Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Người Truy Tìm Dấu Vết

Định vị vệ tinh hiển thị, một chiếc xe hơi biến mất khỏi khu trung tâm thành phố, lại có thể đi xuyên qua tất cả các vật cản bằng tốc độ của tàu cao tốc, lao thẳng đến đích? Nhóm tội phạm ngông cuồng gây án, nhưng chưa bao giờ bị máy quay camera giám sát được bố trí thiên la địa võng quay được, do may mắn hay là đằng sau có cao nhân chỉ điểm? Hệ thống phòng bị an toàn của thành phố này đang đối diện với sự khiêu chiến trước nay chưa từng có! Và cảnh sát sau khi phân tích phát hiện ra, mục đích của nhóm tội phạm chỉ là vì muốn làm cho vụ án càng gây rúng động? *** M ười năm trở lại đây, ngành dịch vụ thiết bị an ninh của Trung Quốc phát triển thần tốc, camera giám sát đã trở thành thiết bị tiêu chuẩn của các thành phố, việc sử dụng những kỹ thuật mới như theo dõi tín hiệu, giám sát qua mạng đã thay đổi triệt để cách phá án của cảnh sát. Lịch sử phòng chống tội phạm của công an Trung Quốc đã bước vào thời đại điều tra hình sự điện tử một cách toàn diện. Hàng Châu là kinh đô của ngành dịch vụ thiết bị an ninh Trung Quốc, mấy doanh nghiệp dịch vụ thiết bị an ninh lớn nhất trong nước đều có mặt tại đây. Thành phố này đứng đầu trong nước, cả về phần cứng thiết bị an ninh và trình độ điều tra điện tử của cảnh sát. Năm 2016, Hàng Châu đăng cai tổ chức Hội nghị thượng đỉnh G20 - sự kiện hội tụ đông đảo lãnh đạo các nước. Nhưng ngay trước khi tổ chức Hội nghị thượng đỉnh nửa năm, đã xảy ra mấy vụ án khiến công tác đảm bảo an ninh của thành phố như thể có cũng như không. Một nhóm tội phạm chuyên đột nhập vào nhà riêng liên tiếp gây án tại các khu chung cư cao cấp, nhưng mạng lưới camera giám sát dày đặc không hề ghi lại được bất cứ hình ảnh nào của bọn chúng. Một chiếc ô tô có lắp đặt định vị vệ tinh biến mất khỏi khu vực nội thành, cuối cùng xuất hiện ở một vùng ngoại ô cách xa hơn 10km. Camera giám sát dọc đường hoàn toàn không chụp được hành tung của chiếc xe, còn định vị vệ tinh hiển thị, chiếc xe đã phóng điên cuồng đến đích với tốc độ gần 300km/giờ. *** Tử Kim Trần là tác giả Trung Quốc chuyên viết truyện trinh thám. Năm 2012, Tử Kim Trần vinh dự đoạt hai giải thưởng “10  tác giả xuất sắc trong năm” và “10 tác phẩm xuất sắc nhất” của văn học Thiên Nhai, Trung Quốc. Tính đến nay, các tác phẩm của Tử Kim Trần đã xuất bản tại Việt Nam gồm có: Mưu sát Đứa trẻ hư Tội lỗi không chứng cứ (đã chuyển thể thành phim) Sự trả thù hoàn hảo Người phát ngôn của thần chết Đêm trường tăm tối Người truy tìm dấu vết ... Ngoại trừ Người phát ngôn của thần chết, các tác phẩm khác của Tử Kim Trần như Tội lỗi không chứng cứ, Đêm trường tăm tối, Đứa trẻ hư, Mưu sát hay Sự trả thù hoàn hảo, ông đều lấy nhân vật hung thủ làm trung tâm. Phần lớn tác phẩm, độc giả đều ít nhiều đồng cảm với kẻ gây ra tội ác. Người truy tìm dấu vết là tác phẩm thứ hai mà ông Tử quyết định ẩn danh hung thủ để độc giả phán đoán. Tất nhiên, câu chuyện này không thể nói là hấp dẫn như những tác phẩm trước đây, tuy nhiên chất lượng logic chuẩn xác thì khỏi bàn. Vẫn đẹp & chính xác như phong cách vốn có của ông. *** 8 giờ sáng, Thẩm Nghiêm ra khỏi nhà, lên ô tô, lái xe về phía thị trấn Lưu Hạ ở phía tây thành phố. Ô tô rời khỏi tuyến đường cao tốc vòng quanh thành phố, tiếp tục đi về phía trước dọc theo con đường Thiên Mục Sơn. Chiếc cầu trên cao vắt qua đường cao tốc sừng sững phía trên chặn đứng luồng chiếu của ánh sáng mặt trời, cả khoảng bóng râm đổ xuống, bao trùm cả con đường và xe cộ. . Thẩm Nghiêm hai tay giữ vô lăng, đeo kính râm, nét âu lo hiển hiện dưới cặp mắt kính tối màu. Trước đây anh ta từng làm việc tại công ty Đại Khang, đây là doanh nghiệp dịch vụ thiết bị an ninh lớn nhất Trung Quốc, là doanh nghiệp đã lên sàn cổ phiếu loại A, trị giá mấy trăm tỷ trên thị trường chứng khoán, anh ta là kỹ sư cao cấp chuyên nghiên cứu phát minh sản phẩm, sở hữu nhiều bản quyền phát minh. Bốn năm trước, anh ta từ bỏ mức thu nhập sáu trăm nghìn tệ một năm, mang theo số bản quyền phát minh để khởi nghiệp. Vì giấc mộng khởi nghiệp, Thẩm Nghiêm gần như dốc toàn bộ tài sản trong nhà vào đó, đồng thời kêu gọi cả vốn đầu tư mạo hiểm. Sau hai năm nghiên cứu, đã cho ra đời sản phẩm thành công, nhưng điều đó không có nghĩa là việc bán sản phẩm sẽ thuận lợi. Sản phẩm của anh ta chủ yếu phục vụ cho công tác phá án của cảnh sát, không phải là sản phẩm dân dụng, đơn đặt hàng hoàn toàn trông chờ vào việc mời thầu của chính quyền. Hàng Châu là kinh đô của ngành dịch vụ thiết bị an ninh Trung Quốc, những doanh nghiệp dịch vụ thiết bị an ninh lớn nhất trong nước như Đại Khang, Hải Hoa... đều có mặt ở đây, những gói thầu của chính quyền ở toàn bộ khu vực Hoa Đông gần như đều được phân chia cho mấy doanh nghiệp sừng sỏ này, những công ty nhỏ như công ty của anh ta tiến bước vô cùng khó khăn, Năm ngoái, mấy thành phố mời thầu, anh ta không hề giành được một đơn hàng nào, hiện tại tiền vốn của công ty đã ở mức báo động phá sản. Nếu mấy tháng này vẫn không có đơn đặt hàng, thì anh ta sẽ phải thể chấp số bản quyền phát minh của mình cho bên đầu tư, toàn bộ tâm huyết trong những năm vừa qua sẽ đều tan thành mây khói. Nhiệm vụ nước sôi lửa bỏng trước mắt, là có thêm một khoản tiền, chỉ cần sau đó có đơn đặt hàng, công ty sẽ cải tử hoàn sinh. Thế là, anh ta nghĩ đến bố vợ. Bố mẹ vợ anh ta đều là phần tử trí thức, từng đi du học vào thập niên tám mươi thế kỷ trước, sau này về nước thành lập công ty ngoại thương, những năm đã qua tích lũy được không ít. Anh ta hy vọng có thể vay được ba mươi triệu tệ từ bố vợ, để vượt qua giai đoạn khó khăn. Có điều, tình hình không hề lạc quan, dù thế nào, con rể cũng là người ngoài, trong nhà còn có một cậu em trai. Ngay từ đầu bố vợ đã không ủng hộ anh ta khởi nghiệp, ông nói rằng tính cách anh ta chỉ phù hợp với việc làm một kĩ sư làm công ăn lương. Hồi đầu năm khi biết công ty anh ta gặp khó khăn về tiền vốn, ông đã nói luôn là sớm vật lộn cho xong rồi quay về đi làm. Hơn nữa bố vợ đã từng thất bại trong việc đầu tư, mười năm trước khi khu đô thị mới Đại Giang Đông được đưa vào đầu tư phát triển, bố vợ đã mua một dãy ki ốt và một căn biệt thự độc lập. Không ngờ kế hoạch đầu tư phát triển của chính quyền mãi không thấy triển khai, cho đến nay khu vực đó vẫn để hoang. Thời đó việc in tiền của chính quyền không như bây giờ, đầu tư cả chục triệu là một khoản tiền khổng lồ. Từ đó trở đi, bố vợ vô cùng thận trọng trong chuyện đầu tư, huống hồ lại là đầu tư cho Công ty sắp phá sản của anh ta, Nhưng tình hình đi đến nước này, anh ta cũng chỉ còn cách dày mặt thử xem. Hôm nay anh ta đến gặp bố vợ một mình, theo như cách nói của Hà Mộng Phi vợ anh ta thì anh ta đến nói chuyện trước, nếu bị từ chối, hai vợ chồng cùng về một chuyến nữa, dù sao cũng có thêm một cơ hội, bố vợ cũng không đến mức thấy chết mà không cứu, thế nào cũng có khả năng cho vay một ít tiền. Thường buổi chiều bố vợ mới đến công ty, nên anh ta qua gặp buổi sáng, sẽ có thoải mái thời gian để thuyết phục ông. Thẩm Nghiêm đánh vô lăng, chiếc xe ra khỏi con đường chính, rẽ vào một con đường nhánh, chẳng mấy chốc tiến vào một khu biệt thự, đến trước một căn biệt thự riêng biệt, cánh cổng cảm ứng bluetooth nhận tín hiệu trên xe, tự động mở, một tòa nhà mang phong cách kiến trúc của Pháp xuất hiện trước mắt. Đây là một căn biệt thự có bốn tầng trên mặt đất và hai tầng hầm, tổng diện tích hơn 700 mét vuông, bên trong biệt thự có thang máy chuyên dụng, mấy năm gần đây rộ mốt lắp thang máy gia đình. Chiếc ô tô vòng ra phía sau căn nhà, xuống nhà để xe ở tầng 2 tầng hầm, Thẩm Nghiêm vừa ra khỏi xe, liền dừng bước Không thấy ô tô của bố vợ, không lẽ ông đã đi ra ngoài? Thẩm Nghiêm vẫn nuôi hy vọng, anh ta đi đến phía trước thang máy, lấy thẻ điều khiển cảm ứng, đưa qua thiết bị quẹt thẻ, bước vào thang máy, lên tầng 1, ra khỏi thang máy là phòng khách của căn biệt thự, lúc này, trong phòng khách cũng không có người, toàn bộ căn biệt thự tĩnh mịch như tờ. “Bố ơi... Mẹ ơi?” Thẩm Nghiêm hướng về phía lối lên cầu thang gọi to mấy tiếng, không hề có tiếng trả lời. Anh ta lấy điện thoại di động, gọi cho bố vợ, trong lúc chờ đợi, anh ta ôn lại trong đầu những lời đã chuẩn bị sẵn, nhưng còn chưa kịp lên tiếng thì đã nghe thấy tín hiệu báo điện thoại di động của bố vợ tắt máy, anh ta gọi lại lần nữa, kết quả vẫn thế. Thẩm Nghiêm không cam tâm, lại gọi đến công ty của bố vợ. Trợ lý của bố vợ nghe điện thoại, nói là hôm nay chưa thấy sếp của anh ta đến công ty Thẩm Nghiêm đành gọi cho mẹ vợ, định bảo với bà là anh ta đến nhà, không ngờ điện thoại di động của mẹ vợ cũng tắt máy. Xem ra hôm nay mất công đến mà không được gì, dũng khí và những lời chuẩn bị từ lâu đều vô ích, Thẩm Nghiêm đành ra về. Anh ta xuyên qua phòng khách, đi về phía thang máy, đi được vài bước bỗng dừng lại, trong lòng chợt dâng lên một cảm giác kì quặc. Anh ta dừng lại mấy giây rồi quay người như thể hiểu ra điều gì đó, quan sát phòng khách một lần nữa, rất nhanh chóng, anh ta đã hiểu ra vấn đề nằm ở đâu. Trên mặt bàn uống nước còn để một chiếc kính, đây là kính của bố vợ, bố vợ bị loạn thị, đeo kính quanh năm. Thẩm Nghiêm cau mày, liên tưởng đến căn hầm để xe trống không, nhà không thuê lái xe, bố vợ tự lái, một người luôn phải đeo kính khi lái xe ra ngoài, làm sao có thể quên kính được? Bố vợ không có ở công ty, hai chiếc điện thoại di động đều tắt máy, kính bỏ ở nhà, nhưng xe ô tô đã lái ra ngoài. Thẩm Nghiêm ngẩng đầu lên, đưa mắt nhìn thẳng về phía cầu thang, căn nhà mênh mông trống trải khiến anh ta có những dự cảm không lành, anh ta bước từng bước đi lên cầu thang. Khi đến căn phòng ngủ của bố mẹ vợ ở tầng 3, chỉ nhìn một giây, anh ta lập tức nhận ra là đã có chuyện. Một chiếc gối rơi trên sàn, ga trải giường xô lệch, cửa sổ mở toang, rèm cửa sổ đung đưa theo gió. Tiếp đó, anh ta đưa mắt nhìn sang chiếc bàn trang điểm, chiếc gạt tàn thuốc lá ở đó chặn trên một mảnh giấy bằng lòng bàn tay. Trong phòng chỉ huy đội Điều tra hình sự Công an thành phố, đại đội trưởng Lâm Kỳ liếc qua tấm ảnh trên bàn, trong ảnh là một mảnh giấy, có dòng chữ: “NO.5, người đang ở trong tay tôi, nếu báo cảnh sát sẽ giết ngay con tin.” Lâm Kỳ ngẩng đầu lên, hỏi cậu cảnh sát trẻ tuổi đứng phía đối diện: “Tình hình bây giờ là thế nào?” “12 giờ đêm hôm qua, qua camera giám sát ở cổng khu chung cư thấy một chiếc xe Mercedes của chủ một căn hộ đi ra, lúc lái xe, tên tội phạm bắt cóc đeo khẩu trang và đội mũ, không thể nhận diện được. Chúng em đã lấy dữ liệu GPS của chiếc xe từ hãng xe, phát hiện thấy chiếc xe đỗ ở một bãi đất trống cách đó 10 ki-lô-mét về phía bắc, đã tìm thấy chiếc xe, trong xe không có người, nhưng..." Cậu cảnh sát trẻ ngập ngừng. “Nói luôn xem nào!" Lâm Kỳ bực mình gầm lên. Cậu cảnh sát nuốt nước bọt, vì chính bản thân cậu cũng không tin nổi những lời tiếp theo: “GPS hiển thị, sau khi rời khỏi khu đô thị, chiếc ô tô phóng một mạch đến đích với tốc độ gần 300 ki-lô-mét một giờ.”. "300 ki-lô-mét một giờ? Tàu cao tốc à!” Lâm Kỳ cười nhạt một tiếng, giọng chắc nịch, “Ô tô có xịn đến mấy, đường trong thành phố, tốc độ cũng không thể lên đến 300 ki-lô-mét một giờ!”. Cậu cảnh sát lúng túng nói: “Hơn nữa, chiếc ô tô di chuyển theo đường thẳng.” “Thế thì sao?” Lâm Kỳ chưa kịp phản ứng. “Đường phố ngang dọc giao nhau, đi theo đường thẳng, có nghĩa là chiếc xe đã xuyên qua toàn bộ các công trình kiến trúc, phóng thẳng đến đích.”. “Chuyện này là không thể, dữ liệu GPS có vấn đề.” Lâm Kỳ kết luận chắc nịch, số liệu của máy vi tính bị sai cũng là chuyện thường xảy ra. Cũng giống như điện thoại di động chỉ đường, có lúc rõ ràng đang ở con phố này, nhưng lại bị định vị sang con phố khác. “Nhưng... hãng xe đã kiểm tra, số liệu không sai.” Lâm Kỳ không biết nói gì. Tội phạm bắt cóc lái ô tô với tốc độ của tàu cao tốc, xuyên qua mọi công trình kiến trúc phóng thẳng đến đích? Nếu chuyện này có thật, thì một đại đội trưởng quèn như anh ta không thể phá nổi vụ án này, người ngoài hành tinh bắt cóc người trái đất, tính chất của vụ án hẳn phải phi thẳng lên tổ chức Liên hợp quốc. Mời các bạn đón đọc Người Truy Tìm Dấu Vết của tác giả Tử Kim Trần.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Nhân Chứng Câm - Agatha Christie
Cách đây không lâu Agatha Christie, nữ nhà văn Anh nổi tiếng, chuyên viết truyện trinh thám, đã qua đời, hưởng thọ trên chín mươi tuổi. Truyện đầu tay của bà xuất hiện năm 1920. Suốt trên sáu mươi năm cầm bút, bà đã viết hàng mấy trăm truyện về tiểu thuyết trinh thám. Nhiều nước trên thế giới đã dịch in tuyển tập của bà, hoặc dựng thành phim. Agatha Christie khác với một số khá đông các nhà văn viết truyện trinh thám phương Tây. Bà không lạm dụng những sự việc rắc rối bí ẩn hoặc bất ngờ để làm chốt dẫn truyện. Bà chú ý đi sâu vào tâm lý con người. Nhân vật các truyện của bà bao giờ cũng được đặt vào những tình huống tâm lý xã hội phức tạp. Câu chuyện phát triển theo sự diễn biến của tâm cảnh các nhân vật và được giải quyết qua cách nhìn nhận thấu đáo cơ sở tâm lý xã hội của những hành động phạm pháp. Ngôn từ các nhân vật trong các truyện của bà rất phong phú thể hiện được tính cách nguồn gốc xã hội của họ, từ giới thượng lưu đến bọn lưu manh đao búa, đồng thời vẫn giữ vẻ độc đáo, gọn gàng, chính xác của tiếng Anh hiện đại. Do đó, như nhà nữ phê bình người Mỹ Ruth Penison đã viết: "Những truyện của Agatha Christie đã phác họa cho các thế hệ mai sau một bức tranh sinh động và chính xác về xã hội nước Anh hiện tại mà bà am hiểu rất tường tận." *** Ngày 1 tháng 5, tiểu thư Arundell từ trần sau một cơn đau ngắn ngủi. Cái chết của tiểu thư không gây ra bất kỳ một chút kinh ngạc nào ở cái thị trấn thôn dã Market Basing nhỏ nhoi này, nơi tiểu thư đã sống từ năm mười sáu tuổi. Thực ra cô gái già này đã quá tuổi bảy mươi, và ai cũng biết là sức khỏe của bà khá mỏng manh. Mười tám tháng trước, bà đã bị một cơn đau gan giống hệt cơn vừa mới rước bà đi. Nếu cái chết của tiểu thư Arundell không làm ai ngạc nhiên thì tờ di chúc của bà lại không phải như vậy. Những ý nguyện cuối cùng của nữ chủ nhân biệt thự Littlegreen đã gây ra ở những người thân của bà biết bao cảm xúc rất khác biệt: kinh ngạc, vui mừng, chê bai, giận dữ và thất vọng. Trong nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng ở Market Basing người ta không nói đến chuyện gì khác cả. Mỗi người phát biểu một cách, từ ông John, bác hàng khô, nhà bảo vệ quyền gia đình đến bà Lampri, cô hàng thuốc lá, ai cũng lặp đi lặp lại cả ngày rằng: "Chắc có gì ám muội đây! Các vị cứ nhớ lấy lời tôi!". Chuyện tiểu thư Arundell viết tờ di chúc này, ngày 21 tháng 4 nghĩa là chỉ ít ngày trước khi chết, cũng đủ để khuấy động tâm trí người ta lên rồi. Hơn nữa, nếu ta biết rằng những người thân cận nhất của Emily Arundell đã đến Littlegreen nghỉ lễ Phục sinh thì sẽ dễ dàng hiểu rằng những giả thuyết tai tiếng nhất đã được phát ra, đem đến cho cuộc sống buồn tẻ của cư dân Market Basing một trò giải khuây thú vị. Người ta ngờ rằng bà Wilhelmina Lawson, tùy nữ của tiểu thư Emily Arundell đã biết nhiều về vụ rắc rối này mà không định nói ra. Tuy thế bà Lawson vẫn khẳng định là mình không biết gì hơn những người khác, và còn tỏ ra sững sờ khi đọc tờ di chúc. Nhiều người nghi ngờ tính thành thực của bà ta. Dù sao thì cũng có một người duy nhất biết đích xác bí mật này: Đó là người chết. Theo thói quen, tiểu thư Arundell chỉ hỏi ý kiến bản thân mình để soạn thảo những ý nguyện cuối cùng của mình và bà cũng tránh bộc lộ cho công chứng viên của bà biết những lý do đã buộc bà đổi ý vào giờ chót. Sự giữ kín này của tiểu thư Arundell là điểm nổi bật về tính cách của bà. Là sản phẩm điển hình của thời Nữ hoàng Victoria, bà có những ưu điểm cũng như những khuyết điểm của thời đại. Bề ngoài kiêu kỳ trong bà ẩn giấu một trái tim vàng. Lời nói của bà ngấn gọn, nhưng hành vi của bà biểu lộ một tâm hồn nhân hậu. Và trong thâm tâm bà bảo tồn nhiều điều tế nhị. Các tùy nữ không tồn tại được lâu ở Littlegreen: tiểu thư Arundell vừa hành hạ họ không thương tiếc, vừa đối đãi rộng lượng với họ. Hơn nữa còn bày tỏ công khai là bà hết sức tôn sùng gia đình dòng họ mình. Thứ Sáu trước ngày Chủ nhật Lễ Phục sinh, Emily Arundell ngồi ở tiền sảnh nhà mình và ra chỉ thị cho bà Lawson. Thời con gái, Emily Arundell rất xinh đẹp. Hiện nay cô gái già này vẫn giữ được dáng dấp thanh nhã, cũng còn rất năng động. Nước da bà khá vàng, cho ta biết bà vẫn phải thực hiện chế độ ăn kiêng. Tiểu thư Arundell nói với bà tùy nữ: - Này u! U đã thu xếp cho họ chỗ nghỉ ở đâu rồi? - Quả là con tin... con hy vọng đã xếp sắp ổn rồi... Bác sĩ Tanios và phu nhân ở phòng gỗ sồi, Theresa ở phòng sơn xanh, còn cậu Charles ở phòng ngày xưa dành cho trẻ con... Tiểu thư Arundell ngắt lời bà ta: - Tốt hơn cho Theresa ở phòng trẻ con, còn phòng xanh để cho Charles. - Vâng, vâng... con xin lỗi... con tưởng phòng trẻ con là thích hợp hơn với... - Theresa ở đó sẽ rất tốt. Tiểu thư Arundell thuộc thế hệ coi phụ nữ là thứ yếu. Trong mắt bà, nam giới là bộ phận quan trọng trong xã hội. - Con tiếc rằng các con nhỏ của bà Tanios không đến. - Bà Lawson nói thì thào, giọng buồn buồn. Bà rất yêu trẻ nhưng lại tỏ ra kém khả năng cai quản chúng. - Bốn vị khách là vừa đủ cho chúng ta rồi. - Tiểu thư Arundell vặc lại, bà rất nuông chiều các cháu bà, còn họ chẳng chịu nghe lời bà chút nào. U Lawson thở dài nói: - Bella Tanios là một người mẹ hiền từ. - Phải, Bella, rất tốt. - Tiểu thư Arundell chấp nhận. ... Mời các bạn đón đọc Nhân Chứng Câm của tác giả Agatha Christie.
Tên Trộm Xác Người - James Bradley
Tên Trộm Xác Người là tác phẩm thứ ba của nhà văn người Úc James Bradley, sinh năm 1967. Ông được nhật báo Sydney Morning Herald hai lần phong tặng danh hiệu là một trong “Những tiểu thuyết gia trẻ người Úc tài ba nhất”. Hiện ông sinh sống ở Sydney. Câu chuyện kể về Gabriel Swift, một sinh viên y khoa ngành phẫu thuật. Anh tới London vào năm 1826 để theo học với Edwin Poll, một bác sĩ phẫu thuật lớn. Từ những giao dịch mua bán tử thi, Swift dần lún sâu vào con đường tội lỗi do sự dụ dỗ của Lucan, kẻ nhiều quyền lực nhất trong số những tên đào trộm xác chết của thành phố và cũng là tên trùm cai quản hoạt động này. Bị bác sĩ Poll đuổi học, Gabriel bị cuốn vào thế giới ngầm tàn ác và bí ẩn của thủ đô London thời kỳ Georgian, trở thành một tội phạm. Dù sao, sự cứu rỗi đã đến với Swift ở phần cuối sách. Quyển tiểu thuyết dựa một phần vào sự kiện có thật về hai tên giết người hàng loạt Burke và Hare hồi đầu thế kỷ 19 ở Anh và các hoạt động mua bán xác người của các bệnh viện hay trung tâm phẫu thuật lúc bấy giờ. Truyện không phân theo chương nên khó theo dõi nếu bạn đọc không đọc liền một mạch. Rất cảm ơn sự ủng hộ của các bạn. Sài Gòn, tháng 4/2015 ★★★ “Chúng ta chào đời cùng người chết Thấy chăng, họ quay về, và mang chúng ta theo.” — T.S. Eliot, Four Quartets ★★★ “Nhiều tháng sau khi bạn đã khép lại trang sách cuối, những câu chữ của James Bradley vẫn còn đọng trong tâm trí bạn: Đẹp, hấp dẫn và không thể nào quên.”  — Markus Zukas, tác giả quyển The Book Thief “Một thiên tiểu thuyết lãng mạn kinh dị đầy chất cổ điển.”  — Daily Telegraph “Một quyển truyện kinh dị trần trụi, khơi gợi suy tư… Khi bạo liệt, khi đầy triết lý, quyển truyện này đầy ắp không khí.”  — Big Issue ★★★ London, 1826-1827 Họ nằm trong những cái bao tời như nằm trong tử cung của mẹ; gối chạm cằm, đầu ép xuống, như thể chết chỉ đơn giản là quay về với nhục thể mà từ đó chúng ta sinh ra, và đây là sự thụ thai lần thứ hai. Một sợi thừng sau gối giữ họ trong tư thế đó, một sợi khác cột đôi tay họ, rồi miệng bao khép lại bên trên họ và được cột ràng lần nữa, toàn thể trông như một gói đồ nén chặt, đã được ngụy trang một cách dễ dàng, vì nếu bị người bên ngoài nhìn thấy, một thứ hàng hóa như thế sẽ thu hút cả một đám đông. Thế rồi một con dao cắt phăng sợi thừng cột bao, và người này nhấc lên, người nọ kéo, chúng tôi lôi những thứ bên trong bao ra, đặt họ duỗi dài lên mặt bàn, trần truồng và giá lạnh, như một con bê hoặc một em bé chuồi ra khỏi lòng của mẹ, sợi dây và cái bao được giữ lại, vì một lát sau chúng tôi sẽ dùng lại chúng, để thu dọn những mảnh xác bị cắt rời. Chúng tôi cùng giữ chặt họ, kéo thẳng thi thể họ ra lần nữa. Dù tứ chi của họ không mềm quặt mà cũng không cứng lại, bất chấp sự giá lạnh vẫn còn nấn ná bên trong, tình trạng cứng đờ của họ đã bị phá vỡ bên cạnh nấm mồ khi họ bị bẻ gập lại và cột ràng để nhét vào bao. Lúc này, họ duỗi ra dưới bàn tay nắm giữ của chúng tôi, di chuyển với sự dễ uốn nắn lạ lùng của một thân hình nằm giữa cái chết và tình trạng thối rữa. Đấy là một công việc ghê tởm, thế nhưng sự ghê tởm không nằm ở việc đứng gần người chết mà ở sự thân mật nó đòi hỏi từ chúng tôi, sự cận kề với xác thịt và vật chất của thi thể họ. Khi họ đã được uốn nắn xong, nằm tái nhợt và trần truồng trên bàn, chúng tôi bắt tay vào việc. Trước hết chúng tôi lật úp họ xuống, để lộ phần lưng và mông lốm đốm tím và xanh giống như những vết bầm do máu đã tụ lại suốt nhiều giờ sau khi chết. Nếu lớp thịt bắt đầu thối rữa, sẽ có những chỗ phồng dộp, mềm, nhũn nước và tái nhợt, có thể vỡ toang nếu bị chạm vào, nhưng khi đó, lớp da cũng ẩm ướt do thứ chất lỏng giống như mồ hôi rỉ ra từ chúng. Đôi khi, những người liệm xác sẽ nút kín những lỗ hậu môn, và nếu thế, những vật đó phải được lấy ra khỏi xác. Sau đó, với giẻ lau, nước và dấm, chúng tôi bắt đầu rửa ráy cho họ, đôi tay cẩn thận di chuyển qua lớp da của họ, mùi dấm lẫn vào những thứ mùi u ám hơn bám vào họ, chúng tôi tiết chế những cử động nhưng không phải không lau chùi một cách nhẹ nhàng. Khi đã làm xong phần lưng và hai cẳng chân, chúng tôi lật họ trở lại, lau từ bàn chân lên háng, từ háng lên ngực, hai cánh tay và hai bàn tay, cuối cùng tới bộ mặt. Ở đây chúng tôi làm việc cẩn trọng nhất, lau quanh những đầu xương và chỗ nhô lên với những tấm giẻ gấp gọn, quanh đôi gò má, quanh phần trũng quanh mắt. Đôi khi hai mí mắt vẫn còn hé mở, cứng đờ, đôi mắt bên dưới mờ đục và không màu sắc như mắt của những người rất già. Khi lau rửa xong xuôi, chúng tôi xuống sân lấy nước, xà bông và dao cạo. Nước lạnh, dùng cho thi thể lạnh. Thế rồi, kéo thẳng lớp da chùng, chúng tôi bắt đầu cạo; trước tiên là phần da đầu và mặt, tóc ướt được tách thành từng lọn để lộ ra phần u lên của cái sọ; sau đó là lồng ngực và hai nách; rồi cuối cùng là bộ phận sinh dục, lưỡi dao cạo soàn soạt lướt trên lớp da. Đôi khi chúng tôi cắt phạm vào họ, nhưng chẳng có chút máu nào chảy ra, vết đứt tái nhợt và trống rỗng. Tôi không thể nói do đâu chúng tôi biết rằng đây là công việc cần phải được tiến hành trong im lặng. Chỉ biết cách thức là thế, phải luôn là thế. Vào những lúc khác chúng tôi di chuyển quanh họ như thể họ không nằm đó, nói cười với nhau trong lúc lôi kéo, cắt và dọn dẹp những mảnh thịt, gạt chúng sang bên một cách ngẫu nhiên giống như gạt sang bên một cuốn sách hay cái áo khoác đang nằm ở nơi ta định ngồi xuống. Nhưng lúc này chúng tôi lặng lẽ làm việc, không nói nhiều hơn mức cần thiết. Như thể việc rửa ráy người chết này chính là một nghi lễ: giống như người ta rửa sạch những thứ nhớt nhau từ lòng mẹ trên thân hình một em bé, chúng tôi chùi sạch mùi âm ty địa ngục khỏi những xác chết bị đánh cắp đó, đưa chúng mới tinh khôi vào thế giới. Khi công việc đã hoàn tất, mấy cái bao đã được gấp lại gọn gàng, mấy cái xô đã trút sạch nước, những tấm giẻ đã được vắt và phơi, bắt đầu tới việc tính tiền. Thầy chúng tôi kỹ lưỡng nhất trong việc lưu giữ sổ sách tiền nong, và số tiền trả cho Caley và Walker phải được ghi lại: tám đồng tiền vàng cho một xác đàn ông hay phụ nữ đã trưởng thành, hay thứ chúng tôi gọi là một cái lớn; bốn đồng tiền vàng cho một đứa trẻ con, hay một cái nhỏ; một siling mỗi phân Anh cho thứ mà chúng tôi gọi là một bào thai, hay một em bé dài chưa tới một bộ Anh. Và cứ vậy, trong lúc tôi lau sàn, Robert lặng lẽ tính toán trên cuốn sổ cái, ghi lại những khoản thanh toán, kiểm lại số tiền còn tồn trong hộp đựng tiền, gương mặt giấu sau một tấm mặt nạ lặng buồn mà anh luôn khoác lên khi nghĩ rằng mình không bị ai quan sát. ... Mời các bạn đón đọc Tên Trộm Xác Người của tác giả James Bradley.
Giả Thuyết Thứ 7 - Paul Halter
Một ngày nọ ở Luân Đôn, có hai người đàn ông tài ba danh giá quá chẳng để làm gì, đã chơi tung đồng xu để thách thức tài trí nhau. Theo đó người thắng phải gây ra một vụ án mạng kiểu gì cũng được, sao cho bản thân mình có đầy đủ chứng cứ ngoại phạm, còn các manh mối phạm tội sẽ đổ dồn vào người thua. Một âm mưu thoạt nhìn chỉ để cho vui, cuối cùng như hơi độc thổi bung ra trong không khí, xé toang lồng ngực bao nhiêu người khác, lại cũng làm ngạt thở chính mình. Bởi vì mạng người chưa và không bao giờ là thứ nên đem ra làm trò đùa cợt. Paul Halter, nhà văn trinh thám người Pháp, sở hữu gia tài gồm hơn 30 tiểu thuyết cùng các giải thưởng trong nước và quốc tế. Ông được ưu ái mệnh danh là “Bậc thầy của những căn phòng khóa kín”. Truyện của ông độc đáo vì đã xây dựng được những câu đố và âm mưu tội ác gần như không tưởng. Dùng tiểu thuyết “chuyên chở thông điệp xã hội, khám phá các vấn đề nhân đạo và triết học” cũng trở thành một điểm nhấn khó phai khi nói về Paul Halter. *** Khoảng 10 giờ tối, cảnh sát Edward Watkins đi ngang cung điện St. James như ông vẫn làm nửa tiếng một lần vào những buổi tối phải trực thế này. Nhiều năm qua, ông đã đều đặn thực hiện đúng lộ trình đó mà không gặp sự cố gì. Thi thoảng chạm trán một tay say xỉn có phần ngỗ ngược không thể bỏ qua, nhưng đám đó cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Khu vực này rất yên bình, yên bình như cuộc đời cảnh sát viên của ông, khi ông đã đi mòn gót, tâm trí chỉ nghĩ về thời khắc nghỉ hưu sắp tới bên người vợ yêu quý của mình. Một cuộc đời chẳng có biến cố gì, thực vậy - cho tới đêm 31 tháng Tám năm 1938. Hai bàn tay đan chéo sau lưng, chiếc mũ cát kéo sụp xuống đầu, thứ âm thanh duy nhất ông nghe được là tiếng bước chân của chính mình trong cái khu vực đang say ngủ, chìm trong bóng đổ của những tòa nhà gớm ghiếc cao ngất bao quanh. Đêm khá lạnh và màn sương nhẹ lững lờ buông xuống phần mặt tiền đầy vẻ hăm dọa. Ông rẽ xuống phố King, đi được nửa chừng thì dừng lại ngó qua vai, như một việc rất bình thường. Đúng lúc ấy, ông nghe tiếng bước chân ở đâu kia phố King, ngay chỗ ngã tư với phố Bury. Nhưng khi vòng trở lại, ông chỉ thấy cái bóng của một kẻ qua đường, hắt lên bức tường cách đó hơn chín mét nhờ một ngọn đèn đường năm ở góc ngã tư. Cảnh sát Watkins đứng yên vài giây, miệng há hốc. Mặc dù chỉ thấy cái bóng trong một thoáng, ông cũng đủ nhận ra một điểm dị thường: Nó có cái mũi dài lạ lùng. Không phải dài hơn mức bình thường vài phân, mà dài một cách quái đản, dễ chừng bằng cả vành mũ rộng mà kẻ đó đang đội. Quỷ quái gì vậy? Một gã cải trang thành chim chăng? Edward Watkins đứng yên thêm vài giây nữa, tâm trí quay cuồng. Khi trấn tĩnh lại, ông rảo bước tới góc phố Bury và nhìn dọc xuống lối đi, vừa kịp thấy nhân vật kia sắp rẽ phải vào một hẻm ở quãng giữa phố, nơi hình như có thêm nhân vật khác đã đến từ trước. Watkins chưa xác định được nhân dạng của kẻ thứ hai, nhưng thoáng thấy thứ gì đó rất giống áo choàng. Diễn biến tiếp theo khá nhanh. Nhân vật kia, có lẽ bị đánh động bởi tiếng chân bước của viên cảnh sát, quay phắt lại đối diện với ông và, lộ rõ vè ngạc nhiên, nó vọt nhanh vào ngõ hẹp. Trong những tình huống bình thường, viên cảnh sát sẽ lập tức bám theo. Nhưng những gì ông vừa thấy - và đặc biệt là vào thời điểm đó - lạ lùng đến mức phải mất vài phút quý giá tâm trí ông mới phục hồi được. Nhưng các giác quan thì không hề phản bội ông và hình ảnh dị thường kia vẫn rõ rệt trong tâm trí: áo choàng dài đến mắt cá chân, đôi tay đeo găng, chiếc mũ rộng vành, và thay vì khuôn mặt, lại chình ình một chiếc mặt nạ trắng ởn mà ở chính giữa là cái mũi dài ít nhất cũng hơn ba mươi phân. Mặc dù chưa bao giờ nhìn thấy hình ảnh ấy bằng xương bằng thịt, nhưng ông đã xem đủ minh họa để hiểu ra: Ông vừa nhìn thấy một bác sĩ dịch hạch. Một bác sĩ dịch hạch. Đã từng có dịch hạch ở Luân Đôn. Những câu chuyện về bệnh dịch khủng khiếp vụt qua tâm trí ông: Người chết nhiều như ruồi trên đường phố, quằn quại trong đau đớn, thân thể đầy mụn mủ, mí mắt thâm đen, gương mặt teo tóp. Xác chất đống lên xe đẩy, rồi trút xuống hào sâu bên ngoài thành phố, nơi một sự hoảng loạn không tên ngự trị, nơi gần như không thể trốn chạy, và nơi người sống trong những ngôi nhà bị nhiễm bệnh chết vì đói hơn là vì dịch hạch. Viên cảnh sát xua dòng ý nghĩ hắc ám ấy đi và định thần lại. Ba trăm năm nay không còn dịch hạch ở Luân Đôn, đã có nhiều hiện pháp hiện đại để kiểm soát nó. Hơn nữa, các bác sĩ không còn lang thang trên đường phố trong bộ trang phục kỳ dị này nữa. Người ông vừa nhìn thấy hoặc là một người đi dự tiệc hoặc một dạng tội phạm nào đó đang chuẩn bị ra tay. Không, như thế thật vô nghĩa. Có nhiều cách kín đáo hơn để che giấu nhân dạng. Vậy thì là gì chứ? ... Mời các bạn đón đọc Giả Thuyết Thứ 7 (Dr. Twist #6) của tác giả Paul Halter.
Kẻ Giết Người Đội Lốt - Erle Stanley Gardner
Theo GUINNESS, quyển sách ghi các kỷ lực thế giới, Erle Stanley Gardner được ghi nhận là tác giả sách bán chạy nhất của mọi thời đại. - Erle Stanley Gardner có trên 150 tác phẩm trinh thám tin cậy, đáng giá và hợp thời đại. - Erle Stanley Gardner, người đã tạo nên nhân vặt truyền kỳ luật sư Perry Mason, cô thư ký tinh ý Della Street, và viên thám tử tài ba Paul Drake. - Erle Stanley Gardner, tác giả duy nhất có sách bán chạy hơn cả bốn tác giả nổi tiếng khác cộng lại gồm: Agathe Chistie, Harold Robbins, Barbara Cartland và Louis L’amour   *** Một số tác phẩm đã được xuất bản tại Việt Nam:   1. Móng vuốt bọc nhung (Đôi tất nhung) [Perry Mason #1 - The Case of the Velvet Claws] (1933) 2. Cháu gái người mộng du [Perry Mason #8 - The Case of the Sleepwalker's Niece] (1936) 3. Vị giám mục nói lắp [Perry Mason #9 - The Case of the Stuttering Bishop] (1936) 4. Kẻ hùn vốn [Perry Mason #17 - The Case of the Silent Partner] (1940) 5. Con vịt chết chìm (Mười tám năm sau) [Perry Mason #20 - The Case of the Drowning Duck (Le Canard Qui Se Noie)] (1942) 6. Cô gái có vết bầm trên mặt [Perry Mason #25 - The Case of the Black-Eyed Blonde (La Blonde au Coquard)] (1944) 7. Lá thư buộc tội [Perry Mason # 44 - The Case of the Runaway Corpse] (1954) 8. Viên đạn thứ hai [Perry Mason #45 - The Case of the Restless Redhead] (1954) 9. Con mồi táo bạo [Perry Mason #54 - The Case of the Daring Decoy] (1957) 10. Kẻ mạo danh [Perry Mason #64 - The Case of the Spurious Spinster] (1961) 11. Người đàn bà đáng ngờ [Perry Mason #69 - The Case of the Mischievous Doll] (1963) 12. Vụ Án Hoa Hậu Áo Tắm [Perry Mason #78 - The Case of the Queenly Contestant] 13. Kẻ Giết Người Đội Lốt [Perry Mason #40 - The Case of the Grinning Gorilla] (1952) 14. Tiếng Chó Tru Trong Đêm [Perry Mason #04 - The Case of the Howling Dog] (1934) 15. Người Được Minh Oan [Perry Mason #27 - The Case of the Half-Wakened Wife] (1945) 16. Người Đàn Bà Đáng Sợ [Perry Mason #53 - The Case of the Lucky Loser] (1958) *** Vào sáng thứ hai, mười giờ kém năm, Perry Mason, cặp dưới nách một gói bọc giấy màu nâu, một tay gỡ cái mũ phớt và ném về phía bức tượng bán thân Blackstone vốn là thứ trang điểm cái giá sách phía sau bàn làm việc của ông. Chiếc mũ phớt lười biếng quay mấy vòng rồi chụp thẳng xuống vầng trán cẩm thạch của vị luật sư lừng tiếng, tạo cho ngài một vẻ ngang tàng quái đản. Della, cô thư kí riêng của Mason đang mở thư tín buổi sáng bên bàn, vỗ tay hoan hô. “Chà, lần này thực sự thành công lắm!” Mason đồng tình với niềm kiêu hãnh kiểu trẻ con. “Blackstone chắc là phải nhảy chồm lên ở dưới mồ,” Della nhận xét. Mason mỉm cười. “Ông ấy đã quen từ lâu rồi. Năm mươi năm gần đây tất cả các luật sư chỉ có làm mỗi việc là chất mũ của mình lên vầng trán cao thượng của Blackstone. Điều đó là đặc trưng trong thời đại chúng ta.” “Đó là điều gì chứ?” “Ném mũ.” “Tôi sợ là không hiểu được hết ý nghĩa.” “Vài thế hệ trước,” Mason giải thích với cô, “các luật sư từng là những người chán ngắt hiếm thấy. Đặt tay lên vạt áo vét, họ nói những diễn từ cầu kì theo mọi quy tắc của nghệ thuật hùng biện. Các văn phòng của họ nhất thiết phải được trang điểm bằng tượng bán thân của Blackstone. Thế nhưng các luật sư trẻ được thừa kế các bức tượng cùng với đồ đạc văn phòng và hàng đống bộ luật thì phát cáu bởi cái vẻ tự mãn khoa trương đông cứng trên bộ mặt bằng đá của lão già này.” “Chắc là anh cần phải đến gặp nhà phân tâm học, sếp ạ,” Della nói. “Có lẽ đối với anh Blackstone tượng trưng cho cái gì đó mà anh cố sức chống chọi lại một cách vô thức. Thế cái gói gì chỗ anh thế?” “Có quỷ mới biết nó,” Mason đáp. “Theo tôi, tôi cố sức chống chọi các định kiến u tối. Tôi đã trả mất năm đôla - tôi có ý nói cái gói ấy.” Trong giọng Della che giấu lòng bao dung dịu dàng sau vẻ giận dỗi giả tạo, “Tôi hi vọng anh không định ghi khoản đó vào chi phí công vụ chứ?” “Tất nhiên, tôi sẽ ghi. Chứ khác đi thì theo cô các chi phí chung là cái gì?” “Và anh thậm chí không biết cái gì bên trong đó ư?” “Tôi mua nó mà không giở ra.” “Tôi sẽ hơi khó quyết toán, nếu phải ghi vào cột chi năm đôla vì cái gói mà không rõ có gì nằm trong đó. Điều gì đã xui khiến anh như thế?” “Nói chung,” Mason thốt ra, “sự thể là thế…” Ông mỉm cười. “Nào tiếp theo là gì?” Della hỏi, cũng không đủ sức kìm nổi nụ cười. “Cô nhớ cái cô Helen Cadmus nào đó không? Cái tên ấy không nói với cô điều gì sao? “ “Một cái tên khá lạ,” cô nói. “Tôi có cảm giác… Khoan, đó có phải là cô gái đã tự tử, nhảy xuống biển từ tàu buồm của một nhà triệu phú nào đó?” “Phải, phải, chính cô ta. Benjamin Addicts, một triệu phú khá bất thường, nghỉ ngơi trên chiếc tàu buồm của mình. Giữa biển khơi, cô thư kí của ông ta, Helen Cadmus biến mất không để lại dấu vết. Người ta phỏng đoán là cô ta đã nhảy ra ngoài thành tàu. Mà trong cái gói này… Nào chúng ta cùng xem điều gì viết ở đây.” Mason lật cái gói lại và đọc, “Đồ vật riêng của Helen Cadmus. Văn phòng mõ tòa.” Della thở dài. “Đã bấy nhiêu năm tôi là thư kí riêng của anh… và thậm chí đôi khi tôi có cảm giác rằng tôi đã biết anh khá rõ, nhưng rồi lại xảy ra gì đó như kiểu này, và tôi lại nhận thức rằng anh vẫn là ẩn số đối với tôi. Trời ơi, anh lấy thứ đó ở đâu và vì cái gì mà bỏ ra những năm đôla cơ chứ?” “Mõ tòa khá thường xuyên đưa ra đấu giá đủ thứ vớ vẩn khác nhau chất đống trong văn phòng ông ta. Và hôm nay trong gian nghị án đã có cuộc đấu giá, còn tôi lại vô tình có mặt không xa chỗ đó. Ở đấy diễn ra những cuộc đấu giá khá hăng, tất cả tranh giành các chế tác kim hoàn, các bức tranh quý hiếm, bộ đồ ăn bằng bạc và đủ mọi thứ khác nữa. Sau đó người ta đưa ra đấu giá cái gói này, và chẳng có ai thèm trả giá. Cô cũng biết mõ tòa - ông ta là một bạn tốt của tôi. - Thế là tôi nháy mắt cho ông ta, và đề nghị đặt giá đầu tiên là năm đôla, nhằm kích động công chúng. Và cô biết sao không? Tôi chưa kịp trấn tĩnh thì họ đã dúi cái gói cho tôi rồi, thành ra trong ví tôi bớt đi năm đôla.” “Thế có gì bên trong ấy?” Della tò mò. “Ta cùng xem,” Mason đề nghị. Ông mở con dao díp, cắt dây buộc và mở tờ giấy bọc ra. “Ái chà chà! Giống như chúng ta có được cuốn ngữ pháp tiếng Anh, cuốn từ điển, vài sách giáo trình tốc kí, mấy cuốn nhật kí và quyển album với những tấm ảnh.” “Có thế mà mất những năm đôla!” Della kêu lên. “Ta ngó qua album ảnh xem,” Mason nói. “Chà! Đây có những tấm ảnh mà ai cũng muốn xỉa năm đôla mua nó.” Della đi lại gần và ngó qua vai ông. “Nếu đó được gọi là quần áo tắm,” cô nhận xét, “thì tôi…” “Thế nhưng giống như nó chính là thế,” Mason đáp. “Bộ đồ tắm từ ba mảnh vải hình vuông, bằng cách thần diệu nào đó đã bám được vào các đường nét uyển chuyển của thân hình khá đáng yêu. Tôi cho rằng đó chính là Helen Cadmus.” “Cô ta không che giấu quá nhiều khỏi những con mắt người lạ,” Della nói. “Chắc gì người lạ nào đó đã chụp, có lẽ một cô bạn nào đó của cô ta biết sử dụng máy ảnh, may mắn tóm được khuôn hình gây ấn tượng mạnh. Ồ, ở đây còn cả một tập những bức ảnh của lũ khỉ nữa.” ... Mời các bạn đón đọc Kẻ Giết Người Đội Lốt của tác giả Erle Stanley Gardner.