Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Gia Đình

Tóm tắt & Review (Đánh Giá) tiểu thuyết Gia Đình của tác giả Phan Thúy Hà. Cách viết của “Gia đình” - Nguyễn Lương Hải Khôi Khái niệm trung tâm để chúng ta đọc tác phẩm “Gia đình” của Phan Thúy Hà là “chấn thương”. Nó là sự tiếp nối hai tác phẩm “Đừng kể tên tôi” (2017) và “Tôi là con gái của cha tôi” (2019).  “Đừng kể tên tôi” là tiếng nói của những người lính miền Bắc, còn “Tôi là con gái của cha tôi” là tiếng nói của những người lính miền Nam, tất cả họ, dù bước vào cuộc chiến vì nghĩa vụ hay vì  lý tưởng, đều là những số phận nhỏ bé, bị thời cuộc xé nát trong cuộc chiến Nam Bắc tàn khốc. Còn “Gia đình” là một mảnh của lịch sử cuộc Cách mạng ruộng đất của phong trào cộng sản ở miền Bắc Việt Nam thập niên 1950. Tất cả các nhân chứng trong sách “Gia đình” đều mang một chấn thương tinh thần không thể chữa lành. Nhân chứng Trần Lệ: Mười lăm tuổi, tôi là đứa trẻ sợ hãi. Đêm, bị nhốt trong chuồng trâu. Chân giẫm lên phân. Các thanh chắn chuồng trâu thưa, có thể chui ra ngoài nhưng tôi không dám. Quá nửa đêm, dân quân không canh nữa, tôi vẫn sợ. Tôi đã tiểu ra quần. Nỗi khiếp sợ năm mười lăm tuổi. Nay tám mươi hai tuổi tôi vẫn là ông già sợ hãi. Tôi không dám thắc mắc một điều gì. Muốn viết đôi điều cho con cháu biết về cha ông mình. Cầm bút lên tôi lại run. Nhân chứng Nguyễn Bút: Hai chị dâu con bác kéo xác chị đi chôn. Chôn ở đâu, không ai nhớ nữa. Nỗi khiếp sợ khiến cho các chị không còn nhớ gì nữa. Các chị chỉ nhớ lúc đó không ai còn sức nên không kéo được đi xa, cũng không đào được sâu. Nếu tôi ở lại, chị em dựa vào nhau. Hay tôi cũng chết giống như chị. Chị Loan dằn vặt. Giá hôm đó giữ chị Liên ở lại, đừng để cho chị về thôn Cầu. Nếu lường trước được chuyện xảy ra thì cha mẹ tôi đã bỏ lại tất cả, đưa các con đi khỏi thôn Cầu ngay từ đầu. Nếu, thì, làm sao ra nông nỗi mười một cái chết đau thương như vậy trong nhà bác Cả, bác Hai và nhà tôi. Văn học như là vi-lịch sử Tác giả Phan Thúy Hà chia sẻ rằng trong Lời cuối sách của “Gia đình”, cũng giống như hai tác phẩm trước, các nhân vật đều là người thật, tên của nhân vật cũng là tên người thật, câu chuyện của họ trong tác phẩm là sự thật trong ký ức của họ. Như vậy, ở đây, tác giả không hư cấu mà chỉ viết lại lời kể từ điểm nhìn của nhân chứng. Chị cho biết, có câu chuyện trong tuyển tập này, tuy chỉ dài hai trang nhưng chị phải đi gặp tới bốn người, lắng nghe họ để ráp nối các sự kiện và dựng lại cho câu chuyện được đầy đủ. Như vậy, tác phẩm còn là một công trình khảo sát xã hội nữa. Không phải là khảo sát ở quy mô lớn, mà là khảo sát số phận những con người cụ thể. Bằng cách này, Phan Thúy Hà làm cho nghệ thuật và khoa học của “vi lịch sử” gặp nhau. “Vi lịch sử” (micro history) là một nhánh mới của sử học gần đây. Sử học truyền thống phục dựng thời đại đã qua chủ yếu bằng cách khảo sát những nhân vật lớn, những anh hùng, những nhà tư tưởng, nhà kinh tế lớn, những trận đánh, những hiệp ước xoay chuyển thời đại… Vi lịch sử phục dựng diện mạo của thời đại đã qua bằng cách khảo sát những con người nhỏ bé, những số phận hoàn toàn vô nghĩa, những con người “không tên, không tuổi, không tiền” của những thời đại đã qua. Vi lịch sử chọn cách tiếp cận này vì đối với nó, những số phận nhỏ bé này, những con người bên lề này lại cung cấp những dữ liệu để sử gia nhìn thấy những phiên bản khác của thời đại cũ, những góc khuất của lịch sử mà những “nhân vật lớn” của sử học truyền thống không cho ta thấy được. “Gia đình” (cũng như “Đừng kể tên tôi” và “Tôi là con gái của cha tôi”) của Phan Thúy Hà cũng là một dạng thức nghiên cứu về chấn thương tinh thần của những con người nhỏ bé, đứng bên lề dòng thác khốc liệt của lịch sử, số phận bị quyết định bởi sự lựa chọn lịch sử của những “nhân vật lớn”. Nhưng qua đời sống tinh thần của họ, chúng ta nhìn thấy những đường nét, màu sắc và hình khối khác của bức tranh lịch sử, khác hoàn toàn với những đường nét, màu sắc và hình khối đứng ở trung tâm của bức tranh lịch sử “cỡ lớn” được khắc họa thông qua những nhân vật “lớn”, nhân vật “trung tâm” của thời đại, tức những chính trị gia, những tướng lĩnh quân sự. Thậm chí, những mảng màu trong bức tranh lịch sử được phục dựng từ những con người nhỏ bé này có thể trở thành điểm trung tâm của bức tranh đã qua, tùy theo điểm nhìn của người xem. Viết văn như sắc thuốc: Lịch sử tự cất tiếng nói Viết văn bằng cách kết hợp giữa nghệ thuật và khoa học lịch sử (vi lịch sử), Phan Thúy Hà không phải là, hoặc không chỉ là “nhà văn”. Chị là một “tác giả”. Cách viết của chị khi xây dựng tác phẩm này giống như hái một nắm lá về sắc thuốc. Trong y học cổ truyền, sắc thuốc là cho lá thuốc vào nồi ấm đất, đun sôi để tạo ra nước cốt. Người ta không đun lửa quá to, chỉ đun lửa nhỏ, để nước sôi dần sao cho không bao giờ trào ra khi sôi. Người sắc thuốc không tự tay tạo ra thuốc, không tác động vào nguyên liệu bằng kỹ thuật tinh xảo. Họ chỉ tạo điều kiện để thuốc tự ra đời. Nói như vậy không có nghĩa “Gia đình” không phải là một sáng tạo văn học của tác giả, ngược lại, đó là một sáng tạo độc đáo. Tác giả sử dụng giọng văn triệt tiêu mọi cảm xúc chủ quan của chính mình. Trong “Gia đình”, chúng ta không thấy hình ảnh tác giả hiện lên trong câu chuyện, dù đó là cảm xúc hay quan điểm của chị, mà chỉ có nhân vật người thật đang kể lại những chấn thương tinh thần của họ. Điều đó có nghĩa là, tác giả từ bỏ vai trò của “người sáng tạo” theo cách hiểu của văn học truyền thống, để trở thành một “nền tảng” (“platform”) nơi sự thật tự nó phơi bày, hay, trở thành một cửa ngõ để những mảnh đời sống tinh thần đang ẩn hiện đâu đó trong lòng xã hội được đi qua để hiện diện một cách trực quan và thuần khiết trước mắt cuộc đời. Cánh cửa mở ra, không phải để lôi kéo sự chú ý của người khác đến mình, mà chỉ để những gì đằng sau nó hiện ra trước ánh sáng. Câu chuyện lịch sử diễn ra cách đây bảy thập niên, do đó, không được phản ánh như là nhận thức của tác giả, dù là nhận thức chủ quan hay khách quan, mà chỉ như là những dữ liệu khách quan, cụ thể là những dữ liệu khách quan về những chấn thương còn đọng lại trong tinh thần của những con người nhỏ bé bị cơn cuồng phong đỏ xé nát. Một mảnh nhỏ của lịch sử tự nó cất tiếng nói. Nói cách khác, người sắc thuốc là người vụng về, tác giả không miêu tả tâm lý nhân vât, không sắp xếp câu chuyện bằng những kỹ thuật thời thượng, nhưng cái vụng về này là cái vụng về lớn của tài năng lớn, không để cái tôi của mình đúc khuôn hình ảnh của cuộc đời. Cách viết này không chỉ làm cho nhà văn không tự quyết định cách hiểu của độc giả thông qua thẩm quyền áp đặt của người viết, nó còn làm cho tác phẩm không phải là một thông điệp về giáo dục, đạo đức hay thẩm mỹ. Ở “Gia đình”, tác phẩm không được tạo ra như một khách thể thẩm mỹ (aesthetic object) để người đọc, người xem thưởng thức như một đối tượng tự nó hàm chứa sẵn các thông điệp và giá trị, và do đó, nhiệm vụ của người đọc, người xem cũng không phải là khám phá được các giá trị và thông điệp đó, thông qua việc giải mã các kỹ thuật viết của tác giả. Người đọc không cần có nỗi lo mình không đủ tầm về kinh nghiệm hay tri thức để hiểu tác giả và tác phẩm. Bởi lẽ người đọc không có nhiệm vụ hiểu những thông điệp có sẵn, mà người đọc giống như cái trống, còn tác phẩm như bàn tay vỗ trống. Ý nghĩa và giá trị của tác phẩm thông qua một mảnh lịch sử diễn ra cách đây hơn bảy thập niên giống như âm thanh được tạo ra từ sự tương tác giữa cái trống và bàn bay. Ý nghĩa vốn không có sẵn trong tác phẩm. Mỗi người đọc tạo ra một hình ảnh về lịch sử của riêng mình. Cách viết của “Gia đình”, do đó, làm cho giá trị của nó không dừng lại ở địa hạt văn chương, nói đúng hơn, nó không phải là văn chương theo cách hiểu truyền thống. Chúng tôi không biết tên để gọi thể loại của tác phẩm, chỉ biết rằng, đó là một tác phẩm để chúng ta nhận thức về lịch sử một cách khách quan. Chú thích Một trong những tác phẩm sử học tiên phong của vi lịch sử (micro history) là “Phô mai và côn trùng” (“The Cheese and the Worms”) của Carlo Ginzburg năm 1976. Tác giả nghiên cứu cuộc đời của một người làm phô mai tên là Menocchio (1532–1599), sống ở một ngôi làng hẻo láng và không biết chữ. Tác phẩm khảo sát niềm tin tôn giáo và tưởng tượng của người nông dân làm phô mai về vũ trụ, phác thảo diện mạo của văn hóa đại chúng ở châu Âu đương thời. *** “Gia đình” (Phan Thúy Hà) – Gió bụi một thời ai oán By Chơn Linh Ở thế kỷ 21, khi chứng kiến một cá nhân hay một gia tộc giàu có, đứng đầu một tập đoàn hay sở hữu một khối tài sản khổng lồ, ai trong chúng ta cũng trầm trồ ngưỡng mộ và ao ước một ngày nào đó mình sẽ được vinh hoa phú quý như họ. Nhưng ngược dòng thời gian trở về miền Bắc Việt Nam cách đây tròn 70 năm, nhà cửa, đồn điền, tiền của, vàng bạc hay tài sản trong nhà từng là thứ khiến tầng lớp giàu có thời bấy giờ phải kinh hồn bạt vía đến nỗi họ phải ước ao giá như mình đừng giàu, giá như mình chỉ là thành phần nông dân bần cùng mạt hạng trong xã hội. Đó là câu chuyện có thật nằm trong một góc khuất lịch sử của nước nhà thường ít được nhắc đến trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Có thể giống như mình, bạn đã từng loáng thoáng nghe qua về cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam, nhưng còn chi tiết như thế nào thì không phải ai cũng biết và chủ tâm tìm hiểu, nhất là thế hệ trẻ bây giờ. Trong chương trình Lịch sử phổ thông, cải cách ruộng đất là một “khoảng trống” bị bỏ ngỏ trong suốt nhiều năm qua vì những lý do nhạy cảm. Ngay cả trong lĩnh vực xuất bản, những cuốn sách nào đề cập tới mặt trái của cuộc cải cách này cũng gặp phải vấn đề kiểm duyệt và bị thu hồi lại sau khi phát hành, thậm chí nhà văn phải trả giá đắt. Mãi cho đến khi đọc được tác phẩm “Gia đình” của tác giả Phan Thúy Hà, mình mới thấy được những sóng gió kinh hoàng của một thời ai oán. Những thông tin mình sắp chia sẻ không phải là thông tin lịch sử khô khan khó nuốt, mà mình tin ai cũng nên biết tới sự kiện này. Nói đến nạn đói năm Ất Dậu 1944-1945, hầu như chúng ta ai cũng biết vì đó là một thông tin chấn động chúng ta được học trong môn Lịch sử, với gần 2 triệu người Việt Nam chết đói ở miền Bắc Việt Nam do hậu quả của cuộc chiến tranh tại Đông Dương. Cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam cũng là một sự kiện chấn động như thế xảy ra trong những năm 1953-1956 do Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thực hiện. Mục đích của chương trình là nhằm phân chia lại ruộng đất nông thôn, xóa bỏ văn hóa phong kiến, tiêu diệt các thành phần phản quốc (theo Pháp, chống đất nước), phản động (chống chính quyền) như địa chủ phản cách mạng, Việt gian, cường hào cộng tác với Pháp,… Những người theo chủ nghĩa cộng sản cho rằng họ phải thực hiện cuộc cải cách này để thiết lập lại trật tự và công bằng trong xã hội, đồng thời thiết lập nền chuyên chính vô sản nhằm tiến lên chủ nghĩa xã hội một cách nhanh chóng. Chương trình cải cách ruộng đất ở Việt Nam được dựa theo chương trình thổ địa cải cách ở Trung Quốc (1946-1949) với sự cố vấn trực tiếp của các cán bộ đến từ Trung Quốc. Trong 3 năm đầu, cuộc cải cách đã phân chia lại ruộng đất công bằng cho đa số nông dân miền Bắc, xóa bỏ giai cấp địa chủ phong kiến. Nhưng trong giai đoạn sau từ giữa năm 1955, việc vội vã nhân rộng mô hình cải cách tới nhiều địa phương và cuộc “chạy đua KPI” thành tích đã khiến cho việc thi hành trở nên mất kiểm soát và dẫn tới việc xét xử địa chủ vô tội vạ. Hậu quả của việc thi hành sai lầm đó là có hàng loạt địa chủ bị đem ra đấu tố và chết oan, hàng loạt gia đình địa chủ phải tan cửa nát nhà, con em thuộc thành phần địa chủ bị kỳ thị rẻ rúng, cùng vô số câu chuyện bi đát thương tâm mà chúng ta khó có thể tưởng tượng được ở thời hiện đại. Trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng ấy, không khí tang thương và tiếng khóc thê lương bao trùm các vùng nông thôn ở miền Bắc Việt Nam, khiến cho lòng dân phẫn nộ và mất niềm tin vào chính quyền. Kết cục là, đến đầu năm 1956, cuộc cải cách bị đình chỉ và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã phải tổ chức chiến dịch nhận khuyết điểm và sửa sai. Ngay chính Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rơi nước mắt khi nói về những sai lầm trong giai đoạn ấy. Mình biết tới tác giả Phan Thúy Hà qua cuốn sách Qua khỏi dốc là nhà mà mình đọc từ cuối năm 2021. Sau đó tác giả có chia sẻ bài review sách của mình trên Facebook cá nhân và mình được một người bạn gửi link cho xem. Từ thời điểm đó, mình mới theo dõi và tìm hiểu thêm về những cuốn sách khác của chị rồi mua luôn đủ bộ 5 cuốn. Đọc sách của chị, mình bị sốc toàn tập, sốc từ cuốn này qua cuốn khác bởi những sự thật trần trụi đến đau đớn. Như cuốn Gia đình này là tập hợp rất nhiều câu chuyện có thật được tác giả ghi chép lại về những nhân chứng sống từng trải qua cuộc cách mạng ruộng đất ở Nghệ An và Hà Tĩnh. Đây cũng là cuốn sách khiến mình sốc nhiều nhất bởi những câu chuyện quá đỗi thương tâm, đến mức có những lúc tim mình như thắt lại khi đọc sách và phải dừng lại vì không thể đọc tiếp được nữa. Có thể nói tác giả Phan Thúy Hà như một thư ký của lịch sử, người không quản ngại thời gian và công sức đi dọc khắp các nẻo đường đất nước, tìm gặp những nhân vật từng trải qua các giai đoạn lịch sử của nước nhà ở cả hai phía chiến tuyến để ghi chép lại những câu chuyện cho thế hệ sau. Nếu không có tiếng nói của chị, có lẽ những câu chuyện này đã mãi mãi bị chôn vùi trong lớp trầm tích của lịch sử, bao nhiêu người đạp lên nó mà đi tới tương lai nhưng chưa bao giờ ngoảnh lại để thấy những gì cha ông ta đã trải qua. Để biết được tầng lớp địa chủ giàu có một thời đã trải qua những bi kịch thảm khốc như thế nào, mình xin điểm qua một số câu chuyện mình ấn tượng trong sách qua giọng kể của mình để độc giả hình dung (vì trích lại nguyên văn thì khá dài). 1. Một địa chủ bị tịch thu hết gia sản ruộng đất, phải vào rừng chặt nứa để bán kiếm sống qua ngày. Khi gánh nứa trên đường về nhà, trong cơn đói rét bủn rủn chân tay ông ghé nhà một người dân ven đường xin một bát cơm. Do nhà đó mới ăn cơm xong nên họ mới thương tình nấu một nồi cơm mới cho ông. Nhưng xui rủi thay, ông lại vô trúng nhà dân quân đang họp và bị một dân quân phát hiện khi đi ra bếp. Người chủ nhà sợ hãi phải dẹp bỏ nồi cơm và đuổi người địa chủ ra đường ngay lập tức. Sáng hôm sau, người ta phát hiện xác ông nằm chết co quắp bên vệ đường, chỉ cách nhà vài cây số. 2. Một em học sinh học xong cấp ba nộp đơn vào trường Thủy Lợi. Khi giấy gọi đi học gửi về xã, xã ghi lý lịch mật gửi ra tận trường: “Cha làm lý trưởng. Ông làm chánh tổng. Ba đời ôm chân đế quốc. Đề nghị không xét tuyển”. Không được đi học, em phải ở nhà làm nông dân hợp tác xã. Trong một buổi tối sinh hoạt, một người đứng lên chỉ thẳng mặt vào em và người em họ: “Hai đồng chí không được như đống phân. Đống phân còn có giá trị bón ruộng cho lúa tăng năng suất nuôi bộ đội đánh giặc”. Là con địa chủ thời bấy giờ đồng nghĩa với việc bị nhục mạ cũng phải im lặng. Con cái nhà địa chủ mỗi khi ra đường là bị đánh, đi học cũng bị đánh. Con gái thì bị giật tóc, gõ đầu, cấu véo, bị sỉ nhục là con địa chủ. Mỗi buổi đi học của các em đều như địa ngục trần gian, khi tan học là bị rượt đánh đến tận nhà. Một em bị bạn học bắt phải ăn khế chấm phân trâu, không ăn là bị đánh chết. Mạng sống của con em nhà địa chủ lúc bấy giờ không bằng một con chó. 3. Một gia đình thuộc tầng lớp trung nông lớp dưới, tức chưa được xếp vào hàng trung nông và cũng không phải bần nông, nhưng do người cha bị bắt nên cả gia đình cũng bị liên lụy. Dù trong nhà chẳng có của cải gì nhiều nhặn để tịch thu, dân quân thấy trong nồi có cơm nguội cũng vốc ăn hết sạch rồi lấy cả cái sành đựng nước tiểu. Bị tịch thu căn nhà, gia đình này phải phải sống ở một túp lều ven đường tàu, mỗi ngày phải đi hái rau má và bắt cua đi bán kiếm sống. Có lần dân quân bắt gặp người mẹ cầm giỏ cua trên đường, bèn giật lấy, đổ cua ra bên đường rồi giẫm nát. 4. Một địa chủ nổi tiếng nhân hậu trong vùng có đất đai ruộng vườn cò bay thẳng cánh. Vào năm cải cách ruộng đất, ông bị bắt giam, bị treo ngược chỏng đầu rồi bị dọng đầu ầm ầm xuống đất. Họ dọng như thế từ sáng tới trưa, từ trưa đến tối, với lý do nếu ông có nuốt vàng trong bụng thì sẽ nhả ra. Sau đó ông bị bắt bỏ tù, về sau bệnh mà chết. Những năm nạn đói trước đó, chính ông là người cứu giúp người dân trong vùng qua cơn đói, nhưng cũng chính những người dân ấy sau này lại tham gia đấu tố và chỉ trích ông trong cuộc cải cách ruộng đất. Câu chuyện này được người cháu của ông kể lại. Sau khi gia đình ông bị tịch thu hết tài sản ruộng đất, hai mẹ con người cháu này phải vào núi ở và tự khai khẩn làm ruộng kiếm miếng ăn qua ngày. Khi ruộng lúa đã gần đến ngày thu hoạch, sáng sớm người mẹ ra ruộng coi có thể gặt được chưa thì sững sờ phát hiện ai đó đã tháo đập và nước dâng lên thành hồ, dìm hết mớ lúa chìm trong biển nước. Hóa ra người ta vẫn luôn theo dõi gia đình họ và chỉ chờ đến ngày này, khi lúa sắp thu hoạch mới ra tay. Tại sao họ lại nhẫn tâm dồn những gia đình địa chủ vào đường cùng đến thế? 5. Trong cải cách ruộng đất có một hoạt động gọi là đấu tố địa chủ. Các địa chủ trong làng sẽ bị bắt ra giữa làng hay sân đình, bị trói vào cột hay bị chôn dưới hố, dưới sự chứng kiến của các cán bộ cải cách cùng người dân trong làng. Mỗi người dân khi đó sẽ tham gia tố khổ, kể rằng đời sống của họ đã khó khăn khổ sở ra sao trong khi tầng lớp địa chủ sung sướng ăn trắng mặc trơn thế nào. Có những cuộc đấu tố thậm chí người tố khổ còn nhổ nước bọt hay ném đá địa chủ, để rồi kết cục sau cùng là địa chủ đó sẽ bị dân quân xử bắn nếu tội lỗi bị tố chất chồng. Chuyện tố khổ không chỉ có ở người lớn, mà còn được đưa vào môi trường học đường. Mỗi tổ trong lớp vừa là tổ học tập vừa là tổ tố khổ. Vào giờ sinh hoạt, mỗi em học sinh phải nghĩ ra nỗi khổ trong gia đình mình để quy tội cho giai cấp địa chủ. Thời đó thì nhà nào cũng đói cũng rét, kể mãi cũng chỉ có nhiêu đó chuyện thì bị cán bộ hiệu đoàn kiểm điểm là thiếu nghiêm túc. Cực chẳng đã, có những em phải kiếm chuyện để tố như: “Mẹ tôi chết là do ra ruộng định vớt trứng ếch lại vớt nhầm trứng cóc luộc ăn ngộ độc chết. Tội này do địa chủ độc ác gây ra”. Thậm chí, hiệu đoàn còn chuẩn bị sẵn những bài tố khổ để “bồi dưỡng” cho các em học sinh học thuộc lòng. 6. Ông nội một nhân vật là một vị quan đại thần triều Nguyễn, vốn nổi tiếng thanh liêm và từng bênh vực cho rất nhiều người nghèo trong những vụ kiện tụng. Trước khi mất, ông có được đúc tượng và bức tượng đó về sau được đặt trên bàn thờ kèm theo một nhành mai bằng bạc. Đó là nhành mai do vua ban cho ông vào năm ông đỗ tiến sĩ. Trong cuộc cải cách ruộng đất, bức tượng bị tịch thu và đem ra triển lãm như một thắng lợi của chiến dịch. Các bác các chú và cả gia đình nhân vật cho tới tận bây giờ vẫn còn ăn năn day dứt và cảm thấy có lỗi với tổ tiên mình khi để mất bức tượng thờ đó. 7. Cha một nhân vật từ một người làng chài tay trắng làm nên mà gây dựng cả sản nghiệp cho gia đình và trở thành một hộ giàu có trong vùng. Khi cải cách ruộng đất diễn ra, gia đình người này bị tịch thu hết ruộng đất tài sản. Người cha phải quỳ gối giữa trời mưa cho từng người nông dân lên đấu tố, trong đó có những người từng chịu ơn ông. Ngay cả bà nội của nhân vật đã 92 tuổi cũng bị phạt đứng cúi đầu cả ngày và bị bỏ đói mấy ngày liền khiến cho thần kinh đờ đẫn. Trước đây, mỗi năm nhà có giỗ, gia đình ông thường mổ bò, mổ lợn mời cả làng tới ăn. Nhưng giờ đây tới ngày giỗ, ông thậm chí còn không thể làm một bát cơm cúng cho bố của mình. Phẫn uất và bất mãn, ông quyết định treo cổ tự vẫn. Trên đây chỉ là một số câu chuyện điển hình trong vô vàn những câu chuyện đã bị lãng quên trong lịch sử. Đã có không biết bao nhiêu địa chủ, quan lại thời phong kiến, tầng lớp trung nông giàu có thời bấy giờ gánh chịu nỗi oan khiên lịch sử, mất hết tất cả của cải tài sản mà cả đời tích lũy, mất hết cả những đất đai nhà cửa của tổ tiên bao đời, đến ngay cả nhà thờ họ hay bàn thờ tổ tiên cũng bị tàn phá hay chẻ ra làm củi, bị đem ra lợp mái chuồng bò chuồng lợn. Cho đến tận hôm nay, chưa có một con số thống kê chính thức nào được đưa ra về con số nạn nhân của cuộc cải cách ruộng đất, nhưng qua một số tài liệu của các học giả nước ngoài nghiên cứu về lịch sử Việt Nam thì ước tính nó lên tới hàng ngàn cho đến chục ngàn trường hợp. Hỡi ôi, sự vinh hoa phú quý giàu sang tột bậc với những nhà cao cửa rộng sơn son thếp vàng, ruộng đồng cò bay thẳng cánh, đất đai bạc ngàn, thóc lúa đầy kho, vàng bạc đầy rương, người ở đầy nhà,… của một thời quá vãng và cũng là những thứ mà biết bao nhiêu người thời nay tới nằm mơ cũng ao ước có được, vậy mà chỉ là một cuộc phù du khói bụi khốc liệt ở một điểm đen của lịch sử. Vậy mới thấy, sự giàu sang ở mỗi thời đoạn lịch sử cũng mỗi khác và không ai biết được sự giàu có khi nào là họa hay là phước. Có biết bao người ở trên đỉnh giàu sang hôm trước mà hôm sau đã kẻ khóc người cười tử biệt sinh ly hay vướng vào vòng lao lý chôn vùi cả kiếp người về sau. “Một nhà hoảng hốt ngẩn ngơ,  Tiếng oan dậy đất, án ngờ lòa mây” (Truyện Kiều – Nguyễn Du) P/S 1: Bộ sách của tác giả Phan Thúy Hà hiện rất khó tìm trên các trang thương mại điện tử. Bạn đọc có thể liên hệ trực tiếp tác giả để đặt sách hoặc mua đủ bộ tại Sách Khai Minh. P/S 2: Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về những góc khuất của cuộc cải cách ruộng đất, bạn có thể tìm đọc/nghe những tác phẩm sau: Audiobook “Điện cô Tám” – Bùi Ngọc Phúc Sách “Đất mồ côi” – Cổ Viên (bút danh khác của Tạ Duy Anh) Sách “Đội gạo lên chùa” – Nguyễn Xuân Khánh Sách “Chuyện làng Cuội” – Lê Lựu Sách “Thời của thánh thần” – Hoàng Minh Tường Sách “Dưới chín tầng trời” – Dương Hướng Sách “Nước mắt một thời” – Nguyễn Khoa Đăng Sách “Biết đâu địa ngục thiên đường” – Nguyễn Khắc Phê … Mời các bạn mượn đọc sách Gia Đình của tác giả Phan Thúy Hà.

Nguồn: dtv-ebook.com

Đọc Sách

Nhiều Cách Sống - Nguyễn Quỳnh Trang
28 tuổi, Nguyễn Quỳnh Trang sống chưa nhiều và viết cũng còn ít. Nhưng với những gì đã thể hiện trong hai cuốn tiểu thuyết "1981" và "Nhiều cách sống", buổi tọa đàm về tác phẩm của chị đã xới lên nhiều vấn đề, không của riêng Trang, mà liên quan cả đến các nhà văn trẻ. Cũng như nhiều tác giả lứa 8X khác, Nguyễn Quỳnh Trang trước hết là nhà văn hợp thời, từ cách chọn đề tài, lối dùng câu chữ, cách kể chuyện cho đến việc chọn khuôn khổ, độ dày cuốn tiểu thuyết. Với 1981 và Nhiều cách sống - mỗi cuốn chừng 300 trang - Nguyễn Quỳnh Trang trình bày trong đó, dường như đủ cả, muôn chuyện đương thời, va đập hàng ngày với giới trẻ hôm nay: sex bình thường, sex đồng tính, hội họa đương đại, chuyện án mạng… Tác giả Đỗ Hải Ninh nhận định: "Tiểu thuyết Nguyễn Quỳnh Trang cho thấy sự táo bạo của cây bút trẻ này, táo bạo vì dám đụng chạm đến tất cả những cái hot nhất trong đời sống hôm nay". "Táo bạo" cũng như một mỹ từ khác là "thể nghiệm" là những cách diễn đạt mà các cây bút phê bình trẻ thường hay dùng để định danh, đánh giá sáng tác của các nhà văn trẻ. Thực tế, nếu Quỳnh Trang viết lồ lộ về sex, về đồng tính trong những năm 1980, 1990, trang viết của chị đáng được xem là "táo bạo". Còn đến đầu thế kỷ 21, chỉ tính riêng trong văn học Việt Nam thôi, sex hay đồng tính đã không còn lạ, không còn gây sốc, dù ít nhiều, đó vẫn là những đề tài "hot", đơn giản vì đó là chuyện bản năng (sex), chuyện ngược với tự nhiên (đồng tính). Vậy nên, về mặt đề tài, Nguyễn Quỳnh Trang, cũng như nhiều tác giả trẻ khác, chỉ bám sát những gì đang diễn ra quanh đời sống của giới trẻ, hẹp hơn là một bộ phận giới trẻ thành thị. Mà như trong đoạn mở đầu 1981, người đọc đã thấy, hễ 8X, 9X nghĩa là phải đi bar, phải lên sàn, phải uống Ken, phải triết lý Tôi là ai, phải băn khoăn đi tìm chính mình… Nhưng dễ nhận thấy, Nhiều cách sống non hơn nhiều so với 1981. Nhiều cách sống đã nỗ lực sống nhiều, nghĩ nhiều nhưng kết quả dường như vẫn chỉ dừng lại ở nghĩ chưa sâu và sống chưa chín. Nhà phê bình Văn Giá nhận định, cuốn sách chưa gây được nhiều ám ảnh cho người đọc. Hơn thế nữa, khác với lối kể giàu cảm xúc trong 1981, Nguyễn Quỳnh Trang ở tác phẩm thứ hai này đã "làm văn" nhiều hơn "viết văn". Chị rông dài nên cuốn sách trở nên nhạt; chị cầu kỳ câu chữ quá nên bị thừa cảm giác giả tạo. Nguyễn Quỳnh Trang so sánh sáo mòn, rỗng nghĩa: "Từng tiếng còi xe tan loãng vào đêm, như một niềm cô đơn bí ẩn muốn kêu gào mà chợt tắc ngang chừng vòm họng"…; dài dòng: "Ngày cô bước sang tuổi 12. Sinh nhật cô. Ừ. Ngày sinh nhật. Thì cứ cho rằng đó là ngày sinh nhật. Thì có sao"…; hay điệu đà một cách khó hiểu: "Lạnh một cách đoạn tuyệt"… Cây bút Nguyễn Minh nói: "Đó là lối miêu tả ấn tượng, mà miêu tả ấn tượng thì không có gì lạ với văn học trẻ". Nhưng đó chỉ là cách bào chữa, cách cùng mỹ từ vốn cũng không có gì lạ với văn học trẻ. *** Cuộc sống mãi chỉ là một và nhiều cuốn tiểu thuyết ngắn, dài bất tận. Cô nói, cô là một cô gái. Đơn thuần là một cô gái. Cô gái này có đôi mắt trong, ai nhìn cũng có thiện cảm. Nhưng ánh nhìn thì nhiều nỗi nghi ngại. Chẳng dễ tin người. Cô như con bướm lang thang tìm đêm. Lang thang nhiều đến rã rời cánh mỏi. Lang thang trong góc tối chật hẹp, khoảng không thì mịt mờ, không thể đậu lại ở đâu, cũng không biết tựa nương chốn nào. Cả tuổi trẻ là tháng ngày tìm đêm, tìm người, tìm bản ngã… Tìm để không thể thấy. Tìm rồi thất vọng. Tìm và đau. Giữa thiên hà bất tận nở ra một nỗi buồn truyền kiếp. Nỗi buồn chứa mọi sinh linh đang cần hít thở. Cô nằm bình yên trong vạn sinh linh ấy. Tên cô là Lâm Lâm. Lâm Lâm là người Việt Nam. Sinh ra, lớn lên, trưởng thành ở Việt Nam. Tên Lâm Lâm do cha mẹ đặt. Họ có cô trong một lần đi cùng nhau du hành chốn rừng sâu. Cô được tượng hình từ sự non nớt của mẹ và nỗi thiếu kinh nghiệm của cha. Khi mẹ cô có cô được sáu tháng, hai người mới hối hả làm đám cưới. Cưới chạy. Cũng thật may là cô sinh ra có mẹ, có cha, có ông bà hai bên nội ngoại. Có cả một đại gia đình. Cô là một đứa trẻ được thừa nhận. Cứ cho là bố mẹ không có tình yêu với nhau, thì họ có cô làm sợi xích giằng nối. Cô là sợi xích. Đơn giản thế thôi. ... Mời các bạn đón đọc Nhiều Cách Sống của tác giả Nguyễn Quỳnh Trang.
Chiến Tranh Và Chiến Tranh
Trong phòng lưu trữ tỉnh lẻ heo hút, cách Budapest trăm hai mươi cây số, Dr. Korin György tình cờ phát hiện một cảo bản huyền bí không nhan đề, không niên đại, tác giả vô danh. Bốn người đàn ông trong cảo bản, xuất hiện ở những bước ngoặt khác nhau của lịch sử thế giới, lúc ở Creta, lúc ở Venice, lúc ở Köln, luôn phải trốn chạy khỏi chiến tranh thảm khốc, khỏi sự tàn phá. Và rất lâu sau, trong một khoảnh khắc tăm tối bất chợt vào sinh nhật lần thứ bốn mươi tư, Korin cảm thấy chính mình cũng cần trốn chạy, như các nhân vật trong tập cảo bản kỳ lạ liên tục trượt về phía trước, và cuốn gã vào mê lộ của nó. Gã bán hết gia sản, đến New York, để kết thúc cuộc đời cũ, và thực hiện giấc mơ đưa cảo bản quý giá vào cõi vĩnh hằng...  Chiến tranh và chiến tranh – tiểu thuyết lồng trong tiểu thuyết, thể hiện cái nhìn u tối về thực tại bạo tàn trong vẻ đẹp bí ẩn và bi thảm, nhưng đầy sức thôi miên, khiến độc giả nhập thân sâu sắc vào cuộc xê dịch ác mộng của nhân vật đi tìm ý nghĩa của thế giới và chính đời mình. Chiến tranh và chiến tranh đã góp phần khẳng định vị trí của Krasznahorkai László như một tên tuổi lớn đặc biệt đáng chú ý, một ngôi sao sáng khác lạ trên bầu trời văn học đương đại Hungary và thế giới. *** Tôi không còn quan tâm đến việc mình sẽ chết, Korin nói, rồi sau một lúc lâu im lặng, gã chỉ khu mỏ ngập nước ở gần đó: Kia là những con thiên nga? 2. Bảy đứa trẻ vây lấy gã giữa cây cầu đi bộ vắt qua đường sắt, thành nửa vòng tròn, chúng ngồi xổm, gần như ép gã sát vào lan can, đúng như nửa tiếng trước, khi chúng tấn công gã để trấn lột, đúng như thế, chỉ có điều lúc này không đứa nào còn muốn tấn công hay trấn lột gã, bởi rõ ràng như diễn biến bất ngờ đã cho thấy, có thể tấn công và trấn lột hạng người như gã, nhưng chẳng bõ, vì có lẽ đúng là gã không có thứ gì thật, còn cái mà gã có, đó là một gánh nặng không thể nhìn thấy, và vì vậy - tại một điểm nhất định của màn độc thoại hấp tấp, rối tinh rối mù, nhưng đối với chúng “thực chất chán mớ đời” của Korin - điều đó đã ngã ngũ, hơn nữa gần đúng vào thời điểm gã bắt đầu nói về sự mất trí của gã, chúng không đứng dậy và bỏ gã ở đó như một kẻ điên, mà chúng cứ yên vị như cũ, nửa vòng tròn, ngồi xổm, bất động, vì trời đang tối dần, vì bóng tối đang buông xuống trong sự yên tĩnh của buổi hoàng hôn trên khung cảnh công nghiệp khiến chúng câm lặng, và vì cái trạng thái câm lặng, không động đậy này diễn đạt một cách sâu sắc nhất sự tập trung của chúng, Korin đã bơi ra ngoài sự chú ý ấy, mục tiêu còn lại chỉ là những đường ray ở phía dưới. 3. Không ai yêu cầu gã nói, chúng muốn gã đưa tiền cho chúng, nhưng gã không đưa, mà bảo gã không có tiền, rồi gã nói, lúc đầu còn lắp ba lắp bắp, sau trơn tru hơn, cuối cùng không dừng lại được, gã cứ nói, và có thể thấy rõ gã nói vì sợ những cặp mắt của bảy thằng nhóc, hay như sau này gã tự nhận: vì gã sợ thắt ruột, và, gã nói nếu nỗi sợ hãi bắt đầu bóp nghẹt ruột gan, thì gã nhất thiết phải nói, thậm chí vì nỗi sợ hãi không qua đi, vì không thể biết chúng có vũ khí hay không, càng lúc gã càng bị lôi cuốn vào câu chuyện, nghĩa là mỗi lúc gã càng thêm sa đà vào việc phải kể hết cho chúng nghe, kể tất cho một ai đó, bởi từ khi - và vào giây phút cuối cùng! - gã bí mật bắt đầu “chuyến đi vĩ đại”, như gã gọi, gã chưa trò chuyện với ai, một lời cũng không, gã nghĩ điều đó quá nguy hiểm, hơn nữa cũng chẳng có ai để nói, vì trên đường gã không gặp một ai khả dĩ có thể coi là vô hại, hoặc người gã không cần phải dè chừng, nên biết rằng đối với gã không có ai đủ vô hại, và gã phải coi chừng tất cả mọi người, và gã, gã đã nói lúc đầu, gã thấy mọi người đều là người hoặc trực tiếp, hoặc đứng đằng sau, nhưng có quan hệ với những kẻ đang săn lùng gã, có mối liên hệ không thể nghi ngờ gần hay xa nào đó với những kẻ biết về hầu như mọi bước đi của gã, chỉ có điều gã nhanh chân hơn, sau này gã kể, bao giờ gã cũng nhanh hơn “ít nhất là nửa ngày đường” so với chúng, tuy nhiên những thắng lợi của gã về thời điểm và vị trí có một cái giá: không được nói với ai một lời, chỉ đến giờ mới nói do sợ hãi, bởi vì chỉ dưới áp lực tự nhiên của nỗi sợ hãi gã mới đánh liều đi vào những đoạn quan trọng nhất của cuộc đời gã, đánh liều tiến càng lúc càng sâu hơn, gã kể các chi tiết càng lúc càng cá nhân hơn, càng lúc càng máu thịt hơn, lấy lòng mua chuộc để bọn chúng đứng về phía gã, để đơn giản là gột rửa xu hướng tấn công khỏi bọn tấn công gã, và để thuyết phục cả bảy đứa: ở đây một người nào đó không chỉ đầu hàng, mà bằng sự đầu hàng này gã đã vượt lên trước bọn tấn công gã. 4. Có mùi hắc ín trong không khí, mùi hắc ín gây buồn nôn, nồng nặc khắp nơi, và ngay cả gió mạnh cũng chẳng giúp được gì trong chuyện này, vì gió đã thấm vào xương tủy chúng, nó chỉ cuốn cái mùi kia lên và xoay tròn, chứ không thay đổi được, vì cả vùng này, suốt mấy cây số, và chủ yếu là ở đây, giữa giao lộ của các đường ray từ phía Đông và tẽ ra ngay lập tức như chiếc quạt nan, và ga hàng Rákos nhìn thấy ở phía sau chúng, không khí đầy cái mùi này, mùi hắc ín, cái mùi khó có thể nói là được cấu thành từ mùi than khói lắng đọng xuống, mùi của hàng trăm ngàn đoàn tàu sầm sập lao qua, của những thanh tà vẹt bẩn thỉu, của đá dăm và những đường ray và tất cả những thứ gì gì nữa, nhưng rõ ràng không chỉ những thứ đó, mà còn thứ khác, bí ẩn hơn, khó tả hoặc không thể gọi bằng tên nữa, trong đó chắc có cả số lượng khổng lồ sự hoang vắng của con người mà hàng trăm ngàn đoàn tàu đã chở qua đây, nhìn từ độ cao của chiếc cầu vượt... hàng triệu ý chí đã hợp thành sự vô đích đáng sợ, cũng như cả cái bóng ma lửng lơ của sự trơ trụi, hoang sơ, sự tù hãm công nghiệp ma quái đã đè nặng dần dần lên khu vực này trong hàng thập niên chắc đã nuôi dưỡng nó, và trong bối cảnh ấy, giờ đây Korin đang cố tìm chỗ đứng thích hợp, gã, kẻ ban đầu trong khi chạy trốn chỉ định sang phía bên kia - một cách kín đáo, nhanh, lặng lẽ - để đi về phía mà gã cho là trung tâm của thành phố, thế mà bây giờ, có thể nói gã phải tìm vị trí ổn định tại cái điểm gió lạnh này của thế giới, gã phải bám - lan can, vỉa hè, nhựa đường, kim loại - vào những tình tiết dĩ nhiên là ngẫu nhiên nhưng trong mắt gã có vẻ như quan trọng, và như vậy một chiếc cầu vượt, nằm phía trước ga tàu hàng Rákos vài trăm mét, từ một lát cắt không tồn tại của thế giới trở thành một lát cắt hiện hữu, trở thành một trong những cột mốc quan trọng đầu tiên của cuộc đời mới của gã, hay như sau này gã gọi là “cuộc chạy điên cuồng”, một chiếc cầu vượt, mà trên đó, nếu chúng không bắt gã dừng lại, thì gã đã mù quáng đi vội qua. 5. Sự việc bắt đầu bất chợt, không có khúc dạo đầu, không có sự linh cảm, chuẩn bị, diễn tập, đúng vào một khoảnh khắc đặc biệt của ngày sinh lần thứ bốn mươi tư, sự nhận thức đã giáng xuống đầu gã, và một cách đau đớn ngay lập tức, đúng như bảy đứa bọn chúng ập xuống gã ở đây lúc nãy, chỗ giữa cây cầu vượt, gã nói, cũng bất chợt và không thể dự báo trước đúng như vậy, gã ngồi trên bờ một con sông, nơi thỉnh thoảng gã vẫn ngồi, vì không muốn về căn hộ trống vắng đúng vào ngày sinh nhật mình, và đúng là bất chợt, nó giáng xuống gã, gã kể, lạy Chúa! gã không hiểu chút gì hết, ôi, ôi, ôi, gã chẳng có khái niệm về một điều gì, Jesus Maria, gã chẳng hiểu gì về thế giới, và sự việc thành hình trong gã như vậy khiến gã sợ, ở mức độ như thế của sự tầm thường, của sự ngây thơ chếnh choáng, nhưng đúng là thế, gã nói, gã bỗng thấy mình cực kỳ đần độn, ở tuổi bốn mươi tư, một cái bong bóng, rỗng, ngu ngốc, theo cái cách gã đã hiểu về thế giới suốt bốn mươi tư năm, trong khi, lúc đó gã nhận ra ở bên bờ sông, không những gã không hiểu, mà hoàn toàn chẳng hiểu một tí nào về tất cả, điều tồi tệ nhất là suốt bốn mươi tư năm gã tưởng rằng gã hiểu, trong khi gã chẳng hiểu gì hết, đó là điều tồi tệ nhất vào buổi tối sinh nhật ấy, một mình bên bờ sông, tồi tệ nhất, vì cùng với sự nhận thức này không đi kèm việc vậy thì từ nay gã đã hiểu, bởi thay vì cái cũ gã không nhận được hiểu biết mới, mà nhận được một sự rắc rối đáng sợ nào đó, nếu từ đây trở đi gã nghĩ về thế giới, mà dĩ nhiên buổi tối hôm ấy gã đã nghĩ về thế giới cực kỳ mãnh liệt, và gã đã hành hạ bản thân để cố hiểu, nhưng không xong, sự phức tạp chỉ mỗi lúc càng bùng nhùng hơn, đến nỗi gã có cảm giác sự phức tạp chính là ý nghĩa của cái thế giới mà gã đã hành hạ mình để cố hiểu, gã đang nghĩ đến đó, và gã không bỏ cuộc, khi vài ngày sau gã nhận ra đầu óc gã bắt đầu có vấn đề gì đó. 6. Dạo đó gã đã sống độc thân từ lâu, chính gã cũng ngồi xổm và tựa lưng vào hàng lan can trong làn gió tháng Mười một rú rít trên cây cầu vượt, gã kể cho bảy đứa trẻ nghe, độc thân, gã bảo, vì cuộc hôn nhân của gã đã tan vỡ từ trước bởi vụ Hermes[1] (và gã dùng tay ra hiệu là gã sẽ giải thích sau, đó là vụ gì), sau đó thì “gã đã đốt cháy mình trong một mối tình rất nồng nàn”, để rồi gã quyết định, không bao giờ, không bao giờ lại gần đàn bà nữa, điều đó dĩ nhiên không có nghĩa là sự cách ly hoàn toàn, vì bao giờ cũng có những người đàn bà trong một đêm khó khăn, Korin nhìn bọn trẻ, hơn nữa dù thực chất sống một mình, tất nhiên do công việc lưu trữ gã có quan hệ đồng nghiệp, do hàng xóm gã có quan hệ láng giềng, do đi lại ngoài phố gã có quan hệ đường phố, do mua bán và ngồi quán rượu gã có quan hệ mua bán và quan hệ quán xá với những người khác nhau, và cứ như vậy, cuối cùng bây giờ nghĩ lại, gã nói, gã ở gần nhiều người, dẫu chỉ là hiểu theo nghĩa hẹp nhất, khá nhiều người, cho tới khi cả những người này cũng xa lánh gã, đại khái kể từ lúc ở trong phòng lưu trữ, trên cầu thang, ngoài phố, ở nơi mua bán và quán rượu gã dần dần buộc phải kể rằng theo gã nghĩ gã sẽ mất trí, vì khi họ hiểu rằng không phải là bóng gió, gã nghĩ theo nghĩa gián tiếp, mà sự thật đúng như gã nói, nghĩa là từ cổ gã trở lên tới đầu, mà đầu với cổ gã vốn đã chẳng có quan hệ tốt đẹp, đáng tiếc, có lẽ gã sẽ mất trí, thế là, như thể chạy trốn khỏi một ngôi nhà cháy, họ lao ra tránh xa gã, và xung quanh gã mọi thứ biến mất rất nhanh, và gã đứng đó, như một ngôi nhà cháy, vì họ bắt đầu bằng việc tránh xa gã, không hỏi han gì gã trong phòng lưu trữ, rồi họ tiếp tục bằng việc không đáp lại lời chào của gã, không ăn cùng với gã một bàn, và cuối cùng, nếu nhìn thấy gã ngoài phố, thì họ chuyển sang vỉa hè bên kia, các cậu có hiểu không? Korin hỏi bảy đứa trẻ, nhìn thấy gã đi tới là họ tránh xa, điều này khiến gã đau đớn nhất, đau đớn hơn cả chuyện đã xảy ra với cái đốt sống cổ, bởi vì trong trạng thái như vậy gã cần nhất một sự cảm thông nào đó, gã nói, và có vẻ, điều này có thể thấy rõ trên mặt gã, như gã muốn tiếp tục kể tiếp sự việc tới những tình tiết nhỏ nhất, cũng như có thể thấy trên mặt lũ trẻ, rằng đối với chúng là vô ích, vì bảy đứa bọn chúng đằng nào cũng không đáp lại một điều gì, chúng không quan tâm gì hết, đặc biệt kể từ chỗ “lão già bắt đầu mất trí”, như sau này chúng kể cho những đứa khác, với chúng thế là đủ, chúng nói, chúng nhìn nhau, đứa lớn tuổi nhất gật đầu đồng ý với những đứa khác, đại loại có nghĩa là “cho qua, không bõ”, rồi chúng cứ im lặng ngồi xổm thế, và chúng nhìn điểm giao của những thanh ray, thỉnh thoảng, khi một đoàn tàu hàng lao qua dưới chân chúng, một đứa nào đó hỏi chúng sẽ ở đây bao lâu nữa, bao giờ cũng là đứa bé tóc vàng cạnh thằng lớn tuổi nhất nhìn đồng hồ, và nó chỉ nói rồi nó sẽ bảo nếu đến lúc, còn từ giờ đến khi đó hãy im mồm. 7. Nếu như Korin biết chúng đã đi đến quyết định, và đặc biệt là cái quyết định này, nếu như gã nhận thấy cái gật đầu, thì dĩ nhiên chẳng có điều gì đã xảy ra như nó đà xảy ra, nhưng gã không biết, vì gã không nhận ra, và có thể thấy là gã hiểu mọi việc theo cách khác hẳn so với bọn chúng, đối với gã tình hình - ngồi ở đây trong gió lạnh với lũ trẻ - mỗi lúc một căng thẳng hơn, chính là vì chẳng xảy ra chuyện gì, và không rõ ra được điều gì, hoặc thực chất chúng muốn gì, và liệu chúng có muốn điều gì chăng, gã phải tìm ra lời giải thích, sao chúng không buông tha gã, hay là sao chúng không bỏ mặc gã ở đó, nếu như gã đã thuyết phục được chúng rằng gã không có tiền, và tất cả đều vô ích, cần có lời giải thích, và gã đã tìm ra, chỉ tội đối với bảy đứa trẻ đó không phải là lời giải thích đúng, vì đối với gã, kẻ biết đích xác có bao nhiêu tiền được khâu trong vạt bên phải của chiếc áo khoác, thì sự bất động này, sự câm lặng này, cái sự chúng không làm gì hết này, và sự không xảy ra chuyện gì này, mỗi lúc lại có ý nghĩa lớn hơn và đáng sợ hơn, thay vì đối với gã mỗi lúc lại có ý nghĩa nhỏ hơn và an ủi hơn, vì vậy trong khi cứ mỗi nửa đầu của một khoảnh khắc gã chuẩn bị bật dậy và bỏ chạy, cho tới cuối nửa sau của các khoảnh khắc gã vẫn còn đó, như thể gã muốn đúng điều này, và gã nói, như người mới chỉ bắt đầu mọi chuyện, nghĩa là gã cùng lúc sẵn sàng chạy trốn và ở lại, nhưng quyết định thì gã luôn quyết định ở lại, tất nhiên vì sợ hãi, nhiều lần gã thông báo rằng gã rất thích thú: lọt vào cái vòng tròn tin cậy nhất, cuối cùng người ta đã nghe gã nói, ở đó gã có điều muốn nói, thậm chí gã có vô khối điều muốn nói, vì nếu gã nghĩ kỹ, gã nói, theo đúng nghĩa của ngôn từ thật ra gã cần kể vô khối chuyện, để sáng tỏ ra: thứ Tư, vào mấy giờ thì gã không biết, nhưng là cách đây ba hay bốn mươi tiếng, cuộc đời gã đã đảo lộn, khi gã hiểu mình phải thực hiện chuyến đi vĩ đại, khi gã hiểu ra rằng tất cả, từ Hermes đến sự cô đơn, đối với gã đều hướng về một phía, khi gã hiểu ra rằng thực chất gã đang trên đường đi, vì mọi thứ đã được sắp đặt sẵn và sụp đổ, nghĩa là trước gã mọi thứ đều được sắp đặt sẵn và sau gã mọi thứ đều sụp đổ, theo cách, Korin nói, vẫn hay xảy ra trong những “chuyến đi vĩ đại”. Mời các bạn đón đọc Chiến Tranh Và Chiến Tranh của tác giả Krasznahorkai László.
Sao Mai
Tác phẩm hay nhất năm 2014 do Entertaiment Weekly, Buzzfeed và Shelf Awarness bình chọn Trái Đất đang chết dần. Dưới những tầng đất sâu của Sao Hỏa, có một cộng đồng những con người mắt và tóc đỏ quạch như màu của hành tinh mà họ đang sống. Nhiệm vụ của họ là khai thác Helium 3 - một thứ nguyên tố được cho là sẽ biến bề mặt Sao Hỏa thành nơi con người có thể sinh sống được. Họ là niềm hy vọng cuối cùng của nhân loại. Họ là Đỏ. Ngoại trừ… tất cả là một lời nói dối khổng lồ. Các Đỏ không phải những người tiên phong. Họ chỉ là những nô lệ bị lợi dụng làm việc quần quật cho đến chết! Đỏ trỗi dậy phảng phất đâu đó những nét quen thuộc với các độc giả của Đấu trường sinh tử, Chúa ruồi, Trò chơi của Ender hay Trò chơi vương quyền. Nhưng đây vẫn là một cuốn sách hết sức khác biệt. Hồi hộp đến nghẹt thở, bất ngờ đến choáng váng, tàn nhẫn đến lạnh người. Rơi xuống chói lòa như một ngôi sao băng và cuốn ta đi như một cơn bão.  *** Thời cơ đã đến.Gánh lấy trách nhiệm lãnh đạo cuộc nổi dậy liên hành tinhvới những liên minh không ổn định và khó lòng bền vững, Darrowvật lộn để tìm xem ai là người có thể tin tưởng. Cậu đang phải trực tiếp đối mặtnhững kẻ thù hiểm độc, gian hùng và tàn nhẫn nhất màtrong số đó, có cả những ngườicậu từng coi là bạn. Xảy ra trong khoảng 9-12 tháng sau những sự kiện của Đứa Con Hoàng Kim,nhữnggì được kể trong Sao Mai đã xuất sắc khép lại bộ ba Đỏ trỗi dậy– thiên sử thi về Darrow,chàng thanh niên Đỏ đã chiến đấu để sống sót quacuộc Tạo Tác vĩ đại, ẩn nhẫn chờ thời, từng bước leo lên nấc thang danh vọng, vượt qua những cuộc chiến tranh tàn khốc từ Học Viện đến Viện Hàn Lâm, trở thành chiến binh Hoàng Kim hùng mạnh nhất. Trong khi hai cuốn trước tập trung vào những thách thức cá nhân của Darrow, cuốn tiểu thuyết này tôn vinh tình bạn. Một dấu chấm rực rỡ và cảm động cho thiên sử thi đầy máu, nước mắt của những người vùng lên từ lòng đất. *** Tiểu thuyết gia Pierce Brown sinh ngày 28-1-1988 tại Thành phố Denver, bang Colorado- Hoa Kỳ. Là Tiểu thuyết gia sinh thuộc cung Bảo Bình, cầm tinh con (giáp) mèo (Đinh Mão 1987). Pierce Brown xếp hạng nổi tiếng thứ 29753 trên thế giới và thứ 176 trong danh sách Tiểu thuyết gia nổi tiếng. Tổng dân số của Hoa Kỳ năm 1988 vào khoảng 244,498,982 người. Tiểu thuyết gia của thể loại khoa học viễn tưởng và nhà biên kịch người là tác giả của tờ New York Times bán chạy nhất Red trilogy Rising trong đó bao gồm các chức danh Red Rising, Kim Sơn và Morning Star.  Trước khi bán Red Rising, anh là tác giả tiểu thuyết và đã bị từ chối bởi nhiều hơn 120 đại lý. Ông là một khoa học và kinh tế chính trị lớn tại Đại học Pepperdine. Ông đã làm việc như là một trang trong chương trình trang NBC khi sống trong nhà để xe giáo viên khoa học chính trị của ông khi ông bán Red Rising. *** Sâu thẳm trong bóng đêm, xa khỏi sự ấm áp, khỏi mặt trời và các vệ tinh, tôi nằm im lặng như những tảng đá đang vây quanh giam giữ cơ thể còng queo của tôi trong hầm mộ kinh hoàng. Tôi không thể đứng dậy. Không thể duỗi chân tay. Chỉ có thể cuộn tròn như quả bóng, một hóa thạch héo hắt đã từng là người. Hai tay bị còng sau lưng. Tôi trần truồng trên nền đá lạnh. Hoàn toàn cô độc cùng bóng đêm. Dường như đã nhiều tháng, nhiều năm, cả thiên niên kỷ trôi qua, kể từ lần cuối hai đầu gối của tôi được duỗi thẳng, kể từ lần cuối sống lưng tôi không phải oằn lại. Đau nhức đến điên cuồng. Các khớp xương của tôi rệu rã. Đã bao lâu kể từ khi tôi chứng kiến các bạn Hoàng Kim của mình đổ máu xuống mặt cỏ? Kể từ khi tôi cảm nhận nụ hôn của anh bạn Roque hiền hòa đặt lên má trong lúc cậu ta bóp vỡ trái tim tôi? Thời gian không phải một dòng sông. Không phải ở đây. Trong hầm mộ này, thời gian là đá. Nó là bóng tối, vĩnh viễn và kiên định, thước đo duy nhất của nó là con lấc kép của sự sống - hơi thở và nhịp đập của trái tim. Hít vào. Thình… thịch. Thình… thịch. Thở ra. Thình… thịch. Thình… thịch. Hít vào. Thình… thịch. Thình… thịch. Và nó lập lại mãi mãi. Cho đến khi… đến khi nào? Đến khi tôi chết vì tuổi già? Đến khi tôi đập đầu vào đá? Hay đến khi tôi moi ra những cái ống mà các Vàng đã lắp vào bụng dưới tôi để đẩy chất dinh dưỡng vào và đổ chất thải ra? Hay cho đến khi mày phát điên? “Không.” Tôi nghiến răng. Phảiiiii. “Chỉ là bóng tối thôi.” Tôi hít thở. Bình tĩnh lại đi. Tôi chạm vào tường để trấn tĩnh. Lưng, các ngón tay, xương cụt, gót chân, ngón chân, đầu gối, đầu. Rồi lặp lại. Cả chục lần. Cả trăm lần. Tại sao không làm nhiều hơn để chắc chắn? Cứ làm cả nghìn lần đi. Phải. Tôi đơn độc. Tôi đã nghĩ có những số phận còn tôi tệ hơn thế này, nhưng giờ đây tôi biết không có gì tôi tệ hơn. Con người không phải một hòn đảo. Chúng ta cần những người yêu thương mình. Chúng ta cần những người ghét bỏ mình. Chúng ta cần có người ràng buộc mình với cuộc đời, cho chúng ta lý do để sống, để cảm nhận. Tất cả những gì tôi có là bóng tối. Đôi lúc tôi hét lên. Đôi lúc tôi bật cười giữa đêm, giữa ngày. Ai mà biết? Tôi cười để giết thời gian, để thải ra số calo mà Chó Rừng cho tôi, và để cơ thể tôi run rẩy chìm vào giấc ngủ. Tôi cũng khóc. Tôi ngân nga hát. Tôi huýt sáo. Tôi lắng nghe những giọng nói phía trên. Những giọng nói vọng lại từ đại dương của bóng tối sâu thẳm. Hòa cùng chúng là tiếng leng keng điên loạn của xích và xương, rúng động qua những bức tường của nhà ngục. Thật gần mà lại xa cả nghìn cây số, như thể cả thế giới đang tồn tại ngay phía trên bóng tối mà tôi lại không thể nhìn thấy, không thể chạm vào, nếm nó, cảm nhận nó, hay đâm qua tấm màn để lại được sống giữa thế giới ấy. Tôi bị giam cầm trong tịch mịch. Lúc này tôi lại nghe thấy những tiếng động. Những sợi xích và những lóng xương dần lộ ra trong hầm ngục. Có phải những tiếng động đó là của tôi? Tôi cười trước ý nghĩ ấy. Tôi chửi tục. Tôi bày mưu lập kế. Giết. Tàn sát. Đẽo khoét. Xé toạc. Thiêu rụi. Tôi cầu xin. Tôi ảo tưởng. Tôi thương thuyết. Tôi thút thít nói những lời nguyện cầu với Eo, cảm thấy hạnh phúc vì em đã không phải chịu đựng số phận này. Cô ta đâu thèm lắng nghe. Tôi hát những bài ca thời thơ ấu và ngâm Trái Đất lụi tàn, Người Thắp Đèn, Ramayana, Odyssey bằng tiếng Hy Lạp và tiếng Latin, rồi bằng những từ ngữ như tiếng Ả Rập, tiếng Anh, tiếng Trung và tiếng Đức, nhớ lại từ những dữ liệu mà Matteo đã tải cho khi tôi vẫn còn là một thằng nhóc. Truy cầu sức mạnh từ vị anh hùng ngoan cường thành Argos, vốn chẳng mong cầu gì hơn tìm được đường về nhà. Ngươi đã quên những gì hắn làm. Odysseus là một vị anh hùng. Ông đã vượt qua tường thành của Troy bằng con ngựa gỗ của mình. Như tôi đã đập tan đội quân Bellona bằng Cơn Mưa sắt xuống Sao Hỏa. Và rồi… “Không,” tôi gắt gỏng. “Im đi.” …họ đã tiến vào thành Troy. Đã tìm thấy những bà mẹ, những đứa trẻ. Và hãy đoán xem họ đã làm gì? “Im đi!” Ngươi biết họ đã làm gì. Mồ hôi. Xương. Máu. Da thịt. Tro tàn. Tiếng khóc than. Bóng tối râm ran những tiếng cười khúc khích. Thần Chết ơi Thần Chết… Chiến công nào rốt cuộc chẳng nhuộm trong máu tươi. Tôi đang ngủ mê chăng? Hay đang thức? Tôi đã mất phương hướng. Mọi thứ lẫn vào nhau, nhấn chìm tôi trong những mộng ảnh, tiếng thì thầm và tiếng huyên náo. Hết lần này đến lần khác, tôi kéo hai cổ chân mảnh dẻ nhỏ nhắn của Eo. Đánh vỡ mặt Julian. Nghe Pax, Quinn, Tactus, Lorn và Victra trút hơi thở cuối cùng. Quá nhiều khổ đau. Mà để làm gì kia chứ? Để khiến vợ tôi phải thất vọng. Để khiến người của tôi phải thất vọng. Để Ares, và để những người bạn của mày phải thất vọng. Còn lại được bao nhiêu người? Sevro? Ragnar? Ngựa Hoang? Ngựa Hoang, Nếu cô ta biết mày ở đây thì sao… Nếu cô ta không thèm bận tâm thì sao… Mà tại sao cô ta phải bận tâm? Mày là kẻ đã phản bội lại cô ta. Mày là kẻ đã lừa dối cô ta. Mày là kẻ đã lợi dụng tâm trí, cơ thể và máu của cô ta. Mày đã cho cô ta thấy bộ mặt thật của mình và cô ta đã bỏ chạy. Nếu đó là cô ta thì sao? Nếu cô ta là người phản bội lại mày thì sao? Khi đó mày có còn yêu cô ta nữa không? “Im đi!” Tôi thét lên với chính mình, với bóng tối. Đừng nghĩ đến cô ấy. Đừng nghĩ đến cô ấy. Tại sao không? Mày nhớ cô ta kìa mà. Mộng ảnh của cô hiện lên trong bóng tối như nhiều mộng ảnh khác đã hiện lên trước đó - một cô gái đang cưỡi ngựa trước mặt tôi ở phía bên kia cánh đồng xanh, xoay người trên yên ngựa và cười bảo tôi hãy đuổi theo. Mái tóc cô gợn sóng như những sợi rơm mùa hè rung rinh trên chiếc xe kéo của người nông dân. Mày thèm khát cô ta. Mày yêu cô ta. Cô gái Hoàng Kim. Hãy quên ả chó cái Đỏ ấy đi. “Không.” Tôi đập đầu vào tường. “Chỉ là bóng tối mà thôi,” tôi thì thầm. Chỉ là bóng tối đang đùa bỡn với tâm trí. Nhưng tôi vẫn cố quên đi Ngựa Hoang và Eo. Không có thế giới nào khác ngoài nơi này. Tôi không thể nhớ những gì không tồn tại. Máu nóng nhỏ xuống trán từ vết thương đã khô giờ đây lại tróc vảy. Nó chảy xuống mũi tôi. Tôi thè lưỡi ra, lần trên lớp đá lạnh cho đến khi tìm thấy những giọt máu. Chúng có vị muối, sắt của Sao Hỏa. Chậm rãi. Chậm rãi. Hãy để sự thi vị của cảm giác ấy được trường tồn. Để vị máu vấn vương và nhắc tôi nhớ rằng tôi là con người. Một Đỏ của Lykos. Một Chim Lặn. Không. Mày không phải. Mày chẳng là gì cả. Vợ mày đã bỏ rơi mày và cướp đi đứa con của mày. Ả điếm của mày đã quay lưng lại với mày. Mày không đủ tốt. Mày quá cao ngạo. Quá ngu ngốc. Quá xấu xa. Giờ thì mày đã bị quên lãng. Thật sao? Lần cuối gặp Ngựa Hoang, tôi đang quỳ gối bên cạnh Ragnar trong hầm mỏ ở Lykos, khẩn cầu cô gái Hoàng Kim phản bội giống loài của cô ấy và sống vì điều cao cả hơn. Tôi biết nếu cô quyết định gia nhập cùng chúng tôi, ước mơ của Eo sẽ bừng nở, một thế giới tốt đẹp hơn sẽ nằm trong lòng bàn tay chúng tôi. Nhưng thay vào đó, cô đã bỏ đi. Có lẽ nào cô đã quên tôi? Có lẽ nào tình yêu mà cô dành cho tôi đã rời bỏ cô? Cô ta chỉ yêu cái mặt nạ của mày. “Chỉ là bóng tối mà thôi. Chỉ là bóng tối mà thôi. Chỉ là bóng tối mà thôi,” tôi lẩm bẩm mỗi lúc một nhanh hơn. Đáng lẽ tôi khỏng nên ở đây. Đáng lẽ tôi phải chết. Sau cái chết của Lorn, tôi bị áp giải đến chỗ của Octavia để các Nhà Tạo Tác của bà ta mổ xẻ hòng tìm ra bí mật đã giúp tôi trở thành Hoàng Kim. Để biết liệu có còn những kẻ khác như tôi hay không. Nhưng Chó Rừng đã thương thuyết để được giữ tôi bên mình. Hắn đã tra tấn tôi tại dinh thự ở Attica của hắn, đã hỏi tôi về Các Con Trai Của Ares, về Lykos, và về gia đình tôi. Hắn chưa bao giờ nói làm thế nào hắn khám phá ra bí mật của tôi. Tôi đã cầu xin hắn kết liễu mạng sống của tôi. Cuối cùng, hắn giam tôi vào ngục đá. “Khi đã mất đi tất cả, người có chí khí sẽ đòi được chết,” Roque đã từng nói với tôi. “Đó là một cái kết đáng phục.” Nhưng một gã thi sĩ giàu có thì hiểu gì về cái chết? Chỉ kẻ nghèo hèn mới hiểu. Chỉ các nô lệ mới hiểu. Nhưng ngay cả khi thèm khát nó, tôi vẫn sợ nó. Vì càng chứng kiến thế giới tàn bạo này, tôi càng ít tin ràng nó kết thúc bằng một điều hư cấu êm tai. Cửu Nguyên không có thật. Đó là lời nói dối mà bố mẹ nói với lũ con đang chết đói của mình, để giải thích cho nỗi kinh hoàng. Chẳng có lời giải thích nào cả, Eo đã mất. Em đã không theo dõi tôi chiến đấu vì giấc mơ của em. Em đã không ngó ngàng đến việc tôi tạo ra được định mệnh gì à Học Viện, không bận tâm liệu tôi có yêu Ngựa Hoang hay không, vì ngày em ra đi, em đã trở thành hư vô. Chẳng có gì khác ngoài thế giới này. Đó là khởi nguồn và là kết thúc của chúng tôi. Cơ hội duy nhất để chúng tôi tận hưởng niềm vui trước khi chấm dứt đời mình. Phải. Nhưng mày không cần phải chấm dứt. Mày có thể thoát khỏi nơi này, bóng tối thì thầm với tôi. Chỉ cần nói ra những lời ấy. Nói ra. Mày biết cách mà. Nó nói đúng. Tôi biết. “Tất cả những gì mày cần nói là ‘tôi kiệt quệ rồi’, và toàn bộ chuyện này sẽ kết thúc,” Chó Rừng đã nói với tôi từ rất lâu, trước khi hắn ném tôi vào địa ngục này. “Tao sẽ đưa mày đến sống tại một dinh thự đẹp đẽ suốt quãng đời còn lại và sẽ gửi cho mày những ả Hồng xinh xắn, ấm áp, và đủ thức ăn để khiến mày béo tốt hơn cả Lãnh Chúa Tro Tàn. Nhưng những lời ấy đi kèm một cái giá.” Xứng đáng thôi. Hãy cứu bản thân mày. Không còn ai khác đến cứu mày đâu.   Mời các bạn đón đọc Sao Mai của tác giả Pierce Brown.
Băng Điểm - Ayako Miura
Ayako Miura là nhà văn nữ hiện đại Nhật Bản. Tuổi trẻ của bà là những chuỗi ngày lăn lộn với đời và vật lộn với bệnh tật, thời gian nằm ở bệnh viện dài hơn thời gian cắp sách đến trường. Băng Điểm là tác phẩm đầu tay cũng là tác phẩm đưa tên tuổi tác giả lên đài danh vọng. Chỉ riêng ở nước Nhật năm 1965, tờ Tokyo đã phải mua bản quyền đăng tác phẩm Băng Điểm với giá 10 triệu Yên. Băng Điểm đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và xuất bản hơn 20 triệu cuốn. *** Những đám mây ở bầu trời phương đông nằm bất động, những tia nắng chói chang ngủ yên trên tàng lá của rừng tòng, tạo khoảng tối rộng bên dưới. Không một cơn gió thổi, cảnh vật đứng im nhưng vẫn sống động một cách khó chịu. Thuộc vùng ngoại ô thành Khởi Xuyên của hòn Bắc Hải Đảo, cạnh khu rừng tòng đất Thần Lạc là ngôi nhà đồ sộ của ông họ Lại, giám đốc bệnh viện, cất theo kiểu Âu Nhật phối hợp, trông có vẻ khác biệt với những ngôi nhà chung quanh. Hôm nay là ngày hai mươi mốt tháng bảy năm Chiêu Hòa hai mươi mốt (1946) Cuộc lễ tế thần mùa Hạ đã xong, nhưng tiếng trống vẫn còn bập bùng đâu đây. Trong gian phòng khách nhà họ Lại, bà giám đốc Lại Khởi Tạo nhũ danh Hạ Chi đang ngồi đối diện với bác sĩ nhãn khoa Lâm Tịnh Phu. Cả hai đều im lặng, không khí nóng bức làm ướt cả áo. Lâm Tịnh Phu chợt đứng dậy, bước nhanh về phía cửa xoay mạnh quả đấm. Tiếng cọt kẹt phát ra quá lớn làm Hạ Chi ngạc nhiên ngẩng đầu lên. Đôi mắt to đen với những cọng mi dài, chiếc mũi cao đài các trên khuôn mặt bầu bĩnh trắng nõn của xứ đầy băng giá, thân hình nở nang trong bộ kimono màu xanh lá mạ. “Sao không nói gì cả thế?" Hạ Chi tự hỏi, nụ cười thật khiêu gợi nở trên đôi môi đáng yêu, nàng là một thiếu phụ mới hai mươi sáu tuổi. Hướng về phía Tịnh Phu đôi môi anh chàng mấp máy như định nói một cái gì rồi lại thôi. Hạ Chi chờ đợi, chợt nghĩ về thái độ của mình và hình bóng người chồng với đôi mắt ngây dại trên đường, một chút thẹn thùng thoáng nhanh qua đầu. ... Mời các bạn đón đọc Băng Điểm của tác giả Ayako Miura.