng ta tham gia vào câu chuyện, là một nhân vật trong đó. Chúng ta cảm nhận từng cảm xúc xâm chiếm lấy tâm hồn, với Hành lý hư vô, nó không bùng lên mãnh liệt hay ào ạt, mà nhẩn nha len lỏi vào từng góc riêng tư ta cố tình giấu đi, có khi lại quên mất giữa nhịp sống hối hả. Một chút thân quen cứ như câu chuyện của chị hàng xóm, của cô bác họ hàng hay của chính bạn, ai cũng có nỗi lo toan, niềm hy vọng hay loay hoay đi tìm cách sống tốt hơn. Hành lý hư vô như gói hành trang cần có giữa cuộc sống vốn dĩ đầy chật vật bộn bề, như ngôi nhà thân thương mà ta luôn tìm về, để thấy yên ả đến lạ, để thấy còn có cái tình bên trong mỗi con người. *** Ngoài oxy, không khí trong nhà tôi còn có chất gì? Tôi nghĩ chắc là chất văn chương. Ngay từ sáng sớm, khi các anh chị em trong nhà còn ngủ, mỗi lần tôi thức trước là lại nghe tiếng đầu bút Bic của mẹ tôi chạy loạt soạt trên trang giấy. Âm thanh đó sẽ còn trở lại trong đêm, khi mấy đứa con đã say ngủ. Một âm thanh trên đời không mấy người được nghe. Chỉ có thể có trong một sự yên tĩnh tuyệt đối, với một loại lao động cô độc đến nao lòng. Có khi rất nhanh, hối hả, tưởng như sợ không kịp với những ý tưởng đang tuôn ra. Nhưng cũng có khi ngập ngừng, thậm chí dừng lại rất lâu, đến mức tôi gần như nín thở chờ nghe nó lướt tiếp… Tết năm 1963, gần như đủ mặt nhà tôi (chỉ thiếu anh Nguyễn Ðức Lập không biết lúc đó đi đâu). Ðứng giữa thầy và mẹ tôi là chị Trần Quang Thế, con của thầy tôi và người vợ trước. Ngoài ra từ trái sang phải là chị Thanh Hương, em Thanh Thái, Phương Chi, Thanh Bình, chị Nghi Xương, tôi, anh Ðức Trạch, Ðức Thạch. 1. Từ trong máu… Tôi chào đời ngày 18-10-1951, tại một vùng quê nghèo thuộc Chợ Gò Mỹ Thịnh, xã Nghĩa Thắng, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Nghe mẹ kể, đó là một ca sinh khó nhưng tôi lại chào đời… im ru không một tiếng khóc, cũng chưa biết là trai hay gái. Đỡ đẻ là chị Toàn, con cô Bốn chị của thầy tôi [2] – thầy tôi thứ Năm. Tuy ở tỉnh nhưng chị Toàn lúc ấy đã có bằng Sage Femme D’État (Nữ hộ sinh Quốc gia) của chính quyền thuộc địa Pháp. Chị ngạc nhiên kêu lên: – Trời đất, đứa nhỏ này sao kỳ vậy? Mẹ tôi hoảng hốt cố nhìn xuống thì thấy đứa con chỉ là một khối tròn đẫm nước ối! Mẹ đang muốn xỉu thì chị Toàn hạ giọng vừa sợ sệt vừa mừng rỡ: – Hình như nó… đẻ bọc?... Để coi… Làm sao gỡ cái bọc cho nó khóc mới thở được… Mẹ tôi kể, đó là một cái bọc trắng (phải chi bọc điều chắc đời tôi sướng lắm!) bao hết toàn thân tôi. Chị Toàn phải mằn mò cái bọc, tìm chỗ là cái miệng của tôi để thọc ngón tay vào đâm lủng rồi từ đó xé ra! – đâm trúng con mắt chắc tôi đã thành… thằng chột! Thằng tôi lúc ấy mới tha hồ mà khóc! Thoạt sinh ra thì đà khóc chóe Trần có vui sao chẳng cười khì [3] Tôi sinh ra đời không khóc không cười, không biết có phải là dị nhân? Không rõ, chỉ biết tôi thuộc loại bịnh tật dặt dẹo từ nhỏ nhưng rất lì, dù thể lực yếu kém nhưng hầu như không việc gì không dám làm. Chợ Gò Mỹ Thịnh là một làng nghèo ở ngay chân một ngọn núi thuộc dãy Trường Sơn, nghèo tới mức có tiếng “chó ăn đá gà ăn muối”. Tôi lúc ấy là thằng con thứ… bảy của mẹ, một cô giáo vùng kháng chiến Liên khu 5, làm sao có đủ sữa để bú? Chỉ được nước cháo cầm hơi, tôi khóc ngặt nghẹo suốt ngày, được mẹ thương ấn vú vào là lập tức ngậm chặt nút lấy nút để không buông, dù không có miếng sữa nào – có lẽ vì vậy mà sau này miệng móm? Đến đây thì chắc phải đặt câu hỏi, vì sao năm 1943, thầy mẹ tôi, vừa đang làm báo Sài Thành vừa đang dạy học ở Sài Gòn, đã có ba đứa con đầu cộng thêm ba đứa con riêng của thầy, lại dắt díu nhau trở về quê nghèo để chịu đựng quá nhiều cực khổ? Chắc không gì hơn là xin trích một đoạn ngắn trong hồi ký của mẹ tôi về khoảng thời gian này: “… Năm 1943, khi máy bay Đồng minh thả bom xuống Sài Gòn, chồng tôi đang làm việc ở Huế, nhắn tin tôi phải dẫn lũ nhỏ về gấp Quảng Ngãi để tránh bom. Mặc dù cha mẹ tôi ngăn cản, anh chị chồng tôi không bằng lòng, nhưng tôi vẫn cứ thu xếp sang nhà, bán đồ đạc, sắp xếp đâu vào đó để đưa mấy đứa con về Quảng. Mời các bạn đón đọc Hành Lý Hư Vô của tác giả Nguyễn Ngọc Tư.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Cơm Thầy Cơm Cô
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) Tập ký sự Cơm Thầy Cơm Cô của tác giả Vũ Trọng Phụng. Cơm Thầy Cơm Cô (đăng báo 1936) cũng là một phóng sự mô tả hiện tượng những người dân thôn quê tìm ra đô thị do hấp lực của “ánh sáng kinh thành” để rồi bị biến thành những vú em, con sen thằng ở, thằng bồi thằng xe, bị bóc lột sức lực, bị lạm dụng tình dục, bị buôn đi bán lại, không ít người biến thành trộm cắp, đĩ điếm, làm gia tăng các tệ nạn xã hội. Ở đây nhà văn đã sớm phát hiện những hậu quả tha hóa, phi nhân hóa, gây ra bởi sự di dân, sự nhập cư, là những hiện tượng mà quy mô sẽ tăng lên hàng chục hàng trăm lần khi xã hội ta bước sang thời công nghiêp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa. Một số truyện khác: Con người điêu trá, cuộc vui ít có, bụng trẻ con, tình là dây oan.... ***   Một thứ “mặt trái đời”. Kết quả chuyến xâm nhập điều tra nghề cơm thầy cơm cô của Vũ Trọng Phụng đã bị nhà báo Lê Tràng Kiều xem là một thứ “mặt trái đời” của thời Hoàng Tích Chu ở một hình thể mới. Kiều cho rằng những điều Phụng tố cáo là những sự thực nên kiêng, bởi có quá nhiều điều đáng kinh sợ trong những mẫu hạng về giới cơm thầy cơm cô: “Có những đứa đầy tớ bị chủ nhà đánh chết. Có những con sen được ông chủ quý hơn vợ. Có những thằng nhỏ bỏ thuốc độc định giết cả nhà chủ nhà. Có những anh bếp nhổ đờm vào nồi cá kho. Có những vú già quyền hành như mẹ “cậu mợ”. Có những thằng nhỏ được kỳ lưng cho các tiểu thư. Có những anh xe được ngủ giường Hồng kông với bà chủ. Có những đứa ở lúc chủ chết khóc như khóc bố mẹ. Có những đứa liều mạng cứu chủ. Có những quân đốt nhà của chủ. Hoặc dắt cướp vào nhà. Hoặc thư đi thư lại, làm nghề ma cô. Có những thằng nhỏ hiếp con gái ông phán. Có những con sen bị ông tham hiếp dâm. Có nhiều!” Có tốt, có xấu, chẳng thể chỉ viết điều tốt không, mà đem tất cả điều xấu ra nói thì khó tránh kiểm duyệt. Trong lúc trù trừ Phụng đã được Nguyễn Công Hoan đề nghị: “Mình cứ việc điều tra ngay ở chính mình!” Và rồi phóng sự “Cơm thầy cơm cô” được xuất bản năm 1936, gồm 9 chương và phần mở đầu, ghi lại hết thảy hiện thực một cách chân thực về chuyến điều tra mà nhà văn là nhân vật “tôi” đi xin việc. Cám dỗ của “ánh sáng kinh thành”. Sau hòa ước Patenôtre 1884 – hòa ước cuối cùng nhà Nguyễn ký với thực dân Pháp – thực dân Pháp chia nước ta làm 3 miền với 3 chế độ cai trị khác nhau. Nam Kỳ với chế độ thuộc địa. Trung Kỳ theo chế độ nửa thuộc địa, nửa bảo hộ. Riêng Bắc Kỳ hoàn toàn theo chế độ bảo hộ. Bắc Kỳ, nơi đất ít, người đông, khí hậu khắc nghiệt nên quan hệ làng xã được duy trì bền vững, thực dân Pháp lợi dụng mối quan hệ này để định ra cách cai trị riêng cho Bắc Kỳ. Chúng giữ nguyên bộ máy cai trị của phong kiến để biến tầng lớp này thành tay sai đắc lực cho chính quyền Pháp ở Đông Dương bằng cách trao cho họ những quyền lợi về kinh tế và chính trị, nhằm mua chuộc người Việt làm tay sai cho thực dân Pháp, chia rẽ sự đoàn kết, đẩy nhanh quá trình phân hoá giàu nghèo, làm tăng mâu thuẫn trong xã hội, làm cho nhiều gia đình nông dân điêu đứng, bần cùng. “Cơm thầy cơm cô” là kết quả cuộc điều tra về nạn buôn người và nghề đi ở của ông vua phóng sự đất Bắc những năm 1930, dưới hậu quả thâm độc trong chính sách cai trị bóc lột của thực dân Pháp, người nông dân nghèo không biết làm gì cho có cái ăn, cái mặc, buộc phải di dân, buộc phải rời làng quê đi đến Hà thành với hy vọng đổi đời. Có lẽ những đêm không trăng không sao, người nhà quê vùng Nam Định, Hải Dương, Bắc Ninh, Sơn Tây, Hòa Bình mỗi khi ra sân, quay về một phía trời, đã thấy có một vùng hào quang sáng rực. Đó là ánh sáng của kinh đô Hà Nội! Nơi nghìn năm văn vật, dân giàu, nhiều tiền lắm của, dễ kiếm sinh nhai… Ánh sáng kinh thành cám dỗ người dân quê. Khi ra đi, có lẽ họ chắc mẩm trong bụng về công việc vẻ vang. Họ như con thiêu thân bay vào đống lửa, cho nên mới bị quáng mắt bởi những ánh sáng của kinh thành. Trong khi chờ cho có việc, họ có mấy đồng xu cứ ăn hết dần. “Đến cái ngày mà túi cạn mà việc chưa có, mà không ai thí cho đồng chinh hay bát cháo, tất là họ phải sinh ra liều mạng, có những lá gan to. Đàn bà sẽ đi đến Dục tình. Đàn ông sẽ đi đến Hình phạt.” Hiện tượng những người dân thôn quê bỏ nhà bỏ cửa ồ ạt nối đuôi nhau ra đô thị, một mặt do điêu đứng bần cùng bởi sưu cao thuế nặng nơi làng quê, một mặt do hấp lực của “ánh sáng kinh thành” để rồi bị biến thành những vú em, những con sen thằng ở, những thằng bồi thằng xe… Họ bị bóc lột sức lao động, bị lạm dụng tình dục, bị buôn đi bán lại, không ít người biến thành trộm cắp, đĩ điếm, làm gia tăng các tệ nạn xã hội. Bằng phong cách của người làm báo, Vũ Trọng Phụng nói thẳng, nói thực, tả chân. Ông đi sâu vào điều tra xã hội con sen thời bấy giờ. Khi giá trị con người có lúc không bằng lũ súc vật. Đám dân hạ lưu chia nhau ra khắp các phố, như dòng nước len lỏi qua các cống ngầm, thành thử những người lịch sự tưởng Hà thành lịch sự, mà các nhà xã hội học cũng tưởng là Hà thành không có chuyện gì bi thương. Nhưng thực ra, nó rất là thương tâm. “Nó đã cất tiếng gọi dân quê bỏ những nơi đồng khô cỏ héo đến đây để chết đói một lần thứ hai sau khi bỏ cửa bỏ nhà. Nó đã làm cho giá con người phải ngang hàng với giá loài vật: Nó đã làm cho một bọn trẻ đực vào nhà Hoả Lò và một bọn trẻ cái làm nghề mãi dâm!” Cái cách dùng từ “bọn trẻ đực” và “bọn trẻ cái” sao mà đắt giá! Bởi giá trị con người có khi không bằng giá súc vật. Người dân quê đi đến được đất Hà thành, để kiếm việc làm phải nhờ vào mụ làm nghề đưa người ở, mụ tập trung họ đến chợ buôn người, họ ngồi giơ mặt cho ruồi bâu, chờ được mua. Mỗi người chỉ cầu như một con chó, nhiều khi kém một con chó. Vì con chó có khi còn được chủ mua thịt bò cho ăn, vì con chó có khi mỗi tháng còn khiến chủ tốn kém hơn nuôi một đứa tôi tớ trong nhà. Còn phận tôi đòi đem chân tay ra làm nhiều việc có ích, rất nặng nhọc, ăn đói làm no, mà vẫn không kiếm được việc, không có khách nào muốn mua. Rõ ràng không phải ra giá cao nên ế, chính là bán rẻ mà vẫn ế! Vũ Trọng Phụng phơi bày một sự thật trần trụi đến đau lòng, khi phận con người khát khao đời sống của một con chó còn không được. “Nước mẹ đại Pháp” đã làm gì nhân dân Việt Nam thế này? Vũ Trọng Phụng đã viết ra hiện thực mà nhiều người không dám viết, không phải ông nhìn đời bằng con mắt đen, mà thực tế xã hội Việt Nam dưới chính sách bảo hộ đầy thâm độc của thực dân Pháp đã mục nát như vậy rồi. Từ việc mua bán người, ra giá, trả giá như đồ vật, đến những sự việc diễn ra khi đi ở, bị bạo hành, bị hãm hiếp, trả thù… quan hệ nhân quả và sự tha hóa bản chất con người quả thật đã khiến độc giả phải rùng mình ghê sợ. Với một thái độ trung dung, Vũ Trọng Phụng không đứng về phía quân chủ nhà, cũng không bênh vực đám đầy tớ, ông chỉ đơn giản là trần thuật nguyên nhân, quá trình, hậu quả, hệ lụy… Tất cả là cái phông nền bộc lộ rõ bản chất xã hội đất Hà thành dưới thời Pháp thuộc.  “Nghệ thuật thì dài mà cuộc đời thì ngắn.” Danh ngôn của Hippocrates – cha đẻ Y học, người thầy thuốc vĩ đại nhất lịch sử Hy Lạp cổ đại – như ứng vào cuộc đời Vũ Trọng Phụng. Chỉ với 27 năm kiếp người và vỏn vẹn 9 năm cầm bút, ông đã để lại những đứa con tinh thần mang gen trội với sức sống dồi dào theo thời gian. Vũ Trọng Phụng không sợ cũng không ngại đào sâu vào những u uất của xã hội đương thời, những cái điều mà nhà văn khác e ngại nói ra. Với “Cơm thầy cơm cô”, nhà văn đã phát hiện những hệ lụy tha hóa, phi nhân hóa gây ra bởi di dân và nhập cư, cùng hậu quả ghê rợn của nó dưới thời Pháp thuộc. Ngày nay, khi đất nước ta bước sang thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, thì ảnh hưởng bởi hiện tượng này vẫn còn, tuy nhiên dưới sự quan tâm và quản lý của nhà nước Việt Nam, dù là di cư thì cuộc sống nhân dân vẫn có nhiều ổn định. Vũ Trọng Phụng đã chứng minh cái tài của người cầm bút được tôn vinh là “ông vua phóng sự đất Bắc”, mang đôi mắt tỏ tường trước xã hội dù nơi ánh đèn soi rực rỡ hay nơi tối tăm hôi hám, mang lòng can đảm dám viết thực theo lối tả chân. Bởi vậy mà văn Vũ Trọng Phụng vẫn sống và đang sống căng tràn trên diễn đàn văn học cả trong và ngoài nước. Mời các bạn mượn đọc sách Cơm Thầy Cơm Cô của tác giả Vũ Trọng Phụng.
Tương Lai Văn Hóa Việt Nam
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Tương Lai Văn Hóa Việt Nam của tác giả Thích Nhất Hạnh. Tương lai văn hóa Việt Nam (Viết cho thằng Cu và con Hĩm) Mới ngày nào đây hai đứa còn trát bùn lên mặt, đùa giỡn với nhau bên bờ ao, vậy mà bây giờ các con đã lớn và đã bắt đầu lo nghĩ tới chuyện đời rồi. Cuộc đời nhiều chuyện lắm, ta ngại các con sẽ ít có cơ hội để ngồi lại cùng nhau mà xét nghĩ cho chín chắn về việc tương lai. Tuổi ta đã cao mà câu chuyện ta muốn nói với hai con lại là một câu chuyện cần được nói trong tĩnh lặng, vì vậy ta đã lấy giấy bút để viết những dòng này cho các con. Tập sách gồm có: Cây đào và Con Ong Bùa Mê và Thuốc Lú Nhận diện Sự sống là một Hạt lúa và Miếng Thịt Ưu Điểm và Nhược Điểm Hãy đưa bàn tay lên mà nhìn ngắm Giải tỏa tiềm năng sáng tạo Đồng sinh cộng tử Tự do là sức mạnh của Văn Hóa Vận dụng ý thức Màng lưới ngôn từ Tinh thần khoa học, tinh thần cởi mở Sự thực đến gõ cửa tìm ta Tinh thần bao dung hòa hợp Tính dân tộc tìm ở đâu? Tại sao hàng triệu người bỏ nước ra đi? Anh không chấp nhận chân lý tôi thì anh phải chết Chống Quan Liêu, Phong Kiến và Tham Nhũng ngay trong huyết quản của mỗi người chúng ta Nhân dân là ai? Và ở đâu? Bình tâm mà nhận xét Đức hiếu sinh Tước đoạt sự sống của kẻ khác là tước đoạt sự sống của chính ta Đống xương vô định đã cao Không có ý thức hệ nào quý bằng sự sống Sứ mạng mà giống nòi phú thác Đồng minh của chúng ta Hiện tượng mất chân đứng văn hóa Những phương châm chỉ đạo văn hóa Khơi nối được chất liệu văn hóa Tôi và Ông Định nghĩa Văn Hóa *** Tóm tắt Tương Lai Văn Hóa Việt Nam là một cuốn sách của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, được viết vào năm 1992. Cuốn sách được viết cho hai đứa con của ông, Thiện Tâm và Thiện Trí, nhưng cũng có thể được coi là một bức thư gửi tới tất cả những người quan tâm đến tương lai của văn hóa Việt Nam. Trong cuốn sách, Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã phân tích những ưu điểm và nhược điểm của văn hóa Việt Nam, đồng thời đưa ra những định hướng cho sự phát triển của văn hóa Việt Nam trong tương lai. Review Tương Lai Văn Hóa Việt Nam là một cuốn sách giàu ý nghĩa, mang đến cho người đọc những suy nghĩ sâu sắc về văn hóa Việt Nam. Cuốn sách được viết với văn phong giản dị, dễ hiểu, có nhiều ví dụ thực tế để minh họa. Một số điểm nổi bật của cuốn sách: Thể hiện rõ tinh thần dân tộc và tinh thần hòa hợp của văn hóa Việt Nam. Đưa ra những định hướng cho sự phát triển của văn hóa Việt Nam trong tương lai, dựa trên những giá trị truyền thống của dân tộc. Được viết với văn phong giản dị, dễ hiểu, có nhiều ví dụ thực tế để minh họa. Cuốn sách phù hợp với những người quan tâm đến văn hóa Việt Nam, những người muốn tìm hiểu về những giá trị truyền thống của dân tộc và những định hướng cho sự phát triển của văn hóa Việt Nam trong tương lai. Một số trích dẫn đáng chú ý trong cuốn sách: "Văn hóa là gì? Văn hóa là tất cả những gì mà con người đã sáng tạo ra trong quá trình sinh sống và phát triển của mình. Văn hóa bao gồm vật chất và tinh thần, bao gồm những gì hữu hình và vô hình. Văn hóa là sản phẩm của quá trình lao động, sáng tạo của con người. Nó là kết quả của sự giao lưu, tiếp biến giữa con người với con người, giữa dân tộc với dân tộc." "Văn hóa Việt Nam là một nền văn hóa phong phú và đa dạng. Nó có nguồn gốc từ nền văn minh lúa nước, được hình thành và phát triển qua hàng nghìn năm lịch sử. Văn hóa Việt Nam là sự kết hợp hài hòa giữa bản sắc dân tộc và tinh hoa của nhân loại." "Văn hóa Việt Nam có những ưu điểm nổi bật, như: Tính dân tộc: Văn hóa Việt Nam mang đậm bản sắc dân tộc, thể hiện qua những giá trị truyền thống như: lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng,... Tính nhân văn: Văn hóa Việt Nam đề cao giá trị nhân văn, thể hiện qua những giá trị đạo đức như: yêu thương, nhân ái, vị tha,... Tính hòa hợp: Văn hóa Việt Nam đề cao tinh thần hòa hợp, thể hiện qua sự giao lưu, tiếp biến giữa các nền văn hóa khác nhau." "Tuy nhiên, văn hóa Việt Nam cũng còn có những hạn chế, như: Tính cục bộ: Văn hóa Việt Nam còn mang tính cục bộ, chưa có sự giao lưu, tiếp biến rộng rãi với các nền văn hóa khác. Tính thụ động: Văn hóa Việt Nam còn mang tính thụ động, chưa có sự sáng tạo, đổi mới. Tính nông nghiệp: Văn hóa Việt Nam còn mang tính nông nghiệp, chưa có sự phát triển mạnh mẽ ở các lĩnh vực đô thị, công nghiệp." Tương Lai Văn Hóa Việt Nam là một cuốn sách hay và ý nghĩa, có thể mang lại cho người đọc nhiều lợi ích trong việc tìm hiểu về văn hóa Việt Nam. Mời các bạn mượn đọc sách Tương Lai Văn Hóa Việt Nam của tác giả Thích Nhất Hạnh.