Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

World of Warcraft Tập 6: Arthas: Thi Vương Trỗi Dậy - Christie Golden

Aworld-of-warcraft-6-arthas-rise-of-the-lich-kingrthas: Rise of the Lich King (tạm dịch: Arthas: Thi Vương Trỗi Dậy) là tựa đề của cuốn tiểu thuyết Warcraft viết bởi Christie Golden. Golden viết xong cuốn sách này vào tháng 7 năm 2008, nhưng tới tận 21 tháng 4 năm 2009 mới được phát hành. Như tiêu đề, cuốn tiểu thuyết tập trung vào câu chuyện về sự trỗi dậy của Arthas Menethil và trở thành Thi Vương. Miêu tả tại bìa sau: Sự độc ác của hắn đã trở thành huyền thoại. Chúa tể của binh đoàn xác sống Truy Quét, kẻ sở hữu thanh cổ tự kiếm Băng Sầu, và là kẻ thù các toàn bộ các dân tộc tự do tại Azeroth. Thi Vương là một thực thể ẩn chứa sức mạnh vô biên và dã tâm không ai sánh bằng — linh hồn băng giá của hắn đã hoàn toàn ngập chìm trong kế hoạch tiêu diệt tất cả sự sống tại… THẾ GIỚI WARCRAFT Nhưng không phải vốn luôn là thế. Từ rất lâu trước khi linh hồn hắn hợp nhất với linh hồn tên pháp tăng orc Ner’zhul, Thi Vương đã từng là Arthas Menethil, thái tử xứ Lordaeron và là một hiệp sĩ trung nghĩa của hội Bàn Tay Bạc. Khi một bệnh dịch xác sống đe dọa tất cả những gì hắn yêu quý, Arthas đã buộc phải theo đuổi một hành trình tìm kiếm một thanh cổ tự kiếm hùng mạnh có khả năng cứu rỗi quê nhà của mình. Nhưng thứ đồ vật mà hắn tìm kiếm đã bắt chủ nhân mới của nó phải trả một cái giá quá nặng nề, và bắt đầu đày đọa hắn theo con đường đen tối. Con đường của Arthas đã dẫn hắn tới xứ hoang vu vùng cực bắc và tới tận Ngai Băng, nơi cuối cùng hắn phải đối mặt với vận mệnh tối tăm nhất. Miêu tả tại cuối sách: Băng Sầu. Nó đang bay lơ lửng, được bọc trong một tảng băng, những ký tự cổ tự chạy dọc chiều dài lưỡi kiếm tỏa ra ánh sáng màu lam lạnh lẽo. Bên dưới là một bệ đỡ trên một mô đất được đắp lên phủ bởi một lớp tuyết mỏng. Ánh sáng ban ngày mờ nhạt tới từ một khe hở nào đó trên trần hang chiếu xuống thanh cổ tự kiếm. Lớp vỏ bằng băng che dấu đi hình thù chi tiết của thanh kiếm, và cường điệu thêm nhiều thứ khác. Nó vừa rõ ràng lại vừa che dấu, và hơn tất thảy đó là sự quyến rũ như một người tình chỉ mới nhìn thấy thoáng qua sau lớp mành mỏng. Arthas biết thanh kiếm đó – chính là thanh kiếm mà anh thấy trong giấc mơ khi lần đầu tiên tới đây. Thanh kiếm không giết chết Bất Bại mà đã khiến nó hồi sinh lại với đầy sức mạnh. Lúc đó anh đã nghĩ đó là một điềm tốt, nhưng giờ anh biết đó thực sự là một lời tiên tri. Đây là thứ anh tới để tìm kiếm. Thanh kiếm này có thể thay đổi mọi thứ. Arthas nhìn nó đầy say mê, tay gần như đau đớn khi nắm lấy nó, những ngón tay nắm chặt cán kiếm, tay anh cảm thấy thanh kiếm vung lên đầy mượt mà trong đòn kết liễu Mal’Ganis, kết thúc nỗi đau khổ mà hắn đã giáng xuống đầu người dân Lordaeron, kết thúc cơn thèm khát trả thù này. Anh bước tới trước trong sự mê hoặc. Linh hồn nguyên tố huyền bí rút thanh kiếm băng ra. “Quay lại, trước khi quá muộn,” nó nói. Lời đề tặng: Cuốn sách này dành cho tất cả những người yêu quý cốt truyện Warcraft. Tôi mong các bạn thích đọc cuốn sách này cũng như tôi thích viết nên nó. Lời cảm ơn: Xin gửi lời cảm ơn đặc biệt tới Chris Metzen và sự say mê của ông dành cho trò chơi và cốt truyện của nó, và cả Evelyn Fredericksen, Micky Neilson, Justin Parker, và Evan Crawford tại hãng Blizzard vì sự trợ giúp tận tình của họ. Một cuốn sách lớn với nhiều chi tiết đến vậy đã không thể hoàn thành nổi nếu không có sự giúp sẵn lòng và kịp thời của họ. Về tác quyền: This book is a work of fiction. Names, characters, places, and incidents either are products of the author’s imagination or are used fictitiously. Any resemblance to actual events or locales or persons, living or dead, is entirely coincidental. © 2009 Blizzard Entertainment, Inc. All rights reserved. Warcraft, World of Warcraft, and Blizzard Entertainment are trademarks and/or registered trademarks of Blizzard Entertainment, Inc., in the U.S. and/or other countries. All other trademarks referenced herein are the properties of their respective owners. All rights reserved, including the right to reproduce this book or portions thereof in any form whatsoever. For information address Pocket Books Subsidiary Rights Department, 1230 Avenue of the Americas, New York, NY 10020 POCKET and colophon are registered trademarks of Simon & Schuster, Inc. ISBN-13: 978-1-4391-5938-5 ISBN-10: 1-4391-5938-6 Visit us on the World Wide Web: http://www.SimonSays.com Về tác giả: Tác giả đã dành được nhiều giải thưởng Christie Golden đã viết hơn ba mươi tiểu thuyết và vài truyện ngắn trong các lĩnh vực khoa học viễn tưởng, kỳ ảo, và kinh dị. Golden đã viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên cho loạt Ravenloft của hãng TSR vào năm 1991, cuốn Vampire of the Mists với nhiều thành công rực rỡ kể về elven vampire Jander Sunstar. Bà chính là người sáng tạo nên hình mẫu về elven vampire trong thể loại kỳ ảo viễn tưởng. Bà là tác giả của vài tiểu thuyết kỷ ảo nguyên gốc, bao gồm On Fire’s Wings, In Stone’s Calsp, và Under Sea’s Shadow (hiện tại có thể mua dưới dạng sách điện tử), 3 cuốn sách đầu tiên trong loạt sách kỳ ảo “The Final Dance” của hãng LUNA Books. In Stone’s Clasp thắng Giải Thưởng Liên Minh Tác Giả Colorado dành cho Thể Loại Tiểu Thuyết Hay Nhất vào năm 2005, cuốn tiểu thuyết thứ hai của Golden đã dành được giải thưởng đó. Trong những dự án khác của Golden gồm có một tá tiểu thuyết Star Trek và bộ ba cuốn StarCraft Dark Templar là Firstborn, Shadow Hunters, và cuốn Twilight sắp xuất bản. Là một người chơi của trò chơi MMORPG World of Warcraft của Blizzard, Golden đã viết vài cuốn tiểu thuyết trong thế giới đó (Lord of the Clans, Rise of the Horde) với ba cuốn còn đang thực hiện. Bà cũng đã viết chuyện cho hai truyện tranh Warcraft cho hãng Tokyopop là “I Got What Yule Need” và “A Warrior Made.” Hiện tại Golden đang miệt mài làm việc với ba cuốn sách thuộc loạt chín quyển sách của Star Wars là “Fate of the Jedi,” cộng tác cùng với Aaron Allston và Troy Denning. Cuốn sách đầu tiên của bà trong loạt sách này là Omen được dự kiến xuất bản vào tháng 7 năm 2009. Golden sống tại Colorado cùng với chồng và hai con mèo. Các vị khách có thể tới thăm trang mạng của bà tại www.christiegolden.com. Ghi chú: Câu chuyện bạn vừa đọc được dựa một phần vào trò chơi điện tử của hãng Blizzard Entertainment là Warcraft III: Reign of Chaos và bản mở rộng Warcraft III: The Frozen Throne. Được phát hành lần lượt vào tháng 7 năm 2002 và tháng 7 năm 2003, những tựa game này đã đạt được doanh số cao và được khen ngợi bởi các nhà phê bình, đạt được các giải thưởng “Lựa chọn của chủ bút,” “Trò chơi chiến thuật của năm,” “Trò chơi của năm,” và nhiều giải thưởng khác thuộc nhiều tờ báo khác. Hơn năm năm sau, Warcraft III vẫn còn là sự lựa chọn phổ biến trong các trận đấu đa người chơi trực tuyến, và là phần thứ yếu trong những cuộc thi đấu chuyên nghiệp trên khắp thế giới . Phần chơi chiến dịch một người chơi cho phép người chơi điều khiển và tương tác với một số nhân vật mạnh mẽ và thú vị nhất trong cốt truyện Warcraft và tự tay trải nghiệm quãng thời gian quan trọng nhất trong lịch sử Azeroth. Đọc thêm: Nếu bạn muốn đọc thêm về những nhân vật, hoàn cảnh, và sự kiện trong tiểu thuyết này, những cuốn sách dưới đây đều chứa một phần câu chuyện về Azeroth: Câu chuyện về Thrall (cùng với Taretha Foxton, Aedelas Blackmoore, Thành Durnholde, và các khu trại giam loài orc) có thể xem tại cuốn Warcraft: Lord of the Clans của Christie Golden. Jaina Proudmoore chiếm một vai trò quan trọng trong World of Warcraft: Cycle of Hatred của Keith R.A. DeCandido cùng với bộ truyện tranh hàng tháng World of Warcraft của Walter Simonson và Ludo Lullabi, Jon Buran, và Mike Bowden. Lời khiển trách của Kirin Tor dành cho Kel’Thuzad có thể xem chi tiết tại “Warcraft: Road to Damnation” của Evelyn Fredericksen (trên trang worldofwarcraft.com). Tình trạng sau này của Nguồn Nước Mặt Trời được kể rõ trong Warcraft: The Sunwell Trilogy bởi Richard A. Knaak và Jae-Hwan Kim (bản bìa cứng cuối cùng đã được xuất bản). Hoàng Tử Varian Wrynn xứ Bạo Phong là một người tị nạn trẻ tuổi trong cuốn sách này, nhưng chuyến phiêu lưu của anh tiếp tục trong số truyện tranh hàng tháng của World of Warcraft bởi Walter Simonson và Ludo Lullabi, Jon Buran, và Mike Bowden (bản bìa cứng sưu tầm đã được xuất bản). Thành phố ma thuật Dalaran cũng xuất hiện trong Warcraft: Mage, cuốn truyện tranh viết bởi Richard A. Knaak và dự kiến xuất bản vào tháng 2 năm 2010. Cậu chuyện đằng sau nhà tiên tri bí ẩn đã cảnh báo Terenas, Antonidas, Arthas, và Jaina được kể trong Warcraft: The Last Guardian của Jeff Grubb. Các thông tin thêm về cuộc sống và cái chết của Ner’zhul được kể trong World of Warcraft: Rise of the Horde của Christie Golden, World of Warcraft: Beyond the Dark Portal của Aaraon Rosenberg và Christie Golden, và “Warcraft: Road to Damnation” của Evelyn Fredericksen (trên trang worldofwarcraft.com). Sylvanas Windrunner và cuộc tấn công của quân Truy Quét vào thành Trăng Bạc có trong Warcraft: The Sunwell Trilogy quyển 3 – Ghostlands của Richard A. Knaak và Jae-Hwan Kim. Illidan Stormrage, Archimonde, và đội quân ma quỷ Quân Đoàn Rực Lửa tàn phá khắp Azeroth trong Warcraft: War of the Ancients Trilogy của Richard A. Knaak. Giống hầu hết quỷ dữ, Kil’jaeden cũng từng là một người phàm. Dân tộc hắn, người eredar, phần lớn đã bị tha hóa bản thân trong World of Warcraft: Rise of the Horde của Christie Golden. Anduin Lothar buộc phải giết một trong những người bạn thân nhất của mình trong Warcraft: The Last Guardian của Jeff Grubb. Lothar tiến tới đối đầu với Orgrim Doomhammer trong World of Warcraft: Tides of Darkness của Aaron Rosenberg. Terenas, Uther Người Mang Ánh Sáng, và Liên Minh Lordaeron đã đánh bại Đại Tộc cũng trong World of Warcraft: Tides of Darkness của Aaron Rosenberg. Orgrim Doomhammer trưởng thành khi các bộ tộc orc xứ Draenor tập hợp thành một Đại Tộc tàn ác duy nhất trong World of Warcraft: Rise of the Horde của Christie Golden. Về sau, trong Đệ Nhị Chiến Tranh, Doomhammer phải đối mặt với thất bại trong World of Warcraft: Tides of Darkness của Aaron Rosenberg. Hội Kỵ Sĩ Bàn Tay Bạc được thành lập lần đầu tiên trong World of Warcraft: Tides of Darkness của Aaron Rosenberg. Một trong những thành viên nổi tiếng nhất của họ đã buộc phải tha hương trong các sự kiện trong Warcraft: Of Blood and Honor của Chris Metzen và về sau tái xuất hiện trong World of Warcraft: Ashbringer của Micky Neilson và Ludo Lullabi. Những chuyến phiêu lưu của Khadgar được miêu tả chi tiết trong Warcraft: The Last Guardian của Jeff Grubb, World of Warcraft: Tides of Darkness của Aaron Rosenberg, và World of Warcraft: Beyond the Dark Portal của Aaron Rosenberg và Christie Golden. Aegwynn đã ở ẩn một mình suốt một thời gian dài tới khi bà gặp Jaina trong  World of Warcraft: Cycle of Hatred của Keith R.A. DeCandido. Aegwynn tiếp tục cố vấn và hỗ trợ cho Jaina trong bộ truyện tranh ra mắt hàng tháng World of Warcraft của Walter Simonson và Ludo Lullabi, Jon Buran, và Mike Bowden. Tên chúa mộ Anub’arak tiết lộ kế hoạch nham hiểm của Thi Vương đối với Azeroth trong “Warcraft: Road to Damnation” của Evelyn Fredericksen (trên trang worldofwarcraft.com). Sự hứa hôn của Lãnh Chúa Prestor và Công Chúa Calia và tham vọng bí mật của hắn bị rồng đỏ Korialstrasz nghi ngờ trong Warcraft: Day of the Dragon của Richard A. Knaak. CUỘC CHIẾN CÒN TIẾP DIỄN Bạn vừa được gặp Arthas. Bạn đã thấy được tuổi trẻ của hắn, tình yêu lớn nhất, thất bại lớn nhất, và thách thức lớn nhất của hắn. Bạn đã chứng kiến giờ khắc tuyệt vọng nhất của hắn, sự trỗi dậy đầy độc ác của hắn, và cuối cùng là sự tái thức tỉnh của hắn. Nhưng đó mới chỉ là khởi đầu. Giờ đây chính bạn có thể tự tay đối đầu với hắn trong World of Warcraft: Wrath of the Lich King. World of Warcraft là một trò chơi nhập vai trực tuyến đặt trong vũ trụ Warcraft vốn dành được nhiều giải thưởng sáng giá. Trong đó người chơi có thể tạo ra vị anh hùng của chính mình để khám phá, thám hiểm, và lùng sục khắp thế giới rộng lớn cùng với hàng ngàn người khác. Dù là khám phá cùng nhau hay là chiến đấu chống lại lẫn nhau trong những trận chiến hào hùng, họ đã tạo nên những tình bạn, tạo thành những liên minh, và ganh đua với đối thủ để dành lấy sức mạnh và vinh quang. World of Warcraft là trò chơi nhập vai trực tuyến nhiều người chơi phổ biến nhất mọi thời đại với hơn 11.5 triệu người tham gia trên toàn thế giới – nếu đó là một quốc gia thì dân số của nó lớn hơn 135 quốc gia có thật trên thế giới này. Bản mở rộng thứ hai của nó là Wrath of the Lich King đã được phát hành vào tháng 11 năm 2008 đã lập kỷ lục là trò chơi máy tính bán nhanh nhất mọi thời đại với hơn 2.8 triệu bản được bán chỉ trong 24 giờ đầu tiên mở bán và đạt hơn 4 triệu bản trong tháng đầu tiên. Để khám phá thế giới luôn luôn được mở rộng đã làm mê đắm hàng triệu người khắp địa cầu này, hãy vào worldofwarcraft.com và tải về phiên bản dùng thử miễn phí ngay. Hãy cùng sống trong câu chuyện này. Thông tin thêm: Phát hành: Pocket Star Books Ngày phát hành: Bản bìa cứng: 19 tháng 5 năm 2009 Bản bìa mềm: 26 tháng 1 năm 2010 Người dịch: Asumo Tình trạng dịch: đã hoàn tất *** Luồng gió rít lên như một đứa bé đang bị đau. Bầy ngà vét co cụm lại với nhau để giữ hơi ấm, lớp da dày đầy lông của chúng giúp chúng chống chọi lại cơn bão dữ dội. Chúng tập hợp thành một vòng tròn, những con non run lẩy bẩy kêu khe khẽ ở vòng trong cùng. Những cái đầu với cặp sứng khổng lồ rúc xuống mặt đất đầy tuyết, mắt nhắm lại trong cơn bão tuyết. Hơi thở phả ra khiến mõm chúng đóng băng lại khi chúng đứng lại cố gắng chống chịu. …Trong những cái hang, lũ sói và cả gấu chờ cơn bão tan đi, loài thì ở cùng với bầy đàn, loài kia lại cô độc và nhẫn nhịn. Dù có đói đến thế nào, chẳng thứ gì có thể thúc giục chúng đi ra ngoài kia cho tới khi luồng gió rét buốt kia ngừng rít và cơn bão tuyết nặng hạt đã tan đi. Cơn gió tràn vào từ biển quật vào ngôi làng Kamagua, xé toạc những bộ da căng trên những khung nhà làm từ xương những sinh vật biển khổng lồ. Khi cơn bão qua đi, những người tuskarr sống trong những ngôi nhà đó hằng bao nhiêu năm không đếm nổi biết rằng họ cần phải sửa chữa hoặc thay thế những cái lưới và bẫy. Nhà của họ dù cho rất chắc chắn, vẫn luôn bị hư hại khi cơn bão tới. Họ đều đang tập hợp trong khu nhà cỡ lớn được đào sâu vào lòng đất, buộc chặt mái giúp chống chịu lại cơn bão và thắp sáng những cây đèn dầu mù khói. Già làng Atuik chờ đợi trong im lặng khắc kỷ. Ông ta đã thấy nhiều cơn bão như thế nào suốt bảy năm qua rồi. Ông đã sống rất lâu, độ dài và độ vàng của đôi ngà cùng những nếp nhăn trên làn da nâu của ông là minh chứng cho điều đó. Nhưng những cơn bão đó không hẳn chỉ là bão, rất không tự nhiên. Ông nhìn những người trẻ tuổi, họ đang run rẩy nhưng không phải vì cái lạnh, người tuskarr không sợ lạnh, mà vì họ đang sợ hãi. “Ông ấy ngủ rồi,” một trong số họ lẩm bẩm, mắt sáng trưng, râu ria lởm chởm. “Yên lặng nào,” Atuik quát, thô lỗ hơn so với ý định. Đứa bé đó giật mình và im bặt, và rồi một lần nữa âm thanh duy nhất phát ra là tiếng khóc thổn thức của gió và tuyết. Tiếng rống trầm sâu đó bay lên như một làn khó, không lời nhưng đầy ý nghĩa; một bài hát được xướng lên bởi một tá giọng ca. Tiếng trống cùng lúc lắc và tiếng xương đập vào xương tạo thành phần nhạc nền dữ dội cho tiếng gọi không lời đó. Điều tồi tệ nhất trong cơn thịnh nộ của làn gió đã bị làm chệch hướng khỏi ngôi làng của người taunka bởi một vòng tròn cột trụ và da thú, và những căn lều với mái tròn cong trên một không gian rộng lớn thật vững chãi bất chấp sự gian khổ tại vùng đất này. Dù với âm thanh trầm sâu của nghi thức cổ xưa đó, tiếng gào thét của gió vẫn còn có thể nghe thấy được. Vũ công kia, một pháp tăng tên là Kamiku, nhảy lỡ một nhịp và vó của ông bị vấp một cách vụng về. Ông lấy lại nhịp điệu và tiếp tục nhảy. Tập trung. Chỉ cần tập trung thôi. Đó là cách để kiểm soát các nguyên tố và ép chúng khuất phục; đó là cách giúp dân tộc ông sống sót tại vùng đất khắc nghiệt và tàn nhẫn này. Mồ hôi thấm ướt và làm sẫm màu lông của ông khi ông nhảy. Đôi mắt nâu lớn của ông nhắm lại tập trung, vó lại nhảy những điệu nhảy mạnh mé. Ông hất đầu lên, cặp sừng ngắn chĩa lên trời, đuôi quất đi quất lại. Những vũ công khác cũng nhảy cạnh ông. Thân nhiệt của họ và nhiệt độ của ngọn lửa vẫn rực cháy bất kể những bông tuyết rơi và luồng gió tràn xuống từ lỗ khói trên mái nhà, giúp cho cả căn lều ấm áp thoải mái. Họ đều biết những gì đang xảy ra ngoài kia. Họ không thể kiểm soát nổi những cơn gió và mưa tuyết đó như bình thường nữa. Không, đây là việc làm của hắn. Nhưng họ vẫn sẽ nhảy múa, ăn uống, và cười đùa bất chấp sự khắc nghiệt đó. Họ là loài taunka; họ có thể chịu đựng được. Thế giới màu trắng xanh đang nổi cơn thịnh nộ ngoài kia, nhưng trong Đại Sảnh bầu không khí thật ấm áp và tĩnh mịch. Một lò sưởi đủ cao cho một người đứng vào trong được chất đẩy những thanh củi lớn, tiếng lửa cháy lách tách là âm thanh duy nhất phát ra. Bên trên mặt lò được trang trí cầu kỳ, khắc hình những sinh vật kỳ quái, treo cặp sừng khổng lồ của một con ngà vét. Chân đèn khắc hình đầu rồng giữ những bó đuốc cháy ngọn lửa sáng rực. Những thanh dầm đỡ phòng tiệc lớn đủ chứa hàng chục người, màu vàng ấm áp của lửa xua tan bóng tối tại những góc nhà. Nền đá lạnh phủ những tấm da dày ấm áp của loài gấu trắng, ngà vét, và nhiều sinh vật khác. Một cái bàn dài nặng được chạm khắc chiếm phần lớn diện tích căn phòng. Ba tá người có thể ngồi bên nó một cách dễ dàng. Chỉ có ba bóng người đang ngồi bên chiếc bàn đó: một người đàn ông, một orc, và một cậu bé. Dĩ nhiên chẳng có ai trong số đó là thật. Người đàn ông ngồi trên chiếc ghế được chạm khắc hình dã tượng không giống một ngai vàng lắm ở vị trí sang trọng nhất của bàn có phần hơi cao thượng so với hai người kia, hiểu rất rõ điều này. Hắn đang mơ; và hắn đã mơ được khá lâu lâu rồi. Căn phòng, chiến tích về loài ngà vét, ngọn lửa, cái bàn – gã orc và cậu bé – tất cả chỉ là một phần trong giấc mơ của hắn. Gã orc ở bên trái hắn đã già rồi, nhưng vẫn còn rất mạnh mẽ. Ngọn lửa màu cam – và ánh sáng của ngọn đuốc lập lòe hình ảnh đáng sợ gã có trên khuôn mặt có quai hàm to lớn – đó là hình vẽ của một hộp sọ. Gã đã từng là một pháp tăng, có khả năng kiểm soát và điều khiển những sức mạnh to lớn, và kể cả giờ đây, dù chỉ là ảo ảnh trong trí tưởng tượng của người đàn ông đó, gã cũng thật đáng sợ. ... Mời các bạn đón đọc World of Warcraft Tập 6: Arthas: Thi Vương Trỗi Dậy của tác giả Keith R. A. DeCandido.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Ma Cà Rồng Ở Dallas
Khi chàng ma cà rồng Bill Thompton tiếp nhận vị trí Điều tra viên khu vực Số Năm, Sookie Stackhouse mặc nhiên được những ma cà rồng quyền lực nhất vùng bảo vệ. Nhưng, được coi như món đồ thuộc quyền sở hữu của Bill, cô buộc phải sử dụng khả năng đọc tâm trí của mình để phục vụ những kẻ khát máu. Với điệp vụ đầu tiên trong vai trò một tay lính đánh thuê, cô phải lặn lội cùng Bill tìm lời giải đáp cho sự mất tích bí ẩn của một ma cà rồng đồng tính tận Dallas. Cô những tưởng mình chỉ cần đọc tâm trí một vài người thường nào đó. Cô cũng đã tưởng mình có thể bảo vệ những con người liên quan đến vụ việc. Chỉ có điều, mối nguy hiểm không phải lúc nào cũng chỉ đến từ phía ma cà rồng. Và, lý thuyết bao giờ cũng đơn giản hơn thực tế… Một lần nữa, chính mạng sống của cô lại bị treo trên đầu sợi tóc… Charlaine Harris (sinh 25/11/1951) sinh ra và lớn lên tại Tunica, Mississippi và hiện giờ đang sống ở Arkansas cùng chồng và ba người con. Bà sáng tác thơ, truyện ngắn, kịch và tiểu thuyết. Chết trước hoàng hôn (Dead Until Dark) là tập đầu tiên trong bộ tiểu thuyết ăn khách The Southern Vampire Mysteries (Bí ẩn ma cà rồng miền Nam), từng giành được giải Anthony Award cho Tác phẩm thần bí xuất sắc nhất 2001. Bộ tiểu thuyết này cũng được đạo diễn Alan Ball chuyển thể thành series phim truyền hình ăn khách nhiều năm liên tiếp True Blood. “Thật khó tưởng tượng ra cảnh ma cà rồng và người sói cùng lượn lờ ở mỗi góc đường, nhưng Harris đã biết cách khiến người đọc yêu thích, bị lôi cuốn và cuối cùng là mê mệt những câu chuyện của bà.” – The Monroe News-star “Một cuốn sách bạn muốn đọc trước giờ đi ngủ, chắc mẩm sẽ chỉ theo dõi hết chương đầu tiên, nhưng hóa ra lại chỉ dừng lại được khi đã đi đến trang cuối cùng.” – Alan Ball, biên kịch American Beauty và đạo diễn True Blood “Bằng sự hòa quyện của những pha hành động, tình cảm và các chi tiết hài hước, Harris đã tạo ra một thế giới sống động đầy tính hiện thực, tất nhiên, nếu không kể đến ma cà rồng và những sinh vật siêu nhiên khác.” – The Toronto Stars *** Andy Bellefleur đã say khướt. Chuyện này chẳng bình thường với Andy chút nào - tin tôi đi, tôi biết hết mấy tay nát rượu ở Bon Temps. Nhờ nhiều năm làm việc trong quán bar của Sam Merlotte, tôi đã quen mặt tất cả bọn họ. Nhưng Andy Bellefleur, người gốc địa phương và là thanh tra trong lực lượng cảnh sát ít ỏi ở thị trấn Bon Temps, thì trước giờ chưa từng say xỉn ở quán Merlotte. Tôi cực kỳ tò mò muốn biết vì sao tối nay lại là ngoại lệ. Vì Andy và tôi chẳng hề quen thân nên tôi không thể hỏi thẳng anh ta được. Nhưng vẫn còn vài cách khác mà, thế là tôi quyết định dùng các cách ấy. Mặc dù tôi luôn cố hạn chế sử dụng khiếm khuyết, hay tài năng của mình, muốn gọi sao cũng được, để tìm ra những thứ có thể ảnh hưởng đến tôi hoặc những thứ thuộc về tôi, nhưng đôi lúc sự tò mò lại thắng thế. Tôi hạ rào chắn tâm trí xuống để đọc suy nghĩ của Andy. Rồi tôi lại thấy hối hận. Sáng nay Andy đã tóm một tên bắt cóc. Gã đàn ông đó đã bắt cóc cô bé hàng xóm mới mười tuổi mang vào rừng hãm hiếp. Cô bé đó hiện đang ở bệnh viện, còn gã kia đang ở trong tù, nhưng tổn hại mà hắn đã gây ra thì chẳng thể nào khắc phục được. Tôi buồn đến phát khóc. Tội ác ấy chạm vào sâu thẳm quá khứ của chính tôi. Sự trầm uất của Andy làm tôi thấy thích anh ta hơn một chút. “Này Andy Bellefleur, đưa chìa khóa xe anh đây,” tôi nói. Gương mặt to bành của Andy ngước lên nhìn tôi, ngơ ngác. Sau một hồi lâu ngẩn ngơ để cho lời tôi nói thẩm thấu vào trí óc rối bời của mình, Andy thò tay lục túi quần kaki rồi đưa tôi một chùm chìa khóa nặng trịch. Tôi đặt thêm một ly bourbon pha coca trên quầy bar trước mặt anh ta. “Tôi mời,” tôi nói, rồi lấy điện thoại ở cuối quầy bar gọi cho Portia, em gái Andy. Hai anh em nhà Bellefleur sống ở một căn biệt thự lớn kiểu tiền Nội Chiến hai tầng màu trắng trước đây hẳn rất tráng lệ nhưng giờ đang xuống cấp, nằm trên con phố xinh xắn nhất trong khu vực đẹp nhất thị trấn Bon Temps. Trên đường Magnolia Creek, mọi ngôi nhà đều quay mặt ra phía dải công viên có dòng suối nhỏ len qua, bắc rải rác ngang con suối là những cây cầu hoa hòe hoa sói chỉ dành riêng cho người đi bộ; đường lộ chạy dọc hai bên công viên. Trên đường Magnolia Creek còn có vài căn nhà xưa khác nữa, nhưng tất cả đều được chăm chút hơn nơi ở của gia đình Bellefleur, căn Belle Rive. Việc duy tu căn nhà Belle Rive vượt quá khả năng chi trả của Portia, một luật sư, và của Andy, một cảnh sát, vì số tiền để duy trì căn nhà cùng đất đai vườn tược chung quanh đã hết từ lâu rồi. Nhưng bà của họ, Caroline, lại gàn bướng không chịu bán. Portia nhấc điện thoại sau hồi chuông thứ hai. “Portia à, tôi là Sookie Stackhouse đây,” tôi phải lên giọng để át đi âm thanh ồn ã trong quán bar. “Hẳn là cô vẫn đang ở chỗ làm.” “Phải rồi. Andy đang ở đây, say mèm rồi. Tôi đã thu chìa khóa xe của anh ấy. Cô đến đón Andy được không?” “Andy quá chén à? Hiếm nhỉ. Được rồi, tôi sẽ đến đó trong vòng mười phút,” cô ta hứa, rồi cúp máy. “Cô tốt bụng quá, Sookie,” tự nhiên Andy thốt lên. Anh ta đã nốc cạn ly rượu tôi vừa rót. Tôi gạt cốc ra chỗ khuất mắt, mong rằng anh ta không đòi thêm nữa. “Cảm ơn anh, Andy,” tôi nói. “Anh cũng là người tốt bụng mà.” “Bạn trai… đâu ấy nhỉ?” “Ngay đây này,” một giọng nói lạnh lùng đáp lại, và Bill Compton xuất hiện ngay đằng sau Andy. Tôi mỉm cười với anh qua đầu Andy lúc này đang gục xuống. Bill cao khoảng một mét tám, tóc và mắt cùng một màu nâu sẫm. Anh có bờ vai rộng và đôi cánh tay cuồn cuộn cơ bắp như của người đã lao động chân tay suốt nhiều năm liền. Trước khi đi lính, Bill đã làm việc ở trang trại, đầu tiên là cùng bố, sau đó làm một mình. Trong cuộc Nội Chiến thì phải. “Chào M.B.!” Micah, chồng của Charlsie Tooten, cất tiếng. Bill phẩy tay đáp lại, Jason, anh trai tôi, thì chào hỏi vô cùng lịch sự, “Chào buổi tối nhé, ma cà rồng Bill.” Jason, trước đây không mấy sẵn lòng đón chào Bill bước vào gia đình nhỏ của chúng tôi, nhưng giờ lại thay đổi thái độ hoàn toàn. Trong thâm tâm tôi gần như vẫn nín thở chờ xem thái độ được cải thiện này có tồn tại mãi không. “Này Bill, anh là một tay hút máu tốt bụng đấy,” Andy nói vẻ đánh giá, rồi xoay người đối mặt Bill. Tôi lại nâng cấp quan điểm của mình về Andy khi say xỉn, vì khi tỉnh táo có bao giờ anh ta tỏ ra sẵn lòng chấp nhận ma cà rồng vào xã hội con người trên đất nước này đâu cơ chứ. “Cảm ơn anh,” Bill đáp bằng giọng khô khốc. “Với một tay nhà Bellefleur thì anh cũng đâu quá tệ.” Anh rướn người qua quầy hôn tôi. Đôi môi anh cũng lạnh như chính giọng nói. Phải làm quen với điều này thôi. Như khi ngả đầu lên ngực anh, chẳng ai nghe thấy được nhịp tim đập trong ấy. “Chào buổi tối, cưng à,” anh nói nhỏ. Tôi đẩy qua quầy bar một ly B trừ, loại máu nhân tạo được Nhật Bản phát chế, anh ngửa cổ nốc cạn rồi liếm môi. Gần như ngay lập tức trông anh hồng hào hẳn. “Cuộc họp sao rồi cưng?” tôi hỏi. Bill đã ở Shreveport hầu như cả đêm hôm nay. “Anh sẽ kể cho em sau.” Tôi hy vọng những chuyện liên quan đến công việc của anh không quá bi thương như chuyện của Andy. “Được thôi. Em mong là anh sẽ giúp Portia dìu Andy ra xe cô ấy. Cô ấy đến kia kìa,” tôi nói, hất đầu về phía cửa. Đấy là lần đầu tiên tôi không thấy Portia vận bộ đồng phục váy công sở, sơ mi, áo khoác, tất dài cùng giày đế bệt. Portia đã thay quần jean xanh và một chiếc áo lạnh Sophie Newcomb nhàu nhĩ. Thân hình Portia to cao như người anh mình, nhưng cô có mái tóc màu hạt dẻ dài và dày. Chăm sóc cho mái tóc mình đẹp đẽ là một nét đặc trưng của bản thân mà Portia chưa muốn từ bỏ. Cô chỉ đưa mắt khắp đám đông om sòm chăm chăm tìm một thứ. “Ôi, anh ấy xỉn quá rồi, hay nhỉ,” cô thốt lên, thẩm định tình trạng ông anh trai của mình. Portia cố phớt lờ Bill, người đang làm cô thấy hết sức khó chịu. “Chuyện này không xảy ra thường xuyên đâu, nhưng nếu đã muốn uống thật là anh ấy sẽ uống quắc cần câu luôn.” “Portia này, Bill có thể dìu anh ấy ra ngoài xe giúp cô,” tôi nói. Andy cao và đậm người hơn Portia, rõ ràng là nặng quá sức cô em gái. “Tôi nghĩ mình có thể tự lo được,” Portia quả quyết với tôi, vẫn không thèm nhìn qua Bill, lúc này đang nhướn mày nhìn tôi. Thế là tôi để cô vòng tay qua người ông anh trai, cố nhấc anh ta ra khỏi ghế. Andy vẫn ì ra đó. Portia liếc nhìn quanh tìm Sam Merlotte, chủ quán bar, tuy anh này có vẻ ngoài nhỏ thó gầy gò nhưng thật ra lại rất khỏe. “Sam đang đi pha chế rượu cho một buổi tiệc kỷ niệm ở câu lạc bộ ngoại ô mất rồi,” tôi nói. “Tốt hơn hết là cứ để Bill giúp đi.” “Ừ thôi cũng được,” cô luật sư cứng nhắc đáp, mắt nhìn chăm chăm lên mặt gỗ quầy bar bóng loáng. “Cảm ơn rất nhiều.” Trong chớp mắt Bill đã xốc Andy lên đi ra phía cửa, mặc cho hai chân Andy cứ muốn nhũn như chi chi. Micah Tooten bật dậy mở cửa, để Bill có thể dìu Andy thẳng ra ngoài bãi đỗ xe. “Cảm ơn cô, Sookie,” Portia nói. “Tiền rượu anh ấy đã trả hết chưa?” Tôi gật đầu. “Được rồi,” cô nói, vỗ nhẹ tay xuống bàn để ra hiệu là cô về đây. Cô phải nghe hàng đống lời khuyên đầy thiện chí khi theo bước Bill ra khỏi cửa chính của quán Merlotte. Đó là lý do vì sao mà chiếc Buick cũ kỹ của thanh tra Andy Bellefleur lại đỗ trong bãi xe quán Merlotte suốt đêm đến tận ngày hôm sau. Sau này hẳn anh ta sẽ thề rằng dĩ nhiên không có ai trong chiếc Buick ấy khi mình bước ra khỏi xe đi vào quán. Hẳn anh ta cũng sẽ khai rằng trước đó do quá bận tâm về cơn hỗn loạn nội tâm nên đã quên khóa cửa. Đâu đó trong khoảng thời gian từ tám giờ tối, khi Andy bước vào quán Merlotte, đến mười giờ sáng hôm sau, khi tôi đến để giúp mở cửa tiệm, xe của Andy đã có thêm một hành khách mới. Người này chắc chắn sẽ gây ra một nỗi xấu hổ trầm trọng cho viên cảnh sát. Hắn đã chết. Đáng lẽ ra tôi không nên đến đây làm gì. Đêm trước tôi đã làm ca khuya, và nhẽ ra tối hôm sau tôi lại phải làm ca khuya nữa. Nhưng Bill đã yêu cầu tôi đổi ca với một đồng nghiệp khác, bởi anh cần tôi đi cùng đến Shreveport, và Sam đã không phản đối. Tôi đã nhờ chị bạn Arlene đổi ca với tôi. Hôm ấy là ngày nghỉ của chị, nhưng Arlene luôn muốn kiếm những món tiền boa hậu hĩnh hơn khi làm việc ca tối, nên chị đồng ý đến quán vào lúc năm giờ chiều. Kỳ thực, lẽ ra Andy đã phải đến lấy xe buổi sáng hôm đó, nhưng anh ta vẫn còn quá váng vất không đủ sức làm trò buộc Portia cho quá giang đến quán Merlotte, quán này thì không nằm trên đường tới đồn cảnh sát. Cô bảo buổi trưa sẽ đến đón anh ở chỗ làm, và cả hai sẽ dùng bữa ở quán. Sau đó thì anh ta có thể lấy xe. Thế nên chiếc Buick, cùng vị hành khách câm lặng của mình, đã phải chờ lâu hơn thời gian cần thiết mới được phát hiện. Tôi đã ngủ khoảng sáu tiếng đêm trước đó, nên cảm thấy trong người khá khỏe khoắn. Hẹn hò với ma cà rồng có thể sẽ làm khó cho sự cân bằng của bạn nếu bạn thực là người sống về ban ngày, như tôi đây này. Tôi giúp mọi người đóng cửa quán, rồi về nhà với Bill trước một giờ sáng. Hai chúng tôi cùng tắm trong bồn tắm nước nóng nhà anh, rồi làm vài chuyện khác nữa, nhưng tôi đã đi ngủ sau hai giờ một chút, và mãi đến gần chín giờ sáng mới thức dậy. Lúc đó thì Bill đã xuống lòng đất từ lâu rồi. Tôi uống thật nhiều nước, nước cam cùng một viên vitamin tổng hợp và một viên bổ sắt vào bữa sáng, đó là chế độ dinh dưỡng của tôi kể từ khi Bill bước vào đời tôi và mang theo (cùng với tình yêu, trò phiêu lưu, lẫn sự phấn khích) mối đe dọa triền miên của chứng thiếu máu. Thời tiết đang dần trở nên mát mẻ hơn, tạ ơn Chúa, khi tôi ngồi trước hiên nhà Bill, mặc áo len móc dài tay và chiếc quần dài màu đen mà chúng tôi vẫn mặc làm việc ở quán Merlotte mỗi khi trời quá lạnh không thể mặc quần soóc được. Chiếc áo sơ mi đánh gôn trắng của tôi có thêu chữ BAR MERLOTTE’S bên ngực trái. Khi đang đọc lướt qua tờ báo buổi sáng, một phần tâm trí khác của tôi giúp tôi nhận ra một thực tế rõ ràng là cỏ mọc không nhanh như trước kia. Có vẻ như một vài ngọn cỏ bắt đầu ngả màu dần. Tình trạng sân bóng trong trường trung học chắc hẳn sẽ khá xấu vào tối thứ Sáu tới đây. Mùa hè ở Louisiana cứ dùng dằng mãi không dứt, kể cả ở miền Bắc Louisiana cũng thế. Mùa thu đến rất miễn cưỡng, cứ như thể bất cứ lúc nào mùa thu cũng có thể bỏ cuộc để lại nhường chỗ cái nóng hầm hập của tháng Bảy vậy. Nhưng tôi vốn mẫn cảm, và có thể điểm mặt được những dấu hiệu của mùa thu vào buổi sáng hôm nay. Mùa thu và mùa đông đến có nghĩa là đêm được dài hơn, thời gian ở bên Bill được lâu hơn, và giấc ngủ được thêm vài giờ nữa. Nên tôi đi làm với tâm trạng vui vẻ. Khi thấy chiếc Buick vẫn còn đỗ một mình trước quán bar, tôi nhớ lại chầu rượu say bí tỉ bất thường của Andy tối qua. Phải thú thật rằng, tôi đã mỉm cười khi nghĩ đến cảm giác của anh ta sáng nay. Ngay khi chuẩn bị vòng xe ra đằng sau để đỗ xe cùng với những nhân viên khác, tôi nhác thấy cửa sau của xe Andy mở he hé. Nếu cứ để như vậy thì đèn trần chắc chắn sẽ sáng hoài, phải không nào? Và ắc quy xe anh ta sẽ cạn mất. Và chắc hẳn anh ta sẽ cáu điên lên, rồi phải vào trong quán bar mà gọi xe đến cẩu đi, hoặc nhờ ai đó làm nóng xe cho mình… nên tôi đỗ xe vào bãi rồi ra khỏi xe, cứ để máy nổ. Hóa ra đây lại là một sai lầm tai hại vì lạc quan quá mức. Tôi ẩy cánh cửa vào, nhưng nó chỉ nhích tới có một phân. Thế nên tôi tì cả người vào cánh cửa, nghĩ rằng nó sẽ dập khóa lại và tôi có thể đi làm việc khác. Nhưng một lần nữa, cánh cửa không chịu sập lại. Tôi sốt ruột giật toang cửa ra để xem thứ gì kẹt trong cửa xe. Một luồng hôi thối ùa tràn ra bãi đỗ xe, một mùi hôi thối chết chóc. Tôi nghẹn họng mất hết tinh thần, vì tôi chẳng xa lạ gì với mùi hôi thối ấy. Tôi thò đầu vào trong băng ghế sau của xe, tay bịt chặt miệng, dù rằng làm thế cũng chẳng ngăn được thứ mùi này. “Ôi, trời ơi,” tôi thì thào. “Ôi, chết tiệt.” Lafayette, tay bếp làm một ca ở quán Merlotte, đã bị nhồi vào ghế sau. Trần truồng. Chính bàn chân nhỏ màu nâu của Lafayette với những móng chân sơn màu mận chín đã ngăn không cho cánh cửa đóng sập lại, và chính cái xác của Lafayette đã tạo ra thứ mùi xóc cả óc đó. Tôi vội nhảy phắt ra sau, lẩy bẩy leo vào xe mình rồi lái vòng ra phía sau quán, bấm còi inh ỏi. Sam chạy ra từ phía cửa dành cho nhân viên, tạp dề cột quanh eo. Tôi tắt máy xe và lao bắn ra ngoài nhanh đến nỗi chính bản thân còn không nhận thức được mình đã ra khỏi xe, và tôi ôm choàng lấy anh như một chiếc tất tích điện. “Chuyện gì thế?” Tiếng Sam vang lên trong tai tôi. Tôi ngửa người ra sau ngước nhìn anh, chẳng phải ngước lên quá cao làm gì vì Sam hơi nhỏ con. Mái tóc vàng hoe hoe đỏ của anh lấp lánh dưới ánh mặt trời buổi sớm. Cặp mắt xanh biêng biếc đang mở to khiếp đảm. “Lafayette đó,” tôi nói, bắt đầu thút thít. Khóc lóc thì kỳ cục, ngớ ngẩn và vô tích sự thật, nhưng tôi không kìm lại được. “Anh ấy chết rồi, trong xe của Andy Bellefleur ấy.” Vòng tay của Sam siết chặt sau lưng tôi khi anh lại kéo tôi sát vào lòng. “Sookie, thật tiếc là em đã phải nhìn thấy cảnh ấy,” anh bảo. “Chúng ta sẽ gọi cảnh sát. Lafayette tội nghiệp.” Việc làm đầu bếp ở quán Merlotte không nhất thiết đòi hỏi tay nghề bếp núc cao siêu gì, vì Sam chỉ bán vài món sandwich và khoai tây chiên, nên vị trí này thay người luôn. Nhưng bất ngờ thay, Lafayette lại là người làm việc ở đây được lâu nhất. Lafayette là người đồng tính, đồng tính kiểu hoa hòe hoa hoét, kiểu trang-điểm-và-để-móng-tay-dài. Người dân miền Bắc Louisiana vẫn còn khó chấp nhận được chuyện này hơn dân ở New Orleans, nên tôi ngờ rằng Lafayette, một người da màu, đã phải hứng chịu khó khăn gấp đôi. Mặc cho - hay nhờ vào - những khó khăn đó, anh ấy vẫn luôn vui vẻ, lém lỉnh khôi hài, thông minh, và là đầu bếp giỏi thực thụ. Anh ấy đã chế một loại xốt đặc biệt để ướp hamburger, và người ta gọi món burger Lafayette khá thường xuyên. “Anh ấy có người thân nào ở đây không nhỉ?” tôi hỏi Sam. Chúng tôi tự giác rời nhau ra và rảo bước về phía tòa nhà, vào văn phòng của Sam. “Anh ấy có một tay anh em họ nào đó,” Sam vừa nói vừa nhấn 9-1-1. “Làm ơn đến quán Merlotte trên đường Hummingbird ngay,” anh nói với người trực tổng đài. “Có một xác chết đàn ông trong xe ở đây. Phải, trong bãi đỗ xe, ngay trước cửa quán. À, chị cũng làm ơn báo cho Andy Bellefleur đi. Xe của anh ta đấy.” Từ chỗ đang đứng, tôi có thể nghe thấy tiếng trả lời bai bải ở phía đầu dây bên kia. Danielle Gray và Holly Cleary, hai phục vụ bàn ca sáng, bước vào qua cửa sau, cười hô hố. Hai cô này đều đã ly dị lúc hai lăm hai sáu tuổi, là bạn với nhau từ thuở thiếu thời, có vẻ như đều khá hài lòng với công việc này miễn là được làm việc cùng nhau. Holly có một cậu con trai năm tuổi đang học mẫu giáo, còn Danielle có một cô con gái bảy tuổi và một cậu con trai chưa đến tuổi đi học để ở nhà cho bà trông khi cô ấy đến quán Merlotte làm việc. Tôi chẳng bao giờ gần gũi được với hai người phụ nữ này - dù rằng họ cũng sàn sàn tuổi tôi - bởi họ luôn chăm chắm quan tâm tới nhau mà thôi. “Có chuyện gì vậy?” Danielle hỏi khi cô ta nhìn thấy mặt tôi. Khuôn mặt choắt và đầy tàn nhang của cô ta lập tức trở nên lo lắng. “Sao xe của Andy ở trước cửa quán vậy?” Holly hỏi. Có thời cô ấy đã cặp kè với Andy Bellefleur, tôi chợt nhớ ra. Holly có mái tóc vàng tém ngắn lòa xòa quanh mặt như những cánh hoa cúc dại héo rũ, và làn da đẹp nhất mà tôi từng thấy. “Anh ta ngủ qua đêm trong xe à?” “Không phải,” tôi đáp, “mà là người khác kia.” “Ai?” “Lafayette ở trong xe.” “Andy để một tay lập dị da đen ngủ trong xe của mình sao?” Câu này của Holly, người khi nào cũng thẳng thừng vô duyên. “Chuyện gì đã xảy ra với anh ta thế?” Câu này của Danielle, người thông minh hơn trong hai cô. “Tụi này không biết nữa,” Sam đáp. “Cảnh sát đang trên đường đến đây.” “Ý anh là,” Danielle nói, thật chậm rãi từng chữ một, “anh ta đã chết.” “Phải,” tôi bảo cô ta. “Đó chính xác là ý của tụi này.” “Này, một giờ nữa là chúng ta phải mở cửa rồi,” Holly chống tay lên bờ hông tròn trịa của mình. “Chúng ta sẽ xử lý chuyện này ra sao đây? Nếu cảnh sát cho chúng ta mở cửa, ai sẽ làm bếp chứ? Mọi người vào quán, họ sẽ muốn dùng bữa trưa.” “Tốt hơn là cứ chuẩn bị sẵn sàng đi, để đề phòng thôi,” Sam nói. “Dù tôi đang nghĩ là mãi đến chiều mình mới được phép mở cửa kia.” Anh vào văn phòng để bắt đầu gọi cho mấy tay đầu bếp thay thế. Thật lạ lẫm khi phải làm những việc chuẩn bị thường ngày trước khi mở cửa quán, cứ như thể Lafayette sẽ đi vào bất cứ lúc nào cùng một câu chuyện về buổi tiệc nào đó mà anh ấy đã tham dự, như mới vài ngày trước đây anh cũng đã đi vào như thế. Tiếng còi hụ của xe cảnh sát vang vọng từ con đường chạy ngang qua trước quán Merlotte. Tiếng bánh xe nghiến lạo xạo trên bãi xe rải sỏi của Sam. Đến khi chúng tôi hạ hết ghế xuống, bày biện bàn ăn, cuộn thêm vài bộ dao nĩa dự phòng vào khăn ăn để sẵn sàng thay thế cho những bộ dao nĩa đã được dùng đến, thì cảnh sát bước vào. Quán Merlotte nằm ngoài phạm vi thị trấn, nên viên cảnh sát trưởng địa phương, Bud Dearborn, sẽ đảm trách vụ này. Bud Dearborn là một người bạn rất thân của ba tôi trước kia, giờ đây mái tóc đã điểm bạc. Ông có khuôn mặt bèn bẹt, như người mang mặt chó Bắc Kinh, và đôi mắt nâu mờ đục. Khi ông bước vào cửa trước quán, tôi nhận ra Bud vẫn còn đang đi đôi bốt nặng nề và đội chiếc mũ lưỡi trai đội bóng Saints. Chắc hẳn ông bị gọi đến khi vẫn đang làm việc ngoài nông trại. Bud đi cùng Alcee Beck, viên thanh tra da màu duy nhất trong lực lượng cảnh sát địa phương. Da Alcee đen đến nỗi chiếc sơ mi trắng của anh ta sáng lóa lên vì tương phản. Chiếc cà vạt được thắt ngay ngắn, bộ vét hết sức chỉnh tề. Còn đôi giày da thì được đánh bóng loáng lấp lánh. Bud và Alcee thay phiên nhau coi quản trong vùng… ít nhất thì cũng có vài người quan trọng hơn để giữ cho khu vực này còn hoạt động. Mike Spencer, giám đốc công ty mai táng kiêm nhân viên pháp y của địa phương, cũng là người có vai vế trong địa phương, là bạn thân của Bud. Tôi sẵn sàng đánh cuộc rằng lúc này Mike đã ra ngoài bãi xe, tuyên bố Lafayette tội nghiệp đã chết. Bud Dearborn hỏi, “Ai là người phát hiện ra cái xác?” “Tôi đây.” Bud và Alcee liếc nhìn nhau đầy ẩn ý và bước về phía tôi. “Sam à, bọn tôi mượn văn phòng của cậu được chứ?” Bud hỏi. Không cần đợi Sam trả lời, ông ta hất đầu ra dấu cho tôi đi vào. “Chắc chắn rồi, thẳng vào trong ấy đấy,” ông chủ của tôi đáp khô khốc. “Em ổn chứ, Sookie?” “Không sao đâu mà, Sam.” Tôi không chắc điều này có thật hay không, nhưng Sam có phản ứng kiểu gì với cái yêu cầu này thì cũng gặp rắc rối hết, vô ích thôi. Mặc dù Bud ra dấu cho tôi ngồi xuống, tôi lắc đầu khi ông ta và Alcee an vị trên hai cái ghế trong văn phòng. Bud, tất nhiên là ngồi trên cái ghế to bành của Sam, còn Alcee thì giành lấy chiếc ghế phụ vẫn còn ngon, chiếc ghế vẫn còn lại chút ít nệm lót ấy. “Kể cho chúng tôi nghe về lần cuối cùng cô gặp Lafayette còn sống đi,” Bud gợi ý. Tôi suy nghĩ. “Anh ấy không làm việc tối qua,” tôi nói. “Mà là Anthony. Anthony Bolivar.” “Ai thế nhỉ?” Vầng trán rộng của Alcee nhăn lại. “Không nhận ra cái tên đó.” “Anh ta là bạn của Bill. Anh ta đang lang bạt qua vùng này, và cần một công việc. Anh ta có kinh nghiệm.” Anh ta đã làm việc tại quán ăn trong thời kỳ Đại Khủng hoảng. “Ý cô là tay đầu bếp tạm thời ở đây là một ma cà rồng? “Thì sao chứ?” tôi hỏi lại, khóe miệng cong lên ương bướng, lông mày nhíu lại, và tôi biết rằng khuôn mặt mình đang dần toát lên vẻ giận dữ. Tôi đang cố hết sức để không phải đọc tâm trí của họ, cố bằng mọi giá để hoàn toàn không thông tâm gì cả, nhưng việc này không dễ dàng. Bud Dearborn thì thường thường thôi, nhưng Alcee thì phóng suy nghĩ ra cứ như kiểu ngọn hải đăng truyền phát tín hiệu vậy. Ngay lúc này đây anh ta đang tỏ vẻ ghê tởm và kinh sợ. Trong thời gian trước khi gặp Bill, và nhận ra anh quý trọng khiếm khuyết của tôi - là tài năng, như cách anh nhìn nhận - tôi đã cố hết sức để dối gạt bản thân và lừa phỉnh mọi người rằng tôi thực sự không biết “đọc” tâm trí. Nhưng kể từ khi Bill giải thoát tôi khỏi lao tù nhỏ bé mà tôi tự xây lên cho bản thân, thì tôi đã thực tập và trải nghiệm, trong sự khuyến khích của Bill. Vì anh, tôi đã mô tả thành lời những thứ mà mình đã và đang cảm nhận suốt hàng mấy năm trời. Có vài người gửi đi những thông điệp hết sức mạnh mẽ, rõ ràng, như Alcee đây. Còn đâu thì hầu hết mọi người lúc này lúc khác, như Bud Dearborn vậy. Theo như những gì tôi biết thì chuyện này phụ thuộc rất nhiều vào việc cảm xúc của họ mãnh liệt đến đâu, mức độ tỉnh táo của họ ra sao, thời tiết như thế nào. Còn có vài người thì kín như bưng đến nỗi gần như không thể biết được họ đang nghĩ gì. Có lẽ tôi có thể đọc được tâm trạng của họ, nhưng tất cả chỉ có vậy. Tôi đã thừa nhận rằng nếu được chạm vào người khác khi cố đọc tâm trí họ, thì bức tranh trở nên sáng sủa hơn - như sử dụng đường truyền cáp sau khi dùng ăng ten ấy. Và tôi cũng phát hiện ra rằng nếu mình “gửi” những hình ảnh thư giãn cho người ta, thì tôi có thể len lỏi vào tâm trí của họ dễ như bỡn. Tôi thì không muốn thâm nhập vào suy nghĩ của Alcee Beck chút nào. Nhưng tôi đang hoàn toàn miễn cưỡng đón nhận bức tranh toàn cảnh về phản ứng mê tín đến độ cực đoan của Alcee khi anh ta nhận ra có một ma cà rồng làm việc ở quán Merlotte, về nỗi khiếp sợ của anh ta khi phát hiện ra tôi là người phụ nữ mà anh ta đã nghe nói đang hẹn hò với ma cà rồng, về lời kết tội từ trong sâu thẳm của anh ta cho rằng tên đồng tính công khai Lafayette là một nỗi ô nhục cho cộng đồng người da màu. Alcee đoán rằng ai đó hẳn là muốn chơi khăm Andy Bellefleur, khi tống xác của một gã đồng tính da màu vào xe của Andy. Alcee đang băn khoăn không rõ Lafayette có bị nhiễm AIDS không, rồi liệu làm sao đấy mà con virút ấy có thấm vào ghế xe Andy và cứ tồn tại ở đó không. Alcee sẽ bán xe ngay, nếu đó là xe của anh ta. Nếu chạm vào Alcee, hẳn là tôi sẽ biết được luôn cả số điện thoại và cỡ áo ngực của vợ anh ta nữa. Bud Dearborn nhìn tôi kỳ kỳ. “Chú vừa nói gì ạ?” tôi hỏi. “Phải. Ta thắc mắc không biết cháu có gặp Lafayette ở đây suốt tối qua không. Anh ta có ghé vào quán uống ẩm gì chăng?” “Cháu chẳng bao giờ gặp anh ấy ở đây cả.” Ngẫm lại chuyện này, thì tôi chẳng bao giờ thấy Lafayette uống rượu. Lần đầu tiên, tôi mới nhận ra rằng mặc dù đám người đến ăn trưa có cả người da màu và người da trắng, nhưng những vị khách đến quán buổi tối hầu như rặt là người da trắng. “Anh ta hay tụ tập ở đâu?” “Cháu chịu.” Tất cả những câu chuyện Lafayette kể đều được thay đổi tên họ để bảo vệ danh tính những người vô tội. À ừ, thực ra, là những kẻ có tội thì đúng hơn. “Lần cuối cùng cháu gặp anh ta là khi nào?” “Đã chết, nằm trong xe.” Bud cáu kỉnh lắc đầu. “Lúc còn sống cơ, Sookie à.” “Hừmm, cháu nghĩ là… cách đây ba ngày. Anh ấy vẫn ở đây khi cháu đến làm ca của mình, và bọn cháu chào nhau. À, anh ấy có kể cho cháu nghe về một buổi tiệc mà mình đã đến dự.” Tôi cố nhớ lại chính xác những lời của anh. “Anh ấy bảo đã đến một ngôi nhà nơi diễn ra đủ kiểu làm tình hoang đàng trụy lạc.” Hai người đàn ông há hốc nhìn tôi. “Vâng, anh ấy đã bảo thế đấy! Cháu cũng không biết chuyện đó có bao nhiêu phần sự thật.” Tôi hình dung ra khuôn mặt của Lafayette khi anh ta kể tôi nghe chuyện này, cái cách anh ta điệu đà đặt ngón tay ngang môi ngụ ý rằng anh ta sẽ không nói cho tôi biết bất kể cái tên hay địa điểm nào cả. “Cháu không nghĩ là người khác phải biết chuyện này à?” Bud Dearborn trông bàng hoàng. “Đó là một bữa tiệc riêng tư. Sao cháu phải kể cho người khác chứ?” Nhưng kiểu tiệc tùng như thế không được phép diễn ra trong địa phận của hai người này. Hai người đàn ông vẫn chằm chằm nhìn tôi. Bud hỏi qua kẽ răng, “Lafayette có kể cho cháu nghe gì về chuyện sử dụng ma túy trong buổi gặp gỡ ấy không?” “Không, theo cháu nhớ thì không.” “Bữa tiệc đó được tổ chức ở nhà người da trắng hay người da đen?” “Da trắng,” tôi đáp, rồi lại ước gì mình đã lấy cớ không biết. Nhưng Lafayette đã thật sự ấn tượng với ngôi nhà - mặc dù không phải vì căn nhà mỹ miều hay to lớn gì. Thế sao anh ấy bị ấn tượng đến thế? Tôi không chắc Lafayette sẽ thấy ấn tượng với những thứ gì, anh đã sinh ra, lớn lên và mãi đến bây giờ vẫn trong cảnh nghèo khó, nhưng tôi chắc chắn rằng anh ấy đã kể về nhà của một người da trắng nào đó, vì anh ấy có nói, “Tất cả ảnh trên tường đều chụp những người trắng như hoa huệ và mỉm cười như cá sấu.” Tôi không kể lời nhận xét đó ra cho đám cảnh sát, và họ cũng không hỏi gì thêm. Rời khỏi văn phòng của Sam, sau khi giải thích lý do trên hết vì sao xe của Andy lại ở trong bãi xe, tôi trở ra đứng sau quầy. Tôi không muốn quan sát những gì đang diễn ra ở bãi đỗ xe, và chẳng có khách hàng nào để phục vụ cả, vì mọi lối vào bãi đỗ xe đã bị cảnh sát chặn hết rồi. Sam đang sắp xếp những chai rượu đằng sau quầy, vừa đi vừa phủi bụi chúng, còn Holly và Danielle đã ngồi phịch xuống một bàn ở khu vực hút thuốc để Danielle có thể hút một điếu. “Mọi chuyện thế nào?” Sam hỏi. “Cũng chẳng có gì nhiều. Họ không thích nghe chuyện Anthony làm việc ở đây, và họ cũng không ưa những gì em kể về bữa tiệc mà Lafayette cứ lải nhải hôm trước ấy. Anh có nghe thấy anh ấy kể với em không? Cái vụ làm tình tập thể ấy?” “Có, anh ta cũng kể mấy chuyện đó với anh nữa. Buổi tối hôm đó với anh ta hẳn là đã lắm. Nếu quả thật là có bữa tiệc kiểu đó.” “Anh nghĩ rằng Lafayette bịa chuyện sao?” “Anh không nghĩ ở Bon Temps lại có nhiều buổi tiệc kiểu tạp chủng, lưỡng tính thế đâu,” anh đáp. “Nhưng đó chẳng qua là vì không có ai mời anh cả thôi,” tôi nói thẳng ra. Tôi băn khoăn không hiểu liệu mình có biết tí gì về những chuyện diễn ra nơi thị trấn nhỏ bé này không. So ra với tất cả mọi người ở Bon Temps thì tôi phải là người biết rõ mọi thứ từ trong ra ngoài, vì mọi thông tin ít nhiều gì cũng sẵn ra đấy, nếu tôi muốn bới móc tìm hiểu, “Ít nhất thì, theo em đây là lý do chứ nhỉ?” “Ừ đấy là lý do đấy,” Sam đáp, khẽ mỉm cười với tôi trong lúc chùi một chai whiskey. “Em nghĩ thiệp mời của em cũng bị thất lạc ở bên bưu điện mất rồi.” “Em có nghĩ rằng Lafayette trở lại đây tối hôm qua là để kể cho anh hoặc em nghe về bữa tiệc đó không?” Tôi nhún vai. “Có lẽ anh ta chỉ hẹn gặp ai đó ở bãi đỗ xe thôi. Dù sao thì, ai cũng biết quán Merlotte ở đâu mà. Mà anh ấy đã lấy lương chưa?” Đã cuối tuần rồi, thường thì đây là lúc Sam trả tiền cho bọn tôi. “Chưa. Có lẽ anh ấy đến cũng vì chuyện đó, nhưng anh định hôm sau mới đưa cho anh ta. Hôm nay này.” “Em thắc mắc không biết ai đã mời Lafayette đi dự tiệc.” “Câu hỏi hay đấy.” “Anh không nghĩ rằng anh ta ngu đến nỗi cố tống tiền ai đó chứ nhỉ?” Sam cọ cọ lớp gỗ giả trên mặt quầy bằng một chiếc giẻ sạch. Quầy đã sạch bóng lên rồi, nhưng anh vẫn cứ thích luôn chân luôn tay, tôi nhận thấy thế. “Anh không nghĩ vậy,” anh nói sau một hồi suy nghĩ. “Không thể nào, họ hẳn đã chọn nhầm người rồi. Em biết Lafayette tám đến cỡ nào mà. Anh ta không chỉ kể cho chúng ta nghe việc mình đi đến một buổi tiệc như thế - anh dám cá là anh ta không được phép kể - mà còn muốn lợi dụng buổi tiệc để làm tiếp những chuyện mà mấy người khác, à ừ, mấy người tham gia ấy, sẽ phải khó chịu.” “Kiểu như là, giữ liên lạc với những người cũng từng tham gia bữa tiệc ấy? Nháy mắt đưa tình với họ ở chốn đông người?” “Đại loại như thế.” “Em nghĩ rằng nếu ta có làm tình với ai đó, hoặc xem họ làm tình với nhau, ta sẽ cảm thấy rằng mình ngang hàng với họ.” Tôi không quả quyết lắm khi nói ra điều này, vì không có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực ấy lắm, nhưng Sam lại đang gật gù. “Điều Lafayette mong muốn nhất là được mọi người chấp nhận bản chất con người mình,” anh nói, và tôi buộc phải đồng ý. Mời các bạn đón đọc Ma Cà Rồng Ở Dallas của tác giả Charlaine Harris & Thiện Hoàn (dịch).
Sa Môn Không Hải Thết Yến Bầy Quỷ Đại Đường Tập 1
Nhà sư trẻ tuổi Không Hải, cùng người bạn thân Quất Dật Thế, từ Nhật Bản xa xôi vượt biển tới Đại Đường với tư cách sứ thần sang du học. Vào thời đại đó, Trường An, kinh đô của nhà Đại Đường là nơi nổi tiếng thịnh vượng phồn hoa, tập trung nhiều sắc dân từ khắp nơi đổ về. Như bóng tối luôn song hành cùng ánh sáng, nhiều loài yêu ma quỷ quái cũng bị thu hút về đây. Một con yêu quái mèo đã ám dinh cơ của viên chức dịch họ Lưu và đưa ra lời tiên tri về cái chết của hoàng đế. Tự tin vào vốn kiến thức uyên bác cùng tài ứng biến phi thường của bản thân, Không Hải đã dẫn Quất Dật Thế đến nhà họ Lưu để đương đầu với yêu mèo. Song họ không ngờ, mình đã vô tình dính líu vào một sự kiện lớn làm rung chuyển nhà Đường. Kiệt tác tiểu thuyết truyền kỳ Nhật Bản lấy bối cảnh Trung Hoa mở ra từ đây. *** Không Hải (Kukai, 774 - 835) là Tổ sư của phái Chân Ngôn Tông (Shingon-shu) Phật giáo Nhật Bản. Với phương tiện tra cứu ngày nay, người ta có thể dễ dàng tìm thấy tranh vẽ chân dung, bút tích và các trước tác của Không Hải trên mạng, trong các sách nghiên cứu xưa nay nhưng những thông tin ấy không hề làm giảm sút nét “siêu phàm thoát tục”, thần bí nơi vị Tổ sư này. Sách xưa không thuật rõ thuở nhỏ như thế nào chỉ biết năm mười lăm tuổi Không Hải đã học thông các sách chữ Hán căn bản như Luận Ngữ, Hiếu Kinh; năm mười tám tuổi làu thông Tả Thị Xuân Thu, Thượng Thư. Từ năm mười chín tuổi, Không Hải bắt đầu tu tập trong rừng sâu núi cao; năm hai mươi tư tuổi đã viết sách so sánh, bình luận Phật - Nho - Lão. Cũng vào thời gian này, Không Hải bắt đầu tiếp xúc và nghiên cứu Đại Nhật Kính - một trong những bộ kinh Mật giáo cơ sở, học tiếng Trung Hoa, chữ Phạn (Sanskrit) và chữ Tất Đàm (Shiddam). Đồng thời, Không Hải được một vị sư không rõ danh tính truyền cho phép tu “Hư Không Tạng Cầu Văn Trì” và lui vào chuyên tu trong một hang đá (nay vẫn còn di tích ở thành phố Muroto, tỉnh Kochi). Sau khi tu tập thành công, tương truyền Không Hải có trí nhớ siêu phàm - sự việc gì đã nghe, đã thấy một lần lập tức nhớ mãi không quên, về sau, chính nhờ trí nhớ siêu việt và trình độ, năng lực ngoại ngữ tuyệt vời mà Không Hải được triều đình Nhật Bản thời bấy giờ chọn đưa sang Trung Hoa du học. Truyền kỳ kể Hòa thượng Huệ Quả - tổ thứ bảy của Mật giáo Trung Hoa - vừa nhìn thấy Không Hải lần đầu tại Thanh Long Tự đã nói “ta chờ con đã lâu” và lập tức truyền thụ mọi sở học của mình cho Không Hải. Với năng lực phi phàm của mình, Không Hải đã hoàn thành chương trình học trong hai năm thay vì du học hai mươi năm như dự định ban đầu. Sư đã dùng một số tiền rất lớn, vốn mang theo để trang trải cho vỉệc du học, vào việc thỉnh kinh sách và các pháp khí cần thiết mang về Nhật Bản. Năm 806, Không Hải từ Trung Hoa trở về Nhật Bản, sớm hơn rất nhiều so với dự kiến nhưng phải đợi đến năm 809 mới được chấp thuận cho vào kinh đô yết kiến Thiên hoàng. Câu chuyện chậm trễ này cũng không có ghi chép cụ thể nào trong sử sách chính thống và, do đó, phủ thêm một lớp thần bí nữa lên cuộc đời Không Hải. Sau khi về kinh, Không Hải lập tức được trọng dụng, đóng góp rất nhiều cho triều đình thời đó. Không Hải xây dựng tổ đình ở núi Koya (tỉnh Wakayama, Nhật Bản) đúc kết và phát triển kiến thức tu học từ Trung Hoa thành Chân Ngôn Tông và truyền dạy cho rất nhiều đệ tử. Năm 835, Không Hải “nhập định vĩnh viễn” ở tuổi sáu mươi mốt. Người ta không dùng từ “viên tịch” hay “nhập diệt” mà dùng “nhập định” vì tin rằng Không Hải vẫn còn sống và chỉ nhập định trong căn phòng nhỏ được xây ngầm dưới nền một ngôi miếu ở phía sau tổ đình Chân Ngôn Tông trên núi Koya. Cho đến tận khi bạn đang đọc những dòng này thì hằng ngày, các vị sư ở nơi ấy vẫn đều đặn dâng cơm nước đúng giờ buổi sáng và buổi trưa vào tận cửa phòng. Mỗi năm, các sư lại dâng một bộ cà sa mới cho Tổ sư và mang bộ cũ đi đốt. Không Hải ở thế kỷ hai mươi mốt vẫn là một nhân vật thần bí sống động như thế. Bạn đọc đang cầm trên tay tập đầu tiên trong bộ trường thiên tiểu thuyết Sa môn Không Hải thết yến bầy quỷ Đại Đường gồm bốn tập của nhà văn Yumemakura Baku - tác giả rất nổi tiếng với thể loại tiểu thuyết truyền kỳ tại Nhật Bản, được Uyên Thiểm chuyển dịch sang tiếng Việt rất nhuần nhị. Uyên Thiểm là dịch giả quen thuộc được bạn đọc biết đến qua các bản dịch văn chương Nhật Bản do Nhã Nam ấn hành. Tôi tin bạn đọc lần này cũng sẽ đớn nhận và yêu quý tác phẩm Sa môn Không Hải thết yến bầy quỷ Đại Đương, thích thú với tuyến nhân vật được xây dựng rất công phu, giàu cá tính và các tình tiết được đan xen khéo léo, đầy kịch tính. Mời các bạn vào truyện... Nguyễn Anh Phong Đà Lạt, Vu Lan 2019 *** CÁC NHÂN VẬT CHÍNH Từ đời Đức Tông hoàng đế đến đời Thuận Tông hoàng đế Không Hải (âm Nhật là Kukai): Vị tăng trẻ sang Đường tìm học Mật. Quất Dật Thế (âm Nhật là Tachibana-no-Hayanari): Nho sinh Nhật Bản tới Trường An theo đoàn thuyền Khiển Đường sứ. Bạn thân Không Hải. Đan Ông: Vị đạo sĩ luôn giúp rập và thoắt ẩn thoắt hiện xung quanh Không Hải. Lưu Vân Tiêu: Chức dịch Trường An, bị yêu miêu ám trong nhà và cướp mất người vợ yêu. Từ Văn Cường: Chủ nhân của cánh đồng trồng bông, nơi xảy ra vụ án có tiếng thì thầm bí ẩn. Trương Ngạn Cao: Chức dịch Trường An, người quen của Từ Văn Cường. Đại Hầu: Gã hộ pháp sinh ra ở Thiên Trúc. Ngọc Liên: Kỹ nữ của Hồ Ngọc Lâu. Lệ Hương: Kỹ nữ của Nhã Phong Lâu. Mohammed: Thương nhân người Ba Tư, cớ ba cô con gái là Trisnai, Tursungri, Griteken. Huệ Quả: Vị hòa thượng của Thanh Long Tự. Phụng Minh: Tăng môn của Thanh Long Tự. Người Tây Tạng. An Tát Bảo: Người coi giữ đền thờ Hiên giáo. Bạch Lạc Thiên: Một thi nhân lớn về sau. Đang ấp ủ bản trường ca về mối tình của Đường Huyền Tông và Dương Quý Phi. Vương Thúc Văn: Tể tướng dưới thời Thuận Tông hoàng đế. Liễu Tông Nguyên: Kẻ thân cận của Vương Thúc Văn. Văn nhân tiêu biểu thời kỳ trung Đường. Hàn Dũ: Đồng liêu của Liễu Tông Nguyên. Cũng là một văn nhân tiêu biểu thời kỳ trung Đường. Tử Anh: Bộ hạ của Liễu Tông Nguyên. Xích: Bộ hạ của Liễu Tông Nguyên. Chu Minh Đức: Phương sĩ. Thủ hạ của Druj. Druj*: Karapan (một kiểu pháp sư ở Ba Tư). Đời Huyền Tông hoàng đế A Bội Trọng Ma Lữ (âm Nhật là Abe-no-Nakamaro): Sang Đường vào đời Huyền Tông. Sống ở Đường đến hết đời. Tên Trung Quốc là Triều Hành. Lý Bạch: Thi nhân tiêu biểu đời Đường. Được Huyền Tông sủng ái, nhưng về sau thì thất sủng. Huyền Tông: Hoàng đế nhà Đường. Mê đắm thiếp yêu là Dương Quý Phi. Dương Quý Phi: Thiếp yêu của Huyền Tông. Nhận được tất cả sự sủng ái của Huyền Tông, song đã phải chịu cải chết thê thảm bởi Loạn An Sử. An Lộc Sơn: Tướng nhà Đường. Được Quý Phi yêu mến và nhận làm con nuôi, nhưng về sau làm phản và đuổi bọn Huyền Tông chạy khỏi Trường An. Cao Lực Sĩ: Hoạn quan hầu cận của Huyền Tông. Hoàng Hạc: Đạo sĩ người Hồ. Kẻ đã hiến một kế về việc xử tử Dương Quý Phi. Đan Long: Đệ tử của Hoàng Hạc. Bạch Long: Đệ tử của Hoàng Hạc. Bất Không: Mật giáo tăng.   Mời các bạn đón đọc Sa Môn Không Hải Thết Yến Bầy Quỷ Đại Đường Tập 1 của tác giả Baku Yumemakura.
Địa Cung Rực Lửa
Thần Apollo chất chơi một thuở, giờ đây bị Zeus đày xuống trần trong hình hài thằng nhóc hậu đậu Lester Papadopoulos. Để trở về Olympus, Lester buộc phải khôi phục năm nguồn Sấm Truyền đã rơi vào tay kẻ địch. Nhưng thần phải thực hiện cái nhiệm vụ bất khả thi này mà chẳng có chút sức mạnh nào trong tay, cũng như phải phục dịch cho đứa con gái nhếch nhác của Demeter, Meg. Cám ơn nhiều nha bố yêu. Nhờ có một số á thần trợ giúp, Lester đã sống sót vượt qua hai thử thách đầu tiên, một ở Trại Con Lai, một ở Indianapolis, cũng là nơi Meg nhận được Lời Tiên Tri Hắc Ám. Những lời cô bé thốt ra trên Chiếc Ngai Kí Ức dự báo một cuộc tấn công vào Trại Jupiter của bọn Tam đầu chế. Leo vội vàng cưỡi Festus đi báo tin cho trại La Mã, còn Lester và Meg phải băng qua Mê Cung tới vùng tây nam nước Mỹ để tìm tên hoàng đế thứ ba, cùng với nguồn Sấm Truyền chuyên môn đánh đố. Lời tiên tri u ám chỉ mang đến một tia hy vọng duy nhất: Mang móng guốc, kẻ dẫn đường nắm rõ. Họ sẽ được đồng hành với một thần rừng, và Meg biết phải triệu hồi ai đây rồi… *** Bộ sách Những thử thách của Apollo gồm có: Sấm Truyền Bí Ẩn Lời Tiên Tri Hắc Ám Địa Cung Rực Lửa Lăng Mộ Bạo Chúa ,,, *** Rick Riordan là tác giả có sách bán chạy nhất do tờ New York Times bình chọn cho bộ truyện dành cho trẻ em: Percy Jackson và các vị thần trên đỉnh Olympus và bộ Tiểu thuyết trinh thám dành cho người lớn Tres Navarre. Ông có 15 năm giảng dạy môn tiếng Anh và Lịch sử ở các trường trung học cơ sở công và tư ở San Francisco Bay Area ở California và Texas. Ông cũng từng nhận giải thưởng Giáo viên ưu tú đầu tiên của trường năm 2002 do Saint Mary’s Hall trao tặng. Rick Riordan hiện đang sống ở San Antonio, Texas cùng vợ và hai con trai. Ông dành toàn bộ thời gian cho sáng tác. *** Từng là Apollo Giờ chỉ là chuột trong Mê cung Cứu, mang theo bánh nữa Không. Ta từ chối chia sẻ khúc này trong chuyện đời của ta. Đó là cái tuần hèn mọn nhất, sỉ nhục nhất và tệ bạc nhất trong suốt 4000 năm cuộc đời có lẻ của ta. Bi kịch. Thảm họa. Đau lòng. Ta sẽ không kể cho các ngươi về nó đâu. Tại sao các ngươi vẫn ở đây hả? Đi ra đi! Lạy thánh thần trên cao, ta đoán là ta chẳng có lựa chọn nào nữa rồi. Không còn nghi ngờ gì nữa, chính Zeus cũng muốn ta kể câu chuyện này cho các người vì nó là một phần trong hình phạt của ta. Việc ông ta biến ta, một người đã từng là vị thần Apollo tối cao, trở thành một thằng nhãi con đầy mụn, đầy mỡ, lại còn có cái tên giả Lester Papadopoulos nữa, vẫn là chưa đủ. Ông ta đẩy ta vào cái nhiệm vụ đầy nguy hiểm để giải cứu cho năm Nhà tiên tri cổ đại vĩ đại từ tay ba tên hoàng đế La Mã độc ác cũng vẫn là chưa đủ. Thậm chí là biến ta-người từng là đứa con trai yêu quý của ông ta-thành nô lệ của một đứa á thần huênh hoang 12 tuổi tên Meg, cũng vẫn chưa bao giờ đủ! Quá đáng nhất là, Zeus muốn ta ghi lại tất cả những sự nhục nhã này để truyền cho con cháu đời sau. Được thôi. Nhưng ta cũng phải cảnh báo các người. Ở những trang tiếp theo, chỉ toàn là những đau khổ đang chờ đợi các ngươi mà thôi. Bắt đầu từ đâu ta? Với Grover và Meg, dĩ nhiên rồi. Trong suốt hai ngày, chúng ta đã du hành ở trong Mê cung- đi qua hàng bao nhiêu cái hố đầy bóng đêm và những hồ thuốc độc, đi qua những khu mua sắm đổ nát chỉ có toàn mấy cửa hàng bán đồ Halloween giảm giá và những bữa tiệc buffet đồ Trung Quốc đáng ngờ. Mê cung có thể là một nơi khiến người ta hoang mang. Nó giống như một mạng lưới mao mạch chảy ngay bên dưới lớp da của thế giới. Nó kết nối những căn hầm, cống rãnh, và cả những đường hầm đã bị bỏ quên trên toàn địa cầu, bất chấp tất cả những định luật thời gian và không gian. Một người có thể bước vào Mê cung qua một lỗ cống ở Rome, đi tầm mười thước, mở cánh cửa ra, và nhận ra bản thân đang ở trại huấn luyện chú hề tại Buffalo, Minnesota. (Đừng có hỏi. Ám ảnh lắm.) Ta sẽ tránh xa Mê cung bằng mọi giá. Đáng buồn thay, lời tiên tri chúng ta nhận được ở Indianna lại chỉ điểm khá rõ ràng: "Xuyên qua mê cung tối tăm tới vùng đất tử thiêu". Hihi vui dễ sợ! "Duy nhất kẻ móng guốc dẫn đường mở lối." Trừ một việc, là kẻ dẫn dường có móng guốc của chúng ta, thần rừng Grover Underwood, có vẻ là đếch có biết cái đường nào hết. "Ngươi đi lạc rồi đấy," Ta nói, lần thứ 40. "Lạc đâu mà lạc!" Cậu ta cãi lại. Cậu ta chạy nước kiệu với cái quần bò thụng và chiếc áo phông màu xanh lá cây, hai đuôi móng guốc lảo đảo trong đôi giày New Balance 520s được làm riêng cho mình cậu ta. Một chiếc mũ đan tay màu đỏ che phủ mái tóc xoăn xoăn. Tại sao cậu ta lại nghĩ là cải trang kiểu này giúp cậu ta nhìn giống người thường hơn thì ta cũng không biết. Hai cái sừng của cậu ta nhú lên rõ ràng bên dưới chiếc mũ. Đôi giày của cậu ta bật ra khỏi bộ móng cứ mỗi ngày phải vài lần, và ta thì chán cái việc phải cong mông chạy đi nhặt lại giày cho cậu ta lắm rồi. Cậu ta dừng lại ở một ngã rẽ chữ T ở hành lang. Ở mỗi hướng đều là những bức tường bằng gạch cứng sù sì dẫn thẳng vào bóng tối. Grover giật giật chòm râu thưa. "Thế nào rồi?" Meg hỏi. Grover nao núng. Cũng như ta, cậu ta nhanh chóng trở nên sợ hãi trước sự không hài lòng của Meg. Không phải là Meg McCaffrey nhìn đáng sợ đâu. Cô bé thậm chí là nhìn còn nhỏ hơn tuổi, với bộ đồ đèn giao thông-váy xanh lá cây, tất bó màu vàng và chiếc áo đỏ-tất cả đều rách rưới và bẩn thỉu nhờ vào mấy trận bò lê bò lết trong mấy cái đường hầm chật hẹp. Tơ nhện giăng đầy trên mái tóc màu tối cắt ngắn ngang tai. Cặp kính mắt mèo bụi bặm tới mức ta không hiểu làm thế nào mà cô bé có thể nhìn thấy được. Nhìn tổng quan thì, cô bé trông như một đứa trẻ mẫu giáo vừa mới sống sót qua trận đánh nhau tranh giành trò đu dây. Grover chỉ về phía đường hầm phía bên phải. "Tôi-tôi khá chắc là Palm Springs ở hướng đó." "Khá chắc?" Meg hỏi. "Như lần trước, cái lần mà chúng ta đi vào một cái nhà tắm và làm một tên Cyclops đang ngồi toilet phát hoảng ấy hả?" "Đó đâu có phải lỗi của tôi!" Grover vặc lại. "Với lại, cái hướng này có MÙI khá đúng. Mùi... cây xương rồng." Meg khịt khịt vào không khí. "Tôi không có ngửi thấy mùi xương rồng." "Meg," ta nói, "Thần rừng là người dẫn đường của chúng ta. Chúng ta không có nhiều lựa chọn ngoài tin cậu ta đâu." Grover giận dỗi. "Cảm ơn vì giúp cho sự tự tin của tôi tăng lên nhé. Giờ thì là lời nhắc nhở trong ngày này: Tôi không hề YÊU CẦU được triệu hồi một cách thần kỳ từ nửa kia của đất nước và rồi tỉnh dậy ở một khu vườn cà chua trên một nóc nhà tại Indianapolis đâu nhé!" Nói thì lớn lao thế thôi, nhưng cậu ta lại nhìn chằm chằm vào chiếc nhẫn đôi ở ngón tay giữa của Meg, cứ như thể cậu ta lo sợ cô bé sẽ triệu hồi hai thanh mã tấu vàng rồi xẻ cậu ta thành món dê xiên nướng vậy. Từ khi biết được Meg là con gái của Demeter, nữ thần của vạn vật đâm chồi nảy lộc, Grover Underwood đã hành xử như thể cậu ta bị đe dọa bởi cô bé hơn là bởi ta, một cựu thần Olympus tối cao. Cuộc sống thật chẳng công bằng chút nào. Meg quẹt mũi. "Được thôi. Tôi chỉ không nghĩ là chúng ta sẽ cứ đi lòng vòng trong này trong suốt hai ngày vừa rồi thôi. Trăng non sẽ lên -" "Sau ba ngày nữa," ta nói, cắt lời cô bé. "Chúng ta biết." Có thể là ta đã quá lỗ mãng, nhưng ta không cần được nhắc nhở về phần còn lại của lời tiên trị đâu. Khi chúng ta đi về hướng nam để tìm Nhà tiên tri tiếp theo, anh bạn Leo Valdez của chúng ta đã lái con rồng đồng một cách tuyệt vọng tới Trại Jupiter, trại huấn luyện Á thần La Mã tại phía bắc California, hy vọng có thể cảnh báo họ về trận lửa, những chết chóc mất mát và những thảm họa mà họ có thể sẽ phải đối đầu khi kỳ trăng non tới. Ta cố dịu giọng lại. "Chúng ta phải tin là Leo và những Á thần La Mã có thể chống lại được bất cứ thứ gì đang tiến về phía bắc. Chúng ta có nhiệm vụ riêng của mình rồi. "Và hàng đống những trận lửa của riêng mình nữa." Grover thở dài. "Như thế nghĩa là gì?" Meg hỏi. Cũng như cách hành xử trong suốt hai ngày vừa rồi, Leo lại thoái thác. "Tốt nhất là không nên nói về chuyện đó . . . ở đây." Cậu ta liếc nhìn xung quanh một cách lo lắng như thể mấy bức tường có tai và đang lắng nghe vậy, điều mà dứt khoát là có thể xảy ra. Mê cung là một công trình sống. Dựa vào những mùi phát ra từ một vài hành lang, ta khá chắc là nó ít nhất cũng phải có một cái ruột. Grover cào cào vào hai bên sườn. "Tôi sẽ cố đưa chúng ta tới đó thật nhanh," cậu ta hứa. "Nhưng mà Mê cung cũng có suy nghĩ của riêng nó nữa. Lần trước khi tôi ở đây, với Percy . . ." Biểu cảm của cậu ta trở nên đăm chiêu, như bao lần cậu ta nhớ lại những cuộc hành trình xưa cũ cùng với người bạn thân nhất, Percy Jackson. Ta không thể trách cậu ta được. Percy đúng là một á thần có ích để có bên mình. Không may là, cậu ta không dễ để cứ thế triệu hồi từ một vườn cà chua như cậu Thần rừng dẫn đường này được. Ta đặt một tay lên vai của Grover. "Chúng ta biết là ngươi đang làm hết sức rồi. Hãy cứ đi tiếp thôi. Và trong khi ngươi tiếp tục ngửi thấy mùi xương rồng, nếu ngươi có thể tập trung lỗ mũi của mình vào mấy món ăn sáng nữa-chẳng hạn như là cà phê và bánh rán vòng vị chanh ấy-vậy thì sẽ tuyệt lắm." Chúng ta theo chân người dẫn đường tiến vào đường hầm bên tay phải. Chẳng mấy lâu sau, con đường hẹp lại, bắt buộc chúng ta phải né người và đi lạch bạch từng người một. Ta ở vị trí giữa, vị trí an toàn nhất. Các ngươi có thể không nghĩ đó là hành động dũng cảm, thế nhưng Grover là chúa tể của thế giới Hoang dã, một thành viên của Hội đồng Bô lão Cloven. Thế là cũng coi như là cậu ta sở hữu sức mạnh to lớn, mặc dù ta cũng chưa nhìn thấy cậu ta sử dụng sức mạnh bao giờ. Còn Meg, cô ấy không chỉ biết chiến đấu với hai lưỡi kiếm vàng, mà cô ấy còn có thể làm đủ trò hay ho với những túi hạt giống làm vườn mà cô bé đã chất đầy mình khi còn ở Indianapolis nữa. Ta, mặt khác, thì lại ngày càng trở nên yếu và không phòng ngự nổi hơn. Kể từ trận chiến với Hoàng đế Commodus, người mà ta đã làm mù bởi một trận ánh sáng của thần, ta chưa thể nào triệu hồi lại được dù chỉ một mẩu nhỏ sức mạnh thần thánh nào cả. Những ngón tay ta dần trở nên chậm chạp trên những sợi đàn của chiếc đàn ukulele chiến đấu. Khả năng cung thuật cũng ngày càng giảm đi. Ta thậm chí đã bắn trượt khi ta bắn tên Cyclops trong cái nhà vệ sinh đó đấy. (Ta không chắc ta hay là hắn là người xấu hổ hơn nữa.) Thêm vào đó, những viễn cảnh lâu lâu khiến ta tê liệt dạo này cũng xuất hiện thường xuyên hơn và khắc nghiệt hơn. Ta chưa chia sẻ nỗi lo lắng của ta với những người bạn của mình. Chưa phải lúc. Ta muốn tin là sức mạnh của ta chỉ là đang được nạp lại mà thôi. Xét cho cùng, thử thách ở Indianapolis cũng gần như phá hủy ta rồi. Nhưng cũng có một khả năng khác nữa. Ta đã bị đẩy từ đỉnh Olympus rồi ngã cắm mặt vào một thùng rác ở Manhattan từ hồi tháng Một rồi. Bây giờ đã là tháng Ba. Nghĩa là ta đã làm người thường trong vòng hai tháng rồi. Cũng có thể là ta ở dạng người thường càng lâu thì ta sẽ càng yếu đi, và cũng càng khó để ta trở lại thể thần thánh trước kia của ta. Hai lần trước Zeus đẩy ta xuống hạ giới có như thế này không ấy nhỉ? Ta cũng chẳng nhớ nữa. Một vài ngày, ta thậm chí còn không nhớ nổi vị của bánh thánh, hoặc là tên của những chú ngựa kéo cỗ xe mặt trời của mình, hoặc là khuôn mặt của cô em gái sinh đôi Artemis của ta. (Thường thì ta sẽ nói đó là một lời chúc phúc, không nhớ mặt cô em gái ấy, nhưng ta nhớ con bé đến điên cả lên. Đừng có hòng mách con bé là ta đã nói vậy đấy.) Chúng ta bò theo sườn hành lang, mũi tên thần kỳ của Dodona rung rung trong bao đựng tên như chiếc điện thoại đã tắt tiếng, như thể nó đang muốn được lấy ra và được hỏi ý kiến. Ta cố tảng lờ nó đi. Những lần trước khi ta hỏi mũi tên cho lời khuyên, nó không có ích cho lắm. Tệ hơn là, nó đưa mấy lời khuyên vô ích bằng tiếng Anh thời Shakespeare. Có quá nhiều những từ NGƯỜI, NHÀ NGƯƠI, TÁN THÀNH và VÔ CÙNG bằng tiếng Anh cổ, nhiều hơn những gì ta có thể chịu đựng. Ta chưa bao giờ thích những năm có đuôi 90s. (Ý ta là những năm 1590s ấy). Có thể ta sẽ bàn bạc với mũi tên khi chúng ta tới Palm Springs. NẾU như chúng ta tới được Palm Spring . . . Grover dừng lại ở một ngã rẽ chữ T nữa. Cậu ta đưa mũi ngửi ngửi bên phải, rồi bên trái. Mũi cậu ta chun lại như mũi con thỏ mới ngửi phải một con chó vậy. Bất chợt, cậu ta thét lên "Lùi lại!" và ngã ngửa lại đằng sau. Cái hành lang quá chật hẹp nên cậu ta đổ nhào lên đùi ta, bắt buộc ta phải ngã nhào lên đùi của Meg, cô bé ngồi phịch xuống một cách nặng nề và làu bàu hốt hoảng. Trước khi ta có thể cằn nhằn rằng ta không thích massage nhóm, hai tai của ta bật lên. Toàn bộ khí ẩm đang bị rút cạn khỏi không khí. Một mùi hương cay xè trườn qua người ta-như là mùi nhựa đường còn mới trên một con đường cao tốc ở Arizona vậy-và từ bên kia hành lang, ngay trước mặt chúng ta nổi lên một lớp lửa vàng kè, một xung điện của cái nóng khủng khiếp biến mất nhanh chóng như khi nó xuất hiện vậy. Hai tai ta nứt rạn . . . có thể là do dòng máu đang sôi sùng sục bên trong đầu ta. Miệng ta khô tới mức nuốt thôi còn thấy khó. Ta không thể nào nói được là chỉ có ta đang run rẩy đến mất cả kiểm soát hay là cả ba chúng ta đều vậy. "Cái-cái gì vậy?" Ta tự hỏi tại sao phản ứng đầu tiên của ta là hỏi đó là KẺ NÀO. Có gì đó về luồng hơi đó quen thuộc một cách đáng sợ. Trong luồng khói cay độc đang lơ lửng, ta nghĩ là mình nhận ra được cái mùi khó chịu của sự ghét bỏ, niềm hoang mang và cơn đói cồn cào. Chiếc mũ đan tay màu đỏ của Grover bốc khói. Cậu ta ngửi y như đống lông dê bị đốt cháy. "Cái đó," cậu ta nói một cách yếu ớt, "nghĩa là chúng ta đang ở rất gần rồi đó. Chúng ta cần phải nhanh lên." "Đúng như những gì tôi đã nói đi nói lại đấy," Meg gầm gừ. "Giờ thì đứng dậy ngay." Cô bé lấy đầu gối đá vào mông ta. Ta khó nhọc đứng dậy, ít nhất là đứng ở chiều cao mà cái hầm kẹp chặt cho phép. Đám lửa qua rồi, da ta cảm giác sền sệt. Hành lang trước mặt chúng ta trở nên tối tăm và im thin thít, như thể là chưa hề có một chút lửa địa ngục nào mới phun ra vậy, nhưng ta đã dành đủ thời gian với cỗ xe mặt trời để có thể đo độ nóng của lửa. Nếu như chúng ta bị luồng hơi đó phun trúng, thì chúng ta đã bị nấu chảy thành huyết thanh luôn rồi. "Chúng ta sẽ phải rẽ trái thôi," Grover quyết định. ... Mời các bạn đón đọc Những thử thách của Apollo Tập 3: Địa Cung Rực Lửa  của tác giả Rick Riordan.
Đồ Nhi, Vi Sư Không Xuống Núi
Tu Thần xuyên việt tới một thế giới huyền huyễn, thức tỉnh hệ thống Lĩnh Vực Vô Địch, ở trong phạm vi lĩnh vực thì hắn là vô địch! Hắn còn có thể thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ của hệ thống này để dần dần mở rộng phạm vi và tăng cấp độ của lĩnh vực. Tại thế giới, nơi mà một chưởng của cường giả nhân loại có thể làm rách hư không, và lũ yêu quái hung hăng hiếu sát, Tu Thần tỏ ý quyết không xuống núi! Nhận vài đồ đệ, sau đó để chúng xuống núi, quấy cho toàn bộ thế giới trời long đất lở, gà bay chó sủa. Đánh không lại thì chạy về mời Tu Thần rời núi báo thù. Tu Thần vừa ăn cánh phượng hoàng mới nướng chín, vừa khoát tay áo nói: Đồ nhi ngoan, vi sư không xuống núi, chi bằng các ngươi gọi bọn họ tới đây? *** Trên đỉnh núi Thiên Tử tại lãnh thổ Quảng Nguyên có một sơn miếu. Trên cửa sơn miếu có treo một tấm hoành phi, viết năm chữ - Miếu Sơn Thần Thiên Tử. Sơn miếu này thoạt nhìn có phần cổ xưa, gạch xanh ngói đỏ đã bắt đầu phai màu, để lộ màu xám của lớp bột hồ. Bao quanh sơn miếu là một tường đất cao hơn một thước màu vàng pha đỏ, trước cửa là một con đường đá gập ghềnh quanh co kéo dài xuống dưới chân núi. Ở sau lưng sơn miếu này là vách đá vực sâu, gió mạnh rít gào, sâu không thấy đáy. Chung quanh là núi non trùng điệp, mây mù mờ mịt. Sau khi tiến vào cửa là một sân nhỏ rộng chừng hơn mười mét vuông, nền lát gạch xanh, trống hoác không có gì cả. Hai bên trái phải mỗi bên đều có một căn phòng ngói gạch xanh cũ, mà phía trước là chủ đường của sơn miếu này. Bên trong miếu có một pho tượng đá, chín mắt tám tay bảy chân, trông khá hung thần ác sát. Lúc này có một thanh niên với bộ dạng vô cùng tuấn tú đang ngồi xếp bằng trên bồ đoàn bên dưới tượng đá, tay hắn chống cằm, miệng thì ngậm một cành cây. Một lão già đầu trọc đang nhắm mắt ngồi ở phía đối diện với thanh niên kia, lông mi lão trắng dài rủ xuống đất, khuôn mặt đầy những nếp nhăn. "Sư phụ, lần này là thật hay giả? Đây đã là lần thứ tám trong tháng ngài nói muốn tọa hóa rồi." Tu Thần cắn cành cây, nhìn lão già chằm chằm hỏi. Lão già chậm rãi mở mắt, trợn mắt trừng Tu Thần: "Đừng ầm ĩ nữa, hóa bây giờ đây!" Tu Thần trợn trắng mắt, sau đó nằm luôn ra đất, nhìn hoa văn trên xà nhà cười nhạo: "Ta từng nghe nói đại nạn sắp tới sau đó tọa hóa chờ chết, thật chưa từng nghe nói ai giống như ngài. Ngày hôm qua còn vui vẻ xuống dưới chân núi bắt gà rừng, mà bây giờ lại nói mình muốn tọa hóa, một tháng muốn hóa tới tám lần, ngài đang trị bệnh bằng hóa chất sao?" "Gà Xích Diễm dưới chân núi đều bị ngài bắt tới tuyệt chủng rồi, dựa vào thể chất này của ngài, sợ là Diêm Vương gia cũng không dám nhận đâu." Lão già nheo mắt, thở phì phì nói: "Lão phu tu vi thông thiên, muốn tọa hóa chỉ là chuyện phút chốc! Chủ yếu là tọa hóa cũng phải xem ngày chọn giờ hoàng đạo! Nếu không chẳng phải là bôi nhọ uy danh Đệ Nhất Ma Tăng của lão phu?" Tu Thần liếc mắt nhìn lão đầu. Lão già này lại bốc phét rồi. "Ta cảm thấy nên đi xuống núi mua chút pháo về đốt thì hơn, pháo nổ đùng đùng còn chân thật một chút. Chứ tọa hóa mà còn phải xem giờ, chẳng lẽ ngài muốn đợi linh khí thiên địa này tụ hội về đỉnh núi Thiên Tử, mây đỏ che lấp mặt trời, điềm lành giáng xuống bốn phương hay sao?" Tu Thần nói. Ông lão bị lời này của Tu Thần làm cho tức giận muốn hộc máu, mắng: "Nghĩ lại một đời anh danh của Ma Đế ta, môn đồ người nào không phải cường giả một phương, sao lại thu một tên đệ tử quan môn như ngươi chứ!" Lại nữa rồi. Tu Thần lắc đầu. Ba năm trước, lúc hắn xuyên tới nơi này thì đã bị lão già này liên tục dụ dỗ lừa thu thành đồ đệ, luôn nói bản thân lợi hại trâu bò cỡ nào, lôi đại một tên đồ đệ cũng là cao thủ tuyệt thế. Nhưng hắn lại chưa từng thấy sư huynh sư tỷ nào tới nơi này? Hơn nữa, thực lực lão già này thoạt nhìn cũng không có gì đặc biệt, còn nói là cao thủ tuyệt thế, bảo lão mang hắn bay một chút cũng không làm được. "Tới rồi!" Đột nhiên, ánh mắt lão già sáng lên, sau đó lập tức nhắm mắt bế khí. Tu Thần tiếp tục nằm, hoàn toàn không tin lời lão. "Ong!" Đột nhiên, trên bầu trời truyền tới tiếng vù vù cực lớn, cảm giác như cả ngọn núi đều rung chuyển, khiến Tu Thần sợ tới mức ngồi bật dậy. Hắn nhìn ngoài cửa, sau đó lại nhìn về phía lão già. Chỉ thấy sắc mặt lão già lúc này xám ngoét không còn sức sống. "Lão già? Lão già?" Tu Thần có hơi hốt hoảng, đứng dậy lay bả vai ông lão. Lão già gian nan mở hai mắt ra, con ngươi đục ngầu kia bỗng nhiên trở nên dày đặc tử khí. "Con mẹ nó, lão làm thật đấy à? Hóa thật đó sao?" Đầu Tu Thần muốn nổ tung. "Thần à..." Lão già chậm rãi lên tiếng, âm thanh vô cùng suy yếu. "Ngươi nói... Ngươi từ đâu tới nơi này, vì sao không thể tu luyện..." "Ai... Anh danh một đời của lão phu... Bị tên nhóc ngươi phá hỏng rồi..." Ánh mắt Tu Thần có chút kích động, lần này không phải là muốn đi thật chứ? "Ta nói ta tới từ Địa Cầu, là thân thể xuyên qua đây, cấu tạo cơ thể không giống với nhân loại nơi này, nên không thể tu luyện." Tu Thần bất đắc dĩ nói. Vì sao lại luôn hỏi vấn đề này chứ? "Địa Cầu... Là loại cầu gì thế?" "Thôi... Thôi... Thời gian cũng đã tới rồi. Nhớ kỹ, có thể không xuống núi thì đừng xuống núi, thế giới bên ngoài rất nguy hiểm..." Tu Thần sốt ruột nói gấp: "Sư phụ, ngài đừng làm ta sợ, ta chỉ là một tên Muggle, không thể lăn lộn ở cái thế giới này được đâu." Bản thân hắn ngay cả gà Xích Diễm cũng không đối phó được, nếu sư phụ thật sự chết đi, không phải hắn sẽ đói chết sao? "Mỗi người có con đường của mình, vi sư không giúp ngươi được cả đời..." "Cả đời vi sư đi lại một mình, khác biệt không giống ai, sau khi chết cũng phải vậy. Nhớ kỹ lấy, phần mộ của lão phu không thể giống những người khác, phải lập dị... Nhớ lấy nhớ lấy..." Tu Thần bị những lời này của lão già dọa tới mức muốn nổ đầu. Tử vong là chuyện thần thánh trang nghiêm cỡ nào, lão muốn làm cho người ta cười ra nước mũi hay sao? "Đây là yêu cầu cuối cùng trước khi chết của vi sư, ngươi phải đáp ứng đấy, bằng không ta chết không nhắm mắt, tọa mà không hóa..." Tu Thần sốt ruột nói gấp: "Được được được, ta đáp ứng ngài, người khác đều làm phần mộ gồ lên, còn lão nhân gia ngài thì ta sẽ lấy ao làm phần mộ. Ta sẽ khắc tên ngài lên xương đùi gà Xích Diễm làm bia cắm trước đầu phần mộ ngài." Nghe xong lời này của Tu Thần, đôi con ngươi dày đặc tử khí của ông lão bỗng nhiên lấp lánh chút ánh sáng. "Bia xương gà? Ao phần mộ? Tốt... Muốn..." Lời còn chưa nói hết, ông lão đã trực tiếp nhắm mắt ngã trên đất. Tu Thần: "???" "Không phải chứ sư phụ? Ngài đùa thật à?" Tu Thần hoàn toàn ngây ngốc tại chỗ. Mời các bạn đón đọc Đồ Nhi, Vi Sư Không Xuống Núi của tác giả Vô Địch Tái Lãng.