Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Con Hủi

Không có căn bệnh nào đáng sợ của nhân loại xuất hiện trong câu chuyện, cũng không có người nào mắc phải căn bệnh đó, Con Hủi là cái tên mà trong giới quý tộc gọi nàng, người con gái xinh đẹp, trong trắng như đóa huệ mang tên Stefcia. Nàng có một chuyện tình thơ mộng, đắm say, trong sáng và vô cùng mãnh liệt nhưng lại bi thương đế nao lòng. Bởi người nàng yêu không ai khác chính là đại công tử của dòng họ quyền quý nhất cả nước – Waldemar Michorowski. Họ chống lại những ràng buộc của đẳng cấp quý tộc để đến được với nhau và bảo vệ hạnh phúc đã lựa chọn. Nhưng liệu họ có vượt qua những ra cản khó khăn và hà khắc của giới quý tộc? *** Helena Mniszek tên thật là Ravich Rađô Miska thuộc dòng họ Mniszek Tơkhugiơnhixki, sinh năm 1878 tại điền trang Kurơtrưxe tỉnh Vôlưnhe. Năm 1899 bà lấy ông V. Khugiưnxki, chuyển đến sống ở Platerôvô (Litva), được bốn năm thì chồng qua đời. Năm 1910 bà tái giá, lấy ông A. Rađômiski, theo chồng về điền trang Rôgale, sau đó chuyển đến trang Kukharư ở tỉnh Puôxk (Ba Lan). Năm 1931, bà lại góa chồng, ở với gia đình tại đó. Mùa thu năm 1939, đại chiến thứ hai bùng nổ, bà bị quân Đức đuổi khỏi nhà, phải chuyển đến Xabnhi cùng Pôđlasie rồi mất tại đó năm 1943. Trong 20 năm hoạt động văn học (1909 - 1930) bà để lại nhiều tác phẩm, đáng kể nhất là các tiểu thuyết: Con Hủi (1909), Đại Công tử Mikhôrôvxki (1910), Những ngù lông xào xạc (1911), Cậu chủ (1912), Các quận công của rừng (1912), Gahenna (1914), Những kẻ thờ phụng quỷ sa tăng (1918), Ẩn sĩ ( 1919), Chàng Vecte (1921), Quyển của người (1922), Nhân sự (1922), Hoàng hậu Giezlla (1925), Ông bà chủ (1927), Từ mảnh đất của nước mắt và máu (1927), Hoa Mộc Lan (1928), Những người hậu chiến (1929), Nam châm của những con tim (1930)... và một số tập truyện ngắn khác nữa. Bà còn nhiệt tình tham gia nhiều hoạt động xã hội. Con Hủi là tác phẩm tiêu biểu và nổi tiếng nhất cùa H. Mniszek. *** Review by Âu Dung Hoa:   Nắng chiều vụt tắt, ngày dài cứ thế trôi đi. Tôi ngẩng đầu nhìn phố phường qua làn kính mờ, trong tay là tách trà còn nghi ngút khói. Vị trà khi đắng khi ngọt, đến cuối cùng chỉ vương lại chút dư âm trên đầu lưỡi, luyến tiếc rồi dần tan biến như chưa từng xuất hiện. Bất giác, trong không gian có chút đìu hiu ấy, tôi nhớ lại một cuốn sách mình đã đọc trước đó không lâu. Một chuyện tình buồn... Câu chuyện của chàng Đại công tử Waldemar Michorowski và nàng Xtefchia Rudecka – người con gái không cùng giai cấp. … Nàng Xtefchia là một cô gái xinh đẹp, sinh ra trong một gia đình quý tộc nhỏ ở Vương Quốc. Sau khi tình đầu tan vỡ, quá thất vọng và đau đớn Xtefchia đã quyết định từ biệt cha mẹ đến làm gia sư cho Lucia Elzanowska, em họ của Đại công tước quyền quý nhất nước lúc bấy giờ - Waldemar Michorowski. Trải qua nhiều lần gặp gỡ, vượt qua những hiểu lầm ban đầu, tình cảm của Xtefchia dành cho Waldemar cũng dần thay đổi. Thế nhưng, trước một người “quá tầm với của nàng”, Xtefchia lo sợ ánh mắt của giới quý tộc, nàng đành chôn sâu tình cảm của mình và dùng một trái tim đau đớn để yêu Waldemar. “Xtefchia đã biến thành pho tượng chờ đợi như thế… Nàng đứng nơi đây bởi linh cảm rằng chàng sắp về, và nàng cứ đứng mãi kiên tâm chờ đợi… Hôm nay chàng sẽ tới đây!” Những tưởng tình yêu này chỉ xuất phát từ một phía nhưng đến khi Waldemar đột ngột bày tỏ tình yêu của chàng với Xtefchia, nàng hoảng hốt trốn chạy khỏi vòng tay chàng. Trong một lần về thăm gia đình, nàng được mẹ trao cho một quyển nhật ký của người bà quá cố. Thì ra năm xưa, bà ngoại của nàng và ông nội của Waldemar cũng từng trải qua một tình yêu sâu sắc nhưng đến cuối cùng vẫn không thể chiến thắng được những định kiến giai cấp của xã hội và phải chia tay. Sự thật kia khiến nàng kinh hoàng. Quá khứ lặp lại. Sự giễu cợt kinh khủng của số phận! Tình yêu này không thể che dấu - Xtefchia đã quyết định phải rời đi. “Nhất định ta phải cắt đứt, nhất định ta sẽ chấm dứt, dù tim ta có vỡ tung thành trăm mảnh cũng cam.” … Waldemar Michorowski – Chàng Đại công tử quý tộc giàu có, học thức cao luôn là một “mối” đáng giá với bất cứ cô gái nào gia huy có 5 gậy. So với những người quý tộc truyền thống, tư tưởng của chàng mới mẻ hơn, khách quan hơn và bước ra khỏi những xiềng xích vô hình của định kiến xã hội. Trước khi gặp gỡ Xtefchia, trong quan hệ với phụ nữ chàng vẫn tránh né mọi bổn phận ràng buộc. Thế nhưng từ khi Xtefchia xuất hiện, với học thức uyên thâm cùng phẩm hạnh cao quý như một đóa hoa, nàng đã từng bước cướp đi ánh nhìn và trái tim của Waldemar. Đã có lúc, chàng căm thù Xtefchia, nàng khiến chàng nổi điên vì “chàng không nhận ra bản thân mình nữa.”. Chàng nghiêm túc mổ xẻ lòng mình và đi đến kết luận - Xtefchia là người đã gây cho chàng những tình cảm khác, chàng yêu nàng bằng tình yêu thật sự và hết sức mạnh mẽ. Khác với Xtefchia, khi phát hiện tình yêu của mình dành cho nàng, Waldemar đã kiên quyết buộc nàng thừa nhận tình cảm của bản thân, dùng lý lẽ để bảo vệ tình yêu của họ trước những công kích từ những người thuộc “giới” của chàng với lời thề son sắt. - “Nàng phải là của ta, dù có phải làm đổ sập thế gian đi nữa!” - “Anh sẽ gạt phăng tất cả những gì cản đường chúng mình, anh sẽ đạp đỏ hết thảy mọi chướng ngại. Anh nhất định phải có em!” - “Chẳng lẽ tiểu thư nghĩ rằng tôi cho phép tiểu thư ra đi hay sao?” - “Tiểu thư chỉ có thể rời khỏi nơi đây với tư cách… vợ chưa cưới của tôi mà thôi.” - “Xtefchia Hoặc là em sẽ trở về làm vợ ta… hoặc ta sẽ chết.” Bằng tình yêu và sự kiên quyết của mình, Waldemar đã thực hiện đúng những gì chàng hứa. Bên cạnh chàng, sẽ không có thứ gì đe dọa được Xtefchia nữa. Nàng sẽ là Đại công nương xinh đẹp được mọi người tôn kính. Vốn tưởng rằng, tình cảm chân thành của Waldemar và Xtefchia đã giành chiến thắng nhưng đến cuối cùng Xtefchia đã gục ngã trước ngón đòn đê hèn của giới quý tộc danh giá. Trước đám cưới một ngày, trong bộ áo cưới xinh đẹp, Xtefchia yên ngủ giấc ngàn thu. Nàng ra đi đem theo ánh sáng của Waldemar. Trên ngọn đồi nghĩa địa rợp bóng thùy dương, Waldemar áp chặt mình vào miếng pha lê gắn ảnh nàng, trò chuyện với nàng, trách nàng đã vội đi xa. Chàng ghì chặt nàng vào tim, kéo níu nàng từ dưới những lớp hoa tươi thắm. Chàng muốn xuyên thủng cái đập chắn chia cắt chàng với nàng. Cả cuộc đời chàng như đã theo nàng nằm yên dưới lớp hoa này… … Lần đầu tiên đọc “Con hủi”, tôi thật sự bị những câu văn giàu chất thơ của tác phẩm này lay động và cuốn theo câu chuyện của họ lúc nào không hay. Những mẩu đối thoại ngắn giữa các nhân vật cũng khiến người đọc choáng ngợp và thăng trầm theo cung bậc cảm xúc của chính những nhân vật trong truyện. Mối tình của Waldemar – Xtefchia được ví như một “Romeo và Juliette” thứ hai trên văn đàn văn học thế giới. Thế nhưng, tôi lại thấy câu chuyện của họ có phần bi thảm hơn, họ chiến đấu với cả một giai cấp và nhận được kết quả là âm dương cách biệt. Rồi đến một lúc nào đó, có lẽ Waldemar sẽ vẫn tìm được đường đi cho mình, chàng sẽ gặp lại vị hôn thê Xtefchia ở một nơi khác. Chỉ mong khi ấy, cả hai người sẽ không phải trong tầng lớp hay giai cấp kia nữa, sẽ được sống với tình yêu say đắm của mình. Có thể nói, "Con hủi" là bộ tiểu thuyết phương Tây để lại trong tôi nhiều ấn tượng nhất, để khi nhớ lại, chút dư âm như hương thơm của một ly trà chiều vẫn vấn vương trong tâm trí. Nếu các bạn yêu thích văn học phương Tây, muốn tìm những bộ truyện giàu tính nhân văn, hãy thêm "Con hủi" và list truyện của mình nhé! *** Review Hằng Nga: Đây là cuốn tiểu thuyết tình yêu phương Tây đầu tiên mình đọc. Lần đầu cầm cuốn sách là vào năm lớp 8, do đi mượn nên mới đọc được một nửa đã phải trả. Sau này lúc nên cấp ba tìm mua mãi. Và cái gì đầu tiên cũng đẹp nên đến giờ đây vẫn là một trong những cuốn sách mình trân trọng nhất. Một câu chuyện tình yêu rất đẹp được ngta ví như một "Romeo và Juliet mới". Cái này mình không chắc lắm vì mình thấy hai khía cạnh mà câu chuyện khai thác có chút khác nhau. Xtefchia và Valdermar, hai con người xuất thân từ những tầng lớp khác biệt nhưng họ đã gặp và yêu nhau. Ban đầu giữa họ là rất nhiều những hiểu nhầm, mỗi khi gặp nhau không phải chàng trêu chọc nàng thì là nàng khinh thường chàng. Khá là đáng yêu. Về sau, khi hai người gỡ bỏ những định kiến và hiểu về đối phương thì họ đã bị nhau thu hút, đã fall in love lúc nào không biết. Nàng xuất thân từ một gia đình trung lưu nhưng được giáo dục vô cùng tốt. Nàng xinh đẹp, dịu dàng, lịch sự và hiểu biết. Sống giữa giới quý tộc Ba Lan vàng thau lẫn lộn, đầy những con người trưởng giả, nàng tỏa sáng đẹp đẽ, cao quý và thu hút ánh nhìn của chàng đại công tử Valderma Valderma, chàng là thừa kế của một đại gia tộc cao quý nhất Ba Lan, nhưng khác với những người họ hàng hay những người cùng giới, chàng không để ý quá nhiều đến những khác biệt về giai cấp và tầng lớp. Chàng trân trọng giá trị đến từ bên trong mỗi con người. Chàng bảo vệ Xtefchia trước tên người yêu cũ sở khanh. Chàng trân trọng nàng, yêu sự hiểu biết và tâm hồn cao quý của nàng. Valderma, chàng dũng cảm và chủ động với tình cảm và cuộc đời của chính mình, chàng vượt lên mọi rào cản về giai cấp, về định kiến xã hội để hỏi cưới Xtefchia. Chàng bảo vệ nàng trước cả giai cấp của chàng. Hạnh phúc tưởng chừng đã nằm trong tay hai người nhưng cuối cùng Xtefchia đã ra đi để mình Valderma ngồi lại trong căn phòng chống ngắm nhìn hình ảnh nàng, cô độc. Chuyện tình của họ thật đẹp. Có một điều mình thực sự rất thích ở câu chuyện này đó là hình ảnh những tòa lâu đài phương Tây cổ kính, rực rỡ và uy nghiêm. Từ hồi lớp tám mình đã bị ấn tượng, điều mình nhớ nhất trong chuyện chắc là mấy tòa lâu đài với khu rừng nơi Xtefchia hái nấm mất. Cái kết chuyện hơi buồn và u ám, nhưng không quá ấn tượng và ám ảnh. Cảm thấy cái chết của Xtefchia hơi gượng ép. Còn tổng thể đây là một câu chuyện ổn. *** Review Hana Hanhhan: Con Hủi là một tuyệt phẩm của văn sĩ Ba Lan Helena Mniszek. Dịch giả Nguyễn Hữu Dũng đánh giá cuốn sách là một "thiên Romeo và Juliet mới". Theo tôi, Con Hủi hoàn toàn xứng với những ca ngợi ấy. Mặc dù tựa sách mang tên một loại bệnh nhưng cả tác phẩm không ai mang bệnh này, có chăng chỉ có những kẻ hẹp hòi dùng định kiến của mình nhìn người mà họ coi là không xứng đáng như một "con hủi" một thứ bệnh dịch đáng ghê tởm. Xtefchia Rudexka là một "con hủi" đúng nghĩa trong mắt giới quý tộc Ba Lan. Cô xinh đẹp gia giáo, thông minh hiền hòa nhưng cô mang tội nặng nhất là thứ tội vì không được sinh ra trong một gia đình quyền quý. Cha cô ông Rudexka và bà Rudexka mẹ cô chỉ là những quý tộc nhỏ của Ba Lan, họ sở hữu một điền trang bé đến mức đám thượng lưu chỉ liếc qua đã cười khinh miệt. Xtefchia là một thiếu nữ đáng mến. Cô sinh ra và sống đúng với địa vị của mình, chưa từng có mơ ước cao sang gì. Nhưng tình yêu định mệnh với đại công tử Waldema Michorowski lại đưa cô lên bục của kẻ có tội, tội nghiệt vì đã với quá tầm tay mình. Walderma là điểm đẹp nhất của câu chuyện này dù nó được viết bởi một nữ sĩ và trung tâm câu chuyện cũng về một cô gái đáng thương. Nhưng Walderma bằng những phẩm giá cao quý và sự kiên định trong tình yêu lại khiến tôi có ấn tượng sâu đậm nhất. Chàng đẹp đẽ tài hoa. Chàng ngông nghênh cao quý. Chàng tự do tự tại. Chàng là tất cả những gì đẹp nhất ở một người đàn ông đáng kính mà tôi có thể tưởng tượng ra. Mỗi khi chàng dịu dàng gọi Xtefchia thân yêu bằng những tiếng "em yêu quý của anh" "em vàng ngọc của anh" rồi "em duy nhất của anh" trái tim tôi như cũng muốn tan chảy ra thành nước. Sống với một người như thế, được yêu bởi một người như thế thử hỏi còn gì hạnh phúc hơn? Thế nhưng tình yêu không chỉ là chuyện của hai người mà còn là mối bận tâm của dòng tộc, thậm chí của toàn bộ giới quý tộc Ba Lan. Định kiến giai cấp truyền từ đời này sang đời khác không cho phép đại công tử Walderma cao quý, người của gia tộc từng có nhiều vị nắm các chức sắc quan trọng được yêu một cô Xtefchia nhỏ bé vô danh, một cô thôn nữ tầm thường. Hệt như khi xưa thứ giai cấp ác nghiệt ấy đã dùng lý do đó để chia lìa ông của Walderma và bà của Xtefchia. Tôi nhớ mãi giây phút Walderma cất tiếng đòi quyền lợi cho tình yêu của mình rằng "ngoài tên họ, vọng tộc, gia huy và toàn bộ cái khung trang trọng này, cháu còn có trái tim và tâm hồn, những thứ mang ít nhiều khát vọng cá nhân chứ không phải khát vọng của gia tộc. Nó khao khát đôi điều gì đó, chỉ để cho riêng mình mà thôi. Không bao giờ cháu muốn hy sinh những tình cảm của mình để giữ lấy cái khung. Chỉ người phụ nữ cháu yêu thương mới có thể trở thành vợ cháu." Và chàng đã làm đúng như điều chàng nói. Không ai có thể ngăn được chàng cưới Xtefchia về làm vợ. Chàng yêu mãnh liệt như lửa, chàng dùng chính ngọn lửa ấy thiêu trụi mọi khó khăn luôn muốn trói buộc chàng. Thế nhưng Xtefchia của chàng rốt cuộc cũng chỉ là một cô gái yếu đuối bình thường. Ngay trước ngày cưới cô gục ngã chỉ vì những thêu dệt đê tiện của bọn quý tộc giấu mặt vẫn muốn chia rẽ mối duyên giữa cô và đại công tử Walderma. Cô tin vào chúng. Cô bị chúng ám ảnh. Cô được yêu nhưng cô không dám yêu. Trong khi vị hôn phu của cô làm tất cả để hai người được ở bên nhau thì cô khuất phục, chấp nhận lui bước trước khó khăn và để lại phía sau lưng một đám cưới mãi mãi không thể tiến hành. Xtefchia là một cô gái đáng thương nhưng tôi dẫu có thế nào cũng không thể tha thứ cho cô vì đã bỏ cuộc hèn nhát như thế. Bởi tôi đã hân hoan bao nhiêu cho đám cưới của cô. Bởi tôi đã vui mừng bao nhiêu khi biết cô và Walderma sẽ có được hạnh phúc trọn đời. Đại công tử Walderma chắc chắn còn hân hoan hơn tôi gấp ngàn lần. Vì chàng yêu cô, yêu "em duy nhất" của chàng xiết bao. Vậy mà dũng khí để đấu tranh cô cũng không có. Cô được giải thoát khỏi mọi áp lực trần gian, để lại đại công tử Walderma - người yêu cô và cô cũng yêu nhất mực sống trọn đời với nỗi tiếc nuối vì đã không bảo vệ được người mình yêu thương nhất. Những tháng ngày về sau của chàng có lẽ chỉ còn sự im lặng câm đặc, bởi hạnh phúc cuối cùng đã chết theo Xtefchia bé nhỏ mất rồi. Mời các bạn đón đọc Con Hủi của tác giả Helena Mniszek.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Nàng Lika - Ivan Bunin
“Nàng Lika” là phần cuối (phần V) của bộ tự truyện Cuộc đời Arxênhép, tác phẩm chủ yếu mà nhờ đó Bunhin đã được tặng giải thưởng Nôben (1933). Sinh thời Bunhin cũng như sau này ở Liên Xô nhiều lần phần này của bộ tự truyện đã được in riêng như một tác phẩm độc lập bởi sự hoàn chỉnh về hình thức cũng như chủ đề. Gọi là “tự truyện” cũng chỉ là tương đối, vì ở đây cái thật cái hư xen lẫn nhau. Địa danh, tên người phần lớn đều được thay đổi. Hình mẫu của nàng Lika Vácvara Pasencô, người mà Bunhin đã cùng chung sống suốt mấy năm, khi ông mới bước vào đời. Trong truyện của Bunhin, so với Vácvara, Lika đẹp lên rất nhiều cả về nội tâm cũng như ngoại hình. Lika mất ngay sau khi chia tay, còn ngoài đời thật thì Vácvara đã kịp đi lấy Bibicốp, con một nhà buôn giàu có và sống với y hơn 20 năm. Lika của Bunhin là hiện thân của vẻ đẹp cổ điển Nga, – yếu đuối, chân thành, cả tin, hồn hậu mà cũng rất bạo liệt vào những khúc rẽ ngoặt của cuộc đời. Còn nhân vật “tôi” thì đã phải trả giá cho cách sống quá phóng đãng của mình. Anh yêu Lika, yêu tận cuối lòng, nhưng lại nhân danh “chất nghệ sĩ” tự cho mình cái quyền đón nhận mọi cảm giác mới lạ của những chuyến phiêu du. Lika không chấp nhận được bất cứ sự san xẻ tình cảm nào, nàng đã tự chọn con đường ra đi… Nhưng có lẽ cái kết thúc ấy đã giữ cho tình yêu của nàng trọn vẹn…” *** Ivan Bunin sinh ngày 22/10/1870 tại Voronezh, tốt nghiệp trường Đại học Moskva. Sau đó ông là một nhà báo, và thư ký. Ông xuất bản tập thơ đầu tiên của mình vào năm 1891. Đến năm 1903, ông được nhận giải thưởng Pushkin của học viện Nga về các tác phẩm thơ dịch của Anh và Mỹ. Sau khi cuộc cách mạng bolshevik nổ ra vào năm 1917, ông sang Paris sinh sống. Các tác phẩm chính của ông bao gồm, các tuyển tập truyện ngắn Gospodin iz San Frantsisko – Quý ngài đến từ San Francisco và Tyomnye Alley – Con đường u ám, các tiểu thuyết Derevnya – Ngôi làng và Mitina lyubov – Tình yêu của Mitia. Truyện ngắn của I.Bunin phần lớn thuộc loại truyện không có cốt truyện. Các truyện viết chủ yếu là thông qua sự hoài niệm, nhớ lại của tác giả về những gì đã qua. Vì thế, tính chất tự truyện cũng là một đặc điểm nghệ thuật của văn xuôi Bunin. Có thể là ký ức của chính tác giả, hoặc của nhân vật “tôi” trong truyện. Chính hình thức nhớ lại này đã giúp cho tác giả bộc lộ cảm xúc trữ tình của mình đối với con người và cảnh vật được mô tả. Trong các truyện ngắn của ông, chúng ta thường thấy các cụm từ "ngày ấy", “vào thời gian đó” hay "hình như ngày đó"... diễn tả khoảng thời gian xảy ra chuyện nhưng cũng chính là hoài niệm của tác giả. Với lối kết cấu này, mặc dù đang sống thời hiện tại nhưng nhà văn có thể trở lại với quá khứ một cách dễ dàng thông qua những hồi ức, kỷ niệm. Chính sự đam mê hội hoạ và âm nhạc từ nhỏ của nhà văn là yếu tố quan trọng tạo nên chất tạo hình và khắc họa chân dung trong sáng tác của ông. Nhân vật hầu như không có sự xung đột hoặc cãi cọ nhau ồn ã. Sự thất vọng được thể hiện thông qua tiếng thở dài (Lần gặp gỡ cuối cùng); cái lắc đầu và nhắm mắt thay cho sự day dứt, luyến tiếc (Những lối đi dưới hàng cây tăm tối). Nhà văn dành những năm cuối đời để viết quyển sách về Chekhov, nhưng không kịp hoàn thành. Đêm 8/11/1953, Ivan Bunin qua đời trong tay người vợ của mình. Ông được mai táng tại Sainte-Geneviève-des-Bois, nghĩa trang "người Nga" ở Paris. *** Về chiều nắng nực giảm đi. Mặt trời đã khuất phía sau nhà. Chúng tôi ngồi uống trà trong phòng kính, bên cạnh cửa sổ mở ra sân. Lúc này nàng đọc rất nhiề những giờ ấy nàng hay đặt nhiều câu hỏi với anh tôi, và anh tôi thích thú chỉ dẫn cho nàng cặn kẽ. Chiều thật yên ắng, lặng gió, – chỉ có mấy chú nhạn thoáng bay qua sân rồi bỗng vút lên cao, mất hút trong thinh không xa thẳm. Họ nói chuyện với nhau, còn tôi thì lắng nghe tiếng ai đang hát. Bài ca hát về mấy người dân quê đang gặt lúa trên mấy cánh đồng cao cao. Âm điệu bài ca phẳng lặng, ngân dài, thấm đượm nỗi buồn ly biệt, tiếp đó là những âm thanh rắn rỏi, hùng dũng về những đoàn quân.   Bài ca như buồn bã dõi theo đoàn quân kazắc đang chầm chậm tiến qua thung lũng, dẫn đầu là vị tướng Đôrôsencô vinh quang…   Tôi lắng nghe tiếng bài hát, trong lòng cảm thấy buồn buồn pha chút ghen tỵ ngọt ngào.  Vào lúc hoàng hôn chúng tôi di dạo chơi, thỉnh thoảng đi lên phố, có lúc tới vườn hoa nhỏ trên bờ đất thoai thoải gần nhà thờ, có khi ra cánh đồng ngoài thành phố. Trong thành phố có vài đường phố lát đá, – đó là khu buôn bán của người Do Thái với một số lượng nhiều đến khó hiểu những hiệu đồng hồ, thuốc tân dược và hiệu thuốc lá. Những đường phố này còn giữ nguyên cái nóng sau một ngày mặt trời thiêu đốt, trên những ngã tư có quầy giải khát, ở đó khách bộ hành có thể uống những cốc xirô đủ màu sắc. Điều này nhắc tôi nhớ tới niềm Nam, thúc giục tôi đi xa hơn về phía Nam, – tôi vẫn còn nhớ dạo ấy không hiểu sao tôi rất hay nghĩ tới miền Kerơsơ. Nhìn từ trên nhà thờ xuống thung lũng, tôi mường tượng ra mình đang đi đến Krêmemtrúc, đến Nhicôlép. Ra cánh đồng ngoài thành phố chúng tôi thường đi qua vùng đầu ô phía tây trông hệt như thôn quê. Những ngôi nhà, vườn cây, ruộng dưa hấu nằm sát bên con đường thẳng tắp dẫn đến Mirơgôrốt. Tít tận đằng xa trên con đường dọc theo hàng cột dây thép có chiếc xe do hai con bò kéo đang chầm chậm lăn bánh rồi dần dần mất hút đi trên biển thảo nguyên như hàng cột điện cũng dần dần trở nên bé như cái que rồi không còn thấy nữa. Đó là đường tới Ianốpsina, Iarexca, Sisaki…   Nhiều khi chúng tôi dạo chơi buổi tối trong công viên thành phố. Ở đấy có dàn nhạc chơi, hàng hiên sáng ánh đèn của nhà hàng nổi bật lên từ xa như một cái sân khấu. Anh tôi đi thẳng vào nhà hàng, còn tôi và nàng thỉnh thoảng đi về phía vườn giáp với bờ sông cao cao. Đêm tối đen, ấm áp. Trong bóng đêm phía dưới, đây đó thấp thoáng ánh đèn, những bài ca khi bổng khi trầm nghiêm trang vọng lại – đó là những đám thanh niên vùng ngoại ô đang hát. Bài ca như hoà lẫn vào bóng đêm yên tĩnh. Đoàn tàu với những ô cửa sáng rầm rập chạy qua, tiếng động của nó nhỏ dần, nhỏ dần – lúc đó tôi cảm thấy thật rõ cái thung lũng này xa, sâu đến thế nào, vệt sáng đoàn tàu dần mất hút trong đó như thể nó chui sâu xuống đất. Tiếng hát lại nghe rõ, cả vòng cung chân trời bên thung lũng như chìm trong tiếng ếch kêu mơ hồ không dứt.   Khi chúng tôi bước lên hàng hiên đông đúc người ở nhà hàng, ánh sáng ở đấy khiến chúng tôi ngỡ ngàng lóa mắt. Anh tôi lúc này đã ngà ngà say, vẻ mặt hiền hoà, ngay lập tức vẫy tay gọi chúng tôi lại bàn, nơi anh ngồi cùng Vaghin, Lêôntêvích, Xulima. Mọi người hồ hởi xếp chỗ ngồi cho chúng tôi, cho gọi thêm rượu vang trắng, đưa thêm cốc và đá. Lát sau tiếng nhạc đã ngừng, vườn cây quanh hiên đã vắng vẻ chìm trong bóng tối, thỉnh thoảng có làn gió nhẹ từ đâu thổi tới, mấy ngọn nến đặt trong chụp thủy tinh bám đầy côn trùng bé lấm tấm; nhưng mọi người vẫn tiếp tục nói chuyện, thời gian còn sớm sủa. Cuối cùng thì mọi người đều thấy rằng đã đến lúc phải ra về. Tuy nhiên chúng tôi cũng không chia tay ngay – chúng tôi kéo cả đoàn đi về nhà, vừa đi vừa nói to, nện gót giầy cồm cộp. Vườn cây đã yên lặng như tờ, che phủ một màn đen bí ẩn, trăng muộn màng nhô lên trên đường chân trời tỏa ánh sáng vàng mờ nhạt, ấm áp. Khi chỉ còn anh em tôi cùng nàng đi vào sân nhà mình, ánh trăng đã rọi xuống đấy, soi sáng gian nhà kính; có tiếng con chim chích chốn nào kêu khe khẽ; mỗi một cái lá cây dạ hợp mọc gần ngôi nhà nhỏ, mỗi cành cây đều in bóng rõ ràng mềm mại lên bức tường màu trắng. ... Mời các bạn đón đọc Nàng Lika của tác giả Ivan Bunin.
Một Phút Một Đời - Pearl S. Buck
Từ hai thế giới khác biệt nhau, William và Ruth đã đến với nhau. Chàng tốt nghiệp đại học Mỹ thuật, là một thanh niên nhạy cảm con một gia đình giàu sang nhưng ích kỷ, chủ một hệ thống hỏa xa tại Hoa Kỳ. Nàng là cô gái nông thôn ít học, khỏe mạnh, đầy sức sống, con của một trại chủ ở Pennsylvavia. Trong một buổi đi du họa ở cùng quê, William đã gặp Ruth. Và ngay khi nhìn thấy nàng, chàng biết rằng đó là người đàn bà của mình, mặc dầu chàng đã có bạn gái là Elise - người mà gia đình chàng đinh ninh sẽ là con dâu tương lai của mình. Bất chấp sự phản đối kịch liệt của gia đình, William đã mạnh dạn bỏ nhà đi theo Ruth, một cô gái ăn nói dịu dàng và đầy hấp dẫn, một cô gái quê chẳng biết gì về nghệ thuật và cuộc sống sang giàu, nhưng là một cô gái hoàn toàn biết cách tận hiến cho tình yêu. *** Pearl Buck (tên thật là Pearl Comfort Sydenstricker, có tên Trung Quốc là Trại Chân Châu) là con một nhà truyền giáo người Mỹ. Sau khi ra đời chưa đầy 5 tháng, bà đã được cha mẹ đưa sang Trung Quốc sinh sống. Từ nhỏ và suốt cả cuộc đời bà yêu mến và thích tìm hiểu cuộc sống của người dân Trung Quốc, cảm thông với những người dân địa phương bị nhiều tầng áp bức. Năm 1938 Pearl Buck nhận giải thưởng Nobel vì các tác phẩm mô tả đời sống nông thôn Trung Hoa một cách phong phú và xác thực (chủ yếu với tiểu thuyết Đất Lành và hai cuốn tự truyện Người Tha Hương (1936) viết về người mẹ và Thiên Thần Chiến Đấu (1936) viết về cha của bà). Sau khi nhận giải, Pearl Buck tiếp tục sáng tác rất nhiều, ngoài văn xuôi bà còn viết kịch, kịch bản phim, tiểu luận và sách cho thiếu nhi. Bà cũng là người đã dịch Thủy Hử (All men are brothers) và một số tác phẩm văn học Trung Quốc sang tiếng Anh. Cuối đời, bà quan tâm đến đề tài các nhà bác học nguyên tử buộc phải chế tạo vũ khí giết người hàng loạt. Đồng thời, bà tích cực tham gia các hoạt động từ thiện, xã hội như: sáng lập ra tổ chức không vụ lợi Hiệp hội Đông Tây (The East and West Association, 1941) nhằm truyền bá những hiểu biết giữa các dân tộc trên thế giới; cùng chồng lập nên tổ chức Căn nhà tình nghĩa (Welcome Home, 1949) giúp trẻ mồ côi; lập ra Quỹ Pearl S. Buck (The Pearl S. Buck Foundation, 1963) và tặng cho quỹ này 7 triệu đôla. • Tác phẩm đã dịch ra tiếng Việt: Gió Đông, gió Tây; Ảo vọng; Sống vì đất; Tiếng gọi đồng quê; Lá thư Bắc Kinh; Tình yêu sau cùng; Người mẹ; Nhớ cảnh nhớ người; Yêu muộn; Nạn nhân buổi giao thời; Mấy người con trai Vương Long; Đứa con người yêu; Một phút một đời; Một lòng với em; Một cuộc hôn nhân; Lưu đày; Lưu đày biệt xứ; Cánh hoa e ấp; Đông phương huyền bí qua truyện cổ thần tiên; Truyện Đông phương; Người vợ tiên; Những người đàn bà tuyệt vời trong gia đình Kennedy; Những người đàn bà trong gia đình Kennedy; Tà áo xanh; Nỗi buồn nhược tiểu; Người yêu nước; Ngoài chân mây; Hứa hẹn; Bão loạn; Mẫu đơn; Quỷ địa ngục chẳng bao giờ ngủ; Yêu mãi còn yêu; Ba người con gái của Lương phu nhân; Trái tim kiêu hãnh; Một trái tim tự hào; Biên giới tình yêu; Tình cõi chân mây; Nô tì Mẫu Đơn; Đóa hoa ẩn mình; Trang; Người thành phố; Bí mật đời nàng; Người yêu nước; Thiên Hậu; Người cung nữ; Từ Hi Thái hậu; Con rồng linh diệu; Hạt giống của rồng; Vương Nguyên; Đất lành; Chuyện Kinh Thánh; Những người con của tiến sĩ Lương; Tiếng nói trong nhà; Tử thần và rạng đông; Người mẹ; Những mảnh hồn sầu xứ. Khi người con gái lên núi Mời các bạn đón đọc Một Phút Một Đời của tác giả Pearl S. Buck.
Khúc Quanh Của Dòng Sông - V. S. Naipaul
Cuốn sách miêu tả những vết thương lâu năm, khó lành lẫn vết thương mới của một châu Phi ngây thơ và già cỗi, có độc lập rồi vẫn còn nguyên mặc cảm tự ti. Ở một khúc quanh mới trong kỷ nguyên tự trị, cay đắng thay, châu Phi ngơ ngác tìm kiếm những hình bóng cũ châu Âu, nơi đã giam hãm mình trong nhiều thế kỷ nô lệ thuộc địa. Salim từ vùng biển phía Đông châu Phi đi sâu vào lục địa, đến một thành phố nằm bên khúc quanh của một dòng sông lớn, để tìm cách kinh doanh, để tìm kiếm chỗ đứng cho mình trong thế giới và để tìm hiểu bản thân mình. Ở thành phố đó, Salim phải sống trong bầu không khí ngột ngạt của một chế độ hậu thực dân, bàng hoàng trước nền độc lập lạ lẫm, loay hoay không biết phải bắt đầu từ đâu, chủ động hay thụ động trước những biến chuyển, và bạo loạn chắc chắn sẽ xảy ra. Anh tiếp xúc với người dân bản địa, như cô Zabeth và đứa con trai Ferdinand, như cặp vợ chồng Mahesh và Shoba… Anh tìm hiểu thành phố, từ Quảng trường đến trường Trung học, từ khách sạn Van der Wyeden đến bến tàu…Rồi không gian được mở rộng ra với việc xây dựng Khu mới bên ngoài thành phố, sự xuất hiện trở lại của người da trắng, sự thay da đổi thịt của giới trẻ châu Phi, sự biến động chính trị của vị Tổng thống vĩ đại. Không gian được tiếp tục mở rộng khi Indra, người bạn thời thơ ấu của Salim xuất hiện, thoạt tiên trong hào quang của một người học ở Oxford về, sau đó dưới hình dạng thảm hại của một kẻ hoang mang trước tất cả, không chắc chắn về điều gì hết. Không gian còn mở rộng tới châu Âu, nhưng đến đó thì Salim đã hiểu ra mình không thể chạy thoát những ràng buộc vô hình. Thế giới dù rộng lớn vẫn không có chỗ cho anh, anh vẫn phải đóng đinh vào cái thành phố bên khúc quanh của dòng sông. *** Vidiadhar Surajprasad Naipaul mang quốc tịch Anh, sinh năm 1932 ở Chaguanas gần Port of Spain thuộc Trinidad, trong một gia đình di cư từ miền Bắc Ân Độ, song không ít tác phẩm của ông lại lấy bối cảnh Châu Phi. Con người V.S. Nailpaul bao gồm nhiều nền văn hóa, cuộc đời ông trải rộng trên cả bốn châu lục lớn - ông từng du lịch khắp Châu Á, châu Phi, châu Mỹ. Sự đa dạng đó khiến Naipaul luôn băn khoăn về vị trí, gốc gác của mình. Khi còn trẻ ông đã từng chán nản với sự nghèo nàn về tinh thần ở Trinidad, bỏ sang Anh học đại học, nhưng khi đã định cư tại đó ông lại thấy mình không thể hòa đồng được với lối sống bản địa, trong khi đó dòng máu Án Độ vẫn chảy mạnh trong huyết quản. V.S. Naipaul, với tư cách nhà văn, thường đặt ra những câu hỏi về đa dạng văn hóa, đặc tính tâm lý phức tạp của các nhóm và tộc người, sự hòa trộn và đặc điểm tiêu biểu không thể nhầm lẫn, cả đến những mặc cảm mang tính bộ tộc, dân tộc… tất cả đều được miêu tả kỹ lưỡng và tinh tế trong Khúc quanh của dòng sông. V.S.Naipaul bắt đầu cầm bút từ rất sớm, sau khi học xong Universtity College of Oxford. Cả đời ông gần như không làm công việc nào khác ngoài viết văn. Sau tiểu thuyết đầu tay, The Mystic Masseur (Người thợ mát xa bí ẩn - 1957), Naipaul trở nên nổi tiếng với cuốn A House for Mr. Biswas (ngôi nhà của ngài Biswas - 1961), tiểu thuyết thứ nhất của ông. Những tác phẩm đầu tay này thường lấy bối cảnh vùng Tây Ấn, sau đó Naipaul mở rộng địa lý văn chương của mình, hướng tới chủ đề hậu thuộc địa nóng bỏng, nhất là tại châu Phi. Hai tiểu thuyết của ông về đề tài này là Guerillas và nhất là A bend in the River, một phẫu thuật tài tình trưng bày những ung nhọt, từ các vết thương lâu năm khó lành lẫn các vết thương mới của châu Phi già nua mà ngây thơ, đã giành được độc lập nhưng vẫn còn nguyên vẹn mặc cảm nô lệ - tự ti và thấp kém. Lẫn trong sự miêu tả tinh vi, thấu đáo là một niềm thương cảm kín đáo, một day dứt cho số phận một châu lục đang trong giai đoạn bế tắc. Việc ông giành được giải Nobel văn chương năm 2001 (chưa kể trước đó 30 năm, ông đã đoạt giải Booker 1971) không nằm ngoài dự đoán của các nhà nghiên cứu văn học thế giới. Naipaul đã đóng góp to lớn cho một dòng văn học đau đớn nhưng có ích, dòng văn học nhìn trực diện vào các xã hội lạc lõng giữa thế giới, đứng bên lề sự phát triển chung và còn lâu năm nữa mới thoát được vũng lầy đó. *** Công dân Théotime đến vào buổi sáng, mắt đỏ mọng và trông như bị tra tấn, lơ lửng với ly bia uống vào bữa sáng, với vài quyển truyện cười hoặc tiểu thuyết minh hoạ bằng ảnh để giết thời gian ở văn phòng. Có một hệ thống trao đổi tạp chí không chính thức ở thị trấn. Théo luôn luôn có cái gì mới để xem. Và thật lạ, những truyện cười hoặc tiểu thuyết – ảnh của ông ta, lăn lóc, đã khiến ông ta có cái vẻ bận rộn, giống như những thương gia khi ông ta đến cửa hiệu. Ông ta đi thẳng vào phòng kho, và có thể ở lại đó không hề đi ra suốt cả buổi sáng. Thoạt tiên tôi nghĩ bởi vì ông ta muốn không bị quấy rầy. Nhưng rồi tôi hiểu không phải vậy. Ông ta thích ở trong phòng kho tối tăm chẳng làm việc gì cụ thể, chỉ nhìn vào những quyển tạp chi của mình trong khi tâm trạng say sưa lan toả con người ông ta. Sau đó khi ông ta đã thoải mái và bớt rụt rè hơn với tôi , cuộc sống trong căn phòng kho trở nên phong phú hơn. Ông bắt đầu có đàn bà đến viếng thăm. Ông thích họ nhìn thấy ông thực sự là một directeur – giám đốc – với một nhân viên và một văn phòng, và điều đó cũng làm những người đàn bà thích thú. Một chuyến viếng thăm có thể mất cả một buổi chiều, mà chỉ là Théotime và người đàn bà chuyện gẫu theo cách người ta vẫn chuyện gẫu khi đang trú mưa – với những lần dừng lại rằng lâu và những cái nhìn thôi miên dài theo những hướng khác nhau. Đó là một cuộc sống dễ dàng với Théotime, dễ dàng hơn bất cứ gì ông ta có thể tưởng tượng khi còn là một thợ máy ở sở y tế. Nhưng khi ông ta có được sự tự tin, và không còn sợ hãi việc Tổng thống lại sẽ tước mất cửa hiệu từ tay ông ta, ông ta trở nên khó tính. Ông ta bắt đầu nghĩ rằng là một directeur ( Giám đốc )mà không có xe thì không thể được. Có lẽ một người đàn bà nào đó đã khiến ông ta nghĩ vậy, hoặc có thể là tấm gương từ những người chủ Nhà nước khác, hoặc có thể là điều gì đó ông ta rút được từ những cuốn truyện cười. Tôi có một chiếc xe, ông ta bắt đầu hỏi mượn tôi, và rồi đòi tôi chở ông ta đi đây đó khỏi nhà và về nhà. Tôi có thể từ chối. Nhưng tôi tự nhủ đó là một việc nhỏ để làm ông ta trật tự. Những lần đầu tiên ông ta ngồi hàng ghế trên, rồi ông ta chuỷên xuống ngồi hàng ghế sau. Đó là công việc bốn-lần-một-ngày. Ông ta không im lặng được lâu. Có thể là do tôi tỏ ra thoải mái, chỉ mong muốn không bị làm nhục. Théotime tìm thấy những cách mới để tự thể hiện mình. Giờ đây điều rắc rối là ông ta không biết phải làm gì. Ông ta có thể thích sống bên ngoài vai trò thực của mình – chiếm đoạt sự điều hành của cửa hiệu, hoặc cảm thấy (trong khi vẫn vui thú với cuộc sống trong nhà kho) rằng ông ta đang điều hành cửa hiệu. Dù vậy ông ta cũng biết rằng ông ta chẳng biết gì cả, ông ta biết rằng tôi biết ông ta không biết gì cả, và ông ta giống như một người giận dữ với sự không biết gì của mình. Ông ta lặp đi lặp lại một vài trò. Ông ta say sưa, tức tối và đe doa, và là một kiểu tức tối có tính toán như là một quan chức đã quyết định phải malin. Thật là lạ. Ông ta muốn tôi công nhận ông ta là chủ. Và cùng lúc ông ta lại muốn tôi phải đoái hoài đến ông ta, một người đàn ông không được giáo dục. Ông ta muốn có cả sự kính trọng lẫn sự bao dung của tôi, thậm chí cả lòng thương xót của tôi. Nhất là khi ông ta muốn tôi cư xử như một thuộc hạ và ủng hộ ông ta. Nếu như đáp lại, tôi làm vậy, nếu tôi mang một thứ giấy tờ đơn giản nào đó của cửa hiệu đến cho ông ta, quyền lực của ông ta hẳn là sẽ có thật lắm. Ông ta thêm điều đó vào ý tưởng về vai trò của mình, và ông ta có thể sử dụng quyền lực đó sau này để nặn ra một sự nhượng bộ. Như là ông ta đã làm với chiếc xe. Còn tệ hơn là làm việc với một quan chức malin. Vị quan chức vờ như bị xúc phạm – và gào vào bạn, chẳng hạn, rụt tay khỏi bàn ông ta – chỉ đơn giản là đòi tiền mà thôi. Théotime, nhanh chóng chuỷên từ một sự tự tin đơn giản vào vai trò của mình đến chỗ hiểu ra sự vô dụng của mình, muốn bạn phải vờ coi ông ta là một kiểu người khác. Điều này không có gì đáng buồn cười. Tôi đã giải quyết nó để được yên tĩnh với việc riêng của mình, để đặt đầu óc vào mục tiêu riêng của mình. Nhưng thật không dễ để có thể được yên ổn. Cửa hiệu trở thành một nơi thật đáng ghét với tôi. Còn tệ hơn với Metty. Những công việc nhỏ nhặt nó làm cho Théotime thoạt tiên đã trở thành những việc nó bị đòi hỏi phải làm và bị nhân lên rất nhiều. Théotime bắt đầu bắt Metty đi làm những công việc lặt vặt rất đáng ngán. Buổi tối muộn, khi nó trở về nhà sau khi ở chỗ gia đình nó, Metty vào phòng tôi và nói "Cháu không chịu được nữa rồi, patron. Rồi một ngày cháu sẽ làm điều gì đó khủng khiếp. nếu Théo không chịu dừng lại, cháu sẽ giết lão. Cháu thà cày cuốc ở ngoài đồng còn hơn là làm người hầu cho lão". ... Mời các bạn đón đọc Khúc Quanh Của Dòng Sông của tác giả V. S. Naipaul.
Khi Người Con Gái Lên Núi - Pearl S. Buck
Pearl Buck (tên thật là Pearl Comfort Sydenstricker, có tên Trung Quốc là Trại Chân Châu) là con một nhà truyền giáo người Mỹ. Sau khi ra đời chưa đầy 5 tháng, bà đã được cha mẹ đưa sang Trung Quốc sinh sống. Từ nhỏ và suốt cả cuộc đời bà yêu mến và thích tìm hiểu cuộc sống của người dân Trung Quốc, cảm thông với những người dân địa phương bị nhiều tầng áp bức. Năm 1938 Pearl Buck nhận giải thưởng Nobel vì các tác phẩm mô tả đời sống nông thôn Trung Hoa một cách phong phú và xác thực (chủ yếu với tiểu thuyết Đất Lành và hai cuốn tự truyện Người Tha Hương (1936) viết về người mẹ và Thiên Thần Chiến Đấu (1936) viết về cha của bà). Sau khi nhận giải, Pearl Buck tiếp tục sáng tác rất nhiều, ngoài văn xuôi bà còn viết kịch, kịch bản phim, tiểu luận và sách cho thiếu nhi. Bà cũng là người đã dịch Thủy Hử (All men are brothers) và một số tác phẩm văn học Trung Quốc sang tiếng Anh. Cuối đời, bà quan tâm đến đề tài các nhà bác học nguyên tử buộc phải chế tạo vũ khí giết người hàng loạt. Đồng thời, bà tích cực tham gia các hoạt động từ thiện, xã hội như: sáng lập ra tổ chức không vụ lợi Hiệp hội Đông Tây (The East and West Association, 1941) nhằm truyền bá những hiểu biết giữa các dân tộc trên thế giới; cùng chồng lập nên tổ chức Căn nhà tình nghĩa (Welcome Home, 1949) giúp trẻ mồ côi; lập ra Quỹ Pearl S. Buck (The Pearl S. Buck Foundation, 1963) và tặng cho quỹ này 7 triệu đôla. • Tác phẩm đã dịch ra tiếng Việt: Gió Đông, gió Tây; Ảo vọng; Sống vì đất; Tiếng gọi đồng quê; Lá thư Bắc Kinh; Tình yêu sau cùng; Người mẹ; Nhớ cảnh nhớ người; Yêu muộn; Nạn nhân buổi giao thời; Mấy người con trai Vương Long; Đứa con người yêu; Một phút một đời; Một lòng với em; Một cuộc hôn nhân; Lưu đày; Lưu đày biệt xứ; Cánh hoa e ấp; Đông phương huyền bí qua truyện cổ thần tiên; Truyện Đông phương; Người vợ tiên; Những người đàn bà tuyệt vời trong gia đình Kennedy; Những người đàn bà trong gia đình Kennedy; Tà áo xanh; Nỗi buồn nhược tiểu; Người yêu nước; Ngoài chân mây; Hứa hẹn; Bão loạn; Mẫu đơn; Quỷ địa ngục chẳng bao giờ ngủ; Yêu mãi còn yêu; Ba người con gái của Lương phu nhân; Trái tim kiêu hãnh; Một trái tim tự hào; Biên giới tình yêu; Tình cõi chân mây; Nô tì Mẫu Đơn; Đóa hoa ẩn mình; Trang; Người thành phố; Bí mật đời nàng; Người yêu nước; Thiên Hậu; Người cung nữ; Từ Hi Thái hậu; Con rồng linh diệu; Hạt giống của rồng; Vương Nguyên; Đất lành; Chuyện Kinh Thánh; Những người con của tiến sĩ Lương; Tiếng nói trong nhà; Tử thần và rạng đông; Người mẹ; Những mảnh hồn sầu xứ. Khi người con gái lên núi *** Viên phi công bay lượn vòng chầm chậm để tìm kiếm, vì bây giờ họ ở ngay trên đỉnh núi. Ðó là một dãy núi trơ trụi, chỉ có một vài bụi cây xanh. Viên phi công gật đầu, và nàng nhìn xuống. Kìa, ở giữa hai mỏm núi là một thung lũng thấp, và trong thung lũng có nhiều căn nhà thấp xây bằng đá. Một bức tường bao quanh những căn nhà này. Ðây đúng là trại của đảng cướp Sói Xanh. Quanh gần đấy chẳng có gì cả. Hơn nữa, viên phi công đã tới văn phòng của tòa án và hỏi địa điểm chính xác của ngọn núi. Họ đã cho viên phi công một bản đồ. Mọi người đều biết nơi những tên cướp sống, vì các thương gia đã được cảnh cáo không được đi qua cái đèo của ngọn núi. Viên phi công bắt đầu bay thấp xuống. Gió bắt đầu giảm và bây giờ nàng có thể hét to vào tai viên phi công: “Anh phải chờ tại đây và để máy nổ sẵn sàng. Ngay lúc chúng tôi ra, anh phải sẵn sàng cất cánh ngay! Chúng tôi có lẽ phải chạy ra thật nhanh mới thoát chết.” Viên phi công gật đầu. Bên dưới họ, những hình dáng người nhỏ bé đang tụ tập bên ngoài những căn nhà đá. Nàng có thể trông thấy mặt họ ngẩng lên, những cánh tay giơ lên chỉ trỏ. Chiếc phi cơ bỗng nhiên hạ xuống, và những người đang tụ tập bên dưới hoảng hốt tản mát ra. Nàng bảo viên phi công, “Họ sợ đấy. Họ chưa bao giờ trông thấy phi cơ. Nhớ để máy lúc nào cũng sẵn sàng!” Viên phi công lại gật đầu, và nàng cảm thấy phi cơ đụng vào mặt đất một hai lần rồi dừng lại và tiếp tục rung chuyển. Những người đàn ông nhìn ra cửa và bước lại phía họ, nửa tò mò nửa sợ sệt. Nàng nhảy xuống đất một cách nhẹ nhàng, bước lại phía họ, và mạnh dạn hỏi họ. “Chủ tướng của các ngươi đâu? Ta tới gặp ông ta.” Nàng định không nói gì tới tên Thiếu Hổ, sợ có thể bị bắt làm tù binh. Không, hãy để mặc họ đoán xem nàng là ai.     Không một người nào trả lời. Họ nhìn lẫn nhau. Nếu nàng chưa bao giờ trông thấy loại người như họ thì nàng đã sợ hãi họ rồi. Nhưng nàng biết họ - họ cùng là một loại người thô lỗ, những người hung dữ bất mãn, sẵn sàng đi theo bất cứ tướng cướp nào. Nàng nhắc lại, nhỏ nhẹ, “Các người nên nói đi. Ta tới đây với tin tức quan trọng cho ông ta. Các ngươi thấy đó, ta tới đây một cách vội vàng, bằng một con tầu, bay trong không khí.” Một tên tò mò hỏi, “Cái đó là gì thế? Khi tôi trông thấy nó, tôi tưởng nó là một con chim đại bàng.” Một tên khác nói, “Chúng tôi từng nghe nói đến tầu bay, nhưng chưa bao giờ nhìn thấy.” Cả bọn giống như những đứa trẻ lớn con, chỉ muốn sờ vào cái vật lạ mà chúng sợ hãi. ... Mời các bạn đón đọc Khi Người Con Gái Lên Núi của tác giả Pearl S. Buck.