Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Ba Bóng Đen

Cám ơn Page Duyên Sách đã gửi đến DTV eBook cuốn sách này. Nơi "Bán sách cũ và nhận tìm các tựa sách hơi hơi hiếm :-)" Các bạn muốn tìm mua sách cũ, có thể qua page Duyên Sách để nhờ Admin kiếm giúp. JONATHAN KELLERMAN SỰ HẤP DẪN CỦA TIỂU THUYẾT TRINH THÁM PHÂN TÍCH HÀNH VI   Một trong những tác giả có sách bán chạy nhất ở Mỹ liên tục trong hai chục năm qua, là Jonathan Kellerman. Vậy J. Kellerman là ai? Sinh năm 1949 tại New York, nhưng Los Angeles là nơi ông gắn bó, nơi ông thành đạt trong nghề nghiệp bác sĩ và với tư cách một tác giả tiểu thuyết. Khởi đầu công việc viết văn từ năm 22 tuổi, song phần lớn những năm tuổi trẻ ông dành để nghiên cứu tâm lý trẻ em. Năm 24 tuổi, ông nhận bằng tiến sĩ, chuyên ngành tâm lý trẻ em. Sau đó là những năm làm việc trong các bệnh viện, trung tâm bệnh trẻ em ở Los Angeles, điều trị tâm lý cho các trẻ em bị ngược đãi, lạm dụng... Năm 1980-1981, ông xuất bản những cuốn sách về y học liên quan đến trẻ em: Psychological aspects of childhood cancer và Helping the pearful child. Năm 1985, J. Kellerman xuất bản cuốn sách hư cấu đầu tiên When the bough breaks (Khi cành cây gãy - tên bản dịch tiếng Việt do Nhà xuất bản Công an nhân dân ấn hành năm 2007 là Ba bóng đen). Ngay lập tức cuốn sách trở thành hiện tượng bestseller được bầu chọn trên tờ New York times, và tác giả nhận được giải thưởng Edgar Poe và giải thưởng Anthony Boucher cho tiểu thuyết đầu tay hay nhất. Tiểu thuyết này năm 1986 được dựng thành phim truyền hình phát trên kênh NBC và đã thu hút 28 triệu người xem. Từ đó đến nay, mỗi năm một cuốn sách (có năm 2 cuốn), in ở nhiều nước trên thế giới và bằng nhiều thứ tiếng khác nhau, tên tuổi Jonathan Kellerman liên tục có mặt trên bảng xếp hạng của New York times. The master of psychological suspense - bậc thầy của tiểu thuyết trinh thám tâm lý, báo chí nói về ông như thế khi lần đầu tiên ông xuất hiện trên văn đàn, và sự tôn vinh ấy đã không ngừng được nhắc lại hơn hai chục năm nay, trên các báo, trên các website, và quan trọng nhất, ông vẫn là một nhà văn không hề cũ đối với công chúng. Nhân vật chính trong các tiểu thuyết của ông, Alex Delaware phần nào đó là hình bóng của chính nhà văn. Nhận bằng tiến sĩ năm 24 tuổi, là bác sĩ tâm lý trẻ em, Alex khám phá ra đằng sau những sự cố của trẻ nhỏ luôn ẩn chứa những vấn đề của người lớn, của xã hội. Trong cuốn sách đầu tiên When the bough breaks, Alex Delaware 30 tuổi, sống độc thân và bắt đầu hẹn hò với Robin. Vì có người bạn thân là thanh tra Milo Sturgis ở trong sở cảnh sát, anh được mời chữa trị cho các em nhỏ nạn nhân của một vụ xâm hại, rồi làm tư vấn đặc biệt cho cảnh sát. Vụ đầu tiên anh tham gia là vụ một bác sĩ tâm lý bị giết cùng người bạn gái là cô giáo dạy ở trường dành cho các trẻ có khiếm khuyết. Nhân chứng duy nhất của vụ án là một bé gái 7 tuổi bị bác sĩ cho uống quá liều thuốc an thần đã trở nên gần như ngơ ngẩn. Những ám ảnh của bé gái có ý nghĩa gì? Liệu thực sự cô bé đã chứng kiến một tội ác? Lần theo mối dây của các nạn nhân, Alex tìm tới một trung tâm từ thiện nuôi dạy các trẻ mồ côi và khuyết tật lớn ở Los Angeles. Xới tung hàng chục mối quan hệ, lần lại những trang hồ sơ cũ, đào bới quá khứ của những gương mặt đang hiện diện ở tầng thượng lưu của xã hội, Alex Delaware đã tìm ra sự thật về những con quỷ đội lốt người, những kẻ có xu hướng tình dục bệnh hoạn, nhưng kẻ say mê quyền lực, những kẻ bị khống chế bởi quá khứ tội lỗi, đã biến trung tâm từ thiện kia thành hang ổ trụy lạc, lạm dụng tình dục của hàng trăm trẻ nhỏ. Trong Blood test (Thử máu - Nhà xuất bản Công an nhân dân 2005), khi cố gắng giúp đỡ cậu bé Woody mắc bệnh ung thư, Delaware phải đối mặt với hàng bao rắc rối và dò trong mớ bòng bong các quan hệ, anh đã đi đến tận cùng sự thật khủng khiếp trong gia đình cậu bé: những tín ngưỡng rùng rợn và quan hệ loạn luân được che đậy trong rất nhiều năm, mà bất hạnh đổ lên số phận những đứa trẻ là chị em và cũng là mẹ con Nona và Woody. Trong Bad love (Tình yêu dối trá - Nhà xuất bản Công an nhân dân 2004), vụ án Delaware khám phá liên quan tới một hội nghị khoa học mà các nghi can đều là những nhà khoa học liên quan đến tâm lý -giáo dục trẻ em.   Trong The Clinic (Bệnh viện tư - bản dịch tiếng Việt của Nhà xuất bản Công an nhân dân năm 2007 là Ba nhát đâm bí ẩn), khi điều tra về cái chết của nữ giáo sư tâm lý học Hope Devane, Delaware đã xé toang tấm màn bao phủ số phận của Hope và bác sĩ giải phẫu Cruvic, những nhà khoa học đã lạm dụng khoa học để thực hiện những cuộc thí nghiệm, giải phẫu tàn bạo đối với con người. Những đao phủ sạch sẽ này là sản phẩm bệnh hoạn của gia đình họ, được nuôi dưỡng từ tuổi thơ ấu, nhưng cuối cùng chính họ sẽ lại trở thành mục tiêu trả thù cho cơn phẫn nộ từ một nạn nhân oan uổng của họ. Cộng tác với cảnh sát với tư cách là chuyên gia tâm lý, nhưng trong tất cả các vụ án, bác sĩ Delaware đã tham dự như một thám tử chuyên nghiệp, mà bên cạnh anh chàng thám tử to béo Milo Sturgis chỉ còn giữ vai trò bổ khuyết cho vai chính. Không giắt súng trong lưng, không có phương tiện hỗ trợ như một cảnh sát thực thụ, nhưng Delaware có sự mẫn cảm đặc biệt để dò ra những ngóc ngách tâm lý, những mối quan hệ của con người, dù quan hệ đó có được che giấu tinh vi thế nào đi nữa. Không có nhiều những pha bắn giết hay rượt đuổi, cách của J. Kellerman là bóc tách dần các chân dung, các quan hệ. Ông đẩy độ căng thẳng lên dần dần, ông lừa người đọc vào những cao trào khiến người ta lầm tưởng đó đã là cú cuối, song thực sự cú cuối chỉ nằm ở trang cuối, khi bạn đọc sắp sửa gấp sách lại. Kellerman thường bẫy người đọc trong những câu chuyện có vẻ rời rạc ở ban đầu, tung ra nhiều nhân vật, đưa nhiều lộ trình, tạo ra một mớ rối tung quan hệ, nhưng rồi những hướng rời rạc sẽ gắn kết ở một điểm, ở đó những gương mặt nhân vật, những lộ trình hành vi đột ngột sáng tỏ. Tuy nhiên, không như một tác phẩm trinh thám thông thường với đích cuối của câu chuyện là vạch mặt thủ phạm, với J. Kellerman, thủ phạm không phải là sự thật ghê gớm nhất; sự thật shock nhất nằm ở cú vỡ bung cuối cùng soi sáng tận cùng nguyên do của tội ác. Blood test, Over the edge, Private eyes, Bad love, Devil’s Waltz - Vũ điệu quỷ, Nhà xuất bản Công an nhân dân 2007, cho đến cuốn sách mới nhất Gone, mỗi một vụ án là một ca tâm lý, mỗi một nhân vật là một dạng tâm bệnh che đậy, bắt đầu từ thời thơ ấu. Có thể thấy quan điểm của Kellerman, không có tội ác nào trong hiện tại lại không có nguyên do từ một hoàn cảnh bất thường hay một xu hướng bệnh hoạn trong thời thơ ấu. Những câu chuyện của ông chứa đựng một lời cảnh báo: hãy quan tâm đến trẻ nhỏ; bạo hành, stress, lạm dụng... đối với trẻ nhỏ, tức là đang gieo mầm cho bạo hành, lạm dụng, giết người... cho tương lai. Trinh thám của Kellerman đậm tính phân tích. Mỗi một câu chuyện trinh thám, suy cho cùng là một quá trình truy nguyên căn gốc hành vi đầy phức tạp, gay cấn. Bối cảnh tiểu thuyết của ông là Los Angeles thời hiện đại, với đầy rẫy những bạo hành, stress, lạm dụng; một Los Angeles có vô vàn những vấn đề tâm bệnh, nơi mà xã hội thượng lưu khoác mặt nạ che đậy bên dưới hằng bao dối trá, dục vọng. Kellerman không mô tả tội ác ở những tầng lớp dân nghèo, ông nhằm vào phân tích sự mục ruỗng, méo mó nhân cách ở những tầng lớp trên, nơi những người có tiền, có quyền, có tri thức. Bằng vào sự nhạy cảm, khả năng phân tích, suy luận của nhân vật Alex Delaware, ông dò tìm những bí mật của tâm lý - hành vi ẩn dưới đời sống đĩnh đạc của những bác sĩ, giáo sư đại học, của những thẩm phán, luật sư, cha cố... Kinh nghiệm của một bác sĩ tâm lý đã giúp ông trở thành một nhà văn phân tích hành vi xuất sắc. Hành vi con người, đó là mối quan tâm của ông, là điều ông theo đuổi trong suốt cuộc đời và vì nó mà ông đã viết - trong một bài trả lời phỏng vấn, ông đã nói đại ý như thế. Có thể nói, tiểu thuyết của Jonathan Kellerman là tiểu thuyết trinh thám - hành vi, một sự kết hợp tài tình giữa tiểu thuyết trinh thám điển hình và tiểu thuyết tâm lý. Nếu con đường của văn chương là khám phá bí mật về con người, thì J. Kellerman đang đi trên con đường đó, từng ngày, bằng những cuốn sách của mình, ông cuốn hút hàng triệu độc giả ở khắp hành tinh trong hành trình mê mỏi khám phá không ngưng nghỉ bí ẩn của hành vi con người. Trần Thanh Hà   *** JONATHAN KELLERMAN Là nhà văn hàng đầu của Mỹ về hành vi phân tích, ông sinh năm 1949 tại New York, khởi đầu công việc viết văn từ năm 22 tuổi. Đến nay đã có tới hơn 11 triệu bản tiểu thuyết của ông được in và bán trên khắp thế giới với những tác phẩm nổi tiếng như: Ba bóng đen (When the bough breaks), Thử máu, Vượt qua rào cản, Bom hẹn giờ, Thám tử tư, Tình yêu dối trá, Ba nhát đâm bí ẩn (The Clinic), Vũ điệu quỷ... Hiện ông sống cùng vợ - Faye Kellerman – nhà văn chuyên viết tiểu thuyết – và bốn người con tại Los Angeles.  *** Trời đang hửng sáng, hứa hẹn một ngày tươi đẹp. Cầu Chúa hôm nay không phải nghe đến hai từ “án mạng”. Hai ngày qua, dòng Thái Bình Dương đã liên tục chảy miết, đẩy những thứ rác rưởi tới Pasadena. Nhà tôi nằm nép mình dưới chân đồi phía Bắc Bel Air, đỉnh một đường mòn cương ngựa chạy ngoằn ngoèo quanh Beverly Glen, nơi sự giàu có và những điều đáng sợ nhất cùng chung sống. Đó là khu vực của những chiếc xe Porsches và những kẻ vô lại, hệ thống thoát nước tồi tàn và những dòng lạch đơn độc. Nhà tôi rộng 74 mét vuông, xung quanh có những cây gỗ tím vỏ màu bạc, những viên đá cuội đã bị nắng mưa bào nhẵn và kính màu. Ở ngoại ô, đây chỉ như một cái lều nhỏ; còn ở đây dưới những quả đồi, đó là một nơi ẩn náu dân đã. Xung quanh có nhiều thùng, vũng và mô đất nhấp nhô, nhiều chỗ tạo cho người ta sự bất ngờ khi mục kích. Ngôi nhà trước kia của một nghệ sỹ do ông tự thiết kế. Sau đó ông bị phá sản phải đem bán tất cả những tác phẩm nghệ thuật của mình cho các nhà trưng bày nghệ thuật ở La Cienega. Vào những ngày đẹp trời - giống như hôm nay - từ nơi này có thể nhìn thấy được đại dương, một mảnh đại dương màu xanh biếc e dè trộm nhìn Palisades. Tôi ngủ một mình, cửa sổ mở toang, không có trộm cắp và những kẻ phá hoại. Mãi 10 giờ mới tỉnh giấc, trần như nhộng. Chăn mền đã bị xô xuống nền nhà giữa những giấc mơ, tỉnh dậy tôi chẳng nhớ gì. Trong cảm giác lười lười ngấy ngấy, tôi chống khuỷu tay kéo chăn mền lên giường và nhìn những lớp ánh nắng màu nâu nhạt chui xuyên qua khe hở của căn nhà. Cuối cùng, tôi đã bị kéo khỏi giường bởi sự xâm nhập của một con ruồi bay quanh nhà tìm kiếm bữa sáng, nó cứ nhằm đầu tôi tấn công. Tôi cố lê bước vào nhà tắm, xả nước vào bồn, rồi đi xuống bếp kiếm cái gì đó để cho vào bụng. Con ruồi vẫn cứ bám chặt lấy tôi. Tôi pha một tách cà phê, xắt một lát hành tươi làm bữa điểm tâm. Con ruồi cũng xông vào xí phần. 10 giờ 20 sáng thứ Hai đẹp trời, chẳng biết đi đâu và làm gì. Có lẽ đã nửa năm từ cái ngày lấy quyết định nghỉ hưu non, tôi vẫn còn ngạc nhiên về sự thoải mái khi đang từ một anh chàng lúc nào cũng đầu tắt mặt tối trong công việc trở thành một anh chàng buông tuồng thế này. Tôi trở lại nhà tắm, đặt mông lên rìa bồn, mồm tóp tép nhai và vẽ ra một kế hoạch mơ hồ cho ngày hôm nay: thong thả tắm xong, đọc báo buổi sáng và có lẽ sẽ đi bách bộ về phía hẻm núi rồi quay lại, tráng qua người và tới thăm... Tiếng chuông cửa kéo tôi ra khỏi sự mơ màng. Tôi cuốn khăn tắm quanh eo và đi tới cửa kịp lúc nhìn thấy Milo bước vào. - Cửa không khoá - Anh giải thích rồi đóng rầm cánh cửa lại. Ném tờ Times lên ghế bành, anh gióng mắt nhìn tôi; tôi đang thắt chặt thêm chiếc khăn tắm. . - Chàng trai của trời đất, tôi chúc anh một buổi sáng tốt lành!  Tôi khoát tay mời anh vào trong. - Này anh bạn, anh nên khoá cửa. Anh không biết chứ, ở Sở cảnh sát, tôi còn cả đống hồ sơ về chuyện xảy ra với các người không đóng cửa khi ngủ nghỉ đấy. - Chào Milo, tôi cũng chúc anh một buổi sáng tốt lành. Tôi sải bước vào bếp và rót hai tách cà phê. Milo bước theo tôi giống như một cái bóng ì ạch rồi mở tủ lạnh lấy một dĩa pizza mà chính tôi cũng không nhớ mình đã để đó từ lúc nào. Anh lại theo tôi ra ngoài phòng khách, sà xuống chiếc ghế bành bọc da đã cũ - một món đồ cổ mang từ văn phòng của tôi ở Wilshire về. Tôi tắt nước trong nhà tắm và ngồi đối diện với anh trên chiếc ghế dài đệm bọc da lạc đà. Milo là một tay lực lưỡng - cao 1 mét 85 - khi ngồi hay nằm, chân tay anh xoãi lòng thòng, tư thế của những kẻ có dáng người kềnh càng. Sáng nay, anh trông chẳng khác gì một con búp bê rách, đổ bẹp xuống ghế - một con búp bê có cái mặt bành bạnh và khôi hài, gần giống mặt của một cậu bé con nếu không có những hút trứng cá nham nhở khắp nơi và đôi mắt mệt mỏi. Đôi mắt màu xanh có sức hút kinh ngạc bao quanh bởi những quầng đỏ, bộ lông mày mầu đen thẫm, tóc dày cộm kiểu Kennedy. Mũi to, sống mũi cao, cặp môi đầy đặn, cong như môi trẻ con. Tóc mai anh có lẽ đã 5 năm chưa cạo nên trễ dài xuống tận má. Như thường lệ, anh mặc bộ Brooks Brothers: áo vét ga- ba-đin màu ô liu, cúc không cài, ca-ra-vát sọc vàng xanh, đuôi đỏ sẫm. Toàn bộ trang phục của anh tạo ra một cảm giác kỳ dị. Anh không thèm để ý đến tôi mà chúi mũi vào đĩa pizza. - Tôi mừng vì anh đã dùng đĩa pizza đó cho bữa sáng của mình.  Tới khi chẳng còn gì trên đĩa, anh mới mở miệng hỏi. - Tình hình anh dạo này thế nào? - Tốt. Chả mấy khi rồng đến nhà tôm, chắc là có chuyện gì hả, Milo? - Cứ phải có chuyện gì mới đến chắc? - Anh phủi những mẩu pizza rơi trên vạt áo xuống thảm trải nền - Thế bạn hè không thể đến với nhau được hay sao? - Anh lén lén lút lút vào nhà tôi vôi vẻ mặt hình sự chắc chắn không phải là đến chơi suông rồi!   Mời các bạn đón đọc Ba Bóng Đen của tác giả Jonathan Kellerman & Đặng Thị Huệ (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Bùn Nhơ Trên Tuyết
Bùn nhơ trên tuyết Tác giả: Georges Simenon Người dịch: Lê Văn & Vân Phong Nhà xuất bản Thuận Hóa Năm xuất bản 1988   Nhà văn Georges Simenon sinh ngày 13.2.1903 mất ngày 4.9.1989. Năm 16 tuổi, Simenon là chàng phóng viên trẻ viết tin vắn cho tờ La Gazette de Liège. Mỗi ngày, ông đạp xe đến các bót cảnh sát, nhà băng, sở cứu hỏa, những cuộc thi thể thao để lấy tin cho báo. Năm 1922, ông tới Paris hoa lệ. Tiểu thuyết đầu tay Trên Chiếc Cầu Vòm Cung được xuất bản tại Liège (Bỉ) với bút danh Georges Sun. Nhưng sự thành công chưa vội đến với cây bút trẻ có hàng chục bút danh khác nhau này (Jean du Perry, Gom Gut, Christian Brull...). Mười năm miệt mài viết như người lao động khổ sai giúp ông thành thạo trong “tốc độ” sáng tác. Đây chính là thế mạnh của tác giả “bậc thầy trinh thám” sau này. “Suốt thời kỳ 1928-1931, ông chỉ viết những tác phẩm về Maigret, trung bình mỗi tháng một cuốn”, ông nổi tiếng như cồn khi tiểu thuyết trinh thám Con Chó Vàng (Le chien jaune, 1931) được xuất bản, với tên thật Georges Simenon. 11 tác phẩm in năm đó thì 10 cuốn là tiểu thuyết với nhân vật sáng tạo Thanh tra Maigret. Một đời văn với hơn 300 tác phẩm viết bằng tiếng Pháp đã được xuất bản, người ta không khỏi thán phục năng lực sáng tác bền bỉ và trí tưởng tượng phong phú của nhà văn Georges Simenon. Bậc thầy tiểu thuyết trình thám thật sự chinh phục hàng triệu người đọc tại nhiều nước trên thế giới. Hơn 80 tiểu thuyết Thanh tra Maigret không nằm trong thể loại truyện hình sự tầm thường. Giá trị văn học của tác phẩm đã được các nhà phê bình nhìn nhận. Sau ngày ông mất, Đại học Liège ở Bỉ đã thành lập Trung tâm nghiên cứu Georges Simenon và đã xuất bản các tác phẩm nghiên cứu về ông. Cho đến nay, chưa có nhà xuất bản nào tại Pháp in toàn bộ tác phẩm của Georges Simenon. Mới đây, các tiểu thuyết của ông được Nhà xuất bản Ommious in thành 25 tập Tất cả Simenon nhưng chưa đầy đủ. Còn ở Việt Nam mới chỉ có khoảng chục cuốn thuộc thể loại trinh thám hình sự của Georges Simenon. Không học cao, không đọc nhiều, không quan hệ rộng và cũng chẳng mấy khi đi đâu xa, thế nhưng Georges Simenon lại lập kỷ lục về số sách bán được và làm giàu nhờ những tác phẩm được chuyển thể điện ảnh. Bị một số người xem thường suốt thời gian dài, nhà văn viết nhiều và viết nhanh này lại được những đồng nghiệp danh tiếng như André Gide, Henry Miller hết mực kính trọng. Làm thế nào một người rời trường học từ lúc 15 tuổi và thừa nhận mình chưa bao giờ đọc những tác phẩm văn học cổ điển lại trở thành nhà văn viết tiếng Pháp có nhiều người đọc nhất và có tác phẩm được dịch nhiều nhất trên thế giới? Văn phong của Georges Simenon không có gì đặc biệt, không hoa mỹ và không có những hình ảnh ấn tượng. Vốn từ vựng của ông cũng rất hạn chế. Tiểu thuyết của ông không có nhiều yếu tố lịch sử hay triết học. Mọi nhân vật trong truyện đều thuộc tầng lớp trung lưu, có cuộc sống bình lặng, những thị dân tiểu tư sản, chung thủy với vợ, ít ngao du, không tham vọng, không chính kiến rõ rệt. Thế mà không khí trong tiểu thuyết của ông khiến người đọc phải nhớ mãi. Trong 60 năm cầm bút, Georges Simenon trải qua nhiều trào lưu văn nghệ; chủ nghĩa siêu thực, chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa Marx và Tiểu thuyết mới, nhưng không trào lưu nào ảnh hưởng nơi ông. Để hiểu được phần nào bí quyết thành công của Georges Simenon, có lẽ cần trở lại thời thơ ấu của ông. Gia đình sống quanh quẩn trong thành phố quê hương, chẳng mấy khi đi đâu xa. Để thay đổi số phận, năm 16 tuổi, Georges Simenon đến Paris. Vì sinh kế, chàng thanh niên trẻ làm đủ mọi công việc liên quan đến viết lách. Con người rất ít khi đọc sách ấy lại có một năng khiếu đặc biệt: Có thể cùng lúc là thư ký, nhà báo, nhà văn, và viết rất nhanh. Khi một nhà xuất bản yêu cầu một cuốn tiểu thuyết, câu hỏi đầu tiên của Georges Simenon luôn là: “Ông muốn có sách vào thứ sáu này hay tuần tới?” Ông viết nhiều và nhanh đến nỗi khi chưa đến 25 tuổi đã có rất nhiều bút danh. Tất cả các tác giả từng viết tiểu sử Georges Simenon đều nhận định: Để viết cuốn tiểu thuyết “Maigret” (tên vị thanh tra, nhân vật chính trong tiểu thuyết của Simenon), nhà văn chỉ cần 6 ngày và chỉ mất 9 ngày cho những tác phẩm khác mà ông gọi là “tiểu thuyết hắc” (romans durs). Cách viết nhanh như vậy giúp ông đạt được những thành công đầu tiên. Pietr le Letton (1931) là cuốn truyện mở đầu loạt truyện Maigret. Trong vòng hai năm, ông viết hơn 20 tiểu thuyết, đem lại lợi nhuận lớn lao cho nhà xuất bản Fayard. Cuốn tiểu thuyết cuối cùng, Maigret et monsieur Charles (Maigret và ông Charles) được xuất bản năm 1972. Những cuộc phiêu lưu của thanh tra Maigret trải dài trên 75 tiểu thuyết (với khoảng chừng 10 năm), mà nhân vật chính không già đi, trán không gợn một nếp nhăn. Từ tác phẩm đầu tiên cho đến tác phẩm cuối cùng, thanh tra Maigret vẫn ở tuổi 50. Các nhà nghiên cứu nhận thấy tên Georges Simenon được ký trên hơn 200 cuốn tiểu thuyết và ông cũng viết ngần ấy tiểu thuyết với những bút danh khác (40 bút danh) và gần 1.000 truyện ngắn. Les fiançailles de monsieur Hire (Lễ Đính Hôn Của Ông Hire) và Le Chien Jaune (Con Chó Vàng) là những tác phẩm củng cố danh tiếng của ông. Những trí thức ở Paris không muốn nhắc đến “kẻ xa lạ” trốn tránh kinh đô Ánh sáng và xem thường những nghi thức của xã hội thượng lưu. Nhiều người phê phán Georges Simenon không có văn phong. Ngoại trừ nhà văn Pháp André Gide và nhà văn Mỹ Henry Miller, Georges Simenon không giao tiếp với ai nên bị giới văn học cho “ra rìa”. Ông cũng giữ thái độ mập mờ, không cộng tác với ai, cũng chẳng phản kháng ai. Khi nước Pháp thoát khỏi sự chiếm đóng của phát xít Đức, cũng như nhiều nhà văn khác, Georges Simenon bị buộc nhiều tội, trong đó hai tội chính: Ký hợp đồng với một nhà sản xuất phim người Đức để chuyển thể 9 cuốn tiểu thuyết của ông và Christian Simenon, em trai ông, ủng hộ phong trào chống chế độ đại nghị ở Bỉ, bị kết án tử hình vắng mặt. Năm 1945, Georges Simenon rời châu Âu sang Mỹ, lưu lại đây 10 năm. Nhưng ở nơi sống mới, “nỗi ám ảnh viết lách” không hề dịu đi. Trái lại, trí tưởng tượng của ông càng thêm phong phú nhờ những chuyến phiêu lưu khám phá kinh đô điện ảnh Hollywood. Lúc này ở châu Âu, những lời lên án ông hợp tác với phát xít Đức đã nhạt đi. Georges Simenon sang Thụy Sĩ, sống trong một dinh thự mênh mông ở Epalinges, cách Lausanne 10km. Ông đã là một ngôi sao. Người tra tranh nhau đăng tiểu thuyết của ông trên các báo và chuyển thể thành phim. Từ La nuit du carrefour (1932) đến Monsieur Hire (1989), tổng cộng 56 tiểu thuyết chuyển thể. Thêm một kỷ lục nữa: Georges Simenon trở nên giàu có nhờ số sách bán được và những bộ phim. Thoạt đầu, danh tiếng làm ông thích thú, nhưng rồi ông thấy chán ngán: “Tôi bán bản quyền và chẳng quan tâm nữa. Thậm chí tôi còn không đi xem phim”. Ở Epalinges, cuộc sống của ông rất bình lặng. Ông ít giao tiếp, dành toàn bộ thời gian để viết, đi dạo hai lần mỗi ngày, mỗi tháng gửi một bản thảo cho nhà xuất bản. Cuộc sống cứ thế trôi đi cho đến năm 1972, ông hầu như ngưng viết. Trước khi qua đời năm 1989, ông cho xuất bản 20 tác phẩm tự truyện. Sách của Georges Simenon được dịch sang 50 thứ tiếng. Trong bảng xếp hạng các sách được dịch nhiều nhất trên thế giới, sách của Georges Simenon và Agatha Christie chỉ xếp sau Kinh Thánh và các tác phẩm của Karl Marx. Cùng với việc viết lách, phụ nữ là mối quan tâm lớn của đời ông. Có nhiều lời đồn đoán về “năng lực tình ái” phi thường của Georges Simenon. Ông từng khoe đã yêu 10.000 phụ nữ. Denyse, người vợ thứ hai, cho biết lúc tuổi xế bóng, Georges Simenon vẫn chăn gối 3 lần mỗi ngày. Bà bếp tiết lộ đã dan díu với ông chủ Georges Simenon trong một thời gian dài, và trong lúc đi dạo, cha đẻ của Maigret lại tìm quên trong vòng tay của một cô gái làng chơi. Sinh hoạt tình dục sôi nổi ấy lại không để lại một dấu vết nào trong tác phẩm của Georges Simenon. Bà Maigret là một phụ nữ tiểu tư sản, mờ nhạt và lệ thuộc, luôn ngưỡng mộ chồng. Điểm này cũng là một bí ẩn của Georges Simenon. Ông kết hôn lần đầu tiên năm 19 tuổi với Tigy, có một con trai tên Marc. Marc kết hôn với nữ diễn viên nổi tiếng Mylène Demongeot, Georges Simenon cũng có quan hệ tình ái với ngôi sao nhạc kịch Joséphine Baker và suýt ly hôn với Tigy. Năm 1945, Georges Simenon gặp Denyse Ouimet, thoạt đầu là thư ký của ông, rồi trở thành người tình, người vợ, Georges Simenon và Denyse có 3 con: John, Mary và Pierre. Mời các bạn đón đọc Bùn Nhơ Trên Tuyết của tác giả Georges Simenon.
Kẻ Gây Hấn
XIN MỜI QUÝ BẠN ĐỌC THỬ NGAY CUỐN SÁCH NÀY ĐỂ ĐƯỢC SỐNG HAI GIỜ TUYỆT THÚ CHƯA TỪNG CÓ, NHƯ CẦM TRÊN TAY MỘT QUẢ BOM NỔ CHẬM Nguyên tác “Le Provocateur” của Maurice Ellabert Bồ Giang dịch thuật Tác phẩm thứ 1 của TỦ SÁCH BỒ-GIANG In lần thứ nhất: Tháng 4-1974   LỜI TỰ GIỚI THIỆU CỦA TỦ SÁCH BỒ-GIANG Để giúp Quý Bạn thuộc mọi giới công tư chức, quân nhân, sinh viên và học sinh một vài giờ giải trí đầy những bất ngờ vừa kinh hoàng vừa lý thú, chúng tôi xin gửi đến Quý Bạn Tủ Sách Bồ Giang mà tác phẩm đâu tiên là “KẺ GÂY HẤN” của Maurice Ellabert, tác phẩm đã đoạt Giải Thưởng Tiểu Thuyết Phiêu Lưu Hay Nhất Năm 1967 tại Pháp. Sau đó, Tủ Sách Bồ-Giang sẽ lần lượt phát hành những tác phầm lừng danh khác đã từng chiếm những giải thưởng đặc biệt trong lãnh vực văn chương trinh thám và khoa học giả tưởng trên khắp thế giới như: ♦ Giải Thưởng Edgar của Hiệp Hội Các Nhà Văn Bí Mật Mỹ Châu: ♦ Giải Thưởng Nebula và Hugo của Hiệp Hội Các Nhà Văn Khoa Học Giả Tưởng Mỹ Châu. ♦ Các Giải Thưởng Quai des Orfèvres. Tiểu Thuyết Phiêu Lưu Hay Nhất Năm, Tiểu Thuyết Trinh Tham Hay Nhất Năm, ♦ Giải Thưởng Văn Chương Trinh Thám tại Pháp ♦ Các Giải Thưởng Văn Chương Trinh Thám khác tại Anh, Bắc Âu... Bên cạnh đó, còn có những tác phẩm kỳ tuyệt khác tuy không chiếm giải thưởng nào nhưng vẫn sôi động không kém, sẽ khiến cho độc giả mỗi khi cầm lên tay là phải đọc một hơi từ đầu đến cuối. Đó là trường hợp của TUẦN TRĂNG MẬT THẢM KHỐC của Lawrence Block, tác phẩm thứ 2 trong Tủ Sách Bồ Giang sẽ phát hành vào đầu tháng sau. Trong giai đoạn đầu tiên, Tủ Sách Bồ Giang sẽ xuất bản mỗi tháng một cuốn. Về sau nếu hoàn cảnh thuận tiện hơn chúng tôi sẽ xuất bản mỗi tháng hai cuốn hoặc nhiều hơn. Muốn vậy, trong trường hợp Quý Bạn vừa ý với tác phẩm đầu tiên này của Tủ Sách Bồ Giang, chúng tôi ước mong Quý Bạn giúp chúng tôi một việc mọn: Giới thiệu cuốn sách này với hai người bạn thân cùng sở thích mê đọc sách, nhất là loại kinh dị. Được như thế, Tủ Sách Bồ-Giang mới có hy vọng sống còn trong giai đoạn cực kỳ khó khăn này và sẽ tiếp tục phục vụ tận tình với Quý Bạn trong những tác phẩm khác càng ngày càng thêm hấp dẩn từ hình thức đến nội dung. Chúng tôi xin thành khẩn ghi ơn Quý Bạn. Gia định, ngày 11-4-1974 BỒ GIANG và Nhóm Bằng Hữu *** CHƯƠNG 1 Người chủ khách sạn của tôi đang chăm chú làm việc tựa hồ cố tính toán để dùng số tiền dành dụm mua lại nhà hàng Ritz hoặc Crillon. Tuy nhiên ông ta vẫn ngẩng đầu lên khi tôi đi qua và cất tiếng gọi tôi: - Ông Charmoy! Sáng nay có người đến thăm dò tôi về ông. Tôi quay bước trở lui, có vẻ thú vị. - Một ký giả chứ gì? - Chắc không phải. Một người muốn biết rõ tư cách của ông. Tôi liền bảo: - Tôi hết lòng tin cậy ở ông. Vì thanh danh khách sạn của ông, lẽ ra ông nên nhờ một tên giết mướn thanh toán bọn nghèo đói như tôi. - Ông ta cũng đặc biệt lưu ý đến hoạt động kịch nghệ của ông. - Chắc ông đã hết lời khai ra rằng hiện giờ tôi vô cùng nhàn rỗi? Viên chủ khách sạn cằn nhằn: - Đâu có phải vì tôi mà lúc này ông không có việc làm? Người đó đã hỏi tôi hiện giờ ông có bận tập một vở kịch gì hay đang quay một cuốn phim nào không. Tôi đã ngầm nói cho ông ta hiểu rằng ông không đến nỗi bận rộn lắm. - Như thế thì kỳ lạ thật. Không lẽ ông ta đi thăm dò để lập gánh hát? - Ông sẽ hiểu rõ nếu người ta đề nghị với ông một giao kèo đóng phim với Brigitte Bardot. Tôi trở về phòng và cố suy đoán nguyên do chính xác về vụ xâm phạm đời tư của tôi một cách kỳ lạ này. Giả thuyết cho rằng đây là một cuộc điều tra để tìm diễn viên sân khấu hoặc màn ảnh tôi thấy không hẳn là vô lý. Thật tình tôi có một bản chất lạc quan và tôi sẵn sàng đón nhận những thất vọng của cuộc đời với tất cả bình tĩnh, kể từ khi ban giám khảo Trường Quốc Gia Kịch Nghệ cấp cho tôi một giấy ban khen, đúng với lời ông thầy tử vi đã tiên đoán tôi sẽ đoạt Giải Nhất về ngành hài kịch. Tôi đã để lại hình và địa chỉ cho khá nhiều nhà sản xuất điện ảnh và các vị giám đốc đoàn ca kịch nên rất có thể một người nào đó vì không tin, vì thận trọng hoặc vì theo một thủ tục bắt buộc, đã đi thăm dò kỹ về tôi trước khi ký hợp đồng với tôi. Tôi ngủ thiếp đi với những nhận định này. Ngày hôm sau, những tư tưởng đó bỗng trở về trong tâm trí tôi khi tôi nghe nói có ai điện thoại. Tôi vội vàng chạy xuống chiếc tủ được ngụy trang thành một buồng điện thoại. Tôi nói vào máy bằng một giọng ung dung của kẻ không chờ một ai cả. - Tôi là Pierre Charmoy, đang nghe đây. - Tôi muốn nhờ ông giúp một việc. Tôi không hy vọng lạc quan của mình thành sự thật một cách nhanh chóng như thế. Tôi bảo: - Mình sẽ cùng nhau bàn tính. Xin lỗi ông là ai? Người ở đầu dây đằng kia trả lời ngay: - Ông dù có biết cũng không lợi gì. Vì vậy xin ông cho tôi được giấu danh tánh, Tôi chưa kip trình bày nỗi kinh ngạc của tôi thì người kia lại tiếp: - Vì lẽ nghề nghiệp của ông là đóng những vở kịch vui, tôi muốn đem đến cho ông một vai trò đặc biệt và hết sức bất ngờ. Đây không phải là một màn trên sân khấu mà ở ngoài đường phố. Tôi xin giải thích: ông hãy đến lưu ngụ trong một đô thị nhỏ, suốt ngày hãy xuất hiện quan sát thiên hạ và giả vờ tò mò muốn tìm hiểu các hành vi và cử chỉ của họ để làm cho họ phải khó chịu, phải tức tối. Tôi hy vọng ông sẽ đóng được vai trò này. Biết chắc mình đang bị một kẻ vô danh đùa cợt, tôi trả lời: - Đó chỉ là trò trẻ con. Người kia vẫn tiếp lời: - Có lẽ ông đã hiểu vì sao tôi bày trò lừa phỉnh này? Tôi thú thật không được hiểu rõ bao nhiêu. Y liền trình bày rõ: - Lý do rất đơn giản. Tôi có một mối ác cảm với dân chúng trong vùng đó. Tôi tưởng có thể làm thế cho bõ ghét, một lối trả thù mà chắc ông cũng công nhận là không lấy gì làm ác độc, nhưng không kém phần khôi hài. Tôi tiếp: - Như mọi soạn giả khác, ông không được khiêm tốn mấy. Và để trình diễn tác phẩm của ông, ông sẽ trả cho tôi bao nhiêu? - Tùy theo điều kiện của ông. Ông muốn bao nhiêu cũng được. Câu trả lời quả quyết làm cho tôi sửng sốt mất một lúc lâu mới nói đại một con số: - Một ngàn quan mỗi tuần chưa kể mọi chi phí. Người kia im lặng một lát. Tôi vội vàng nói tiếp: - Đó là giá lương hiện lại của tôi. Lẽ tất nhiên vì đây là trường hợp đặc biệt tôi phải đầu cơ lên giá chút đỉnh. Nếu ông không quyết định ngay, không chừng tôi còn lên giá cao hơn nữa. Gã đối thoại nặc danh đề nghị: - Tổng cộng một ngàn quan. Các chi phí của ông chắc sẽ không nhiều lắm đâu. Ông đồng ý chứ? Tôi la lớn: - Ồ! Đâu có gấp như thế được! Ông phải cho tôi biết rõ các chi tiết đã chứ. Trước hết là thời gian trình diễn? - Ít ra cũng một tuần. Có lẽ hai. - Nơi nào? - Gần Nancy...Foncourt. Lại im lặng một lát, rồi người kia hỏi: - Cái tên đó làm ông nhớ tới chuyện gì hay sao? Tôi bảo: - Thủy tinh. - Đúng thế. Đó là xứ sở sản xuất nhiều loại thủy tinh nổi tiếng, ông có quen biết người nào ở nơi đó không? - Không. - Càng hay. Như vậy càng đỡ rắc rối. Tôi sẽ trả tiền trước. Ông có thể đi ngay được chứ? Tuy đã quyết định chấp thuận mọi điều kiện về tiền thù lao và thời hạn, tôi vẫn không muốn tỏ ra mình đã chấp thuận một cách gấp rút tố cáo rằng mình đang túng tiền. Tôi liền trả lời: - Tôi đâu đã nói với ông rằng tôi bằng lòng. Nói trắng ra, vai trò do ông đề nghị là một trò hề! Đó không phải kịch nghệ mà chính là làm xiếc. Nói như thế vẫn còn chưa được đúng. Phải bảo là trò múa rối. Vì vậy, tôi do dự. Tôi không muốn giảm giá cũng như làm ô danh nghệ thuật... Y cắt ngang mục khôi hài của tôi bằng một tiếng cười nhạt xấc láo: - Với một ngàn quan mỗi tuần, ông nên dẹp quách cái luận điệu đó đi. Tôi vẫn còn cãi bướng, viện lý do nhiều vận động quan trọng đòi hỏi sự hiện diện của tôi ở Paris và tôi lại hỏi y: - Người đã đến đây hôm thứ bảy để hỏi thăm viên chủ khách sạn có phải là nhân viên của ông? Y trả lời: - Những điều thuận tiện mà tôi được biết về ông trên lãnh vực nghề nghiệp cần phải được nhiều chi tiết khác bổ khuyết cho hoàn toàn đầy đủ. Thế nào mình cùng nhau thỏa thuận chứ? - Mình sẽ thỏa thuận khi tôi đã nhận được tiền. - Ông sẽ nhận tiền vào ngày mai. Tôi bỏ tiền vào phong bì gửi ngay tức khắc cho ông. Ông hãy đến Foncourt dùng cơm tối và đi tới Khách Sạn Thương Mãi. Ông cứ ghi tên thật vào sổ và cho biết nghề nghiệp của ông. Phần còn lại, tôi để cho ông tùy nghi hành động. Lúc này, tôi không còn nghi ngờ thiện ý của kẻ đã điện thoại với tôi và sự việc y muốn giữ kín danh tánh đã xác nhận điều tôi suy nghĩ. Y lại còn nhấn mạnh sự kiện tôi không được tiết lộ lý do thái độ của tôi khi đã đến Foncourt và cũng không được cho bất cứ một ai trong đám bạn bè thân thuộc hay biết sứ mạng dị thường này. Rồi y xác định với tôi một cuộc điện đàm tại chỗ cũ, vào ngày thứ ha tuần tới; đúng mười hai giờ trưa, và y gác máy. Tối đến, ở tiệm ăn, tôi không bỏ qua một chi tiết nào trong lúc kể lại cho Sylvie nghe vụ đề nghị không mấy bình thường đó. Nàng quả quyết bảo: - Gã đó phải tồi tệ lắm mới nghĩ ra một cách trả thù như thế này. Nếu mang lòng thù hận với tất cả người dân trong thành phố thì chắc bởi vì y đã bị xã hội bạc đãi, vừa là một con người giàu tưởng tượng và thâm hiểm. Tôi đáp: - Dù tên tồi tệ này có những lý đo gì đi nữa, cuộc phiêu lưu vẫn khiến anh thích thú. Anh sẽ khuấy động cả một vùng đã có một không khí buồn chán từ nhiều thế kỷ nay. Sylvie đầy vẻ nghi ngờ. - Anh nhớ không được lạm dụng đó. Anh chịu hứa với em anh sẽ không dối gạt em chứ? Tôi làm mặt giận: - Em tin anh theo cái kiểu đó à? Em dám mở miệng nói với anh như thế, sau khi anh vừa tỏ hết lòng tin cậy em bằng cách kể hết câu chuyện cho em nghe, bất chấp những chỉ thị minh bạch của gã đó? Nàng vừa trả lời vừa đưa tay qua mặt bàn siết nhẹ lấy tay tôi: - Chà, sung sướng cho cho em quá! Anh không có nói gì với má anh hay sao? - Ồ! Không. Bà cụ đâu còn đủ đầu óc khôi hài để thưởng thức vụ đùa dai cỡ này. Anh sẽ tối tăm mặt mũi với những lời căn dặn phải lưu ý đề phòng và những lời trách móc về cái tính thích phiêu lưu của anh. Tôi đã giới thiệu Sylvie với má tôi. Bà có cảm tình đặc biệt với nàng, nhưng nhất thiết không chịu thừa nhận rằng một kịch sĩ - dù là kịch sĩ sáng giá đến mấy đi nữa, và tôi lại còn chưa đạt tới mức đó - có thể kết hôn với một người con gái sắp sửa thi ra trường y-khoa và có dự định mở phòng mạch ở tỉnh nhỏ. Sylvie và tôi thì trái hẳn lại, có những tư tưởng lành mạnh và hết sức thành thực: tương lai về sự phối hợp giữa đôi lứa chúng tôi không vượt qua cái bằng bác sĩ của nàng. Lúc ra tới ngưỡng cửa tiệm ăn, tôi hỏi nàng: - Em cùng về với anh? - Tối nay không được, anh à. Suốt tuần vừa qua em đã không về ngủ ở nhà trọ lấy cớ phải đi trực đêm ở bệnh viện. Anh đừng có quên bà chủ nhà của em vẫn thường báo cáo tất cả cho gia đình em hay. Em khó lòng tìm cách chạy tội. Tôi vẫn còn cố thuyết phục: - Anh sắp sửa phải xa em suốt bảy tám ngày... Sylvie chận lời: - Mình sẽ thừa thời giờ sắp đặt mọi việc cần thiết khi ngày đi của anh đã được xác định. Dù sao vẫn còn một điều chưa rõ rệt và chính điều đó quyết định việc đi hay không. Tôi chắc lưỡi. - Vấn đề tiền! Anh tin chắc ngày mai sẽ có. Tôi nói đúng. Người đưa thư sáng hôm sau đã mang đến nhà tôi một chiếc phong bì màu xám, gửi từ Nancy, bên ngoài kẻ mấy hàng chữ in rất ngay ngắn đều đặn, rõ ràng được viết bằng dụng cụ vẽ. Chiếc phong bì đựng hai tờ giấy bạc năm trăm quan. Tôi đến tìm Sylvie tại bệnh viện Cochin và chúng tôi cùng đi ăn trưa, không ngừng bàn bạc nêu ra đủ mọi giả thuyết về nhân cách và những âm mưu thực sự của người bí mật vừa gửi tiền cho tôi. Tôi đã định sẽ đóng vai trò của mình một cách trọn vẹn để chiếm được lòng tin của kẻ quái dị đang mướn tôi và kéo dài giao kèo thêm một tuần lễ thứ hai. Tôi hứa với Sylvie sẽ điện thoại về cho nàng mỗi ngày, nhưng tôi nghĩ không cần phải báo tin việc tôi đi vắng trong một thời gian ngắn cho má tôi hay. Trong phòng riêng của tôi, tôi đã cẩn thận sắp đặt các thứ hành lý trước khi đi ăn trưa. Quả nhiên ngay khi cửa vừa khóa, Sylvie đã mở cuộc tấn công "những việc cần thiết" mà nàng muốn có một bảo đảm đầu tiên cho sự trung thành của tôi trong những ngày sắp tới. Khi tôi bước lên chiếc Triumph của tôi, trễ mất hai tiếng đồng hồ so với thời khắc biểu mà tôi đã định trước trong trí, cả hai ống chân của tôi đều mềm nhũn như đã hóa thành bông gòn, và đôi mí mắt chỉ muốn sụp xuống để ngủ một giấc mê say. Tình trạng này quả thật không thích hợp với công việc lái một chiếc xe hơi kiểu thể thao. Sylvie khuyên tôi nên ngừng xe ở dọc đường để uống cà phê và mở máy thâu thanh thật lớn. Mời các bạn đón đọc Kẻ Gây Hấn của tác giả Maurice Ellabert.
Chạy Án
Cũng khoe cho anh em vui, anh chị mình có cổ phần trong một quán bar ở nội thành Hà Nội. 12h cái đêm định mệnh ấy, mẹ mình tự nhiên nóng ruột gọi điện thoại giục về liên tục, chị mình tặc lưỡi - Thôi, nốt chén rồi mày lấy xe đưa chị về. Đang vui mà cứ càu nhà càu nhàu. - Đêm nào cũng đi thế này, mẹ lo là phải thôi để em lấy xe đưa chị về, tí anh đi oto về sau ( chị mình không phải loại hay đi đêm, nhưng quán bar nhà mới khai trương, chủ yếu là anh em bạn bè, không ra tiếp không được với người ta,anh rể mình vừa góp vốn vừa làm quản lý trên bar nên không về trước giờ được) - Mày xuống trước lấy xe đi. Chị ra chào mấy đứa bạn chị một câu rồi ra ngay. Mình vừa bước chân xuống cửa mấy đồng chí bảo vệ đã lon ton chạy ra - Anh, anh lấy xe à? - Vâng lấy em con 16M....., không có vé đâu, để ở chỗ nhân viên ý. - Vâng, vâng.- Đồng chí trông xe lon ton cầm chìa đi lấy, cơ bản mình mấy hôm khai trương cũng lên đây mấy lần, anh em cũng có quen mặt, dù gì là em của ông chủ, cũng khá có tí vai vế. Khốn nạn là mọi hôm, mình hay đi con Sh của nhà, hoặc đi taxi, không thì thường là đi cùng oto với anh. Hôm nay chẳng hiểu sao lại tiện tay dắt con wave ghẻ dựng ngoài hè khách mới cầm ban chiều đi luôn. Mọi sự khốn nạn bắt đầu từ đây. Hai chị em đang đi, gần về đến nhà, thì 4 đồng chí cơ động bất ngờ áp sát xe, dồn mình vào dọc đường. - Yêu cầu dừng xe xuất trình giấy tờ. - Anh ơi, bọn em mũ mão xi nhan đầy đủ mà. Chị mình lên tiếng. - Bây giờ là 12h15, chúng tôi có quyền kiểm tra hành chính với phương tiện giao thông. Hơn nữa anh chị đội mũ nhưng không cài quai. - Thôi anh ơi, giờ muộn rồi, nhà em cũng ở ngay đây cách có mấy mét nữa thôi, anh cho em xin nộp phạt ngay, đây 1 mũ là 150k. Em gửi anh, anh cho bọn em về ạ.- Chị mình vẫn cứ khéo léo xin. - Chúng tôi yêu cầu cho kiểm tra hành chính, xuất trình giấy tờ và cho kiểm tra xe. Mình chột dạ, mẹ chứ, chúng nó cò quay rồi. xe mới cầm chiều nay làm quái gì có giấy tờ, hơn nữa mình cũng chẳng có bằng lái và tệ nhất hai chị em chẳng có CMT. Mình quay sang thì thầm với chị " Chị ơi, để em gọi bác B... ( nhà làm kinh doanh nhạy cảm nên cũng có cơ số ô dù) xe không giấy tờ đâu". Chị mình lừ mắt " Mày nhìn đồng hồ xem giờ mấy giờ, chuyện cỏn con thế này mày dựng bác ấy dậy làm gì." Rồi chị quay sang nói chuyện với mấy anh cơ động - Anh đợi em chút, em gọi cho chồng em, hai chị em đi vội quá quên mang giấy tờ rồi. - Alo, anh ạ, anh ơi, hai chị em bị cơ động bắt ở ngã tư X, anh mang cho em giấy tờ qua đây ngay với. Độ 2 phút sau anh mình phóng con wave ra( mẹ lại wave). - Anh ơi đây là vợ em, nhà em mở quán bar ngay gần đây nên về hơi khuya, có gì hai anh linh động cho. - Anh chị đi xe máy đội mũ nhưng không cài quai. Không xuất trình được giấy tờ. - Thôi đêm cũng muộn rồi, anh cho bọn em nộp phạt rồi còn về đi ngủ. - Về đi ngủ hay là đi làm.- Một đồng chí cơ động cười khẩy. Nghe tới đoạn này là anh chị em mình đã nóng tai rồi, nhưng vẫn kiềm chế cười. - Ngủ thôi anh, làm lụng gì nữa. Lúc nào có dịp mời các anh qua chỗ chúng em chơi, trước lạ sau quen.- Anh mình cười cười. - Thôi thế này nhé, anh kia đội mũ, cho về, còn chị này không đội mũ theo chúng tôi về đồn xác minh lại. - Thôi xin các anh linh động cho. - Linh cái gì, ông cũng có đội mũ đâu, chúng tôi không bắt ông là may lắm rồi. Nói thật tưởng bọn này không biết đấy à. Giờ này đi ngoài đường ăn mặc thế kia ( xác nhận chị mình ăn mặc hôm ấy có hơi phản cảm) là xe ôm đi dắt gái chứ gì. Cái bọn nhà quê Thái Bình (biển 16-???) chúng mày lên đây chỉ làm phò phạch với xe ôm là nhanh, bẩn đất thủ đô. - Đ...M chúng mày nói ai nhà quê đấy, mày nhìn lại chứng minh thư nhà tao đi.- Ông anh mình vừa nói vừa rút ví ra. - Không nói nhiều, về đồn hết. - một thằng vừa nói vừa giật tay chị mình lôi xềnh xệch ép lên xe, Anh lao vào đẩy ra.Bọn cơ động thấy thế lập tức rút dùi cui ra phang tới tấp, ông anh mình vừa tránh vừa đỡ, chạy ra ngoài rút điện thoại gọi thêm người. Một lúc sau thì bạn anh mình, làm bảo vệ ở đấy đi con SH ra, nhìn thấy ông ấy mặt đỏ gay mình đã chán rồi. Vừa xuống xe, bố trẻ đã khệnh khạnh - Làm sao làm sao? Ai đánh em tao? - Bắt nốt thằng này về đồn cho đủ bộ.- Tiếng một đồng chí cơ động. - Đ..M thằng nào dám bắt tao.- Ông bỏ mũ bảo hiểm đập tan xuống đất.Tay chỉ trỏ lung tung. Chưa đợi ông trẻ nói hết câu, đội cơ động đã lao vào cưỡng chế, vật nhau một lúc, ông này giở đủ trò cắn xe, cào cấu ( say mà các bác thông cảm) quan trọng nhất là ông ý đã giật được cái dùi cui của mấy đồng chí cơ động và một mình chống maphia. Có lúc cao điểm ông ấy khua khoắng cái dùi cui chẳng khác gì phim chưởng nhưng sức người thì có hạn, một lúc sau đã thấy có đồng chí cơ động xách được cả cổ ông ấy lên, nhấc hẳn ra khỏi mặt đất. Ông anh mình lấy xe chạy đi gọi thêm người, còn mình và chị chỉ dám đứng nhìn không kịp ý kiến gì. Sau khi đã ăn cơ số đòn và anh hùng chống trả, nói thì lâu chứ mọi việc diễn ra rất nhanh và gấp gáp, một lúc sau khoảng gần 30 người cả nhân viên quán bar và khách đa phần trong tình trạng có hơi men khi ấy đúng lúc ông bảo vệ đang bị bóp cổ mặt đỏ gay thở hồng hộc tay chân quều quào trong không khí, mình thì đang bị một đồng chí cơ động khác quẻ quặt tay ra đằng sau vì có dấu hiệu định lao vào can ngăn. Các bác phải biết cái âm thanh của mấy chục con người toàn đầu xanh, đầu đỏ hoặc đầu trọc, có bố xăm kín tận mang tai, tiếng bô xe máy tiếng chửi rủa. " Cơ động đánh người" " ĐM bọn cơ động" " quay clip lại tung lên mạng" " Giết chết hết chúng nó đi"... Nó có một sức uy hiếp vô cùng lớn, một đồng chí cơ động rút bộ đàm ra đồng thời một đồng chí khác lắp đạn vào sung Ak 47 bắn chỉ thiên. Đèn cả khu phố bắt đầu lác đác có nhà sáng. Bốn đồng chí cơ động rú ga chạy mất mạng. Anh em qua hỏi han mọi người có làm sao không, riêng ông bảo vệ vừa bị đánh mặc anh em giữ lại vẫn giãy đạp miệng hét ầm ĩ " thả tao ra để tao đi giết bọn cơ động, giết hết chúng nó". Đang ầm ĩ thì anh mình hét lên tay vẫn cầm điện thoại: - Chúng nó gọi người quay lại rút đi. Tất cả lại ầm ầm tản đi mỗi người một phía. Mình với chị thì về nhà, nghĩ đơn giản mọi chuyện kết thúc ở đấy, xong. Mình gần sáng còn nghe anh chị cười cười nói nói với nhau, hôm qua phải 3 người mới ép được ông kia lên xe máy, về tới bar rồi mà ông ý còn lấy "hàng" rồi bắt taxi đi săn bọn cơ động kia, tới 5h sáng mới về thanh toán hết gần triệu tiền taxi. Mời các bạn đón đọc Chạy Án của tác giả Lê Vũ Trọng Nghĩa.