Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Tấn Bi Kịch Z - Ellery Queen

10 năm sau thành công rực rỡ của  Tấn bi kịch X  và  Tấn bi kịch Y ,  Tấn bi kịch Z  ra đời! Thanh tra Thumm đã trở lại với cô con gái thông minh, có khả năng quan sát và liên kết các sự việc. Thượng Nghị sĩ tham nhũng Joel Fawcett – một người có vô vàn kẻ thù, bị sát hại! Bác sĩ Ira Fawcett, cũng bị sát hại! Hung thủ là một! Aaron Dow – tên tù nhân mới phóng thích vô tình trở thành kẻ tình nghi. Với quyết tâm tìm kiếm bằng chứng để minh oan cho Aaron Dow, bố con thanh tra Thumm đã đạt mình vàomột cuộc chiến công lý với tia hy vọng chỉ bằng 1%. Một lần nữa, Thumm lại phải nhờ đến sự minh mẫn của người bạn già Drury Lane Câu hỏi cuối cùng sẽ được giải quyết ra sao mang tên Z? *** Chín năm về trước, hai chàng trai trẻ cộng tác dưới cùng một bút danh là Ellery Queen được người đọc cùng hoàn cảnh thuyết phục đã viết nên một loạt truyện trinh thám mới. Kết quả từ công sức đáp ứng theo yêu cầu đó là sự ra đời của nhân vật ngài Drury Lane, một nghệ sĩ diễn kịch Shakespeare tuổi đã về già có năng lực trinh thám tuyệt diệu khác người. Dễ hiểu rằng loạt truyện ca ngợi những kỳ công của ngài Drury Lane không thể công khai mang tên tác giả Ellery Queen; vì nếu truyện mang tên Ellery Queen thì đã tôn vinh những kỳ công của ngài Ellery Queen. Vậy nên hai chàng bèn nghĩ ra bút danh thứ hai; và “Tấn bi kịch của X”, tác phẩm đầu tiên trong loạt truyện bốn cuốn về Drury Lane, đã làm xao động thế giới văn chương bình lặng dưới tên người viết là “Barnaby Ross”. Giờ đây, mối liên hệ giữa (các) tác giả Ellery Queen và (các) tác giả Barnaby Ross trên thực tế đã hoàn toàn biến mất. Truyện của mỗi tác giả được phát hành qua một nhà xuất bản khác nhau; quanh mỗi cái tên đều được kỳ vọng thêu dệt bao điều mập mờ và bí ẩn; ở thời kỳ mang hai bút danh ấy trong đời sống công luận, quả thực đã có một giai đoạn mà hai cái tên này đã bực dọc nhìn nhau trước nhiều bục diễn đàn đầy đố kỵ, bên nào cũng mượn sự che chắn của chiếc mặt nạ giả trang để ẩn mình kỹ lưỡng… một làm bộ điệu Ellery Queen, một ra dáng là Barnaby Ross, và cả hai đều vờ vịt một cách hùng hồn ra điều là cặp đối thủ đáng gờm trong lĩnh vực sáng tác truyện trinh thám. Những gì họ nói về nhau trước sự lắng nghe đầy tò mò của thính giả diễn thuyết, từ Maplewood, New Jersey cho đến Chicago, Illinois, dù vẫn có lời khen tặng song cũng không thiếu lời công kích, vậy là bằng sự gạt gẫm này bảo vệ lấy ảo tưởng của tính cách cá nhân thô kệch. Thế nhưng, vẫn có một manh mối tinh vi luôn tồn tại mà, một khi bị thám tử ghế bành thận trọng phát hiện, sẽ lập tức xác lập rành rành mối quan hệ giữa Ellery Queen và Barnaby Ross, và tòi ra mánh lới lừa phỉnh xấu xa mà hai kẻ này đã bày ra trước công chúng cả tin trong suốt chín năm. Vì nếu bạn đọc ghé qua Lời tựa của “Chuyện bí ẩn về chiếc nón La Mã” (tác phẩm đầu tiên của Ellery Queen viết về Ellery Queen), bạn đọc sẽ tìm thấy từ dòng mười bảy đến dòng hai mươi hai trên trang X tiết lộ đáng chú ý sau đây: “Chẳng hạn, vào thời ông dành ra bao công sức trinh thám tài tình trong vụ án mạng Barnaby Ross giờ đã xưa cũ, người ta nói rằng: ‘Richard Queen bằng kỳ công này đã xác lập vững chắc tiếng tăm của mình bên cạnh những bậc thầy trinh thám hình sự như…’” Chính từ trích đoạn ngụy tác này mà “Barnaby Ross” đến lúc cần thiết đã được chọn để tạo thành bút danh mới - cốt sao cho Barnaby Ross quả thực ra đời vào năm 1928, tại thời điểm mà Lời tựa của cuốn Queen đầu tiên ấy được viết ra, dù mãi đến năm 1931 cậu ta mới được hai ông bố của mình làm lễ rửa tội và dọn vào ngôi nhà riêng của mình. Vậy nên, giờ ta có thể nói thế này: Barnaby Ross đã, đang và mãi mãi chính là… Ellery Queen; và ngược lại. *** Đôi lời về ngài Drury Lane Chúng ta luôn giữ một cảm giác nhẹ nhàng trong lòng về gã dở hơi này. Người này, bảo là nghệ sĩ quê mùa thì chưa hẳn mà gọi là con gà gô cũng không hoàn toàn … gọi là kẻ khoác lác cũng đúng nhưng bảo là thiên tài cũng chẳng sai, và cũng là một thám tử khác thường nhất từng sống trên đời (ngoại trừ là kẻ mà sẽ là không có tên tuổi, có lẽ vậy). Giống người anh em của mình (chẳng phải họ vốn cùng sinh ra bởi hai gã thanh niên xảo quyệt ấy sao?), ngài Drury Lane có gốc gác từ trường phái suy luận - theo nhánh đặc biệt mà chú trọng đến độ quá đáng vào tính chất khách quan để thỏa mãn yêu cầu độc giả; vì thế trong “Tấn bi kịch của X”, cũng như những Tấn bi kịch tiếp theo, bạn đọc sẽ thấy mọi manh mối đều đã sẵn đó để tự mình suy đoán trước khi đi vào phần kết của câu chuyện. Vì vậy trong giây phút hồi sinh trang nghiêm này … Drury Lane muôn năm! Kính chào, Ellery Queen Thứ sáu, ngày 13 tháng 9 năm 1940, New York *** Đôi điều về NGÀI DRURY LANE CÁC TRÍCH ĐOẠN ĐƯỢC BIÊN SOẠN CHO NHÀ XUẤT BẢN DO NGÀI CHARLES GLEN TUYỂN CHỌN TỪ NHỮNG GHI CHÉP SƠ BỘ VỀ TIỂU SỬ CHƯA HOÀN CHỈNH CỦA LANE Trích từ Ai là Ai trong nghệ thuật sân khấu, ấn bản năm 1930: DRURY LANE, diễn viên; sinh tại New Orleans, La, vào ngày 3/11/1871; con trai của Richard Lane, nam diễn viên bi kịch người Mỹ và Kitty Purcell, nữ diễn viên hài kịch nhà hát ca múa nhạc người Anh; không kết hôn. Học vấn: kèm cặp tại gia. Xuất hiện trên sân khấu lần đầu: năm 7 tuổi; vai diễn quan trọng đầu tiên: năm 13 tuổi, vở “Sự mê đắm” của Kiralfy, Nhà hát Boston; lần đầu thủ vai chính: năm 23 tuổi, vở “Hamlet,” Nhà hát Daly’s, N.Y; vào năm 1909, tại Nhà hát Drury Lane, Luân Đôn; đã biểu diễn liên tục vở “Hamlet” trong khoảng thời gian dài nhất tính đến thời điểm ấy - hơn 24 lượt so với kỷ lục trước đó của Edwin Booth. Tác phẩm đã biên soạn: Tuyển tập Shakespeare, Triết lý của Hamlet, Tiếng gọi sau bức màn nhung, v.v. và v.v.. Câu lạc bộ: Players, Lambs, Century, Franklin Inn, Coffee House. Thành viên Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Văn chương Hoa kỳ. Hội viên danh dự, Bắc đẩu Bội tinh Pháp quốc. Nhà riêng: Lâu đài Hamlet, nhìn ra sông Hudson, N.Y. (ga đường sắt: Lanecliff, hạt Westchester). Giải nghệ sân khấu: năm 1928. Trích từ Thế giới New York, thông cáo về việc giải nghệ sân khấu của ngài Drury Lane (1928): “… Drury Lane sinh ở New Orleans, tại hậu trường một nhà hát tăm tiếng hạng nhì, Nhà hát Comus, phải thời kỳ gia đình nhà Lane lâm cảnh túng bấn, vào lúc mà Richard ‘có quyền đi đâu, làm gì tùy ý’ còn Kitty thì phải quay lại sân khấu để trang trải cuộc sống hai vợ chồng và chuẩn bị cho đứa con sắp chào đời… Cái chết bất hạnh lúc sinh nở của bà là hậu quả của sự gắng sức quá độ trước ánh đèn sàn diễn, đứa bé… bị sinh non trong phòng thay đồ khi bà vừa diễn xong màn thứ nhất … “… thế rồi Drury Lane gần như được nuôi nấng trên sân khấu, được mang đi từ nhà hát này sang nhà hát khác bởi người cha cố gượng nuôi con, sống khốn khó qua ngày trong những ngôi nhà thuê chung rẻ tiền. Tiếng nói đầu đời của cậu bé là ngôn ngữ kịch; thay nhau chăm sóc cậu là những diễn viên; học vấn của cậu là những gì thuộc về kịch…. Chập chững biết đi cậu bé đã sắm những vai diễn nhỏ… Năm 1887, Richard Lane qua đời vì chứng viêm màng phổi, lời cuối trước khi nhắm mắt là tiếng nhắn nhủ khàn khàn dành cho đứa con trai vừa tròn mười sáu tuổi: ‘Con hãy trở thành diễn viên kịch.’ Thế nhưng, dù khát vọng của Richard dành cho con trai có lớn lao thế nào, nó cũng kém xa so với đỉnh cao mà chàng trai trẻ Drury cuối cùng đã đạt được…. “… Cái tên đặc biệt, theo như ông cho biết gần đây, là do cha mẹ chủ ý đặt cho ông, dựa vào truyền thống sân khấu vĩ đại gắn liền với Nhà hát Drury Lane lâu đời…. “… nói rằng ông phải giã biệt sân khấu do bệnh điếc ngày càng nặng ở cả hai tai - và đến nay căn bệnh đã trầm trọng đến mức ông không còn phân biệt được một cách toàn vẹn giữa các chất giọng trầm bổng khác nhau của chính mình…. “… Ngoại lệ duy nhất trong quyết định từ bỏ những vai diễn ruột thịt của ngài Lane là cả một sự việc lạ lùng. Ông nói rằng, hàng năm vào ngày 23 tháng 4, ông sẽ diễn trọn vở ‘Hamlet’ tại nhà hát riêng ở trang viên Hudson của mình. Lý do ông trân trọng chọn đúng ngày này vì, theo sự chấp nhận rộng rãi của công chúng, đó là dịp kỷ niệm ngày sinh lẫn ngày mất của Shakespeare. Một điều rất thú vị là ngài Drury Lane đã diễn vai này trên năm trăm lần, chiếm kỷ lục về buổi diễn trên khắp các quốc gia cùng chung gốc rễ về văn hóa và lịch sử Anh.” Trích từ bài báo đăng trên tạp chí Điền trang thôn quê, mô tả trang viên của ngài Drury Lane, lâu đài Hamlet: “… Trang viên được thiết kế theo truyền thống kiến trúc Elizabeth* thuần nhất, gồm một tòa thành khổng lồ, và bao quanh là cả một ngôi làng thu nhỏ dành cho những người sống và làm việc cho ngài Lane. Trong ngôi làng này, mỗi ngôi nhà là một bản sao nguyên vẹn của túp lều thời Elizabeth với kiểu mái rạ đặc trưng, đầu hồi chóp nhọn, v.v. Tất cả đều được trang bị tiện nghi hiện đại, nhưng được che đậy khéo léo để không gây xáo trộn cảm giác về một thời đại trong quá khứ…. Cảnh quan vườn tược là cả một khung cảnh tuyệt đẹp; tỷ như, những hàng rào cây xanh là do đích thân chuyên gia của ngài Lane đưa về từ các vùng nông thôn Anh quốc.” Trích từ bài phê bình của Raoul Molyneux đăng trên tạp chí La Peinture, Paris, 1927, về Bức chân dung ngài Drury Lane, tranh sơn dầu, họa sỹ Paul Révissons: “… y như lần tiếp kiến ngài trong chuyến thăm vừa qua của tôi…. Vóc dáng cao lớn mảnh dẻ, trầm lặng nhưng mang vẻ sinh động khó tả, mái tóc trắng như cước lòa xòa dài tận cổ, đôi mắt màu lục xám tinh nhanh sắc sảo, nét mặt cân đối hoàn hảo gần như cổ điển, thoạt nhìn cho ta cảm giác bất động vô hồn song lại có khả năng đổi thay đột ngột…. Ông đứng thẳng người, sừng sững như Đại đế Carolus, cánh tay phải trong chiếc áo choàng thụng màu đen quen thuộc, bàn tay phải đặt trên quả nắm cây gậy gỗ mận gai trứ danh của ông, chiếc mũ dạ màu đen tròn vành thì để trên bàn cạnh bên…. Hiệu ứng kỳ quái của bóng tối càng nổi bật vì y phục u buồn của ông … nhưng được giảm nhẹ đi bằng cảm giác thật kỳ lạ rằng, người này chỉ cần nhấc ngón tay và thế là toàn bộ phục trang của thế giới hiện đại sẽ rơi tuột xuống chân, để lại nơi ông một dáng hình rực rỡ từ quá khứ….” Trích thư của ngài Drury Lane gởi ngài Bruno, công tố viên hạt New York, ngày 5 tháng 9 năm 193-: “Xin được thứ lỗi về việc đã mạo muội xen vào phận sự của văn phòng quý ngài khi đính kèm theo đây một bài phân tích khá dài dòng, hoàn toàn tự tay tôi biên soạn, liên quan đến vấn đề nan giải của cảnh sát về việc tìm ra kẻ giết John Cramer. “Các dữ liệu phân tích của tôi hoàn toàn dựa vào những gì tôi thu thập được từ những bài báo mà thông tin đôi lúc còn chưa thỏa đáng về vụ án này. Tuy vậy, thiết nghĩ rằng khi xem qua nội dung phân tích và đáp án, ngài sẽ đồng ý cùng tôi rằng cách sắp xếp giữa các sự việc với nhau như tôi trình bày chắc chắn sẽ dẫn đến một kết luận logic duy nhất. “Mong ngài đừng xem đây chỉ là giả định từ một người luống tuổi đã về hưu. Tôi vốn đặc biệt quan tâm đến tội ác hình sự, và sẵn sàng hỗ trợ khi có yêu cầu của ngài về bất cứ vụ án nào khác mà kết luận xem ra còn vô định hoặc bất khả thi.” Điện tín đã nhận tại lâu đài Hamlet, Ngày 7 tháng 9 năm 193-: LỜI THÚ TỘI ĐÃ XÁC NHẬN ĐÁP ÁN XUẤT SẮC CỦA NGÀI VỀ VỤ ÁN CRAMER - CHẤM - LIỆU THANH TRA THUMM VÀ TÔI ĐÂY CÓ THỂ GHÉ ĐẾN SÁNG MAI LÚC MƯỜI GIỜ BA MƯƠI ĐỂ TỎ LỜI CẢM ƠN ĐỒNG THỜI THAM VẤN Ý KIẾN NGÀI VỀ VỤ ÁN MẠNG LONGSTREET. WALTER BRUNO *** Vì sự tham gia của riêng tôi vào các sự kiện lịch sử này chẳng khơi gợi được gì hơn sự quan tâm lịch thiệp và ngắn ngủi từ những ai theo dõi vận mệnh của ngài Drury Lane, nên tự tôi sẽ kể qua bằng một ghi chép, cũng ngắn ngủi như thói đỏng đảnh của phụ nữ. Tôi trẻ trung, điều này phần nhiều được những nhà phê bình nghiêm khắc nhất thừa nhận. Tôi được trời phú cho đôi mắt to, xanh và trong veo - mà nhiều quý ngài thích làm thơ từng bảo - trông như cả một vì tinh tú ngự trên chín tầng mây. Một nam sinh trẻ măng, tốt bụng tại Heidelberg có lần từng ví màu tóc tôi với mật ong. Một quý bà người Mỹ thích đả kích sâu cay tại Cap d’Antibes mà tôi từng gặp gỡ đã ví mái tóc ấy phần nào giống cọng rơm khô. Gần đây khi đứng trong tiệm làm đẹp Clarisse tại Paris bên cạnh bộ đầm béo* bà ta bồ kết nhất, tôi phát hiện ra phom người mình thực sự gần đạt được những số đo hình thể quyến rũ của mụ đàn bà hay khinh người ấy. Thực ra, ngoài đôi bàn tay, bàn chân tôi đạt chuẩn hình thể - điều này theo đánh giá cỡ chuyên gia của chính ngài Drury Lane - tôi còn sở hữu bộ não làm việc theo trật tự tuyệt hảo. Cũng có người nói rằng một trong những nét quyến rũ chết người của tôi nằm ở chỗ “thiếu khiêm tốn một cách tinh tế,” một lời chém gió mà tôi cảm thấy chắc chắn sẽ gây họa cho tôi trong quá trình viết bài này. Các chi tiết thô thiển nhiêu đó đã đủ. Phần còn lại tôi có thể tự đặt tên cho nó là Chuyến Du Ngoạn Bắc Âu. Tôi đã từng đi chu du, có thể nói như vậy, kể từ những tháng ngày tóc thắt bím và mặc đồ thủy thủ. Các chuyến du ngoạn của tôi xen kẽ những lần dừng chân dài hạn: Ví như chẳng hạn tôi mất hai năm tại một ngôi trường tư thục đáng sợ ở London, nán lại trên Bờ Trái* trong mười bốn tháng trước khi tự thuyết phục mình rằng cái tên Patience Thumm sẽ chẳng được nói đến một cách kính cẩn như những cái tên Ganguin và Matisse. Giống Marco Polo tiến về phương Đông, tôi đi khắp các dải đất phương Đông; như Hannibal tấn công những cánh cổng thành Rome, tôi khám phá nền văn hóa châu Âu. Hơn nữa, tôi là người có tâm hồn khoa học: Tôi đã thử tinh dầu ngải absinthe tại Tunis, vườn nho Clos Vougeot tại Lyon và rượu aguardiente tại Lisbon. Tôi bị bật móng chân khi trèo lên ngôi thành cổ Acropolis tại Athens, cảm thấy vui sướng đầy dâm đãng khi đắm mình trong bầu không khí mê hoặc của hòn đảo Sappho. Chẳng cần phải nói thêm, tất cả những chuyến đi này dựa vào khoản tiền trợ cấp hào phóng với cái đuôi là một sinh vật bất tử hiếm hoi bậc nhất - một bà vú tiện cái là mắc chứng loạn thị và có khiếu hài hước. Du ngoạn giống như món kem sữa béo, nó cứ lan rộng mãi ra; tuy nhiên, sẽ chẳng ai chịu nổi nếu cứ ăn hoài một món. Và người đi du ngoạn, cũng như kẻ háu ăn, sẽ quay về nhà và hài lòng với chế độ ăn có kiểm soát hơn. Thế nên, với sự kiên quyết dịu dàng như một trinh nữ, tôi bỏ mặc bà vú đáng yêu tội nghiệp tại Algiers và giong buồm về nhà. Món thịt bò nướng tuyệt hảo của bố chào mừng tôi vẫn đang nằm yên trong bụng. Nói thật là ông thấy khiếp đảm khi thấy tôi cố tuồn vào New York bản tiếng Pháp cuốn Người Tình Của Phu Nhân Chatterley đáng yêu, rách tơi tả, cuốn sách khiến tôi phải hy sinh bao nhiêu buổi tối tuyệt đẹp tự giam mình trong phòng riêng tại trường tư thục nữ sinh. Nhưng khi giải quyết xong vấn đề nhỏ này, trước sự vui sướng của tôi, ông nhanh chóng đẩy tôi len qua cửa hải quan. Sau đó, chúng tôi yên vị trong sự tĩnh lặng êm dịu ở căn hộ của ông tại thành phố, hai con bồ câu đưa thư hoàn toàn xa lạ. Lúc này, khi đọc Tấn Bi Kịch X và Tấn Bi Kịch Y, tôi nhận thấy rằng ông bố già xấu xí, to lớn, vụng về và vĩ đại của tôi, thanh tra Thumm, chưa một lần giới thiệu những trang sách sinh động, sôi nổi này cho cô con gái thích xê dịch. Không phải vì ông không yêu mến tôi: Tôi hiểu được điều ấy từ ánh mắt ngỡ ngàng, phần nào đó đến kinh ngạc của ông khi chúng tôi hôn tạm biệt nhau trên cầu tàu. Chúng tôi chỉ đơn giản là ngày càng xa nhau. Mẹ đã tống cổ tôi sang châu Âu cho bà vú chăm sóc khi tôi còn quá nhỏ, không thể phản kháng. Tôi nghi ngờ sự thay đổi trong tình cảm luôn là điều đáng quý, đến lượt bà cũng ham mê tìm hiểu những nét thanh lịch, tao nhã ướt át của cuộc sống Lục địa già qua các lá thư tôi viết. Trong khi đó, người bố tội nghiệp chẳng có cơ hội nào, việc chúng tôi dần xa cách không phải hoàn toàn do lỗi của mẹ. Tôi nhớ lại hồi mình là con bé yếu ớt bò lổm ngổm dưới chân bố, quấy rối ông với những chi tiết đẫm máu nhất của những tội ác ông đang điều tra, đọc hết tất cả các tin tức vụ án với sự thích thú và không ngừng tấn công ông trên Phố Centre với những gợi ý ngớ ngẩn. Ông chẳng bao giờ mắng tôi nhưng tôi chắc chắn ông thấy nhẹ nhõm khi tôi bị tống sang Châu Âu. Dẫu sao đi nữa, bố con tôi phải mất vài tuần để nuôi dưỡng tình cảm trở lại mối quan hệ bình thường. Ông chưa sẵn sàng về tâm lý trước những lần viếng thăm chớp nhoáng của tôi trong thời gian lang thang, nào là ăn trưa mỗi ngày với một thiếu nữ trẻ đẹp, những nụ hôn chúc ngủ ngon, và trải qua tất cả những vui vẻ khi ông đóng vai một ông bố gia trưởng. Một thời gian ông thực sự hốc hác, mệt mỏi. Ông thấy sợ tôi hơn vô số tội phạm liều lĩnh từng săn đuổi suốt cuộc đời thanh tra. •   •   • Tất cả những đoạn này là phần mở đầu cần thiết cho câu chuyện của tôi về ngài Drury Lane, và vụ án lớn về Aaron Dow, tù nhân trong nhà tù Algonquin. Vì điều này giải thích được làm sao kẻ lang thang như Patience Thumm lại có liên quan đến một vụ án mạng. Trong những năm tháng lang thang và thư từ với bố - đặc biệt sau khi mẹ qua đời - tôi thấy tò mò trước những bóng gió thường xuyên, tình cảm của ông với thiên tài già cả lạ lùng ấy, ngài Drury Lane, người đã xuất hiện một cách hoành tráng trong cuộc đời ông. Dĩ nhiên, tôi không xa lạ với tên tuổi quý ông già nua này, với lý do tôi là độc giả trung thành của các truyện trinh thám có thật lẫn hư cấu. Lý do nữa là vì quý ông hưu trí hấp dẫn này không ngừng được giới báo chí, tại cả Mỹ lẫn châu Âu, tung hô như một siêu nhân. Đâu đâu cũng nhắc đến những kỳ tích ông đạt được trong các vụ án với tư cách là điều tra viên. Sau tai nạn bất ngờ khiến ông bị điếc, sự nghiệp diễn viên kịch của ông cũng chấm dứt. Nhiều lần những dư âm của chúng vẫn còn vẳng đến tai tôi tận Châu Âu. Sau khi quay về nhà, tôi bất ngờ nhận ra mình chẳng còn mong muốn gì hơn được gặp gỡ con người phi thường, sống trong một lâu đài tuyệt đẹp nhưng đầy mê hoặc nhìn ra sông Hudson. Nhưng tôi lại thấy mình quan tâm hơn đến đôi tai của ông khi phá án. Sau khi nghỉ hưu ở phòng Thám tử New York, bố tôi bỏ lại sau lưng bao nhiêu năm tháng phá án là món ăn giấc ngủ, sự tồn tại kiểu này khiến ông buồn chán đến không chịu nổi. Thế nên, điều không tránh khỏi là ông mở văn phòng thám tử tư, danh tiếng của riêng ông mang lại thành công cho ông ngay từ đầu. Về phần tôi, vì chẳng có việc gì để làm và cảm thấy rằng cuộc đời mình cũng như những kinh nghiệm từ chuyến du học vừa đủ giúp tôi kiếm sống một cách nghiêm túc, có lẽ điều không tránh khỏi là tôi phải đứng dậy từ nơi tôi đã từ bỏ nhiều năm về trước. Tôi bắt đầu dành nhiều thời gian hơn tại văn phòng của bố, quấy rầy ông như ngày xưa và lắng nghe tiếng càu nhàu bực bội của ông. Dường như ông nghĩ rằng một đứa con gái thì phải có sức hấp dẫn giống như một bông hoa cài áo. Nhưng vì được thừa hưởng cái cằm bướng bỉnh của ông, sự kiên trì của tôi đã khiến ông nản lòng. Có vài dịp thậm chí ông còn cho phép tôi theo đuổi một cuộc điều tra khiêm tốn. Nhờ đó tôi học được nhiều thuật ngữ và môn tâm lý học của hình sự hiện đại - một khóa học thô sơ rất có ích giúp tôi thấu hiểu vụ án liên quan đến Dow. Nhưng có một chuyện dường như hữu ích hơn nhiều. Kinh ngạc không kém gì bố, tôi thấy rằng mình sở hữu một bản năng quan sát và suy luận phi thường. Tôi bất ngờ nhận ra mình có một tài năng rất đặc biệt, có lẽ được nuôi dưỡng bởi môi trường làm việc ban đầu, và sự quan tâm không thay đổi của tôi đối với tội phạm. Bố tôi rên rỉ, “Patty, con cứ như ả hầu bàn trơ trẽn trong bữa tiệc vậy. Con sẽ khiến quý ông già ngượng chết mất. Có Chúa mới biết, như những ngày xưa với Drury Lane ấy!” Và tôi đáp: “Ngài thanh tra đáng yêu ơi, đó là một lời khen tuyệt vời. Khi nào thì ngài định giới thiệu con với ông ấy đây?” Cơ hội đã đến một cách bất ngờ ba tháng sau khi tôi về nước. Giống như mọi cơ hội khác - nó bắt đầu hoàn toàn bình thường - sau đó biến thành một cuộc phiêu lưu tuyệt vời. Đúng như những gì trái tim một cô nàng luôn thèm khát và háo hức như tôi có thể mơ tới. Một hôm, một người đàn ông cao lớn, tóc xám ăn mặc trang nhã xuất hiện tại văn phòng của bố tôi. Sắc mặt ông ta lo lắng khiến tôi liên hệ với tất cả những ai từng tìm đến. Qua tấm thẻ rập nổi, tên ông ta là Elihu Clay. Dò xét tôi bằng đôi mắt sắc lạnh, ông ta ngồi xuống, hai bàn tay khum lại trên đầu gậy chống. Với thái độ khô khan, thận trọng của một chủ ngân hàng nguời Pháp, ông ta tự giới thiệu bản thân. Ông ta là chủ sở hữu Clay Marble Quarries - những mỏ đá chính tại hạt Tilden, vùng Thượng New York; văn phòng và nhà riêng ở thành phố Leeds, Anh quốc. Cuộc điều tra ông ta muốn nhờ bố tôi tiến hành có tính riêng tư và bảo mật. Đây là lý do chính của ông ta khi đến đây ngoài việc tìm kiếm một nhà điều tra. Ông ta một mực đòi phải thận trọng mọi nhẽ… “Tôi hiểu,” bố tôi cười toét. “Hút xì gà đi. Ai đó đang ăn cắp tiền mặt trong két à?” “Thực ra là không! Tôi có… à… một hội viên hùn vốn ẩn danh.” “Ha,” bố tôi nói. “Cho tôi biết đi.” Tên hùn vốn ẩn danh này - có vẻ giờ đây, sự ẩn danh này đã chuyển sang khía cạnh đáng lo ngại nhất - là Fawcett, bác sỹ Ira Fawcett. Người này là em trai của thượng nghị sĩ hạt Tilden, Joel Fawcett. Một ngài thượng nghị sĩ không ít thì nhiều cũng “chính trực”. Theo cái nhíu mày của bố, tôi nghĩ đây chắc chắn là một quý ông không trung thực và không có trái tim trong sáng. Là người không do dự tự phong mình là ‘thương nhân trung thực nhất của phái cựu trào’ giờ đây có vẻ Clay thấy hối hận khi hợp tác cùng bác sỹ Fawcett. Tôi đồ rằng bác sỹ Fawcett là một nhân vật khá đáng sợ. Ông ta khiến công ty dính líu đến các hợp đồng mà Clay nghi ngờ rằng có nguồn gốc bốc mùi. Ngành kinh doanh này rất thịnh vượng - quá thịnh vượng. Quá nhiều hợp đồng trong hạt và bang đều liên quan đến Clay Marble Quarries, cần thiết phải kiên quyết tiến hành một cuộc khảo sát tình hình. “Không có bằng chứng à?” bố tôi hỏi. “Chẳng có chút nào, thưa thanh tra. Rõ ràng hắn quá thông minh. Tất cả những gì tôi có chỉ là những nghi ngờ. Ông sẽ nhận vụ này chứ?” Nói rồi Elihu Clay đặt ba tờ giấy bạc giá trị cao nhất lên bàn. Bố liếc nhìn tôi. “Chúng ta nhận vụ này được không, Patty?” Nét mặt tôi băn khoăn. “Chúng ta bận lắm. Nếu thế phải hủy tất cả các vụ kia…” Elihu Clay nhìn tôi chằm chằm một lúc. “Tôi có ý kiến,” ông đột ngột nói. “Tôi không muốn Fawcett nghi ngờ ngài, ngài Thanh Tra. Cùng lúc đó ngài sẽ phải làm việc với tôi. Tại sao ngài không cùng cô Thumm đây đến các nhà khách của tôi tại Leeds? Cô Thumm đây có thể tới - chẳng phải tiện hay sao?” Tôi đoán rằng bác sỹ Ira Fawcett không phải là người trơ như gỗ đá trước sức quyến rũ nữ tính. Khỏi cần nói, ngay lập tức tôi cảm thấy thú vị. “Chúng ta xoay xở được mà bố,” tôi mạnh mẽ nói, và như thế mọi việc được thu xếp. •   •   • Chúng tôi mất hai ngày chuẩn bị mọi thứ, có thể nói như vậy. Đến tối Chủ nhật chúng tôi đã hoàn tất gói ghém đồ đạc cho chuyến đi tới Leeds. Elihu Clay đã đi trước chúng tôi, quay về vùng nông thôn cùng ngày ông đến thăm New York. Tôi còn nhớ mình đang duỗi dài chân trước đống lửa, nhấm nháp rượu brandy đào - chai rượu tôi đã trót lọt tuồn qua mặt anh sĩ quan hải quan trẻ tuổi tốt nhất - thì nhận được điện tín của thị trưởng Bruno - chính là ngài Walter Xavier đã từng làm công tố viên hạt New York khi bố tôi còn là một viên thanh tra tích cực. Còn bây giờ ông ta là một thống đốc nổi tiếng, hiếu chiến của bang New York. Bố tôi đập tay vào hông cười khúc khích, “vẫn là lão Bruno này! Chà, Patty, đây đúng là cơ hội con đang mong. Bố đoán rằng chúng ta có thể thực hiện được?” ... Mời các bạn đón đọc Tấn Bi Kịch Z của tác giả Ellery Queen.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Thằng Khùng - James Hadley Chase
James Hadley Chase là bút danh của tác giả người Anh - Rene Brabazon Raymond (24/12/1906 – 6/2/1985), người cũng đã viết dưới tên James L. Docherty, Ambrose Grant và Raymond Marshall. Ông sinh ra ở Luân Đôn, là con của một đại tá người Anh phục vụ trong quân đội thuộc địa Ấn Độ, người dự định cho con trai mình có một sự nghiệp khoa học, bước đầu đã cho học tại trường học Hoàng gia, Rochester, Kent và sau đó học ở Calcutta. Ông rời gia đình ở tuổi 18 và làm nhiều công việc khác nhau, một nhà môi giới trong nhà sách, nhân viên bán sách bách khoa toàn thư của trẻ em, người bán sách sỉ trước khi tập trung vào sự nghiệp viết lách với hơn 80 cuốn sách trinh thám. Năm 1933, ông đã cưới Chase Sylvia Ray và có một con trai. Trong Thế chiến II, ông phục vụ trong Không quân Hoàng gia, cuối cùng đạt được thứ hạng lãnh đạo Đội tàu chiến. Chase đã biên tập Tạp chí Không quân Hoàng gia cùng với David Langdon với nhiều câu chuyện, nó được phát hành sau chiến tranh trong cuốn sách Slipstream. Chase chuyển đến Pháp năm 1956 và sau đó đến Thụy Sĩ vào năm 1961, sống một cuộc sống ẩn dật ở Corseaux-Sur-Vevey, phía bắc của hồ Geneva, từ năm 1974. Ông qua đời yên bình vào ngày 6/2/1985. *** “Hắn nghĩ hắn không điên khùng, hắn bình thường như bao người khác! Ai nói hắn khùng, hắn sẽ nổi giận. Trong con người hắn luôn tồn tại hai tính cách: Yêu cái đẹp và giết người." Lần này, James Hadley Chase đi vào mảng tội phạm tâm lý. Nhưng không tàn bạo rùng rợn như các truyện trinh thám hiện đại cùng đề tài, mà chỉ nhẹ nhàng như một mũi kim phớt qua da. Tác giả khắc họa hình ảnh một cậu ấm nhà giàu, con gái một nhân vật nổi tiếng trong làng điện ảnh, có người mẹ bị điên đã tự sát bằng cách lao mình qua cửa sổ trên một tòa cao ốc. Cậu ấm lớn lên trong nhung lụa, nhưng thiếu tình thương và luôn cảm thấy cuộc sống tẻ nhạt. Muốn làm một cái gì đó để chứng tỏ mình thông minh, dũng cảm và được mọi được quan tâm, thừa nhận, anh chàng đã nghĩ đến chuyện giết người. Và chuyện gì phải xảy ra đã xảy ra... Nhưng ngay cả việc giết người cũng không mang đến cho anh sự thỏa mãn. Chỉ đến khi gặp được một cô gái mà anh ta đem lòng yêu, anh ta mới nhận thấy và hiểu rõ như thế nào là cuộc sống... *** Các tác phẩm của James H. Chase đã được xuất bản tại Việt Nam: Tỉa Dần Cái Chết Từ Trên Trời Cả Thế Gian Trong Túi Ôi Đàn Bà Cạm Bẫy Gã Hippi Trên Đường (Frank Terrell #5) Thằng Khùng Cạm Bẫy Hứng Trọn 12 Viên Đam Mê và Thu Hận Tệ Đến Thế Là Cùng Mười Hai Người Hoa và Một Cô Gái Buổi Hẹn Cuối Cùng Trở Về Từ Cõi Chết Không Nơi Ẩn Nấp Đồng Tiền và Cạm Bẫy Lại Thêm Một Cú Đấm Đặt Nàng Lên Tấm Thảm Hoa Cành Lan Trong Gió Bão Những Xác Chết Chiếc Áo Khoác Ghê Tởm Món Quà Bí Ẩn Âm Mưu Hoàn Hảo Cướp Sòng Bạc Cạm Bẫy Dành Cho Johnny Những Xác Chết Câm Lặng Em Không Thể Sống Cô Đơn Thà Anh Sống Cô Đơn Buổi Hẹn Cuối Cùng Mùi Vàng Phu Nhân Tỉ Phú Giêm Tình Nhân Gã Vệ Sĩ Dấu Vết Kẻ Sát Nhân Trong Bàn Tay Mafia Này Cô Em Vòng Tay Ác Quỷ Thiên Đường của Vũ Nữ Châu Dã Tràng Xe Cát .... *** Từ lâu, tiếng động ấy đã trở nên quen thuộc với hắn rồi. Đã hơn một năm nó cứ thúc giục hắn phải làm một cái gì đó thật hung bạo nhưng cho tới nay hắn vẫn cưỡng được áp lực đòi hỏi của nó. Thế mà vào buổi chiều hôm nay, trong lúc hắn thoải mái nằm phơi nắng gió, tiếng gọi ấy lại nổi lên cuốn hút hắn thật dữ dội. Hắn thường nghĩ đến chuyện phải làm sao giết được một người đàn bà. Đó là điểm cùng tột, cao độ để chứng minh trí thông minh, sự nhanh nhạy trí óc và lòng can đảm của hắn. Qua đôi kính màu xanh che ánh sáng mặt trời, hắn đang nhìn một cô gái ngồi trên cát, cách hắn chừng hai mươi mét. Cô ta mặc một áo tắm hai mảnh màu xanh da trời, đang ngồi lấy kiểu cho một nhóm thợ ảnh mướt mồ hôi. Kẻ ngồi người đứng họ xúm quanh nửa vòng tròn trước mặt cô trong khi một đám đông tụ tập đằng xa nhìn ngắm với vẻ hâm mộ, thèm muốn. Với mái tóc vàng, tuổi trẻ tươi mát, cô có một thân hình đúng tiêu chuẩn đòi hỏi của thế giới điện ảnh: Da cô mướt như màu mật ong. Khuôn mặt xinh đẹp với những nét thanh mảnh, sống động rất ăn ảnh. Jay không hề thấy hấp dẫn chút nào trước thân hình đầy đặn ấy. Hắn không bao giờ thèm quan tâm đến khía cạnh ấy mà chỉ chú ý đến vẻ tươi mát, sống động trẻ trung của cô mà thôi. Tiếng nói bên trong càng lúc càng thôi thúc: “Kìa đó chính là kẻ mong đợi của mày. Đó chính là kẻ mày phải giết. Thật dễ như chơi. Cô ta là một nghệ sĩ trẻ, mày chỉ cần đến nói là cha mày muốn gặp thế là cô ta sẽ theo mày đến cùng trời cuối đất!” Jay rút từ túi áo sơ mi ra hộp thuốc mà bà dì ghẻ tặng cách đây bốn tháng nhân dịp sinh nhật thứ hai mươi mốt của hắn. Hắn lấy một điếu và châm lửa. Hắn nghĩ, “Ờ, đối với mày thật là dễ dàng để gặp riêng một mình với cô ta.” Cha hắn là Floyd Delaney - chủ hãng phim danh tiếng Pacific Motion Pictures cũng như Sam Goldwyn là chủ hãng phim Metro Goldwyn Mayer - hắn có thể đến tiếp cận với cô gái mà không sợ gặp khó khăn gì với cô ta. Hắn chợt thấy thật là may mắn khi được cha hắn ép buộc phải đi với ông dự Đại hội điện ảnh Cannes. Lúc đầu hắn không thấy thích nên viện dẫn cả ngàn cớ thoái thác nhưng người cha vốn lúc nào cũng thắng thế rốt cục đã lôi hắn đi theo ông. Cha hắn đã đoan quyết rằng Đại hội điện ảnh Cannes vui lắm, gái đẹp cả hàng đống nơi đó, ăn uống ngon lành, bãi biển rực nắng, phim chiếu hấp dẫn, con còn đòi gì hơn nữa? Vả lại hắn cũng cần phải đi nghỉ ngơi cho thoải mái đầu óc. Thế là lại thêm một lần hắn đi theo người cha mà không thấy vui lòng mấy. Kể ra thì cứ lẽo đẽo theo đuôi ông suốt ngày cũng thật là chướng. Mười hai năm trước đây, mẹ Jay đã phóng mình nhảy qua cửa sổ một khách sạn và từ lúc bà chết đi, ông đã tục huyền đến hai lần. Ông ly dị với bà hai sau hai năm gấu ó liên miên. Sophia, bà vợ hiện nay chỉ lớn hơn Jay có năm tuổi. Cô ta xinh đẹp, thanh mảnh, tóc nâu, mắt xanh thăm thẳm, thân hình cuốn hút và khuôn mặt như Đức Mẹ trong tranh của họa sĩ Raphael tài danh. Cô ta người Ý, từng đóng phim trước khi lấy chồng. Gặp ông chồng ghen và sức hấp dẫn của hàng triệu đô la khiến cô ta bỏ nghề. Jay luôn luôn cảm thấy ngượng ngập trước mặt bà dì ghẻ. Sắc đẹp của Sophia làm hắn bối rối và cố tìm cách tránh mặt. Mỗi khi bất đắc dĩ phải đối điện với dì ghẻ, hắn vẫn có cảm tưởng như Sophia thấy hắn kỳ kỳ thế nào ấy. Hắn thường bắt gặp nàng chăm chú nhìn hắn với dáng ngập ngừng, dò xét như là muốn tìm xem hắn đang nghĩ gì trong đầu. Sophia rất ân cần săn sóc hắn, nàng luôn luôn tìm cách để cho hắn tham gia vào câu chuyện khi có một đám đông vây quanh cha hắn, và điều này thì lại làm cho hắn thấy khó chịu, bứt rứt. Hắn thích đứng bên lề mọi hoạt động của người cha hơn là trao đổi những chuyện tào lao với đám người rõ ràng là không quan tâm gì đến hắn. Cả nhà Delaney đã đến khách sạn Plazza ba ngày rồi. Sau đây họ phải đi Venise và Florence để trông coi việc quay ngoại cảnh cho một cuốn phim cần phải thực hiện vào cuối mùa thu này. ... Mời các bạn đón đọc Thằng Khùng của tác giả James Hadley Chase.
Những con Rồng Châu Á - Selphie & Kitaro
Bộ truyện trinh thám gồm 4 tập được bạn trẻ ham mê trinh thám đón đọc trên toàn thế giới. *** Căn cứ Rồng hiện ra trước mắt ba cô gái, mọi sinh hoạt ở đây vẫn diễn ra bình thường nhưng đối với họ thì thật là mới mẽ, mọi thứ điều lạ, họ nhớ nới này, nhớ những công việc được giao và nhớ cả người đỡ đầu, người đưa cho các cô các nhiệm vụ mới. - Chúng con chào chú a. - Oh, chào các cô con gái của ta, các con khỏe không, những ngày nghĩ êm đềm đó các con nghĩ sao ? - Chán lắm chú a., bọn cháu chỉ muốn vừa du lịch vừa phá án thôi, như thế mới hấp dẫn. Sara lên tiếng. - Thế à, biết thế chú đã tìm các cháu lâu rồi, ở đây chú rối cả lên. - Tội nghiệp chú Saro đáng thương quá. Zane lên giọng thương xót. - Mà chú Saro nè, nhiệm vụ lần này như thế nào vậy chú. Sara hỏi. - Uh nhỉ ! Gạt chuyện tư qua đi, chuyện công đây. Trên màn hình bắt đầy hiện ra những tài liệu có liên quan đến nhiệm vụ lần này, vật bị lấy là một chiếc nhẫn nạm một viên kim cương bảy màu rất đẹp, có giá trị lớn. Vụ đánh cắp đã gấy thiệt mạng hai nhân viêc giám sát. Đây là chiếc nhẫn rất quý và nó có cả giá trị về chính trị giữa ThaiLand và Singapore. Vì thế các cháu phải sang Singapore để tìm hiểu và phá vụ này. - Gay đấy, không biết quan hệ hai nước có xấu đi không nhỉ. Zane bày tỏ suy nghĩ của mình. - Em nghe nói chiếc nhẫn đó là do vua ThaiLand tặng đấy. - Sara nói đúng đó, vì thế công việc chúng ta là tìm ra thủ phạm và chiếc đem đặt lại vị trí cũ. - Chúng cháu đi Singapore hả chú Saro. Sara hỏi. - Phải, giấy tùy thân, hộ chiếu, hành lý chú điều chuẩn bị xong cho các cháu rồi. - Chú Saro này, không lẽ thủ phạm lại muốn chia rẻ sự hợp tác hai nước à, cháu không nghĩ thế đâu, quốc vương ThaiLand đâu phải là chỉ tặng riêng vật đó. Alex lên tiếng. - À, thì ra nãy giờ cháu không nói gì là để suy nghĩ vấn đề này à ? - Vâng a. - Chị Alex nè, có lẽ chiếc nhẫn ấy quý nhất thì sao ? - Nhưng họ có thể không phải là ăn trộm như những tên khác - Vì đây là vật có giá trị mà chính quốc vương tặng không chừng đó Alex ạ. Saro nói. - Như vậy tại sao họ không lấy luôn những thứ như cây gậy ngọc quý, hai mãnh da con bạch hổ ? - Chị không biết Alex ạ, đừng hỏi chị. - Chúng ta qua đó điều tra sẽ rỏ ngay thôi, ở đây doán già, đoán non cũng vô ích thôi. Sara đề nghị. - Đúng đấy, các cháu đi đi. - Vâng ạ . - Cận thẩn đó nha, lần này không nên khinh địch đó. - Yes Sir !!! ... Mời các bạn đón đọc Những con Rồng Châu Á của hai tác giả Selphie & Kitaro.
Gã Hippi Trên Đường - James Hadley Chase
James Hadley Chase là bút danh của tác giả người Anh - Rene Brabazon Raymond (24/12/1906 – 6/2/1985), người cũng đã viết dưới tên James L. Docherty, Ambrose Grant và Raymond Marshall. Ông sinh ra ở Luân Đôn, là con của một đại tá người Anh phục vụ trong quân đội thuộc địa Ấn Độ, người dự định cho con trai mình có một sự nghiệp khoa học, bước đầu đã cho học tại trường học Hoàng gia, Rochester, Kent và sau đó học ở Calcutta. Ông rời gia đình ở tuổi 18 và làm nhiều công việc khác nhau, một nhà môi giới trong nhà sách, nhân viên bán sách bách khoa toàn thư của trẻ em, người bán sách sỉ trước khi tập trung vào sự nghiệp viết lách với hơn 80 cuốn sách trinh thám. Năm 1933, ông đã cưới Chase Sylvia Ray và có một con trai. Trong Thế chiến II, ông phục vụ trong Không quân Hoàng gia, cuối cùng đạt được thứ hạng lãnh đạo Đội tàu chiến. Chase đã biên tập Tạp chí Không quân Hoàng gia cùng với David Langdon với nhiều câu chuyện, nó được phát hành sau chiến tranh trong cuốn sách Slipstream. Chase chuyển đến Pháp năm 1956 và sau đó đến Thụy Sĩ vào năm 1961, sống một cuộc sống ẩn dật ở Corseaux-Sur-Vevey, phía bắc của hồ Geneva, từ năm 1974. Ông qua đời yên bình vào ngày 6/2/1985. *** Các tác phẩm của James H. Chase đã được xuất bản tại Việt Nam: Tỉa Dần Cái Chết Từ Trên Trời Cả Thế Gian Trong Túi Ôi Đàn Bà Cạm Bẫy Gã Hippi Trên Đường (Frank Terrell #5) Hứng Trọn 12 Viên Đam Mê và Thu Hận Tệ Đến Thế Là Cùng Mười Hai Người Hoa và Một Cô Gái Buổi Hẹn Cuối Cùng Trở Về Từ Cõi Chết Thằng Khùng Không Nơi Ẩn Nấp Đồng Tiền và Cạm Bẫy Lại Thêm Một Cú Đấm Đặt Nàng Lên Tấm Thảm Hoa Cành Lan Trong Gió Bão Những Xác Chết Chiếc Áo Khoác Ghê Tởm Món Quà Bí Ẩn Âm Mưu Hoàn Hảo Cướp Sòng Bạc Cạm Bẫy Dành Cho Johnny Những Xác Chết Câm Lặng Em Không Thể Sống Cô Đơn Thà Anh Sống Cô Đơn Buổi Hẹn Cuối Cùng Mùi Vàng Phu Nhân Tỉ Phú Giêm Tình Nhân Gã Vệ Sĩ Dấu Vết Kẻ Sát Nhân Trong Bàn Tay Mafia Này Cô Em Vòng Tay Ác Quỷ Thiên Đường của Vũ Nữ Châu Dã Tràng Xe Cát .... ***  Này, hãy nhìn bọn khốn kia kìa. - Người lái xe tải quay qua và vỗ nhẹ lên vai của Harry Mitchell và nói. Lúc này Harry Mitchell đang ngả lưng trên ghế nệm của cabin xe. Nghe vậy, anh giật mình nhìn về phía trước thấy một tốp Hippy đang đứng long nhong bên lề đường. Bên cạnh chúng ngổn ngang những đồ dùng, nổi bật là mấy cây đàn ghita. - Bọn khốn kiếp! - Người lái xe có vẻ khó chịu rồi nói tiếp. - Tương lai của xã hội đấy, nhưng chúng có thể giết ngay cả cha mẹ của chúng khi lên cơn ghiền ma túy. Bỗng trước mặt có ba đứa con gái mặc sơ mi và quần jean xanh, bọn chúng đưa tay ngoắc xe dừng lại. - Đồ điếm nhóc! Mới tập tễnh mà bày đặt. - Lần này anh khạc qua cửa sổ. - Mình hài lòng vì chưa có con, nhưng bà xã mình thì ngược lại. Thế hệ mình là đồ bỏ, nhưng còn bọn này thì... - Harry Mitchell lặng lẽ móc trong túi lấy gói Lạc Đà dẹp lép rồi mời anh lái xe, cả hai cùng đốt thuốc. Người lái xe nói tiếp: - Có phải cậu đang nghĩ là vì sao tôi cho cậu đi nhờ? Có phải cậu mới được giải ngũ không? Nhìn sơ là tôi biết ngay vì trước dây tôi cũng là lính ở Triều Tiên. Cậu mới về hả? - Đúng, tôi vừa về. - Harry lơ đãng nói. - Ờ. - Người lái xe gật đầu. - Trông chú em còn sặc mùi lính. Harry nhún vai: - Rồi tôi cũng sẽ như mọi người mà thôi. - Anh cảm thấy vui khi trở về chứ? Harry không muốn trả lời thẳng vào câu hỏi. Người lái xe tỏ vẻ thông cảm, anh ta nói như chia sẻ: - Cuộc sống ở quân đội thì có gì là vui, những ngày đầu ai cũng cảm thấy lẻ loi, trước kia tôi cũng như anh vậy. Anh ta hít sâu một hơi thuốc lá rồi từ từ nhả khói: - Có thật sự gian khổ như bọn nhà báo đã viết không? Harry không đáp lại và với vẻ mặt đăm chiêu anh nói: - Tôi không chịu được nỗi buồn. Anh hồi tưởng lại thời gian sống trong quân ngũ, gần kề giữa cái sống và cái chết, bây giờ anh không muốn nhắc tới nữa, với anh mọi việc vậy là đã xong. Người lái xe như đọc được ý tưởng của Harry, anh cảm thấy thất vọng vì không được nghe nói về những cuộc đụng độ, nên thở dài. Khi chiếc xe chạy qua khỏi Dayton Beach, người lái xe tên là Sam Bentz, đã cho xe dừng lại trước một quán ăn nhanh, để giải khát. Công việc của anh hiện giờ là mang trái cây từ Orangerille về miền Bắc, cứ một tuần hai lần. Đây là hành trình mà anh cảm thấy chán ngán vì có đám lưu manh đã làm bẩn con đường dẫn tới biển và mặt trời. Chúng dùng mọi cách buộc người đi đường phải cho chúng đi nhờ. ... Mời các bạn đón đọc Gã Hippi Trên Đường của tác giả James Hadley Chase.
Cảnh Sát Đặc Nhiệm Texas - Diana Palmer
Một vụ phá án của đội cảnh sát đặc nhiệm Texas lồng trong câu chuyện tình của trung úy Marc Brannon và Josette Langley, nữ điều tra viên, hai nhân vật chính của truyện. Nhiều năm trước, những éo le trong hai vụ án có liên quan nhau đã khiến họ phải đứng trước tòa ở hai phía đối lập, điều đó cũng khiến cho mối tình của họ phải tan vỡ và danh tiết của Josette bị tổn hại nghiêm trọng. Những tưởng hai người sẽ không bao giờ gặp lại nhau nữa khi mỗi bên đều chuyển công tác và chỗ cư ngụ, nhưng số phận lần nữa lại đẩy đưa họ đối mặt với nhau. Lần này, là một vụ án rất phức tạp khiến họ phải luôn sát cánh bên nhau trong công việc. Và dẫu còn đầy tổn thương vì chuyện cũ, Josette vẫn không thể tự dối lòng rằng, trái tim cô vẫn chưa thể xóa đi hình bóng của con người phụ bạc ấy. Rằng, quá khứ sâu đậm ấy giờ đây đang lên tiếng... Đây làtiểu thuyết trinh thámhình sự. Theo giới thiệu của nguyên bản, sách được xếp vào hàng best-sellers ở Hoa Kỳ với tác giả là Diana Palmer, một nữtiểu thuyếtgia nổi tiếng, có hơn 25 năm sáng tác và hơn 95 tiểu thuyết được in. Truyện có, nhiều tình tiết hấp dẫn gay cấn lồng trong một câu chuyện tình khá nóng bỏng với kết thúc có hậu. *** Tại trụ sở đội cảnh sát đặc nhiệm bang Texas ở San Antonio, trên tường nhà treo đầy những bức ảnh đen trắng được đóng khung của những thành viên cũ trong đội ngũ ưu tú đó. Những bóng ma màu nâu xám của quá khứ đang ngắm nhìn thế giới hiện đại với đầy những điện thoại, máy fax và máy tính qua những khung ảnh... Chuông điện thoại không ngừng kêu vang. Những nhân viên ngồi sau bàn làm việc của mình đang làm công việc thẩm vấn. Và như một điệu hát ru điện tử đều đặn du dương, tiếng kêu ro ro của những máy móc vẫn đều đều lấp đầy không gian. Trung úy cảnh sát Marc Brannon như bị trói chặt vào chiếc ghế xoay của mình trước một bàn làm việc chất đống tài liệu. Những lọn tóc xoăn màu hạt dẻ chen lẫn màu hoe vàng của anh ánh lên dưới bóng đèn neon. Cặp mắt nheo nheo, anh đang nghĩ đến một sự việc mới xảy ra gần đây. Vài tuần trước, một người bạn và cũng là đồng nghiệp của anh, Judd Dunn, người vừa được bổ sung tạm thời về văn phòng ở San Antonio suýt nữa đã bị một chiếc xe chạy với tốc độ cao cán vào người. Theo những lời bàn tán thì vụ việc đó không liên quan gì đến một vụ điều tra của FBI về Jake Marsh, một ông trùm mafia trong vùng. Dunn đã tham gia vào việc thẩm tra ấy, trước khi yêu cầu được chuyển đến Victoria vì những lý do cá nhân. Cuộc điều tra sẽ được tiếp tục dưới sự chỉ đạo của một nhân viên khác người gốc Georgie là Curtis Russell, người trước đây từng làm việc cho Sở Mật vụ. Chính vì thế mà Marc cảm thấy hoi lạ khi anh ta làm việc cùng bộ phận với mình. Nhưng trong công việc này, mọi người thường xuyên phải thay đổi công tác. Chắc đây là một trường hợp như vậy. Trừ phi Russell chính là kẻ chuyên quấy rầy. Hai ngày trước, chưởng lý Simon Hart đã đích thân gọi điện cho Marc để phàn nàn về tính bướng bỉnh của đồng nghiệp của anh. Russell, hiện giờ đang tung hoành ở Austin và đã gây nhiều khó khăn cho những nhân viên ở đây. Sau khi đã xem xét tỉ mỉ hồ sơ của cảnh sát, anh ta đã moi ra hai vụ giết người mà theo anh ta, hai vụ này có liên quan chặt chẽ đến Marsh và maña... Cũng có thể anh ta có lý. Nhưng vấn đề là gán tội cho bọn trộm cắp thì dễ hơn nhiều việc đưa ra được bằng chứng của những tội danh đó. Jake Marsh đã được tôi luyện trong tất cả các kiểu phạm tội như đe dọa tống tiền, ma cô dắt gái hay cá độ bất họp pháp... Ngoài ra, hắn còn sở hữu một căn hộ ngay giữa Downtown, khu phố đẹp nhất ở San Antonio. Đấy chính là gót chân Âsin của hắn. Bởi vì cảnh sát có thể “hỏi thăm” hắn bất cứ khi nào khi viện dẫn luật về yếu tố gây nguy hại nơi công cộng - một loại tội phạm hình sự cho phép cảnh sát đóng cửa một địa điểm bị nghỉ ngờ là được dùng để tổ chức các hoạt động phạm tội. Cảnh sát có thể viện mọi lý do để đánh bật những tay anh chị ra khỏi hang ổ của mình. Và, nếu xét theo giá trị bất động sản của căn hộ thì Marsh rất có khả năng bị sờ gáy. Nhưng điều đó chưa đủ để bắt ông ta. Marsh rất có tài và biết cách lẩn tránh sự truy tìm của cảnh sát. Rõ ràng là sự hiểu biết pháp luật rất có lợi cho bọn tội phạm. “Đáng tiếc là người ta không thể tóm cổ những kẻ phạm tội như ở thời trước đây nữa”, - Marc suy nghĩ với một thái độ khinh bỉ. Mắt anh gắn chặt vào bức ảnh cũ, trong đó có hình một thành viên của đội cảnh sát đặc nhiệm đang cưỡi ngựa, ngạo nghễ kéo theo bằng dây thừng một tên sống ngoài vòng pháp luật bị thương, nhục nhã và người đầy bụi bặm. Anh hờ hững mân mê báng súng bằng gỗ sậm màu của khẩu colt 45 mà anh luôn đeo nó bên thắt lưng của mình. Những thành viên của đội cảnh sát đặc nhiệm không mặc đồng phục, họ được tự do chọn phục trang và mang vũ khí cho phù hợp. Nhưng phần lớn trong số họ đều chọn cho mình cùng một kiểu: sơ mi trắng, cà vạt, ủng và mũ cao bồi Stetson trắng, và cùng đeo phù hiệu - một ngôi sao trong một vòng tròn. Một cảnh sát đặc nhiệm phải luôn lịch sự, sạch sẽ, bảo thủ và chuyên nghiệp. Ngay từ đầu, Marc đã cố gắng để quen vói hình ảnh này, nhưng nay thì anh tỏ ra thận trọng và đa nghi hơn. Hai năm trước, anh đã phạm một sai lầm trong cuộc đời mình: anh đã hiểu lầm về một người phụ nữ mà anh đã từng gắn bó... còn hơn cả lý trí của mình. Em gái của anh, người biết thông tin về người phụ nữ này, đã cam đoan là người phụ nữ này không còn muốn gì ở anh nữa. Đúng là một sự giúp đỡ vô dụng. Marc không tha thứ cho mình về chuyện đó. Anh đã xin thôi việc, rời khỏi đội đặc nhiệm và bang Texas, rồi gia nhập FBI và làm việc ở đó trong hai năm. Kinh nghiệm đã dạy cho anh biết rằng, trốn chạy khỏi một vấn đề không phải là giải pháp tốt; vì người ta luôn mang theo nó bên mình như một con tim bị thương. ... Mời các bạn đón đọc Cảnh Sát Đặc Nhiệm Texas của tác giả Diana Palmer.