Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Thiền Thư Tây Tạng (Lama Christie Mcnally)

Đỉnh lễ

Tôi biết bạn, tôi đã có một linh ảnh về bạn ở sâu thẳm trong thiền định, và tôi đã chạm tới bạn, tôi đã gieo một hạt giống, và giờ đây tôi có một nhân duyên tốt lành để có thể nói với bạn, thông qua cuốn sách này. Mong ước sâu thẳm nhất của tôi là được chia sẻ với bạn sự thiện lành lạ thường được truyền xuống qua tôi bởi tất cả các Đức Thầy thiêng liêng mà tôi đã được thọ nhận.

Tôi thật sự rất may mắn. Tôi đã có điều tốt nhất ở các Đức Thầy hướng dẫn tôi từ ngày đầu tiên. Hãy để tôi được dành một khoảnh khắc ở đây, để được trào dâng lên lòng biết ơn sâu sa tới họ, và rồi trao cho bạn một hình ảnh nhỏ của người đang nói thông qua tôi.

Đầu tiên và trước hết là Vị Thầy và Người Hướng Đạo của trái tim tôi, Geshe Michael Roach (Geshe: bằng cấp cao học của Phật học Tây Tạng), Bậc Linh Ngộ Tính Không, người nắm giữ chân lý, người bạn đồng hành trọn đời, cuộc sống tuyệt đỉnh của tôi, không có Người mọi thứ đều trở thành không thể, với bất kì sự kết tinh tinh túy nào mà tôi có, chính là Người đã lan tỏa và trút nguồn ân sủng vào tôi.

Đức Thầy tôn kính, con xin được tựa đầu, vầng trán này của con tới bông hoa sen ngự dưới đôi chân thần thánh của Người. Tìm mua: Thiền Thư Tây Tạng TiKi Lazada Shopee

Và rồi, trong lời chỉ dẫn xuất hiện…

Mẹ yêu dấu của con, tình yêu của con, người đã dạy con làm thế nào để nghe tiếng bước chân của một ai đó, và người hết lần này qua lần khác đã chỉ cho con bài thực hành cao vợi về việc trao đi cuộc sống của mình vì lợi ích của kẻ khác.

Cha của con, trái tim thật lớn lao, người đang chỉ cho con niềm kiêu hãnh tột bậc trong việc phụng sự mọi người không ngưng nghỉ với niềm hoan hỷ phúc lạc.

Greg Linington, vị hoàng tử quý phái, người đã mở ra cánh cửa đến với con đường tối thượng.

Mark Neack, người đã dẫn tôi đến một thế giới khác biệt, người đã dạy tôi làm thế nào để sáng tạo.

Shri Sharon Gannon, Bậc Vô Úy (không ngăn ngại, không sở hữu), và David Life Ji, linh hồn nhẹ nhàng quyền quý, người đã hút tôi tới Ấn Độ - Mảnh Đất của Các Bậc Tĩnh lặng.

Tu sĩ chính thức được biết đến là Guy Rom, một vị Phật trẻ trung, người đã tỏa ra nguồn động viên khi tôi thực hành ngồi những bài thiền định đầu tiên của mình.

Karen Valham tôn kính, Bậc nhẫn nhục, Vị minh sư ẩn dật, Đức Thầy Đạo Pháp chính thức đầu tiên của tôi trong đời này.

Khen Rinpoche Geshe Lobsang Tharchin, Đấng Chinh Phục Tự Ngã, người tiếp nối không gián đoạn dòng truyền thừa vĩ đại này tới chúng tôi, những người phương Tây điên rồ.

Robina Courtin kính yêu, mạnh mẽ và tốt tính, người đã đến và nắm lấy tay tôi.

Sermey Geshe Thubten Rinchen, bậc có tâm trí mênh mông như một bầu trời tự ngã, người đã đẩy bật những luận điểm của tôi vượt lên khả năng thông thường của nó, và chính Người đã chỉ cho tôi những con đường.

Gyume Khensur Rinpoche, vị sứ giả hòa bình, người đã ban cho tôi bí mật.

Lama Zopa Rinpoche, người bạn tinh thần mến yêu nhất, người đã mang đến những lời khuyên tối thượng và là người luôn luôn ở đó mỗi khi tôi cần.

Geshe Lobsang Thardo, người mẹ, vị minh sư của pháp môn Yoga Guru, bậc đạo sư vĩ đại, người đã gõ đầu tôi một cách tuyệt vời khi cần thiết.

Bậc Thông Thái và trọn lành Gene Smith, vị Yogi bí mật, người đi vào sâu thẳm bên trong cảnh giới của tâm trí.

Đức Đạt Lai Lạt Ma, Đôi Mắt Yêu Thương, người đã trao cho chúng ta món quà vô giá của việc mở ra những lời dạy này tới thế giới, và cũng chính Người đã mang đến cho tôi câu trả lời cho những lời nguyện cầu của mình.

Pandiji Kanheya Sharma, Vị Chúa Tể của Vũ Điệu, ô cửa đi vào Kashi của tôi, người đã tặng cho tôi nước và lửa.

Swami Swaroopananda Ji, nhà hiền triết cổ xưa, người dạy cho tôi về nguồn gốc của phúc lạc.

Tất cả các bậc thầy truyền thừa Ấn Độ, những vị đã chỉ cho tôi một cái nhìn khác của cùng một lối mòn, có thể kể một vài tên tuổi như: Dharma Mittra Ji, Shri Pattabhi Jois, và Quý bà Ruth Lauer…

Trace Murphy, biên tập viên xuất sắc đã đặt niềm tin vào tôi, và Jon Sheer, người đã xuất hiện đúng lúc để giúp đỡ tôi.

Cuối cùng là những sinh viên thiên thần ngọt ngào ở Trường Đại Học Núi Kim Cương của tôi, mục đích của đời tôi, những người đã không ngừng chỉ cho tôi định hướng đúng đắn, và không ngừng đẩy tôi lên cao hơn nữa. Đặc biệt là Rob Ruisinger, bậc thầy về thiết kế của tôi; và Alistair Holmes, James Connor cùng Ian Thorson, những cộng sự đã giúp tôi viết nên cuốn sách này.

Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các Đức Thầy Thiêng Liêng trong hiện tại và quá khứ, tới những hạt giống mà chính tôi cũng không thể tưởng tượng ra được mình đã gieo trồng.

Nhưng có lẽ đó chưa phải là tất cả để thúc giục tôi viết nên cuốn sách này, tôi phải trở thành vị Thầy của chính mình - điều thúc đẩy tôi lên một bước xa hơn trên con đường vươn tới mục đích tối hậu.

Tôi vô cùng biết ơn và xin đỉnh lễ trước bạn vì điều đó…

Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Thiền Thư Tây Tạng PDF của tác giả Lama Christie Mcnally nếu chưa có điều kiện.

Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.

Nguồn: thuviensach.vn

Đọc Sách

Phá Mê Tông Chỉ Diễn Nghĩa PDF
Phá mê tông chỉ sách này của Nho-đồng-lão-nhơn, luận việc siêu đọa, dạy trong người đời làm lành tu đức, đặng lánh khỏi kiếp nạn, biện minh việc chơn giã, mà chỉ tỉnh đường mê, nên trong đời có hai việc mê : một là nhập thế chi mê, là mê theo việc đời, ân ái tình dục, tửu sắc tài khí, còn một đường xuất thế chi mê, đã có chí ra đời mà còn chỗ mê. Từ xưa đến nay, trong kinh sách có nói, hễ làm lành đặng phước, làm dữ mang họa, nên Thánh hiền là có bày rỏ chỗ việc lành dữ.Phá Mê Tông Chỉ Diễn NghĩaNXB Đức Lưu Phương 1929Lâm Xương Quang54 TrangFile PDF-SCAN
Xem Quẻ Chân Gà PDF
Theo phong tục tập quán, thì ngày mùng 3 Tết có tục cúng gà hóa vàng tiễn ông bà sau 3 ngày về nhà ăn Tết, nhưng cúng ở tại gia hay cúng tại đền đình (nơi thở các Thần Thánh), chứ cúng ở chùa thì không, vì chùa chỉ nhận cúng chay thôi. Tuy nhiên ở miền Bắc cũng có nhiều chùa thờ “Tiền Phật hậu Thánh” .Xem Quẻ Chân GàNXB Huế 1978Bảo Trai Đường56 TrangFile PDF-SCAN
Đạo - Trần Nguyên Lượng PDF (NXB Đông Phương 1940)
Quyển sách này viết ra chẳng phải vì sự mê-tín, mà do nơi sự tuyển hiệp các lời thánh giáo xưa và nay lại rồi dung hòa với khoa học kim thời mà vẹt ra một lối tinh-thần mới phù hợp với Đạo với Đời, có thể khêu sáng được đức tin của con người. Thành kiến là đều trở ngại rất lớn trên con đường tầm chơn-lý; 0ì vậy mà H. Bergson: một nhà triết học cận đại, có nói câu này; "muốn phê-bình một tôn-giáo hay học thuyết nào điều-kiện cần-yếu là phải vào trong nó."ĐạoNXB Đông Phương 1940Trần Nguyên Lượng180 TrangFile PDF-SCAN
PDF Nguồn gốc của văn hóa và tôn giáo - Vật tổ và cấm kỵ
Văn hoá và tôn giáo là những vấn đề vô cùng phức tạp và rông lớn, tác động sâu xa tới toàn bộ đời sống xã hội, tới ý thức, lối sống và nhân cách cá nhân của mọi thành viên. Do vậy, chúng là đối tượng nghiên cứu có tính chất bao trùm lên toàn bộ các khoa học xã hội và nhân văn. Học thuyết Marx với phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đã có cống hiến to lớn trong giải quyết các vấn đề liên quan đến các khái niệm đó. Tính đúng đắn của học thuyết Marx, đặc biệt là các công trình của F. Engels, là chỉ ra một cách khoa học và thuyết phục những cơ sở lao động-kinh tế của việc hình thành ý thức xã hội, lâu đài văn hoá, tín ngưỡng, các phong tục tập quán và mối tương quan giữa ý thức xã hội với nhân cách cá nhân. Chủ nghĩa Marx nhìn nhận các hiện tương xã hội đó như là kết quả của hành động có ý thức của con người. Tuy nhiên, hành động của con người, đặc biệt là hành vi của các cá nhân, không phải chỉ được điều khiển bởi ý thức, mà có khi nó còn bị thúc đẩy bởi các động lực vô thức nằm sâu trong tận đáy tâm thức của con người, cái đôi khi được đồng nhất với bản năng.Với tư cách một học thuyết duy vật biện chứng và lịch sử được xây dựng trên cơ sở các thành tựu mới nhất của các khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn đương thời, nó thừa nhận tiến hoá luận của Darwin, tiếp thu và kế thừa lí thuyết văn hoá - nhân học của nhà nhân học Mĩ H. Morgan, chủ nghĩa Marx không phủ nhận cơ sở vật chất sinh học của con người, như Marx đã từng chỉ dẫn: "Giải phẫu học về con người là cái chìa khoá cho giải phẫu học về con khỉ", cho nên nó cũng không coi thường bản năng và vô thức. Chỉ có điều, do một số nhà lí luận sau này bởi nhiều lí do khác nhau, đã tuyệt đối hoá mặt ý thức mà xem nhẹ việc nghiên cứu vô thức và tâm lí cá nhân. Mảnh đất quan trọng và thiết thân ấy, do vậy, trong một thời kì dài hàng thế kỉ đã là nơi tung hoành của các trường phái tâm lí học ở các nước tư bản chủ nghĩa Tây Âu và Bắc Mỹ, mà trung tâm của họ là phân tâm học (Psychanalyse) với đại biểu điển hình là Sigmund Freud được nhiều người xem là cha đẻ của phân tâm học, một người mà tác phẩm của mình từng được coi là "cấm kị", không được phổ biến ở một số nước trong thời kì chiến tranh lạnh.Trong lịch sử hình thành và phát triển của phân tâm học, người ta thấy nó quan tâm trước hết đến bệnh lí tâm thần và đời sống vô thức của cá nhân, rồi sau đó mới có bước chuyển di sang lĩnh vực đời sống xã hội. Thuật ngữ phân tâm học (Psychoanalyse) xuất hiện bằng tiếng pháp lần đầu tiên năm 1896 trong một báo cáo của Freud. Thời kì đó người ta hiểu nó như một liệu pháp y học gọi là "liên tưởng tự do" (freie assoziation). Rồi sau đó đã bành trướng thành một phương pháp thời thượng sang nhiều lĩnh vực khác của các khoa học tinh thần. Các hiện tượng xã hội được phân tích truy nguyên theo các yếu tố bản năng vô thức là những cái được di truyền từ loài thú đến loài người nguyên thuỷ và tồn tại mãi cho đến con người hiện đại. Tuy nhiên, trong quá trình tìm tòi nguyên uỷ của bệnh tâm thần cá nhân và những nỗi đau đớn của họ, phương pháp phân tâm học cũng quan tâm đến sự tác động của các bối cảnh xã hội thông qua các câu chuyện do người bệnh kể lại. Những nhân tố xã hội ấy do vậy cũng làm thành cơ sở của phân tâm học.Vấn đề cội nguồn của văn hoá và của tôn giáo hiển nhiên chỉ được đề cập đến trong các giai đoạn phát triển tương đối muộn của phân tâm học, một mặt phía chủ quan, khi mà nó tin rằng có thể vận dụng qui luật sinh lí - tâm thần cá nhân để giải thích được các hiện tượng xã hội quan trọng như vấn đề truyền thống, phong tục tập quán, tôn giáo và văn hoá của các dân tộc. Mặt khác, sự ra đời của các tác phẩm phân tâm học về xã hội cũng là sản phẩm bởi tác động của các bối cảnh lịch sử của xã hội đương thời. Các nguồn tư liệu gần đây cho thấy Freud, Adler cũng như nhiều nhà phân tâm học hàng đầu khác cuối thế kỉ 19 - đầu thế kỉ 20 đã có những quan hệ chặt chẽ với phong trào công nhân châu Âu dưới sự lãnh đạo của những người xã hội dân chủ theo tư tưởng Mác-xít. Thậm chí bản thân một số nhà phân tâm học đồng thời là lãnh tụ của các đảng phái xã hội dân chủ, như A. Adler, H. Heller, C. Furtmueller, D.-E. Openheim. Bản thân Freud cũng như nhiều nhà phân tâm học khác tỏ ra tán thành quan điểm tâm lí hoc duy vật Mác-xít.Vật tổ và cấm kị (Totem und Tabu) là tác phẩm quan trọng nhất của Freud nói riêng và của phân tâm học nói chung về nguồn gốc của văn hoá và tín ngưỡng. Ngay tác phẩm cuối cùng Moise và tôn giáo nhất thần (1939) cũng như Tâm lý học đại chúng và phân tích cái tôi (1921) đều xây dựng trên cơ sở Vật tổ và cấm kị. Phải chăng đó là sự ngoan cố của Freud, cái đã cho phép ông bám chắc các luận đề của mình, hay phải chăng những lý thuyết ông phát minh trong đó chính là những viên đá tảng quan yếu cho văn hoá luận phân tâm học? Tác phẩm này được chính Freud xem là "thử nghiệm đầu tiên (...) trong vận dụng các quan niệm và kết quả nghiên cứu của phân tâm học vào các vấn đề chưa sáng tỏ của tâm lí hoc dân tộc", và đối với độc giả thì nó "đáp ứng mối quan tâm của một phạm vi rộng lớn hơn của những người có văn hóa, nhưng thực ra chúng chỉ có thể được hiểu và phân định bởi một số ít ỏi nhất mà với họ phân tâm học không còn xa lạ nữa. Nó ra đời trên cơ sở những kết quả nghiên cứu lâm sàng và điều trị bệnh nhân tâm thần của chính Freud, các công trình khảo cứu nhân chủng học và văn hóa học của nhiều học giả, đặc biệt là Frazer, và ít nhiều chịu kích thích trực tiếp từ tác phẩm Những biến hoá và biểu tượng của dục tính của nhà phân tâm học trẻ C-G. Jung, môn đệ của ông. Nhưng tác phẩm của Freud có sức khái quát hoá hơn hẳn và mang tính duy vật cao.