Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Tù Nhân Thành Zenda

Giữ lại tình yêu ở nơi sâu thẳm nhất của trái tim Để bảo toàn dạnh dự cho gia tộc Và làm tròn phận sự với quốc gia Tất cả sẽ có trong Tù nhân thành Zenda. Một tiểu thuyết phiêu lưu kinh điển của thế kỉ 19 – được chuyển thể nhiều lần thành phim điện ảnh, phim truyền hình, kịch và nhạc kịch…vào các băn 1895, 1913, 1915, 1922, 1937, 1952, 1961, 1979, 1984. Trích đoạn Nếu tôi tường thuật lại chi tiết những sự kiện thông thường trong cuộc sống hàng ngày của mình vào thời gian này, bản tường thuật ấy có thể sẽ rất hữu ích cho những người không quen thuộc với nội tình các cung điện; nếu tôi hé lộ vài bí mật đã biết, chúng tôi có thể sẽ hữu ích cho giới chính khách Châu Âu. Tôi không định sẽ làm bất cứ việc nào trong hai việc kể trên. Nếu làm thế tôi sẽ rơi vào giữa Scylla của nỗi buồn tẻ và Charybdis của sự thiếu tế nhị, tôi cảm thấy tốt hơn nhiều là nên giới hạn hoàn toàn vào câu chuyện đầy kịch tính ngấm ngầm diễn ra dưới bề mặt chính trường Ruritania. *** Dòng họ Rassendyll - cùng vài lời về gia tộc Elphberg “Tôi không biết đến bao giờ chú mới chịu làm gì đó trong đời hả Rudolf?” - Chị dâu tôi hỏi. “Chị Rose yêu quý,” - tôi vừa trả lời vừa đặt chiếc thìa ăn trứng xuống - “sao em lại phải làm gì đó trong đời chứ? Cuộc sống hiện tại của em rất thoải mái. Em có thu nhập gần đủ cho nhu cầu của mình (mà chị biết đấy, chẳng có thu nhập của ai là đủ bao giờ cả), em có một vị trí xã hội đáng ước ao: là em trai Lord Burlesdon, và là em chồng của vị phu nhân duyên dáng, nữ bá tước của anh ấy. Chị thấy đó, vậy là đủ rồi!” “Chú hai mươi chín tuổi rồi đấy,” - chị dâu tôi nhận xét - “và chú chưa bao giờ làm gì ngoài...” “Ăn không ngồi rồi phải không nào? Quả có vậy thật. Gia đình chúng ta không cần phải làm việc này việc nọ.” Nhận xét này của tôi làm chị Rose phật ý, vì ai cũng biết (và vì thế chẳng có gì hại khi đề cập tới thực tế này) cho dù chị xinh đẹp và hoàn hảo, gia đình chị cũng khó lòng được coi là sở hữu cùng địa vị như dòng họ Rassendyll. Ngoài sự hấp dẫn của bản thân, chị dâu tôi còn sở hữu một tài sản lớn, và ông anh Robert của tôi thì đủ khôn ngoan để không bận tâm nhiều đến các bậc tiền bối của chị. Song kỳ thực các bậc tiền bối đúng là vấn đề trong đó nhận xét tiếp theo của chị Rose chứa đựng ít nhiều sự thật. “Các danh gia vọng tộc nói chung thường tệ hơn những gia đình khác,” - Chị nói. Nghe đến đây, tôi đưa tay lên vuốt tóc: tôi biết thừa ý chị muốn ám chỉ điều gì. “Tôi lấy làm mừng là Robert tóc đen!” - Chị lớn tiếng. Đúng lúc này, Robert (người dậy lúc bảy giờ và làm việc trước khi ăn sáng) bước vào. Anh tôi đưa mắt nhìn vợ: đôi má chị hơi ửng đỏ; anh tôi trìu mến vỗ nhẹ lên đó. “Có chuyện gì thế, em yêu?” - Anh hỏi. “Chị phản đối chuyện em không làm gì và có mái tóc đỏ,” - Tôi nói với giọng tổn thương. “À phải! Tất nhiên là cậu ấy chẳng thể làm gì với mái tóc của mình,” - Rose thừa nhận. “Nói chung chuyện này cứ mỗi thế hệ lại xảy đến với một người,” - anh trai tôi nói. - “Với cái mũi cũng thế. Rudolf sở hữu cả hai thứ.” “Em ước gì chúng không nảy ra,” - Rose nói, má vẫn đỏ bừng. “Bản thân em lại thấy thích chúng,” - tôi nói và vừa đứng dậy vừa cúi đầu về phía bức chân dung nữ bá tước Amelia. Chị dâu tôi kêu lên đầy bực bội. “Em ước gì anh cất bức tranh đó đi chỗ khác, Robert,” - Chị nói. “Kìa em!” - Anh tôi thốt lên. “Lạy Chúa lòng lành!” - Tôi chêm vào. “Như thế người ta có thể quên chuyện đó đi,” - Chị dâu tôi nói tiếp. “Khó lắm - với Rudolf luôn đó,” - Robert vừa nói vừa lắc đầu. “Sao lại phải quên nó đi chứ?” - Tôi hỏi. “Rudolf!” - Chị dâu tôi gắt lên, má đỏ lựng trông thật đẹp. Tôi bật cười, và tiếp tục thưởng thức quả trứng của mình. Ít nhất tôi cũng đã chống đỡ được câu hỏi liệu tôi cần phải làm gì (nếu có gì đó cần làm thật). Và như thể để khép lại cuộc tranh luận - đồng thời cũng phải thừa nhận nhằm châm chọc bà chị dâu khó tính đáng mến của mình thêm chút nữa - tôi nhận xét: “Thực ra chính em cũng thích làm một người của nhà Elphberg.” Khi đọc một câu chuyện, tôi luôn bỏ qua những lời giải thích; thế nhưng đến khi bắt đầu viết ra một câu chuyện, tôi lại thấy nhất định mình phải có một lời giải thích. Rõ ràng tôi cần giải thích tại sao chị dâu tôi lại bực mình đến thế với cái mũi và mái tóc tôi sở hữu, cũng như tại sao tôi lại dám mạo muội gọi mình là một người của nhà Elphberg. Vì phải nói rằng dù dòng họ Rassendyll đã có địa vị thượng lưu qua nhiều thế hệ, song sở hữu dòng máu của nó thoạt nhìn tất nhiên chẳng thể biện minh được cho việc tuyên bố có quan hệ với gia tộc Elphberg hiển quý hơn nhiều hay tuyên bố mình là một thành viên của hoàng tộc này. Vì liệu có thể có mối quan hệ nào giữa Ruritania và Burlesdon, giữa cung điện Strelsau hay lâu đài Zenda với số nhà 305 Park Lane, West chứ? Chẳng là thế này - và tôi phải thừa nhận mình sắp buộc phải bới lên đúng vụ tai tiếng mà quý phu nhân Burlesdon thân mến ước ao nhận chìm vào quên lãng - vào năm 1733, khi đó đức vua George II đang ngồi trên ngai vàng, thiên hạ đang thái bình, và đức vua cùng Hoàng tử xứ Wales vẫn chưa bất hòa với nhau, có một ông hoàng ghé thăm triều đình nước Anh, người sau này được biết đến trong lịch sử với tư cách đức vua Rudolf Đệ Tam của Ruritania. Hoàng tử là một thanh niên cao ráo, điển trai, được làm nổi bật (hay làm lu mờ bớt, về điều này thì tôi không có tư cách để nói) bởi một cái mũi có phần dài khác thường, sắc sảo và thẳng, cùng mái tóc màu đỏ sẫm - kỳ thực, đó là chiếc mũi và mái tóc đã trở thành dấu ấn của gia tộc Elphberg. Vị hoàng tử nán lại Anh vài tháng, nơi điện hạ được đón tiếp vô cùng lịch thiệp; thế nhưng cuối cùng vị khách hoàng gia lại rời đi trong bối cảnh khá ảm đạm. Vì điện hạ đã quyết đấu (và người đương thời đánh giá điện hạ quả là người đàng hoàng khi dẹp sang bên mọi câu hỏi về địa vị của mình) với một nhà quý tộc, khá nổi tiếng trong giới thượng lưu thời ấy, không phải vì sự xuất chúng của bản thân ông này, mà với tư cách là chồng của một bà vợ cực kỳ xinh đẹp. Trong cuộc quyết đấu, hoàng tử Rudolf nhận một vết thương nghiêm trọng, và sau khi hồi phục, điện hạ được vị đại sứ Ruritania, người cảm thấy hoàng tử quả là một mối phiền phức lớn, khéo léo kín đáo đưa về nước. Nhà quý tộc kia không bị thương trong cuộc quyết đấu; nhưng vì buổi sáng diễn ra cuộc quyết đấu trời khá lạnh và ẩm ướt, ông này bị cảm lạnh nặng, đã qua đời sáu tháng sau khi hoàng tử Rudolf về nước, không kịp có thời gian điều chỉnh mối quan hệ với vợ mình - người hai tháng sau đó sinh hạ một đứa bé thừa kế tước vị và lãnh địa của gia đình Burlesdon. Vị phu nhân kể trên chính là nữ bá tước Amelia, người có bức chân dung mà chị dâu tôi mong muốn gỡ bỏ khỏi phòng tranh tại Park Lane; và chồng bà là James, bá tước Burlesdon đời thứ năm, nam tước Rassendyll đời thứ hai mươi hai, cả hai tước hiệu đều hiện diện trong Danh sách quý tộc nước Anh, đồng thời cũng được tặng huân chương Hiệp sĩ Dòng Garter. Về phần Rudolf, hoàng tử quay về Ruritania, cưới vợ, lên ngôi, và từ đó hậu duệ ngành trưởng trực hệ của ông vẫn tiếp tục ngự trên ngai vàng đến tận bây giờ - với một thời gian gián đoạn ngắn. Cuối cùng, nếu bạn đi dọc theo hành lang treo các bức chân dung tại Burlesdon, trong số chừng năm mươi bức chân dung thuộc về một thế kỷ rưỡi vừa qua, bạn sẽ tìm thấy năm hay sáu bức, trong đó có chân dung vị bá tước đời thứ sáu, nổi bật lên với cái mũi dài, thẳng, sắc sảo và mái tóc dày đỏ sẫm; năm hay sáu bức chân dung này cũng có mắt xanh, trong khi mắt đen là nét chung hay gặp hơn trong dòng họ Rassendyll. Trên đây là lời giải thích, và tôi lấy làm mừng đã trình bày xong: những vết nhơ trên các dòng dõi danh giá luôn là chủ đề tế nhị, và chắc chắn tính di truyền mà chúng ta vẫn nghe nói đến rất nhiều này chính là kẻ chế chuyện ngồi lê đôi mách tinh tế nhất trên đời, luôn kín đáo cười nhạo báng và viết xen những ghi chú lạ lùng vào giữa các dòng trong bản Danh sách quý tộc. Mời các bạn đón đọc Tù Nhân Thành Zenda của tác giả Anthony Hope & Lê Đình Chi (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Long Đong
Gió lạnh kéo mây đen nghịt khắp bốn phương trời. Anh hai cung vác cuốc lên vai định ra đi, nhưng mới bước qua khỏi thềm thì mưa trút ào xuống, anh liền quay trở vào ném cây cuốc dưới sàn ván, vừa nói lằm bằm: - Mới mở mắt ra là mưa rồi. Hết ngày mưa hay sao mà nhè bữa nay mình tính lên vồng lại mưa. Chị Cung ẳm con Nương thả xuống chiếc chõng tre gần phía trong bếp, đọan nhìn chồng buông tiếng bất bình: - Mình không sợ tội... với trời đất! Ông mưa mà mình biểu phải mưa mấy ngày mình nghỉ sao. Anh Cung vẩn còn lằm bằm: Vậy chớ... mới mở con mắt ra là mưa rồi. Ai còn làm ăn gì được. Chị Cung múc cháo đút cho con, vừa cừơi nhẹ: - Ông trời mà ở còn chưa vừa lòng người, đừng nói chi ai. Anh Cung làm thinh, đi thẳng vô bếp ôm một khúc củi mít đem ra chui vào bếp un trước thềm . Chị Cung nói vói theo: - Nay mưa thì nghỉ , mai làm , có gì đâu mà cằn nhằn. Đành đầu hàng hoàng cảnh , anh Cung ngồi luôn bên bếp un, mở bì thuốc rê quấn lấy một điếu , vừa lặng nhìn giọt mưa giăng giăng ngoài hiên. Thình lình , chị Cung hỏi chồng: - Đất bên cồn , mình dọn hết chưa? Mồi lửa xong, anh Cung dán điếu thuốc lên đầu lưỡi, mấp mấp mấy cái, đoạn hít một hơi khói thật dài. Đôi môi anh lép nhép trong khói thuốc mịt mù: - Đã dọn đâu mà dọn. Mình tính bữa nay ở nhà cuốc cho rồi mấy vồng đất đâng cặm mấy cây mì, xong bên nay mới đi qua cồn luôn. Mưa như vầy là phải bỏ một ngày nữa. Dứt lời; anh lại ngồi im lặng phì phà khói thuốc, ngắm bong bóng nứơc nổi lêu bêu bên thềm. Chiếc bong bóng này vỡ tan lại có chiếc bong bóng khác nổi lên như hy vọng trong lòng anh. Bỗng đôi mắt anh rực sáng lên. Anh cúi đầu thấp xuống xem kỹ một dấu chân giày in rõ trên lớp tro của bếp un. Rồi từ dấu chân đó, anh tìm thấy thêm những dấu chân khác rải rác từ ngoài hàng ba vào tận ngữơng cửa. Liếc thấy vợ đanh lo đút cháo cho con Nương, không để ý đến anh, anh vụt đứng dậy bước theo từng vết giày, nhưng qua khỏi ngưởng cửa một chút , anh không còn thấy dấu chân lạ nữa.Anh lại ngồi xuống quan sát thật kỹ khắp mặt đất. Mời các bạn đón đọc Long Đong của tác giả Nghiêm Lệ Quân.
Biển Còn Sóng Gió
Mang nội dung khá thú vị về chuyện tình yêu tuổi, Biển Còn Sóng Gió mở ra cốt truyện khá mới lạ, thu hút không ít bạn đọc chiêm nghiệm. Mang những ngôn từ lãng mạn, truyện teen Biển Còn Sóng Gió hứa hẹn đem đến những tình tiết mới lạ và hấp dẫn. *** Anh thật sự lo lắng cho em, Lục Di. Chúng ta đã sống và làm việc quá lâu trong gia đình họ Nhâm. Chúng ta đủ hiểu rằng họ là những con người lạnh lùng và khép kín Nhậm Triều Phong lại là một kẻ không hề mảy may có xúc cảm thậm chí hắn không buồn hồi âm những thư tín của bà Gia Yến. Hắn đã rũ bỏ quá khứ và chà đạp lên gia phả của dòng họ mình. Hắn giống hệt người cha vô tâm của hắn, đã ra đi biệt xứ hơn ba mươi năm về trước. Anh thật sự không yên tâm khi thấy em tiếp cận một con người nguy hiểm như Nhậm Triều Phong. Lục Di mỉm cười chua xót: – Thôi, Lãnh Bình! Đừng bận tâm về chuyện ấy nữa. Tôi sẽ đứng vững trên đôi chân của mình. Tôi vẫn như vậy mà. – Lục Di! Anh biết em vẫn còn oán trách anh vì chuyện cũ phần nào lỗi tại anh. Anh không hề yêu Nhậm Tinh Doanh, nhưng cũng chấp nhận cưới cô ấy làm vợ chỉ vì sự nghiệp của gia đình anh. *** Dưới tình yêu của Lãnh Bình, liệu có khiến Lục Di tỉnh ngộ và quay trở lại con đường đúng đắn? Truyện luôn mang đến những câu hỏi và tình tiết éo le khiến bạn đọc cảm thấy tò mò, khơi gợi tính sáng tạo và trí tưởng tượng phong phú để rồi đón nhận cái kết đầy bất ngờ mà tác giã đã an bài sẵn. Bên cạnh tựa truyện mang lại nhiều cung bậc cảm xúc. *** Triều Phong nhìn Lục Di đầy vẻ ngưỡng mộ. Đêm nay, nàng trông giống như bầu trời lúc hoàng hôn. Bộ áo váy màu lam khoác lên người nàng trông như một làn mây mỏng. Trong tâm trí anh, cứ tưởng tượng ra cái cảm giác man mác của những búp tóc xinh xinh nơi gáy nàng. Đường cong của đôi môi nàng, đôi môi như cánh bướm mỗi khi lướt nhẹ trên má anh. Anh thấy lòng rộn lên khi nàng nhìn anh mỉm cười. Mắt nàng lộ rõ sự chân thành ấm áp, mà với anh nó chẳng khác gì ngọn lửa hồng trong đêm đông giá lạnh. Anh tự nhủ, nàng không đáng yêu như thế nếu nàng đang âm mưu trả thù gia đình anh. Triều Phong bắt đầu một cách quyết tâm: – Lục Di, anh nghĩ đã đến lúc chúng ta phải nói chuyện với nhau. Lục Di chớp mắt: – Em không rõ anh muốn nói gì? Những người họ Nhậm luôn luôn cường điệu tất cả sự việc. – Lục Di ạ! Hôm nay anh đã nói chuyện khá lâu với bà nội. – Thế à? Em cũng vậy. – Bà đã hốt hoảng phải không? Dường như điều đó đã ăn sâu vào trong máu bà rồi. – Trái với điều anh nghĩ, bà rất vui khi nói với em rằng bà rất mãn nguyện với những thành quả mà anh đã đem lại cho công ty. Bà rất hạnh phúc khi thấy cơ nghiệp đứng vững trên chính đôi chân của nó, anh đã đem lại mạch đập và sự hồi sinh ảnh đất này. Chính màu hồng trên đôi má nàng làm anh cảm thấy lòng rộn lên. – Ai nói anh đến đây không phải để trả thù? Lục Di mỉm cười: – Em biết anh đến đây không phải là để trả thù. Triều Phong ạ! – Em có tin chắc mình nghĩ đúng không? Làm sao em biết được điều đó? – Bởi vì những gì anh đã làm cho công ty, cho Nhậm Tinh Doanh, cho Mã Lãnh Bình, cùng với những chuyện khác nữa. – Em đừng có suy diễn. – Anh thật sự đã làm nên một sự thay đổi kỳ diệu. Mã Lãnh Bình đã nói với em, chính anh đã giúp anh ấy vượt qua một chặng đường không mấy bằng phẳng, anh đã cứu cuộc đời anh ấy. Lãnh Bình mang ơn anh nhiều hơn những gì anh ấy có thể nói với anh. – Những gì tốt đẹp, anh đã làm ọi người, có thể chỉ là một phần trong kế hoạch trả thù của anh. – Thôi nào, Triều Phong. Hãy thôi nói đùa về chuyện ấy đi. – Không đùa đâu, anh nói nghiêm chỉnh đấy. Ngay cả khi anh nói lên sự thật, mọi người cũng không tin anh. Quanh họ là một bầu không khí yên lặng. Tự dưng Lục Di suy nghĩ, từ khi nàng biết anh đến giờ, chưa bao giờ nàng lại thấy anh với một cảm giác như vậy qua đôi mắt sâu thẳm của anh. Cuối cùng nàng hỏi: – Có chuyện gì vậy, Triều Phong? – Không. – Tối nay, anh có vẻ căng thẳng. Có lẽ không phải là một buổi tối tốt đẹp để chúng ta đến với nhau. Triều Phong hít một hơi thở sâu, rồi nói: – Anh muốn nói bên cạnh việc mọi người tin tưởng và mang ơn những gì anh đã làm cho họ. Bà nội anh có nói gì khác với em không? Lục Di cúi mặt nhìn ngón tay bé xíu đang nguệch ngoạc những đường nét vô nghĩa trong lòng bàn tay. – Bà lo sợ tình cảm em quá sâu đậm đối với anh. – Còn gì nữa? – Triều Phong ... – Lục Di, hãy nhìn anh đây này! Lục Di từ từ nhìn lên và thấy anh đang chăm chú ngắm mình một cách căng thẳng. – Hãy nói thật với anh đi. Một thiên thần không biết nói dối. Bà nội anh còn nói gì với em nữa? Bà không muốn em lấy anh phải không? Bà luôn cho rằng mình có quyền điều khiển cuộc sống người khác. – Bà không điều khiển, bà chỉ lo sợ cho em mà thôi. – Thế em trả lời sao? – Em xin lỗi, chưa nghe rõ anh nói gì? Anh lườm nàng: – Em đã nghe anh nói rõ rồi mà. Câu trả lời của em là thế nào? Lục Di đã nhận ra lời đề nghị kết hôn của anh. Mắt nàng nhìn anh dưới đôi mày thanh tú khẽ chau lại: – Em chưa nghe được câu hỏi. – Em thừa biết câu hỏi là gì rồi. Em có lấy anh hay không? Lục Di gườm gườm nhìn anh: – Thế anh mong đợi điều gì? Em không thích điều ám chỉ trong câu nói của anh. Giọng anh trầm lắng: – Anh sợ điều đó, Lục Di. Anh sợ bi kịch ngày xưa. Anh thật sự không muốn điều đó xảy ra với bất cứ ai. Lục Di nhìn thẳng vào mắt Triều Phong: – Mọi người đã cố tình đào xới câu chuyện quá khứ đau lòng này, thì có lẽ bây giờ cũng là lúc để tôi hỏi. – Điều gì vậy, Lục Di? – Tôi hiểu là ông Nhậm Khởi Minh bỏ đi cùng với cô nhân tình của mình: Triều Quân. Ông ấy yêu say đắm và những người họ Nhậm các người thường làm những việc đầy kịch tính trong những hoàn cảnh cũng đầy kịch tính. Nhưng tại sao ông ấy không có một lời giải thích với mẹ tôi, để bắt bà phải chịu đựng sự nhục nhã đau đớn khi bị bỏ rơi trước bàn thờ Chúa. Mời các bạn đón đọc Biển Còn Sóng Gió của tác giả Dạ Tuyền.
Lược Sử Cái Chết
Rất nhiều xã hội Phi châu quan niệm rằng có ba thế giới: thế giới của những người còn sống trên mặt đất, thế giới của những người-chết-đang-sống và thế giới của những người chết. Nhiều người, sau khi lìa trần, vẫn chưa hoàn toàn chết vì họ vẫn sống trong ký ức của những người đang sống - họ có thể được tái tạo trong nghệ thuật, được nhắc đến trong các câu chuyện kể, hoặc đơn giản là sống trong tâm trí của một người nào đó. Sau khi người cuối cùng biết về người-chết-đang-sống đó chết đi, họ trở thành những người chết thực sự. Tất nhiên, sẽ có rất nhiều người chết vẫn còn lưu danh lại, nhưng họ cũng không còn là người-chết-đang-sống nữa. Lược sử cái chết là một câu chuyện huyễn tưởng không chỉ gây băn khoăn về ngày tận thế mà còn đặt ra những vẫn đề rất thực và những suy ngẫm rất sâu sắc về sự tồn tại của chúng ta, về sự giao thoa giữa tâm hồn ta với những bản thể khác và với toàn vũ trụ... - "Một cuốn sách khiến ta không thể dừng mở trang kế tiếp" - Rocky Mountain News. - "Một tiểu thuyết ly kỳ được viết với một trái tim giàu lòng nhân ái" - O, The Oprah Magazine. - "Một tiểu thuyết đầy sức mê hoặc và gợi nhiều suy nghĩ về ký ức của con người, về sự giao thoa giữa những tâm hồn, về cuộc sống sau khi chết, và về hiện tại" - Tucson Citizen. - "Có sức lay động mạnh... Ngay từ chương đầu, cuốn tiểu thuyết đã tạo ra một sức thu hút khác lạ, và chắc chắn nó sẽ còn đọng lại trong lòng độc giả sau khi trang sách cuối cùng khép lại. Là một câu chuyện ngụ ngôn, một câu chuyện cổ, một câu chuyện thần thoại đương đại... Trong lịch sử cái chết, Brokmeier đã đưa ra một cái nhìn giả thuyết về kết thúc của nhân loại... Nếu sự vĩnh hằng tồn tại, thì đây chính là một định nghĩa sắc nét cho thời đại của chúng ta"... - Beacon Journal. - "Không chỉ là một câu chuyện gây băn khoăn về tận cùng của thế giới. Đó là một sự suy ngẫm sâu sắc về sự tồn tại của chúng ta, về sự giao thoa giữa tâm hồn ta với những bản thể khác và với toàn vũ trụ. Với bối cảnh viễn tưởng ly kỳ và các nhân vật đa diện, Lược sử cái chết không tuân theo các thể văn truyền thống. Tác giả đã rất khôn ngoan "đứng cả hai dòng nước", một bên là dòng tiểu thuyết khoa học giả tưởng và một bên là các truyền thống văn học để tạo nên một tác phẩm độc nhất vô nhị - đầy ám ảnh, gây xáo trộn, và thú vị về mọi mặt." - The Charlotte Pbserver. "Lung linh huyền ảo... Đánh động tâm thức." - The Seatle Times "Brockmeier có văn phong gây ấn tượng sâu sắc, cốt truyện vô cùng độc đáo, các mẩu chuyện trong sách có sức ám ảnh kéo dài phải đến nhiều tuần sau khi đọc xong tác phẩm." - Lexington Herald - Leader (Kentucky) "Một tác phẩm văn chương ngập tràn tưởng tượng... Hãy tưởng tượng một thành phố của những người đã chết. Hãy tưởng tượng một nhà khoa học còn sống bị mắc kẹt lại một mình ở Nam Cực và nhận ra cô có thể là một trong số ít những người còn sót lại trên Trái Đất sau một trận đại dịch. Và rồi hãy tưởng tượng một tiểu thuyết gia đủ sắc sảo để có thể xây một chiếc cầu nối hai thực tại hư cấu khó tưởng đó." - Newsweek "Một cuốn sách khiến ta không thể dừng mở trang kế tiếp" - Rocky Mountain News. "(Brockmeier) không gì hơn là một nhiệt thành thiết tha sống, và những sáng tác tuyệt diệu của ông, những trang sách đầy yêu thương và đáng được yêu thương, là một nguồn năng lượng sống dồi dào đáng kinh ngạc trong một thế giới mệt mỏi và dễ làm con người ta mệt mỏi." - Chicago Tribune "Một tiểu thuyết ly kỳ được viết với một trái tim giàu lòng nhân ái" - O, The Oprah Magazine. "Một tiểu thuyết đầy sức mê hoặc và gợi nhiều suy nghĩ về ký ức của con người, về sự giao thoa giữa những tâm hồn, về cuộc sống sau khi chết, và về hiện tại."  - Tucson Citizen. "Có sức lay động mạnh... Ngay từ chương đầu, cuốn tiểu thuyết đã tạo ra một sức thu hút khác lạ, và chắc chắn nó sẽ còn đọng lại trong lòng độc giả sau khi trang sách cuối cùng khép lại. Là một câu chuyện ngụ ngôn, một câu chuyện cổ, một câu chuyện thần thoại đương đại... Trong Lược sử cái chết, Brockmeier đã đưa ra một cái nhìn giả thuyết về kết thúc của nhân loại... Nếu sự vĩnh hằng tồn tại, thì đây chính là một định nghĩa sắc nét cho thời đại của chúng ta"... - Akron Beacon Journal. "Rất ấn tượng... Không ai có thể tung hứng với lối xử lý tình tiết hài hước, mang đầy tính triết lý và lại gây suy nghĩ như Brockmeier." - The Plain Dealer "Đầy sáng tạo... Lôi cuốn... Trữ tình." - Newsday "Điều đáng sợ về câu chuyện của Brockmeier là tính thuyết phục như thật của tác phẩm. Giống Borges, nhưng thật hơn." - Los Angeles Times Book Review "Không chỉ là một câu chuyện gây băn khoăn về tận cùng của thế giới. Đó là một sự suy ngẫm sâu sắc về sự tồn tại của chúng ta, về sự giao thoa giữa tâm hồn ta với những bản thể khác và với toàn vũ trụ. Với bối cảnh viễn tưởng ly kỳ và các nhân vật đa diện, Lược sử cái chết không tuân theo các thể văn truyền thống. Tác giả đã rất khôn ngoan "đứng cả hai dòng nước", một bên là dòng tiểu thuyết khoa học giả tưởng và một bên là các truyền thống văn học để tạo nên một tác phẩm độc nhất vô nhị - đầy ám ảnh, gây xáo trộn, và thú vị về mọi mặt." - The Charlotte Observer. "Đầy mê hoặc... Rất lôi cuốn." - USA Today "Kỳ lạ và gần gũi.... Chính không khí truyện và nỗi lòng tha thiết, chân thành mà không phô trương ồn ã của Brockmeier... đã khiến Lược sử cái chết có sức mê hoặc như vậy... Một tác phẩm đẹp, chứa đựng nhiều khám phá." - Salon             Kevin Brockmeier là tác giả của cuốn Sự thật về Celia, Những thứ rơi từ trời, và hai tiểu thuyết cho thiếu nhi là Thành phố của những cái tên và Grooves: Một điều bí mật. Các sáng tác của ông đã xuất hiện trong nhiều ấn phẩm, như: The New Yorker, McSweeney’s, The Georgia Review, Tuyển tập truyện ngắn hay nhất của nước Mỹ, Các tiểu thuyết kinh dị và viễn tưởng hay nhất của năm… và nhiều số phát hành của Hợp tuyển các tác phẩm được trao giải O.Henry. Ông đã được trao tặng Giải thưởng Nelson Algren, Giải thưởng Italo Calvino cho tiểu thuyết ngắn, Học bổng James Michener – Paul Engle, ba lần được trao tặng Giải thưởng O.Henry – một trong số đó là một giải nhất – và Học bổng Tài trợ Nghiên cứu sinh Quốc gia về Nghệ thuật. Ông đã giảng dạy tại Hội thảo Nhà văn bang Iowa và sinh sống tại Little Rock, Arkansas. *** Khi người mù vào đến thành phố, lão kể đã vượt qua một sa mạc cát lún. Lúc đấy ta đã chết, lão kể, nhưng rồi “tách!”, sa mạc lại hiện ra. Lão kể cho bất cứ ai sẵn lòng nghe trong khi đầu gật gù theo tiếng bước chân người qua lại. Những hạt sạn đỏ hung li ti rơi xuống từ bộ râu cằm. Lão kể: Sa mạc hoang vu và cô độc. Nó hướng về lão, rít lên như một con rắn. Lão đã đi bộ ròng rã suốt ngày này qua ngày khác cho đến khi những đụn cát lở ra dưới chân, cồn lên vây lấy lão, đập vào mặt lão. Rồi, mọi thứ đột nhiên trở nên im bặt, và bắt đầu có tiếng đập nhè nhẹ như nhịp tim. Âm thanh đó rất rõ ràng, y hệt nhịp tim trước giờ lão vẫn biết. Chỉ đến lúc đó, lão kể, vào cái khoảnh khắc một triệu hạt cát sắc lẻm như những mũi tên đồng loạt tấn công, lão mới thật sự nhận ra mình đã chết. Jim Singer, chủ cửa hàng sandwich ở khu đài tưởng niệm, kể rằng bác có cảm giác như có kiến bò trên các ngón tay, rồi, bác ngừng thở. “Đó là do tim tôi có vấn đề - bác nhấn giọng trong khi ấn ngón tay cái vào ngực – nên tôi mới nằm liệt giường như vậy.” Tay đã xuôi, mắt đã nhắm, rồi đột nhiên bác mở mắt ra, thấy mình đang ở trên một chiếc tàu lửa, loại tàu chuyên chở trẻ con chạy quanh khu giải trí. Đường ray dẫn đến một khu rừng rậm toàn những cây màu vàng nâu. Hóa ra đó là những con hươu cao cổ, những chiếc cổ dài ngoẳng vươn lên trời như những thân cây. Một ngọn gió nổi lên thổi bay các đốm lông màu trên lưng những con hươu. Những đốm màu lả tả rơi xuống, lửng lơ xung quanh bác, xoay mòng mòng rồi rơi xuống chạm vào đường bánh xe do con tàu để lại. Phải mất một lúc bác mới hiểu ra âm thanh bác nghe thấy không phải là tiếng bánh xe nghiến vào đường sắt. Cô gái hay thích đứng dưới cây dương trong công viên kể: Cô đã chết trong một biển màu sắc các trái sơ ri khô. Nước giúp em nổi được một lúc, cô nói, rồi em nằm ngửa, xoay tròn trong những vòng tròn vô nghĩa và hát đoạn điệp khúc của tất cả những bài hát pop em có thể nhớ ra. Rồi đột nhiên, một tiếng sấm vang lên. Các đám mây mở ra, những ổ bi bắt đầu trút ào xuống xung quanh – phải có đến hàng ngàn hàng vạn ổ. Em cố hết sức nuốt chửng các viên bi nhưng những cành cây dương gãy rơi xuống làm em mắc nghẹn, cô kể. Bị nhồi đầy như một chiếc bao tải, cô từ từ chìm xuống xuyên qua các tầng đại dương. Nhiều đàn cá bơi ngang qua, những chiếc vảy xanh biếc, vàng óng là những điểm sáng rực rỡ duy nhất ánh lên trong làn nước. Rồi cô nghe thấy âm thanh đấy ở mọi nơi xung quanh, âm thanh đó, âm thanh mà những người khác đều nghe thấy, nhịp đập đều đặn của một trái tim khổng lồ. Những câu chuyện được kể lại về khoảnh khắc vượt qua giao lộ sống-chết rất khác nhau, cũng như mười tỉ người trên thế giới này không ai sống một cuộc sống giống ai khác. Chỉ có điều khi kể về cái chết của mình, người ta có khuynh hướng miêu tả chi tiết hơn, tường tận hơn. Rốt cuộc, đâu có bao nhiêu cách: nếu không phải do trái tim thì cái đầu của một người mang người ta vào cõi chết, không ai giống ai. Lev Paley kể lúc đó anh ngồi nhìn các phân tử của mình phân rã ra thành từng mẩu li ti như cẩm thạch, lăn khắp vũ trụ, rồi sau đó bỗng chốc quay trở lại dính lấy nhau. Hanbing Li kể anh thức dậy, thấy mình là một con rệp sống suốt đời trong một trái lê. Graciella Cavazos chỉ kể đoạn cô bắt đầu biến thành tuyết và khi người ta đòi biết chi tiết hơn, Graciella chỉ bẽn lẽn cười. Không bao giờ có hai câu chuyện giống nhau. Tuy vậy, ai cũng kể về một âm thanh giống như tiếng sấm. Một số khăng khăng khẳng định âm thanh đó không bao giờ ngừng, nếu anh tập trung chú ý không rời tai khỏi nó, anh luôn nghe thấy nó lẩn khuất mơ mồ sau mọi tiếng ồn trong thành phố - đằng sau tiếng còi, tiếng phanh xe, tiếng chuông nhà hàng, tiếng lộp cộp của hàng trăm loại gót giày khác nhau bước trên đường phố. Nhiều người tụ tập cùng nhau trong công viên hay trên tầng thượng các tòa nhà cao tầng để lắng nghe. Họ ngồi lặng lẽ, lưng quay vào nhau. Ba-đum. Ba-đum. Ba-đum. Cảm giác giống như cố gắng nhìn theo bóng chim bay lên, nhòa đi và mờ dần thành một chấm nhỏ. Luka Sims đã tìm thấy một chiếc máy roneo ngay tuần đầu tiên anh đến sống ở thành phố và quyết định sẽ sử dụng nó để in tạp chí. Mỗi buổi sáng, anh đứng bên ngoài tiệm cà phê Đường Bờ Sông để phát các bản in tự chế. Có lần tờ Tin tức & Nghiên cứu L. Sims của anh, hay Báo Sims như mọi người vẫn gọi, có bàn về thứ âm thanh này. Không đến hai mươi phần trăm những thứ được Luka phỏng vấn cho biết sau khi chết, họ vẫn có thể nghe thấy nó, nhưng hầu như tất cả thảy mọi người đều đồng ý: nó nghe giống như tiếng tim đập hơn là bất cứ âm thanh nào khác. Vậy vấn đề là: nó từ đâu đến? Không thể là nhịp đập của chính trái tim họ. Vì tim họ không đập nửa. Mahmoud Qassim thì tin rằng đó không phải là âm thanh của trái tim lão đập mà có thể là âm thanh còn lưu lại trong ký ức, âm thanh mà dù không thật sự để ý lão cũng đã nghe trong suốt một thời gian dài nên âm hưởng của nó vẫn còn lưu lại trong tai lão. Người phụ nữ bán vòng tay bên bờ sông lại nói đó là nhịp đập từ tâm quả đất, cái nơi chói lóa, sục sôi chị đã vượt qua trên đường vào thành phố. Riêng bản thân người viết”, bài báo kết luận, “tán thành ý kiến của đa số. Mời các bạn đón đọc Lược Sử Cái Chết của tác giả Kevin Brockmeier & Mai Huyền Chi.
Thượng Đế Đã Chết Trong Thành Phố
Curzio Malaparte (1898-1957) là nhà văn và phóng viên chiến trường người Ý. Trong cuốn “tiểu thuyết” viết tặng các sơn binh Pháp và Ý ngã gục trên dãy núi Alpes vào tháng 6.1940 này, tất cả đều đúng sự thật: thời gian, con người, sự kiện, cảm xúc, không gian. Khi đó tác giả đang làm đại úy trong một trung đoàn trên đỉnh Bạch Sơn (Mont Blanc), quyển “Mặt trời mù” đã ra đời và được đăng thành nhiều kỳ trên tạp chí Thời đại. Curzio Malaparte tên thật là Curt Erich Suckert sinh ngày 9/6/1898 ở Prato, Tuscane Ý. Mất ngày 19/7/1957 tại Rome. Ông là một nhà văn, nhà làm phim, nhà báo, phóng viên chiến trường và còn là nhà ngoại giao. Trong tổng số hơn 35 tác phẩm, cuốn Kaputt và La Pelle là hai tác phẩm lớn được biết đến nhiều nhất tại Châu Âu. Curzio Malaparte vốn dấn thân vào con đường binh nghiệp từ rất sớm, ông đã phải chứng kiến hàng loạt thảm cảnh của Thế chiến 2 ngay từ những buổi đầu. Chính cái nhì chân xác của người trong cuộc kết hopwj với ngòi bút tuyệt kỹ của một cây viết gạo cội đã làm nên một trong những tiểu thuyết ấn tượng bậc nhất của văn chương Ý... Chiến tranh là chết chóc. Đứng trước cái chết là lúc con người ta bộc lộ bản thân mình rõ rệt nhất. Những con người trong quyển sách này coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, chiến tranh vì thế lại hiện ra với cảnh núi non hùng vĩ, những bãi đồng xanh lục tốt tươi, những bông hoa violet, những mẫu đơn màu huyết, giọng thác lách dưới cành cây… Thiên nhiên tráng lệ và khổng lồ như đang làm dịu đi cái chết chực chờ, khỏa lấp tiếng bom đạn, mở rộng tâm hồn con người. Trước cảnh đẹp, người nào lại không muốn được ngồi xuống, gối đầu trên bãi cỏ và im lặng lắng nghe tiếng chim hót, người nào lại không khao khát hòa bình để trở về với gia đình? Với viên đại úy, hình ảnh cậu sơn binh ngồi trên chiếc ghế với hình bóng lờ mờ, nét rắn rỏi trong khuôn mặt nhỏ nhắn và thơ trẻ cùng tiếng chiếc lạc bò êm trầm, là tất cả những gì bình yên mà anh luôn khao khát nơi chiến trường khốc liệt. Calusia gợi nên trong lòng viên đại úy cảm giác con người – hồn nhiên, thân thiện, trẻ thơ, an yên. Theo dõi và quan sát những hoạt động của Calusia như là một niềm vui giản đơn, một phút thư giãn thanh bình. Tiếng lòng của viên đại úy đồng thời là hàng triệu tiếng kêu gào trong chiến tranh, dùng một sự điên loạn để lên án chiến tranh đã tổn thương và hủy hoại hoàn toà Mời các bạn đón đọc Thượng Đế Đã Chết Trong Thành Phố của tác giả Curzio Malaparte.