Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Mầm Ác

Mầm ác là một câu chuyện với những dòng diễn biến tâm lý của nhân vật Karen bởi nỗi ám ảnh, tội lỗi cô gây ra, và nỗi lo sợ về tương lai. Những giọt nước mắt rất mặn, chúng đã tưới lớn Mầm ác trong ai? Đón đọc Mầm ác, do Phúc Minh Books liên kết với Nhà xuất bản Văn học ấn hành! *** Mầm Ác là một cuốn tiểu thuyết trinh thám kể về ba con người với tính cách riêng biệt. Một Karen thông minh và khuôn phép. Một Biba quyến rũ và nổi loạn. Một Rex cam chịu và giàu đức hy sinh. Mùa hè năm ấy, số phận đã đưa ba con người với ba tính cách riêng biệt ấy lại gần nhau... và biến mùa hè đó thành khúc cua định mệnh trong đời mỗi người - khúc cua bất ngờ khiến họ vĩnh viễn không còn cơ hội quay đầu. Khúc cua đẩy Karen khỏi lộ trình tươi sáng của một thiên tài ngôn ngữ. Khúc cua xô Biba khỏi tham vọng hào nhoáng của một đại minh tinh. Khúc cua cắt lìa Rex khỏi giấc mơ sống một đời bình yên dưới mái nhà trong hẻm Queenswood. Và khúc cua, đã làm bừng dậy một Mầm ác. Điều gì đã xảy ra với ba con người ấy? Một sự giải thoát? Một con ác mộng? Hay những bước chân lầm lạc không còn phương hối cải? Và những giọt nước mắt rất mặn, chúng đã tưới lớn Mầm ác trong ai? *** “Anh bước nhẹ nhàng trên tấm rèm nhung màu xanh và vàng đồng mà không gây ra một tiếng động nào, tấm rèm ấy nằm trên nhiều lớp vỏ chăn ga trải ra trên sân thượng, nhưng vẫn có một tiếng va chạm khi gót chân của anh tiếp xúc với hòn đá chặn ở hai đầu của một chiếc mền. Trước đây tôi chưa từng thấy ai đi như vậy, anh cứ đi lên đi xuống quanh một khoảng đất nhỏ, đi qua rồi đi lại, đi tới rồi đi lui. Anh đi như thể trong tâm trí có quá nhiều suy nghĩ và chúng phải chuyển hóa vào các cơ bắp, khiến cho cơ thể di chuyển không mục đích. Có lẽ đó là lý do tại sao trông việc này lại đáng sợ như vậy.” Nỗi lo hay nói chính xác hơn là nỗi ám ảnh luôn khiến cho con người ta rơi vào trạng thái hỗn loạn và hành động kỳ quặc trong vô thức. Nhiều lúc không thể tự kiểm soát bản thân và vì áp lực đã bị dồn nén quá lâu trong một con người sống thầm lặng và “an phận thủ thường” nên mọi chuyện sẽ luôn đi theo chiều hướng cực đoan nhất. Nhân vật Paul trong quyển sách này là một trường hợp tương tự như thế – một mầm ác trỗi dậy như một quy luật tự nhiên về tâm lý của con người. “Mầm ác” chẳng khác gì một bối cảnh mùa hè phóng túng – nơi trỗi dậy của những bí mật tội lỗi và sự hồi hộp luôn kéo dài liên miên bởi biến đổi trong tâm lý đã khiến con người ta trở thành kẻ giết chóc. Cả ba nhân vật chính nhìn thì tưởng họ là những con người lương thiện bình thường nhưng không, ai cũng len lỏi một mầm ác trong tâm hồn. Với Karen – cô là một sinh viên xuất sắc và triển vọng nghề nghiệp rất cao nhưng cuộc đời của cô đã có ngã rẽ khi gặp Biba – một cô gái lòe loẹt và hào nhoáng. Karen đã bị cuốn hút bởi lối sống xa hoa của Biba và đến tham gia cuộc vui tại biệt thự – nơi cô gặp Rex và nảy sinh tình cảm. Họ cuốn vào cuộc đời nhau bởi rượu, tình dục và những đêm hè hoạt náo. Thế nhưng, cuộc đời đâu thể mãi vui và hạnh phúc mãi khi Biba và Rex có những bí mật phức tạp từ gia đình. Ruồng bỏ, tự tử, oán hận và tội lỗi bao trùm cái gia đình ấy và cũng chính nó sẽ bao trùm cả mùa hè vốn dĩ đang rạng ngời của Karen. Dĩ nhiên, biến cố đã xảy ra và cuộc tình của Rex và Karen đã phải chịu xa cách. Thời gian mười năm, Karen đã sinh bé Alice và dĩ nhiên cả Rex và Karen luôn mong muốn có được cuộc sống bình yên sau một khoảng thời gian dài chịu đựng những sóng gió của số phận. Nhưng bất ngờ thay, Karen cũng có những bí mật u tối và chắc chắn sự ám ảnh đó không phải chỉ là một căn bệnh tâm lý mà nó sẽ trở thành một mối nguy đe dọa đến sự an toàn của con và chồng cô. “Mầm ác” đã gây ra được sự thu hút đối với tôi bởi việc di chuyển dòng thời gian giữa mười năm trước và hiện tại rất mượt mà. Mọi tình tiết không hề bị gượng ép và luôn đưa ra được những góc nhìn sâu để tiết lộ sự thật qua từng trang truyện. Kịch tính của tình huống đều được tăng tiến theo mỗi chương cộng thêm với những tình tiết hoàn toàn đảo ngược vấn đề đã khiến cho câu chuyện đặc sắc lạ thường. Vì tội giết người nghe qua thì đơn giản nhưng sự thật đằng sau hành vi tàn ác đó lại khiến chúng ta phải quan tâm nhiều hơn. Những thắc mắc sẽ ẩn hiện và thôi thúc chúng ta đọc đến phần kết cục. Dĩ nhiên, con người không ai hoàn hảo và cũng chẳng có tác giả nào xây dựng một nhân vật hoàn hảo trên mọi phương diện. Thiếu sót của Karen và Rex chính là họ sống trong sợ hãi, họ nhấn chìm cả tuổi trẻ và sự ngây thơ vào những sự tối tăm không cần thiết. Và ở Karen, cô cũng đã quá tham lam với những điều mới mẻ; nếu cô không tò mò với những điều lạ lẫm ở trước mắt thì ngã rẽ của đời cô chắc gì đã xuất hiện?! Biba thì khác biệt một chút, cô ấy hoàn toàn là một kẻ ích kỷ và liều mạng, một kẻ chuyên gia gây ra sự hỗn loạn ở mọi phương diện nhưng lại hiện ra rất chân thật, rất đúng với sự nổi loạn của những người mới lớn. Một điều đáng lưu ý nữa là bầu không khí mà tác giả tạo ra trong truyện thực sự mang lại nhiều ám ảnh, không phải kiểu đáng sợ máu me mà là kiểu tâm trạng mơ hồ và ảm đạm cứ bám víu lấy mọi thứ. (Trần Nguyễn Phước Thông, FB Trần Thông, 29-01-2020) Trần Thông *** MỞ ĐẦU Tôi buông chiếc điện thoại để nó tuột khỏi tay. Cơn hoảng loạn đánh gục tôi rồi lại vực tôi dậy. Đầu ngón tay tôi chộn rộn lần mò trên mặt bàn cà phê, quờ quạng tìm chìa khóa xe và điện thoại di động. Tôi cuống cuồng mặc quần áo trong bóng tối, vớ vội lấy áo khoác và đôi bốt da cừu to quá khổ mà tôi vẫn dùng để đi trong nhà. Lúc tới ngưỡng cửa, tôi do dự một giây rồi hối hả quay lại bàn, lục ngăn kéo để tìm hộ chiếu và thẻ tín dụng chỉ dành cho lúc khẩn cấp. Tôi khẽ khàng kéo cánh cửa sau lưng, dù máu đang chạy rần rật trong tai tôi. Tôi chốt hai lần khóa bằng đôi tay run rẩy, nhưng để làm gì? Để ngăn ai đó thoát ra? Để ngăn kẻ nào bước vào? Tôi cũng không biết nữa. Ra đến bên ngoài, tôi nhón chân nhưng vẫn tạo ra tiếng lắc rắc như thể vừa đạp nát một con ốc sên dưới đế giày. Khi tôi giẫm phải một vũng nước ngoài cổng, nước lạnh ngấm qua lớp da lộn mềm mại và liếm vào những ngón chân trần của tôi. Trong khoang xe tối tăm, tôi vặn khóa khởi động, nhăn nhó vì cơn gió buốt giá thổi tới, xua đi làn hơi thở vừa đông thành khói. Đôi tay tôi ướt lạnh. Tôi cố bình tĩnh tìm đôi găng tay len nhét ở túi áo bên trái. Trước khi đeo găng, tôi móc điện thoại ra, mở danh sách cuộc gọi đến. Tôi gọi vào điện thoại trong nhà, chờ nghe tiếng tút tút kết nối tín hiệu nhưng lại vội cúp máy khi điện thoại chưa kịp đổ chuông. Kính chắn gió bị sương giá phủ mờ, còn tôi không dư thời gian để chờ tới lúc hệ thống sưởi làm tan hết hơi nước. Tôi lau ô cửa xe ở ghế khách rồi liếc mắt nhìn cửa sổ phòng ngủ tối đen. Anh có nghe thấy không? Biết đâu ngay lúc này, đèn bật sáng, bóng anh hiện ra bên cửa sổ và anh gọi to tên tôi. Liệu điều đó có ngăn được tôi không? Liệu điều gì có thể? Chiếc xe đỗ ngay phía trước căn nhà. Nếu tôi bật đèn pha lên thì chúng sẽ hắt sáng vào cửa sổ, vì vậy không cần ánh đèn dẫn lối, chỉ dựa vào việc nhìn xuyên qua dấu tay in trên cửa kính, tôi lầm lũi lái xe ra đường. Tới tận khi nghĩ mình đã đi khuất khỏi ngôi nhà, tôi mới mở đèn pha lên. Nơi thôn quê này lạnh băng và ảm đạm. Những hàng rào cây trơ trụi lá khắc họa đường nét kỳ quặc trên con đường trước mặt và vỉa cao bên đoạn đường hẹp đổ xuống những hình bóng tựa như bóng người. Cái chết, mất mát và lầm lỡ vây chặt lấy tôi, các linh hồn vốn giấu mình giờ bùng lên thành ma quỷ. Tôi sợ hãi cả việc liếc ra phía sau. Chúng truy đuổi khiến tôi mất bình tĩnh phóng bạt mạng, thậm chí lao cả lên bờ cỏ lúc rẽ quá nhanh qua khúc cua tầm nhìn hạn chế. Dây an toàn siết chặt vào khoảng giữa ngực tôi khi tôi phanh gấp để tránh đâm phải chiếc xe tải đột ngột xuất hiện trước mắt. Đó là một chiếc xe bẩn thỉu, sơn loang lổ, đồ lề lòng thòng đằng sau và đi chậm như rùa bò, có lẽ tay tài xế hơi quá chén. Tôi chẳng còn cách nào, đành đi chầm chậm theo sau. Tôi dành khoảng thời gian trì hoãn ấy để nghiêm túc suy nghĩ. Nhưng chẳng thể lí trí được trong tình huống thế này. Tôi chỉ mặc đồ ngủ và xỏ đôi giày ẩm lạnh, một mình lái xe trên đường quê giữa đêm tối mịt mùng. Không ai biết tôi đang ở đâu và sao tôi lại ở đó, trên danh sách cuộc gọi ở nhà, tôi cũng tự xóa dấu vết duy nhất mình có thể để lại. Tôi nghĩ tới những người khác, nhưng lần đầu tiên trong đời tôi nhận ra rằng chỉ khi tiếp tục mới có thể mang đến sự an toàn cho chính mình. Liếc nhìn đồng hồ tốc độ, tôi thấy mình đang đi với vận tốc bốn dặm 1* một giờ. Tôi nhấn còi và nháy đèn, nhưng màu xanh lam hắt ra từ buồng lái cho tôi biết tay tài xế đang nghe điện thoại. Tôi mường tượng trong đầu về đoạn đường phía trước. Vì đã đi qua rất nhiều lần nên tôi nắm rõ từng ổ gà, từng khúc lắt léo và từng đoạn mấp mô. Tôi hít sâu một hơi, giật mạnh cần số, lao liều vào điểm tránh mở rộng mà tôi nhớ rằng nó nằm ngay bên phải. Nhưng người lái chiếc xe đen đi từ hướng ngược lại cũng nghĩ giống tôi. Khi chúng tôi vượt qua nhau, tiếng kim loại cọ xát chát chúa vang lên. Tôi tăng tốc. Nếu anh ta muốn làm gì thì cứ việc đuổi theo tôi đi. Gương bên trái xe của tôi bị bung ra khỏi khung, lủng lẳng níu giữ bằng một mẩu dây điện, trông như một phần tay chân dính với thân thể chỉ bằng một mạch máu duy nhất. Gã lái xe kia bị bỏ lại đằng sau, nhấn còi đầy giận dữ, hiệu ứng Doppler 2* khiến chiếc xe quăng lại nửa tiếng còi cụt lủn rồi cứ thế đi tiếp về phía nhà tôi. Vì có một chiếc xe tải chen giữa xe tôi và chiếc xe vừa nãy, mà lúc này tôi cũng chẳng kịp quay lại, nên không biết gã đi một mình hay chở thêm người, là ô tô riêng hay taxi. *1 dặm ~ 1,069 km. *Một hiệu ứng vật lý, được nhà vật lý Christian Andreas Doppler tìm ra. Hiệu ứng Doppler là hiện tượng xảy ra khi nguồn sóng (với tần số ổn định) di chuyển khiến cho tần số sóng phát ra khác với tần số sóng thu được tại điểm quan sát. Tôi lao đi một cách điên rồ. Chỉ có camera tốc độ với dấu hiệu nhận biết quá rõ ràng mới có thể khiến tôi đi chậm lại. Ở vành đai thành phố, bờ cỏ cằn cỗi bên đường thay thế bằng vỉa hè chật hẹp và hàng cây được trồng thẳng hàng, đều tăm tắp, chia cách mấy căn nhà, một quán rượu cùng một cây xăng. Dãy cột đèn dần xuất hiện, những quả cầu theo phong cách Victoria trông như những mặt trăng nhỏ đang xếp hàng, tôi nhận thấy chúng cũng sáng tựa vầng trăng. Cuối cùng, sự việc làm tôi nơm nớp lo sợ suốt một phần ba đời người đang ở đây. Trong xe bỗng trở nên nóng nực. Đôi tay đeo găng của tôi mướt mồ hôi, mắt khô khốc, còn lưỡi thì dính lên vòm miệng. Tôi đã từ bỏ rất nhiều điều và làm vô số việc tồi tệ chỉ bởi tôi phải làm thế vì lợi ích của gia đình mình. Tôi không biết chuyện gì sẽ xảy ra với chúng tôi. Tôi sợ hãi, nhưng lại cảm thấy mình thật mạnh mẽ. Tôi mang sức mạnh của một người phụ nữ có quá nhiều thứ để mất. Mời các bạn đón đọc Mầm Ác của tác giả Erin Kelly & Quang Bích (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Vịnh Tokyo - Anthony Grey
Tiểu thuyết lịch sử về các biến động tháng Bảy năm 1853, tàu chiến Mỹ làm chấn động nước Nhât, và gần đưa hai nứơc mỹ nhật tới chiến tranh *** Anthony Gray OBE là một nhà báo và tác giả người Anh. Là một nhà báo của Reuters, ông đã bị chính quyền Trung Quốc cầm tù 27 tháng tại Trung Quốc từ năm 1967 đến 1969. Ông đã viết một loạt tiểu thuyết lịch sử và sách phi hư cấu, bao gồm một số cuốn liên quan đến việc ông bị giam giữ. *** Nửa đêm, 7 tháng Bảy năm 1853 MỒ HÔI TRẮNG XOÁ TÚA RA TỪ LƯNG CON ngựa trạm gần như đang hấp hối khi chàng kị sĩ đội chiếc mũ trụ samurai thúc mạnh cựa giày vào nó và phóng như tên bắn vọt qua chiếc cầu vồng vắt qua vòng thành thứ ba phía trước toà thành trì đồ sộ của Shogun ở Yedo. Tới trước hàng lính gác mặc áo giáp chống giáo chắn ngang cánh cổng sắt nặng nề chàng kị sĩ hô vang: - Chokurei - da! Kinkyu Chokurei - da! Chàng rút ra từ dưới vạt áo chiến bào một cuộn giấy nhỏ được buộc bằng những sợi dây mạ vàng và giơ cao lên quá đầu. Những người lính gác đội mũ sắt mặc áo giáp bằng da và tre đã dợm chĩa mũi dáo về phía chàng, nhưng tiếng hô của chàng trai trẻ có vẻ là một samurai đã khiến họ dừng tay. Những lời chàng vừa hô là mật hiệu báo rằng chàng mang theo một "tin khẩn" do Hoàng đế gửi tới từ cung điện ẩn dật của Người ở Kyoto, cách Yedo ba trăm dặm về phía Tây nam. Và nữa, khi chàng đến gần hơn thì họ nhìn rõ ngôi sao sáu cánh, phù hiệu của thị tộc chàng được thêu bằng chỉ vàng trên vạt áo chiến bào jimbaory chỉ rõ rằng chàng là một nhà quý tộc ở đẳng cấp cao nhất. - Hayaku! Hayaku! Mau lên! Chàng khẩn thiết quát những tên lính gác đang lóng ngóng mở cổng và cố kìm con ngựa đang lảo đảo. Khe hở giữa hai cánh cổng vừa đủ rộng chàng đã thúc cho con ngựa chồm vọt qua hàng lính gác bên trong. Chàng dễ dàng vượt qua vài trạm gác nữa, mỗi lần lại hô vang và vung cao cuộn giấy, tận tới khi lên tới bậc thềm đá dẫn lên cửa chính của toà lâu đài. Đúng lúc chàng quăng người xuống khỏi yên thì con ngựa gục xuống, mép sùi bọt máu. Nhưng chàng samurai không hề liếc mắt nhìn lại, chàng nhảy vội lên bậc thềm đá, đôi song kiếm nhô ra khỏi tấm thắt lưng màu tro nhạt bó chặt lấy tấm kimono. Chàng giơ cuộn giấy có đóng triện của Hoàng đế cho viên chỉ huy đội vệ binh và ngay lập tức được đưa vào. Vừa đi vừa chạy, chàng vượt qua dãy hành lang lợp mái vòm cao, hai bên tường được dát toàn vàng lá. Nhảy ba bậc một, chàng đi sát vào bức tường trên có những hoạ tiết miêu tả cảnh những con chim huyền thoại đậu trên cành trúc và những rặng anh đào núi. Phía trên đầu, hàng xà gồ bằng gỗ được phủ lớp sơn mài hai màu đen và óng ánh vàng đỡ lấy mái vòm được trang trí tuyệt đẹp, nhưng chàng samurai trẻ tuổi chẳng hề liếc mắt đến tất cả những cái đó và chỉ dừng lại để hỏi những tên lính gác mặc đồng phục đứng dọc hành lang xem phải đi lối nào rồi lại hối hả bước đi. Khi đến trước cánh cửa của phòng Hội đồng Tướng quân, chàng tháo mũ trụ và rút cuộn giấy ra khỏi vạt áo chiến bào. Vẻ mặt khẩn cấp chàng trình bày với viên thị vệ trưởng của Hội đồng. Ngay sau đó chàng tháo zori và quỳ tiến vào trên đôi chân trần. Hàng trăm cặp mắt đổ dồn đầy dò hỏi khi chàng bước vào gian sảnh với vẻ mặt xanh tái. Tất cả bọn họ đều mặc những tấm áo daimyo rực rỡ, đó là những quận công đứng đầu các lãnh địa trên khắp đất nước Nhật Bản, tất cả bọn họ quỳ quanh một chiếc bệ cao đặt chính giữa. Shogun ngồi trên chiếc bệ đó. Các daimyo chỉnh tề trong bộ triều phục gồm áo choàng vai, quần lụa buông lá toạ, đầu đội mũ sơn mài sáng lấp lánh, họ kinh ngạc nhìn chàng quý tộc áo quần xộc xệch. Khi chàng phủ phục, đầu cúi xuống tận nền nhà họ mới nhìn thấy búi tóc trên đầu chàng cũng dính đầy bụi bặm và bê bết mồ hôi. Trước khi phủ phục chàng đã tháo hai thanh kiếm ra khỏi thắt lưng áo choàng và đặt chúng cùng chiếc mũ trụ xuống tâm tatami bên mình. Cũng giống như quần áo chàng, hai thanh kiếm cùng chiếc mũ trụ đều bê bết bùn đất. Shogun ngồi trên bục cao, im lặng nhìn và chờ đợi. Ông ngồi xếp bằng, tấm áo choàng bằng lụa xám khiến cho ông có dáng vẻ của Đức Phật. Mặc dù ông vẫn ngồi rất thẳng, nhưng gương mặt gầy của ông vẫn có một vẻ xanh xao khác thường và những giọt mồ hôi ướt đẫm trên trán cho thấy ông tựa như đang bị bệnh nặng. Sự xuất hiện đột ngột của chàng trai đang thở hổn hển kia đã gây nên một chớp nhoáng cảnh giác trong đôi mắt của Shogun, nhưng ông đã nhanh chóng lấy lại được vẻ bình thản và khẽ quay đầu lại. Tiếp nhận hiệu lệnh đó, một vị trong hàng các daimyo đang quỳ trước bệ bèn nhổm lên và cúi đầu xuống thật thấp hướng về phía Shogun. Rồi vẫn tiếp tục cúi đầu thật thấp ông ta lùi tiếp ra xa để người đưa tin trẻ tuổi có thể lách vào quỳ xuống và tự giới thiệu. - Tâu Đại Tướng quân, tôi là Tanaka Yoshio, hoàng tử thuộc thị tộc Kago, tỉnh Kumatore - Chàng samurai nói giọng sang sảng - Tôi được uỷ nhiệm mang tới trình Đại Tướng quân một tin thượng khẩn từ Đức Đại Hoàng đế ở Kyoto. Mời các bạn đón đọc Vịnh Tokyo của tác giả Anthony Grey.
Chậm Rãi - Milan Kundera
Chúng tôi nảy ra ý muốn nghỉ chiều và qua đêm tại lâu đài. Nhiều lâu đài ở Pháp đã biến thành khách sạn: một vùng cây cối lọt thỏm trong một vùng không gian trơ trụi, khô cằn; một khoảng nhỏ để đi dạo với chim muông, cây cỏ giữa một hệ thống đường cao tốc rộng lớn. Tôi đang lái xe, qua tấm kính hậu tôi nhận thấy một chiếc xe con chạy phía sau. Ngọn đèn nhỏ bên trái nhấp nháy, cả chiếc xe phả ra những làn sóng nôn nóng. Người tài xế đang tìm cơ hội để vượt qua tôi; anh ta quan sát lựa thời cơ giống như một con diều hâu lựa lúc lao xuống chụp con chim sẻ. Véra, vợ tôi, nói với tôi: “Cứ năm mươi phút lại có một người chết vì tai nạn giao thông ở Pháp. Nhìn mà xem, tất cả cái đám đông điên cuồng đang quay lượn quanh chúng ta. Đó cũng chính là những người đã tỏ ra thận trọng kinh khủng khi có một bà già bị móc túi ngay trước mặt họ ở trên phố. Làm sao họ lại không cảm thấy sợ hãi khi ngồi sau tay lái?” Tôi biết nói gì đây? Có thể là thế này: con người đang cúi gập mình trên chiếc xe máy chỉ có thể tập trung chú ý vào khoảnh khắc hiện tại anh ta đang lao xe đi; anh ta bị buộc chặt vào mảng thời gian bị cắt rời khỏi cả quá khứ và tương lai; anh ta bị dứt tung khỏi dòng chảy liên tục của thời gian; anh ta ở ngoài thời gian; nói cách khác, lúc đó anh ta đang trong trạng thái xuất thần, ở trạng thái đó anh ta không còn biết gì đến tuổi tác, vợ con, những nỗi âu lo của mình nữa cả, thế nên anh ta không thấy sợ, bởi vì nguồn gốc nỗi sợ là ở phía trước, phía tương lai, mà một người đã thoát khỏi tương lai thì không có gì phải sợ. Tốc độ là một hình thức xuất thần mà cuộc cách mạng kỹ thuật đã tặng cho con người. Ngược lại với người đi xe máy, người chạy bộ luôn luôn hiện diện trong cơ thể anh ta, buộc phải không ngừng nghĩ xem mình đã phồng chân, kiệt sức chưa; trong khi chạy anh ta cảm thấy trọng lượng, tuổi tác của mình, ý thức hơn bao giờ hết về bản thân và thời gian sống của mình. Mọi chuyện sẽ thay đổi khi con người giao phó khả năng tốc độ cho máy móc: kể từ khi đó, cơ thể riêng của anh ta bị đặt ra ngoài quá trình vận động, anh ta hiến mình cho cái tốc độ phi cơ thể, phi vật chất, tốc độ thuần túy, tốc độ tự nó, tốc độ xuất thần. *** Milan Kundera (sinh 1/4/1929 tại Brno, Cộng hòa Czech, định cư tại Pháp từ 1975) là một nhà văn lớn thế kỷ XX, một nhà tiểu thuyết có lối viết độc đáo, khác lạ. Tác phẩm của ông đã vào Việt Nam từ cuối thập niên 1990.  Tiểu thuyết “Sự bất tử” do tôi dịch đã đăng ở số 1 (1996) tạp chí “Văn học nước ngoài” của Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 1999 tiểu thuyết này cùng hai tiểu thuyết khác của Milan Kundera (“Chậm rãi”, “Bản nguyên”) cũng do tôi dịch đã được in thành sách dày 766 trang (Nxb Văn Học & Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây).  Nhà văn Nguyên Ngọc đã dịch của Milan Kundera ba tập tiểu luận - “Nghệ thuật tiểu thuyết” (1998), “Những di chúc bị phản bội” (2001), “Một cuộc gặp gỡ” (2013) và một tiểu thuyết - “Lễ hội của vô nghĩa” (2015).  Dịch giả Cao Việt Dũng đã dịch của Milan Kundera ba tiểu thuyết – “Cuộc sống không ở đây” (2003), “Điệu valse giã từ” (2004), “Vô tri” (2010), một tập truyện ngắn – “Những mối tình nực cười” (2009) và một tập tiểu luận – “Màn” (2014).  Dịch giả Trịnh Y Thư ở Mỹ đã dịch của Milan Kundera tiểu thuyết “Đời nhẹ khôn kham” (2002), cuốn này vừa được in trong nước đầu 2018. Hôm nay, sau đúng hai mươi năm ra sách lần đầu, tôi đón nhận bản dịch “Sự bất tử” (496 trang) tái bản. Hai cuốn còn lại (“Chậm rãi” và “Bản nguyên”) sắp tới cũng sẽ ra lại. Cả ba cuốn này đều do Nhã Nam làm.  Nhà văn Nguyên Ngọc cho biết ba cuốn tiểu luận của Milan Kundera ông dịch cũng đang được công ty sách Bảo An Books xúc tiến tái bản. Các tác phẩm của tác giả Milan Kundera: Đời Nhẹ Khôn Kham Vô Tri Cuộc Hội Thảo Điệu Valse Giã Từ Những Di Chúc Bị Phản Bội Sẽ Không Ai Cười Chậm Rãi Sự Bất Tử Lễ Hội Của Vô Nghĩa Màn Một Cuộc Gặp Gỡ ... Mời các bạn đón đọc Chậm Rãi của tác giả Milan Kundera.
Bỏ Vợ - Hồ Biểu Chánh
Ông Ba Chánh năm nay vừa quá 50 tuổi, tóc đã bạc hoa râm, nhưng răng còn chắc chắn, sức còn mạnh mẽ. Ông goá vợ đã hơn 6 năm rồi. Trong nhà chỉ có một đứa con gái, là cô Huyền, được 21 tuổi. Ông quen với thầy Thanh, nhà ở một xóm, mà làm việc dưới Sài Gòn, thường hay tới lui đàm luận với nhau chơi. Cách vài năm trước, vì thầy Thanh làm mai nói dẻo dai quá, nên ông mới gã cô Huyền cho thầy Võ Như Bình, người mồ côi, gốc ở đâu dưới Hậu Giang, thi đậu bằng thành chung rồi làm việc trong một hãng buôn dưới Sài Gòn. Ông nghĩ thầy Bình thân phận côi cút lại là người có học thức, nên gả con ông cũng không đòi hỏi vật chi hết, đám cưới làm sơ sài, mời năm ba người quen đến ăn uống một bữa mà thôi, mà cũng không cần rước Chánh lục bộ đến lập hôn thú. Từ ngày cưới rồi thì thầy Bình về ở theo bên vợ. Thầy có sắm một cái xe máy, để mỗi buổi sớm mai thầy đạp đi xuống Sài Gòn làm việc, trưa thầy ăn cơm quán và ở nghỉ tạm tại nhà của người làm chung một hãng, đến chiều tối thầy mới về Chí Hòa. Thầy Bình ở với cô Huyền đã sanh được một chút con trai, đặt tên là Nghiệp, mới 10 tháng mà sổ sữa, ngộ nghĩnh, chẳm hẳm lắm... *** Hồ Biểu Chánh là một nhà văn lớn của Nam Bộ, người có công mở đường cho nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Người đương thời và nhiều thế hệ về sau đã đón nhận tác phẩm Hồ Biểu Chánh với tất cả sự nồng nhiệt, trân trọng. Lịch sử văn học Việt Nam không thể phủ nhận đóng góp to lớn của Hồ Biểu Chánh. Một trong những yếu tố làm nên sự thành công ấy chính là tác phẩm của ông có được một hình thức ngôn ngữ đầy ấn tượng, thể hiện phong cách ngôn ngữ văn xuôi Nam bộ những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Hồ Biểu Chánh sinh năm 1884 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ. Tháng 8 năm 1941, sau khi ông về hưu, được Pháp mời làm cố vấn với danh hiệu Nghị viện Hội đồng Liên bang Đông Dương và Phó Đốc lý thành phố Sài Gòn, đồng thời làm giám đốc những tờ báo tuyên truyền cho chủ nghĩa Pháp-Việt. Sau khi tái chiếm Nam Bộ năm 1946, Cộng hòa tự trị Nam Kỳ được thành lập, ông được mời làm cố vấn cho chính phủ Nguyễn Văn Thinh. Nhưng chỉ được mấy tháng, khi chính phủ Nguyễn Văn Thinh sụp đổ, ông lui về quê ở ẩn và giành trọn những năm tháng còn lại cho sự nghiệp văn chương. Ông mất ngày 4 tháng 9 năm 1958 tại Phú Nhuận, Gia Định; thọ 74 tuổi. Lăng mộ ông hiện nay được đặt ở đường Thống Nhất, phường 11 quận Gò Vấp. Tác phẩm: Nợ Đời Bỏ Chồng Bỏ Vợ Dây Oan Đóa Hoa Tàn Đoạn Tình Nặng Gánh Cang Thường Cay Đắng Mùi Đời Con Nhà Giàu ... Mời các bạn đón đọc Bỏ Vợ của tác giả Hồ Biểu Chánh.
Bỏ Chồng - Hồ Biểu Chánh
Qua tháng mười một, mùa mưa đã dứt rồi, lại có ngọn gió bấc thổi lao rao. Buổi chiều, ở Sài Gòn, khí trời mát mẻ, làm cho con người từ trẻ chí già đều khỏe khoắn trong mình, nên đi ngoài đường ai cũng lộ cái vẻ hớn hở tươi cười. Thế mà, Chí Thiện, năm nay đã được 28 tuổi, làm thơ ký toán cho một hãng buôn lớn tại đường Kinh Lấp, đúng 7 giờ tối, thầy ở trong hãng bước ra, bộ đi chậm rãi, mặt mày buồn hiu, dường như thầy tiếc rẻ hãng đóng cửa sớm không cho thầy làm việc thêm nữa. Tay ôm một cuốn sách với một tờ nhựt báo, thầy thủng thẳng đi lại đường Pelerin đón xe autobus mà về Đa Kao. Bước lên xe thầy ngồi dưới ngọn đèn điện sáng trưng, mở tờ nhựt báo ra mà xem, không ngó kẻ qua người lại hai bên đường, mà cũng không để ý đến những kẻ đi trên xe. Tới Đa Kao xe ngừng, thầy xếp tờ nhựt trình rồi bước xuống tránh xe kéo, xe máy mà quẹo lên đường Paul Bert. Gần tới căn phố chỗ thầy ở, thầy thấy con Sáu, là đứa con gái, đương đứng dựa cột điện mà chơi với con thầy, tên con Yến, năm nay đã được 6 tuổi. Bấy giờ thầy mới xăn bước, đi riết lại. Con Yến kêu “ba” rồi chạy đón, ôm bắp vế thầy. Thầy cuối xuống, ôm mặt con mà hun, đưa cuốn sách với tờ nhựt báo cho con cầm, rồi nắm tay dắt con đi vô nhà. Trong nhà đèn sáng trưng, nhưng từ trước ra sau đều vắng hoe, không nghe tiếng, không thấy dạng một người nào hết. *** Hồ Biểu Chánh là một nhà văn lớn của Nam Bộ, người có công mở đường cho nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Người đương thời và nhiều thế hệ về sau đã đón nhận tác phẩm Hồ Biểu Chánh với tất cả sự nồng nhiệt, trân trọng. Lịch sử văn học Việt Nam không thể phủ nhận đóng góp to lớn của Hồ Biểu Chánh. Một trong những yếu tố làm nên sự thành công ấy chính là tác phẩm của ông có được một hình thức ngôn ngữ đầy ấn tượng, thể hiện phong cách ngôn ngữ văn xuôi Nam bộ những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Hồ Biểu Chánh sinh năm 1884 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ. Tháng 8 năm 1941, sau khi ông về hưu, được Pháp mời làm cố vấn với danh hiệu Nghị viện Hội đồng Liên bang Đông Dương và Phó Đốc lý thành phố Sài Gòn, đồng thời làm giám đốc những tờ báo tuyên truyền cho chủ nghĩa Pháp-Việt. Sau khi tái chiếm Nam Bộ năm 1946, Cộng hòa tự trị Nam Kỳ được thành lập, ông được mời làm cố vấn cho chính phủ Nguyễn Văn Thinh. Nhưng chỉ được mấy tháng, khi chính phủ Nguyễn Văn Thinh sụp đổ, ông lui về quê ở ẩn và giành trọn những năm tháng còn lại cho sự nghiệp văn chương. Ông mất ngày 4 tháng 9 năm 1958 tại Phú Nhuận, Gia Định; thọ 74 tuổi. Lăng mộ ông hiện nay được đặt ở đường Thống Nhất, phường 11 quận Gò Vấp. Tác phẩm: Nợ Đời Bỏ Chồng Bỏ Vợ Dây Oan Đóa Hoa Tàn Đoạn Tình Nặng Gánh Cang Thường Cay Đắng Mùi Đời Con Nhà Giàu ... Mời các bạn đón đọc Bỏ Chồng của tác giả Hồ Biểu Chánh.