Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Thượng Lĩnh Án

Vi Tam Đắc là một tên ác bá ở làng Thượng Lĩnh, hắn đã làm tan nát biết bao gia đình trong làng từ dân thường đến quan chức. Người dân đều căm hận hắn nhưng không thể làm gì được hắn, kể cả cảnh sát, vì hắn biết luật, hiểu luật, và lợi dụng sự hiểu biết đó để lách luật và liên tiếp phạm pháp. Đột nhiên vào ngày giáp Tết, hắn treo cổ tự tử trên cái cây cao nhất làng với một bức di thư để lại. Và cảnh sát nhận được một tin mật báo rằng hắn bị mưu sát. Khi cảnh sát càng tiến sâu vào điều tra, sự việc lại càng thêm bế tắc, dân làng Thượng Lĩnh nhất mực bao che cho nhau…Và từ cái chết của Vi Tam Đắc lại liên tiếp xẩy ra các án mạng khác. *** Cái thây của Vi Tam Đắc bị treo lên cây đa trước cổng làng. Hơn trăm thôn dân của làng Thượng Lĩnh kéo nhau đến xem chẳng khác nào như đi xem kịch. Trong số bọn họ, không ít kẻ trống ngực đập thình thịch, cứ y như tay thần, tay quỷ đang khua chiêng gõ mõ. Đúng lúc ấy thì gió lạnh như con chó đánh hơi thấy mùi phân thối, hối hả lao tới cắn người, chẳng chừa một ai. Chỉ có điều trong cái bộ dạng lập cập, run rẩy ấy lại không phải là những người dân quê ăn mặc phong phanh, rách rưới; mà lại là một số ít những người mặc áo dày sụ, sạch sẽ mà chỉn chu. Đám người này thoáng nhìn liền biết ngay là những cán bộ, công chức thu nhập cao mới về quê ăn Tết. Còn phần đông số còn lại là đám dân quê quanh năm suốt tháng bám rễ ở làng. Số này nhìn Vi Tam Đắc chết trơ thây cứ y như khán giả đã đoán được kết cục của vở kịch, bởi vậy mà tỏ ra bình tĩnh hơn hẳn. Bỗng từ trong đám đông có hai người phụ nữ lao ra, một già, một trẻ. Hai người này lao về phía Vi Tam Đắc, tóm lấy cẳng chân của y cách mặt đất chừng hai mét. Người thiếu phụ nhón chân với tay, bắt lấy một chân Vi Tam Đắc, chực muốn đẩy thân thể y lên. Chỉ có điều chiều cao và sức lực của chị ta rõ là đã tới giới hạn, cái thây của Vi Tam Đắc vẫn không chút dịch chuyển. Chị ta chực chờ sự giúp đỡ để đẩy thân thể Vi Tam Đắc lên phía trên, giảm bớt lực siết của sợi dây buộc quanh cổ y. Song lúc này chị ta cũng chỉ trông cậy được vào bà lão đang ở bên cạnh mình mà thôi. Bà lão ắt hẳn là muốn giúp chị ta, song muốn giúp cũng chẳng dễ gì, bởi lẽ bà lão vừa thấp vừa còng lưng ấy phải nhảy lên thì may ra mới chạm được tới người Vi Tam Đắc. Lần thứ nhất cẫng chân nhảy, bà lão bắt được chiếc giày xỏ ở một bên chân, nhưng khi bà lão hạ mình và cánh tay xuống thì chiếc giày ấy cũng rơi xuống theo. Bà lão lại nhảy lên lần nữa thì túm được ống quần của Vi Tam Đắc, lần này thì chiếc quần của Vi Tam Đắc đã bị tụt xuống. Từ xa nhìn lại, cặp đùi trắng hếu mà thuôn dài kia giống như hai thớ thịt tươi treo trên gác bếp, còn cái vật mềm nhũn, lông mọc tua tủa nằm giữa cặp đùi khiến ai nhìn gần lại thấy như cái dái dê. Kẻ ngó xa nghía gần, người há mồm trợn mắt, kẻ cúi đầu ngượng nghịu, có kẻ lại vênh mặt cười mỉa. Bà lão và thiếu phụ kia đâu ngờ lại bị rơi vào tình cảnh trớ trêu ấy. Bọn họ cũng chỉ muốn cứu Vi Tam Đắc thôi mà, bởi nghĩ y còn sống. Song từ hành động và hậu quả gây ra, lại chẳng giống như đang cứu người, trái lại, còn như là bêu riếu, sỉ nhục Vi Tam Đắc thì đúng hơn. Bởi vì sự thực là quần của Vi Tam Đắc đã bị tuột mất. Nhưng chuyện này xảy ra thì cũng không lấy gì làm lạ. Lúc Vi Tam Đắc còn sống, y đã làm tổn thương hai người phụ nữ này không biết bao nhiêu lần, bất kể họ, một người là mẹ y, một người là vợ y. Tội lỗi mà y gây ra cho họ, tội lỗi mà y gây ra cho cả cái làng này, dù có chết cả chục lần cũng chẳng thể chuộc hết được. Vậy thì sao mà bảo giống như đang sỉ nhục được. Hai người phụ nữ một già một trẻ ấy vẫn nôn nóng muốn đẩy thân thể Vi Tam Đắc lên, song mọi cố gắng đều vô ích. Việc Vi Tam Đắc bị treo lên cây như thể đã được tính toán từ đầu, gót chân cách mặt đất chừng hai mét, ai muốn cứu y thì cũng đừng hòng với tay tới, chết là cái chắc. Hai người phụ nữ hình như đã nhận ra được điều này, quan trọng hơn là hai người còn phát hiện ra Vi Tam Đắc đã chết, đã tắt thở trước đó lâu rồi, đã hết đường cứu mạng. Vậy là đành từ bỏ. Mẹ của Vi Tam Đắc quỳ bệt dưới mặt đất, lay lóc gào khóc. Còn vợ của Vi Tam Đắc lại không quỳ, cũng chẳng khóc, chị ta thẫn thờ đứng đó, mình mẩy hơi lay động, run rẩy, cứ như người bị trúng phong. Đó là một buổi sớm gió lộng tê tái. Nhưng có điều, hình như chị ta không phải run rẩy vì gió lạnh, mà đúng hơn là vì sự lạnh nhạt của những kẻ xung quanh. Trong số đó có một người đàn ông lớn tuổi nhìn sự việc không lọt mắt, vậy là tiến lên phía trước, đoạn hô hào thêm vài thanh niên nữa. Bọn họ tháo nút dây buộc trên cành cây đa, siết chặt một đầu dây, rồi từ từ thả ra. Vi Tam Đắc dần hạ xuống, rồi được hai thanh niên đỡ lấy, đặt nằm trên mặt đất. Trước đó, người đàn ông lớn tuổi đã kéo chiếc quần bị tuột lên cho Vi Tam Đắc. Xong rồi, ông ta nhìn vào cặp mắt trố trơ trơ của Vi Tam Đắc mà than rằng: “Tam Đắc ơi là Tam Đắc, dái chim của mày đã hại đời bao nhiêu đàn bà con gái ở cái làng này thì giờ cũng đã đến lúc nghỉ ngơi được rồi. Hoàng đế chẳng qua cũng sung sướng giống mày thôi, đừng có chết rồi mà vẫn không nhắm mắt. Hừ, nhắm mắt lại đi.” Người đàn ông lớn tuổi vừa nói vừa đưa tay vuốt mắt cho Vi Tam Đắc. Chắc là do người đàn ông này ăn nói có lòng thành, đức cao vọng trọng, Vi Tam Đắc quả là đã nghe lời mà nhắm mắt. Người đàn ông này còn tìm thấy một bức di thư trong túi áo của Vi Tam Đắc. Nội dung bức di thư như sau: “Vi Tam Đắc tôi đã gây ra nhiều tội lỗi, nay lấy cái chết để đền tội, mong sao mọi người được vui vẻ ăn Tết! Vi Tam Đắc.” Bức di thư viết sai chính tả được nhiều người truyền tay nhau đọc, xong chẳng ai muốn giữ lại, nên lại nhét vào trong túi áo y. Ai nấy như đều tìm thấy chút lương tri trong con người y, bởi vậy mà ánh mắt thù hận cũng nguôi ngoai. Vợ của Vi Tam Đắc nãy giờ vẫn đứng đấy, chẳng khóc chẳng rằng. Chị ta không ngờ lại nhận được sự cảm thông, thương hại của mọi người, lúc này bỗng như kẻ mù lòa trông thấy ánh sáng. Chị ta chợt quay người lại quỳ xuống trước mặt đám đông, khấu đầu, vừa khóc vừa tạ ơn, thay chồng tạ tội. “Hoàng Nguyệt Thu tôi xin cảm tạ mọi người trong làng!” Người đàn bà tự xưng là Hoàng Nguyệt Thu nói. “Xin được cảm tạ mọi người đã giúp tôi thu xác. Hoàng Nguyệt Thu tôi bạc mệnh, số khổ, hèn hạ được gả tới làng Thượng Lĩnh làm vợ của Vi Tam Đắc. Vi Tam Đắc là tên xấu xa, đểu cáng vô độ. Không, hắn vốn không phải con người, hắn là tên súc sinh, mà cũng chẳng bằng súc sinh, chẳng bằng cầm thú. Hắn rước đủ mọi tai vạ cho cả làng, rồi còn chà đạp không biết bao nhiêu đàn bà con gái, giờ thì chết quách đi rồi. Tôi biết, hắn ta có chết cũng không đền hết tội. Hắn gây ra quá nhiều nghiệp chướng, có chín cái mạng cũng chẳng chuộc hết, ngàn lưỡi dao xẻo xác hắn cũng không báo hết thù, cũng không giải hết hận. Tôi số khổ, bạc mệnh, hèn hạ nên mới làm vợ của Vi Tam Đắc, Vi Tam Đắc chết rồi, đi rồi, tội lỗi vẫn còn đó. Tôi thay hắn ta chuộc tội với dân làng! Xin được chuộc lỗi! Xin được chuộc lỗi... Bây giờ người cũng đã chết rồi, tội cũng đã chuộc rồi, tôi xin dân làng giúp tôi chôn cất Vi Tam Đắc. Ngày mai chôn, không, hôm nay phải chôn ngay. Tết tới nơi rồi, tôi không muốn ảnh hưởng mọi người đón Tết. Chôn càng sớm càng tốt, như vậy ăn Tết mới ngon. Chỉ mong mọi người trong làng vui vẻ, phấn khởi đón Tết. Ai nấy đều cảm động trước lời lẽ biết điều, thấu tình đạt lý của người đàn bà mệnh khổ này. Đa phần đã không còn viện được lý do để tiếp tục thù hận Vi Tam Đắc, cũng không có lý do để cự tuyệt lời thỉnh cầu của Hoàng Nguyệt Thu. Vẫn là người đàn ông lớn tuổi có lòng thành, đức cao vọng trọng lúc trước đứng ra hô hào, động viên, bố trí trai tráng, dân làng nghe lệnh mà làm theo. Cả toán người ào ào hành động, mỗi người một việc, nào là nhập liệm, nhập quan, chọn đất, đào mồ, xem giờ, lo liệu đám tang cho Vi Tam Đắc... Ngôi làng bỗng sôi động hẳn lên. Dây pháo đốt ra từ nhà Vi Xương Anh có thể xem là âm thanh đầu tiên đánh tan bầu không gian u uất của ngôi làng, khiến cả thôn làng náo nhiệt hẳn. Ngôi nhà của gia đình Vi Xương Anh nằm tách biệt trên đỉnh dốc, là ngôi nhà rách nát nhất nhưng lại cao nhất làng Thượng Lĩnh. Nói là cao, chẳng qua là vì nó nằm ở trên đỉnh dốc, chứ ngôi nhà ấy thực chất lại thấp lè tè. Nói là rách nát, là bởi nếu so với những ngôi nhà tầng bằng xi măng cốt thép thì nó thực là thảm hại. Ngôi nhà này của Vi Xương Anh vẫn là nhà vách đất từ đời ông cha để lại. Tuy đời nào cũng được tu sửa, cơi nới cho rộng thêm, nhưng cũng không thay đổi được bản chất nhà đất của nó. Cũng giống như Vi Xương Anh, dù anh ta làm bảo vệ hay thợ sửa chữa trong thành phố, thì cũng không thay đổi được bản chất nông dân của mình. Vi Xương Anh đâu phải không cất nổi nhà tầng, anh ta đi làm thuê làm mướn bên ngoài đã mấy năm nay, chắc hẳn cũng dành dụm được chút ít, muốn xây một ngôi nhà bằng gạch vữa xi măng cũng chẳng khó gì. Song Vi Xương Anh lại không xây nhà. Cớ chi mà anh ta lại làm vậy? Chuyện này thì thằng con sáu tuổi của anh ta là rõ nhất. Lúc thằng bé mới chỉ lên ba, cha nó đã căn dặn rằng: “Con trai à, khi nào mày lên bảy tuổi, cha sẽ đón mày lên thành phố học, cha sẽ đón cả u mày lên đó ở cùng, rồi cả nhà ta sẽ chuyển sang ở nhà tầng, không phải làm nông dân nữa. Thế nên ngôi nhà chúng ta đang ở không cần phải xây lại làm gì cho phiền...” Vi Xương Anh lần nào từ tỉnh về cũng đều chuốc vào đầu thằng bé cái cuộc sống lý tưởng ấy. Năm này thằng bé đã sáu tuổi, cũng gần lắm với cuộc sống lý tưởng mà cha nó hứa hẹn rồi. Chỉ có điều năm nay cha nó về nhà lại không thấy nhắc tới chuyện ấy nữa. Cha nó thì cứ tưởng nó đã quên béng đi rồi, nhưng mà nó thì vẫn còn nhớ lắm, bởi lẽ lên thành phố học cũng là giấc mơ của nó. Xế chiều hôm qua, thằng bé đã hỏi Vi Xương Anh: “Cha ơi, con lại lớn thêm một tuổi rồi, lên sáu rồi đấy, chỉ cần thêm một tuổi nữa là có thể lên thành phố học rồi phải không?” Vi Xương Anh mới về nhà được hai ngày liền hằn ngay một cái bạt tai lên mặt thằng bé. Vi Xương Anh cớ sao lại ra tay với thằng bé như vậy? Bởi vì Vi Xương Anh lúc ấy đang điên tiết, đang não ruột, nguyên nhân cũng có thể xem như là liên quan tới chuyện này. Ấy là lúc đương bữa cơm, Vi Xương Anh đang vùi đầu uống rượu thì bỗng dưng nói với chị vợ Tô Xuân Quỳ rằng: “Ra Tết tôi không đi làm thuê nữa.” Chị vợ đang ngậm trong mồm miếng thịt còn chưa kịp nhai, bèn hỏi: “Sao thế hả?” Vi Xương Anh chỉ đáp lại rằng: “Đếch muốn đi nữa.” Tô Xuân Quỳ lại hỏi: “Sao lại không muốn đi?” Vi Xương Anh đáp: “Đếch muốn đi thế thôi.” Tô Xuân Quỳ: “Không muốn là không đi? Anh tưởng anh là hoàng đế à? Anh không đi mà được chắc? Mấy miệng ăn nhà này đều dựa tất vào đồng tiền anh kiếm đấy.” Vi Xương Anh bảo: “Tao ở thành phố ngán lắm rồi, thấy ở quê vẫn hơn, vậy đã được chưa?” Tô Xuân Quỳ có đôi mắt đẹp lại chẳng coi chồng mình ra gì, nói thực trong mắt chị ta, chồng mình là cái hạng chẳng được tích sự gì. Là đàn ông trong nhà, còn hứa hẹn sẽ đưa con cái lên thành phố học, rồi còn đón cả nhà lên thành phố, đúng thật là nói khoác không cần nộp thuế. Vi Xương Anh liếc mắt nhìn vợ bảo: “Mày muốn tao ra ngoài, mày lại không muốn tao ở nhà như vậy. Tao không ở nhà, hay ho gì cho mày?” Tô Xuân Quỳ ngẩn người, đáp lại: “Ý anh là gì?” “Tao không yên tâm với mày, ý tao là vậy đó.” Vi Xương Anh lại nói tiếp: “À, tao phải đi khỏi cái nhà này thì mày mới yên tâm phải không?” “Vi Xương Anh, anh cứ nói thẳng ra, anh nói vậy là có ý gì?” Vi Xương Anh nốc liền hai chén rượu, mặt đỏ ngầu, trợn mắt chỉ tay vào mặt Tô Xuân Quỳ mà nạt: “Tô Xuân Quỳ, tao hỏi mày, mày và Vi Tam Đắc đã làm cái chuyện kia chưa?” Tô Xuân Quỳ hỏi: “Chuyện kia là chuyện gì?” “Thì là cái chuyện đó chứ còn chuyện gì.” Đoạn anh ta còn làm động tác, ngón tay trỏ bên phải chọc vào hốc nắm tay trái, rút ra chọc vào hai lần liền. Tô Xuân Quỳ hỏi: “Chuyện đó, chuyện kia là cái gì, tôi không hiểu.” Vi Xương Anh đưa tay vỗ đùi: “Tô Xuân Quỳ, cái lỗ của mày bị nó chọc nát rồi, còn giả bộ gì nữa, mày tưởng tao là thằng ngu hay sao? Rốt cuộc là mày với Vi Tam Đắc có làm cái chuyện đó hay không, mày nói đi.” Tô Xuân Quỳ đáp: “Không có.” Vi Xương Anh vặn hỏi: “Không có?” “Không có thì là không có chứ sao.” “Vậy thì sao lại có người mách tao là có?” Tô Xuân Quỳ quẳng đũa lên mặt bàn, gằn giọng nói: “Đứa nào mách?” “Đứa nào mách mày không cần biết, mày chỉ cần trả lời tao là có hay không thôi.” “Tôi bảo không có thì anh không tin. Tôi bảo có thì anh mới tin phải không?” “Ừ thì đúng vậy đấy.” Mời các bạn đón đọc Thượng Lĩnh Án của tác giả Phàm Nhất Bình.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Tiền 3: Sòng Bạc - Paul Loup Sulitzer
Cimballi, chàng triệu phú 26 tuổi, góa vợ, một con trai, tốt bụng và ham chơi, một hôm bỗng điên rồ nảy ra ý định "tậu" một sòng bạc ở Mỹ để cuộc đời được có thêm phần vui vẻ, bởi vì cái sòng bạc này "...có thể tiếp đón cùng lúc Ba mươi ngàn khách chơi, tổng vốn đầu tư là Năm trăm triệu đô la và ...lãi đồng niên trông rõ được là Một trăm triệu đô la". Vậy thì vui quá rồi. Song, cả tiền lẫn niềm tin đều chưa tìm thấy thì đã thấy chàng Cimballi; nào lồng lên như ngựa vía khắp các châu lục trên trái đất, từ Mỹ sang Âu, Á, Phi rồi lại ngược từ Phi, Á, Âu về Mỹ; nào suýt phá sản; nào hơn thế, suýt bỏ mạng cùng hai đứa con - một đẻ một nuôi, trong đường hầm bên dưới sòng bạc của chính chàng. Bạn đọc sẽ ngạc nhiên và có thể, kinh hoàng, khi đi tới tận cùng của "Sòng Bạc". Sòng Bạc là tập thứ 3 của series tiểu thuyết Tiền của tác giả Paul Loup Sulitzer. Bộ Tiền gồm có: - Tiền! Niềm Vui Sướng - Tiền! Tiền Mặt Trả Ngay - Sóng Bạc *** Tác giả Paul L. Sulitzer trước khi trở thành nhà văn đã là một chuyên gia kinh tế, tham vấn cho nhiều công ty lớn. Nhờ thế ông đã có thể đi sâu vào gan ruột “giới làm ăn”, nắm được tối đa những lắt léo, những bí mật mà chỉ người trong cuộc mới biết. Có lẽ đó là lý do chủ yếu khiến "Tiền!..." có sức hấp dẫn lạ lùng của một cuốn truyện trinh thám. Nhưng khác với loại truyện ấy, vẫn là một cuốn tiểu thuyết tâm lý xã hội, một bức tranh thu nhỏ của thời hiện đại, với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, của tốc độ chuyển dịch, sức mạnh ma quái của đồng tiền, với lý tưởng, tình yêu, hạnh phúc, và khổ đau của con người... *** Vào quãng giữa tháng 7 năm 1976, ngày 18, cách đây hơn ba tháng tôi đã lao vào việc mua và xây dựng một khách sạn - sòng bạc khổng lồ trên đất Mỹ. Một sòng bạc đáng gọi là một sòng bạc: Sau khi xây dựng xong, nó sẽ có thể tiếp đón được trong cùng một lúc từ 29 đến 30 ngàn khách chơi. Không phải là nhỏ rồi! Dù sao nó cũng đủ để cạnh tranh với những sòng bạc Caesars hay Saudz của Las Vegas. Quy mô thì y chang như nhau hay cũng gần như thế. Nhưng về tầm quan trọng của công chuyện kinh doanh mà tôi đã dấn thân vào thì chỉ cần ba con số là đủ để biểu hiện nó: Tổng số vốn đầu tư là năm trăm triệu dolars, nếu không có gì bất thường thì số vốn này sẽ được khấu hao xong trong ba năm rưỡi, lãi đồng niên trông thấy được sẽ là một trăm triệu dolars nghĩa là 500 triệu francs mỗi tháng[1]. Trừ tiền thuế và các lệ phí. Ngày 18 tháng 7 năm 1976, một chiếc taxi đưa tôi đến một cao ốc ở Phố 65 Đông, tại Manhattan, New York, lúc đó là tám giờ tối, hơn kém khoảng một hay hai phút gì đó. - Tôi tên là Franz Cimballi. Ông Olliphan chờ tôi. Người bảo vệ có mang súng, tra một bảng danh sách để trên bàn làm việc nhìn chòng chọc vào mặt tôi, rồi gật đầu. Tôi đi về phía thang máy, anh ta gọi giật tôi lại, nói: - Tầng lầu của ông Olliphan có thang máy riêng. Anh ta đến gần tôi, đưa tôi đến trước mặt cái cửa bằng gỗ sồi đánh si, kỳ lạ là không có một quả đấm cửa hay bất cứ một thiết bị mở nào. - Xin mời ông nhìn vào chiếc camera này. Tôi phải ngẩng đầu và con mắt độc nhỡn của chiếc ống kính nhìn xuống tôi. Tôi gửi cho nó một nụ cười quyến rũ mà tôi có bí quyết. Mười giây, cái cửa không có khóa lặng lẽ quay, mở vào một thứ phòng khách của phụ nữ, căng bằng lụa mộc, có kê ở hai bên một chiếc tủ đứng kiểu Louis XVI, hai chiếc ghế fauteuil kiểu Adam, lưng ghế có phù hiệu. Tôi bước vào, cánh cửa đóng lại sau lưng tôi. Tôi không hề cảm thấy chiếc cabin khởi động, và cũng chẳng cảm thấy chấn động nhẹ nào báo hiệu đã lên đến nơi. Một cánh cửa mở ra, gác lầu thứ 64 trên cao, một người quản gia người Porto Rico thản nhiên đỡ chiếc áo choàng của tôi. - Xin mời ông đi lối này, thưa ông Cimballi. Nếu cứ xét theo cái thang, bằng gỗ mun rất hẹp đưa tôi lên một căn phòng có lẽ là căn gác cuối cùng của cao ốc này, thì tầng lầu này phải là song lập. Người mời tôi dùng bữa tối đang chờ tôi ở đầu một dãy hành lang hoàn toàn ốp gỗ, dẫn vào một phòng đọc sách cũng hoàn toàn ốp gỗ như vậy. Khi tôi bước vào, ông cất chiếc vĩ cầm vào hộp, và tôi có thể đoán chắc rằng chỉ riêng một cây đàn này thôi, ít nhất cũng bằng giá của cả tầng lầu song lập này và những gì nó chứa bên trong. Đó là một người đàn ông trạc năm mươi tuổi, cao lớn, mảnh mai, rất đẹp, rất lịch sự! Hai thái dương tóc điểm bạc, da mặt rám nắng, đôi mắt xanh cháy bỏng thông minh. Tên ông ta là James Montague Olliphan. Chính ông là người đứng làm trung gian để bán cho tôi khách sạn “Con Voi Trắng”. - Ông dùng một chút rượu thưa ông Cimballi? ... Mời các bạn đón đọc Tiền 3: Sòng Bạc của tác giả Paul Loup Sulitzer.
Tiền! Niềm Vui Sướng - Paul Loup Sulitzer
"Tiền!..." vào lúc này, chúng tôi hy vọng có thể giúp bạn đọc tiếp cận với "thế giới kinh doanh", với "nghệ thuật làm giàu", và còn hơn thế nữa, có một cái nhìn đầy đủ, xác thực về thời đại mình đang sống. Cậu chàng Frank Cimballi, 19 tuổi, con nhà tỉ phú chỉ biết ăn chơi, bỗng rơi tõm vào một cảnh ngộ bi đát: Bố, mẹ chết, người yêu tự sát, gia tài khổng lồ được thừa kế bị cưỡng đoạt sạch sành sanh. Bị đẩy đến xứ Kenya Châu Phi xa lạ với hai bàn tay trắng - theo đúng nghĩa đen, cậu chàng bắt buộc phải sống, phải làm lại cuộc đời mình. Thế mà chỉ năm năm sau, Cimballi đã trở thành triệu phú, lần luợt đánh bại tất cả những kẻ độc ác đã “gây nên cuộc lừa đảo có tầm cỡ thế kỷ”, kể cả tên trùm tư bản tài chính Martin Yahl. Đánh bại, không phải bằng vũ lực mà bằng chính sức mạnh của đồng tiền, bằng các mánh lới, các thủ đoạn kinh doanh. Và rồi chính Cimballi, đang ngất ngưởng trên đỉnh cao chót vót thắng lợi huy hoàng, lại một lần nữa bị lôi tuột xuống vực cũng bằng những cái “bẫy” nghề nghiệp... Sòng Bạc là tập thứ 3 của series tiểu thuyết Tiền của tác giả Paul Loup Sulitzer. Bộ Tiền gồm có: - Tiền! Niềm Vui Sướng - Tiền! Tiền Mặt Trả Ngay - Sóng Bạc *** Tác giả Paul L. Sulitzer trước khi trở thành nhà văn đã là một chuyên gia kinh tế, tham vấn cho nhiều công ty lớn. Nhờ thế ông đã có thể đi sâu vào gan ruột “giới làm ăn”, nắm được tối đa những lắt léo, những bí mật mà chỉ người trong cuộc mới biết. Có lẽ đó là lý do chủ yếu khiến "Tiền!..." có sức hấp dẫn lạ lùng của một cuốn truyện trinh thám. Nhưng khác với loại truyện ấy, vẫn là một cuốn tiểu thuyết tâm lý xã hội, một bức tranh thu nhỏ của thời hiện đại, với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, của tốc độ chuyển dịch, sức mạnh ma quái của đồng tiền, với lý tưởng, tình yêu, hạnh phúc, và khổ đau của con người... *** Tôi nghĩ rằng, ta có thể bắt đầu câu chuyện từ sáng 23 tháng mười một, vào lúc mười một giờ ba mươi phút, trong ngôi nhà ở đường Old Queen bên rìa công viên St. James thành phố London. Sao lại không? Chính vào lúc đó cuộc chơi bắt đầu. Có lẽ không thật đúng vào lúc mười một giờ ba mươi, mà là mười một giờ ba mươi rồi kéo dài trong năm sáu tiếng đồng hồ sau đó. Viên cảnh sát từ công viên Scotland tới ngồi trước mặt tôi. Đến bây giờ trong mắt tôi vẫn còn lưu lại đường nét chiếc veston bằng vải tuýt anh ta mặc hôm đó. Anh ta trạc độ bốn mươi, có khuôn mặt người xứ Scotland hung hung, mái tóc dày và xoắn có đường ngôi bên trái kéo dài sang phải bởi một làn sóng có hai chỗ duỗi, tên là Ogilvie hoặc Watts. Anh ta theo dõi những người dọn nhà thuê đang khuân vác đồ đạc. - Anh rời bỏ căn nhà này? - Chính nó rời bỏ tôi. Người ta đang lấy lại những thứ tôi chưa trả hết tiền. Tôi chưa trả hết tiền một thứ nào. Điện thoại, tôi nhấc máy, lại ngân hàng gọi tới: Tấm séc thứ hai đã tới nơi, họ không chịu đựng nổi tình thế này, tôi định làm gì, mấy giờ tôi mới đến gặp họ, không biết rằng càng sớm càng tốt hay sao? Tôi có biết chứng thư kháng nghị là cái gì không? “Tôi sẽ cố đến thật sớm! Bao giờ? - Một giờ nữa!” Tôi gác máy, thấy cặp mắt màu hạt dẻ đăm chiêu của viên cảnh sát vẫn dán vào tôi. Chắc chắn gã đã nghe hết, đã biết rõ ai gọi tôi, gọi để làm gì, nhưng cứ giả ngây giả điếc như chẳng hay biết gì. Gã bảo: - Hay, tôi vừa nảy ra một ý: Có lẽ tốt nhất là anh nên làm lại từng bước một những cái gì anh đã làm đêm hôm đó. Không bắt buộc đâu. Nhưng tranh thủ được thời gian. Và tôi có thể để anh dược tự do sớm hơn. Tôi đứng lên, chân nặng trịch. - Nào, đi! Các người dọn nhà thuê đã và đang làm việc rất tốt: Họ bắt đầu từ lầu hai, đã dọn sạch mọi thứ trên đó, lầu một cũng trống trơn, chẳng sót thứ gì. Bây giờ họ đang tấn công vào tầng trệt, mang đi hết, nhẵn nhụi, có mảnh giấy vẽ ngôi nhà ở St. Tropez bằng bút mực. - Anh bao nhiêu tuổi? - Hăm mốt. Hai mươi mốt năm, hai tháng và mười bốn ngày. - Anh thuê căn nhà này từ bao giờ? - Cách đây hai tháng mười bốn ngày. - Buổi tối hôm kia là lần đầu tiên? Tôi nhìn theo bức tranh trong tay một người dọn nhà thuê. - Không phải lần đầu. Giữa lầu một và tầng trệt có vài bậc tam cấp. Chúng tôi trèo lên. Tôi ngoái nhìn lại lần cuối cùng mong trông thấy bức vẽ, nhưng người mang nó đi đã ra tới ngoài phố, tới xe tải. - Không phải lần đầu, nhưng chắc chắn là lần cuối cùng. - Đêm ấy anh ăn mừng cái gì là chính? - Sự phá sản của tôi. - Chúng tôi lên thang gác lầu một. - Tôi nói - Tôi ở dưới kia, trong phòng khách bên phải. Trông rõ cô ta trèo lên cầu thang này. Cô dừng lại đứng chỗ này, quay đầu nhìn xuống. Nhìn tôi, giơ tay làm dấu rồi tiếp tục lên gác. - Có tỏ vẻ gì đặc biệt? ... Mời các bạn đón đọc tập 1 bộ Tiền: Tiền! Niềm Vui Sướng của tác giả Paul Loup Sulitzer.
Vịnh Nhật Thực - Jayne Ann Krentz
Một vụ án mạng vừa xảy ra tại vịnh Nhật thực nổi tiếng yên bình. Rafe Madison - gã “trai hư’’ của thị trấn - bị nghi ngờ giết chết cô bạn gái lẳng lơ của mình. Nhưng thật khó tin làm sao, bất chấp mối thâm thù truyền đời giữa hai nhà Madison và Harte, anh ta lại được làm chứng vô tội bởi Hannah Harte, một cô gái hết mực ngoan hiền. Thoát khỏi tù tội trong gang tấc, Rafe rời khỏi thị trấn, anh không bao giờ quên sự dũng cảm của Hannah khi vứt bỏ danh dự, đối chọi với dư luận để cứu giúp mình. Tám năm sau, họ quay về vịnh Nhật thực và đối mặt với nhau trong cuộc chiến tranh giành quyền sở hữu Mộng Tưởng, tòa nhà được bà cố của Hannah di chúc lại cho hai người, với mong muốn kết thúc mối thâm thù giữa hai dòng họ. Cùng lúc đó, những sự kiện kì lạ và bí ẩn về vụ án năm xưa liên tiếp xuất hiện, kéo theo nhiều mối nguy hiểm lại đưa họ gần nhau hơn. Liệu kẻ thủ ác có thành công trong việc bịt đầu mối nhằm chôn vùi những bí mật năm xưa? Liệu lần này Romeo và Juliet sẽ có được kết cục hạnh phúc?Với văn phong hóm hỉnh và đặc biệt là lời thoại hết sức hấp dẫn giữa các nhân vật, tác giả Jayne Ann Krentz dẫn dắt bạn đến thế giới của Romeo và Juliet thời hiện đại, và câu chuyện này sẽ lôi cuốn bạn đến những trang cuối cùng. *** Vịnh Nhật Thực, Bang Oregon   Nửa đêm, tám năm về trước…   “Đường về nhà sẽ dài đấy.”   Giọng nói trầm, khàn, vẻ nam tính không thể nhầm lẫn. Kiểu giọng khiến phụ nữ phải rùng mình. Giọng nói phát ra từ trong bóng tối mênh mông gần chân Vòm Nhật Thực, tảng đá nguyên khối cao nổi bật nơi đoạn đường hẻo lánh thuộc bãi biển đầy đá này.   Hannah Harte rời mắt khỏi ánh đèn hậu trên xe của Perry Decatur đang mờ dần và xoay người. Nhịp tim cô vốn đã đập dồn sau cuộc ẩu đả không lấy gì làm dễ chịu trên ghế trước vừa xong, giờ đây lại tăng tốc nhanh hơn.   Có lẽ rời khỏi xe không phải là một ý tưởng thông minh. Vào tầm khuya như vậy, đoạn đường Cảnh Vịnh này rất vắng vẻ. Hay đấy, Hannah, cô tự nhủ. Đúng là tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa mà, trong khi mày cũng được xem là đứa biết nghĩ và thận trọng. Người không bao giờ mạo hiểm. Người không bao giờ dính vào rắc rối.   “Ai đó?” Cô lui lại một bước, sẵn sàng chạy.   Người đàn ông trên bãi biển thong dong bước khỏi vùng tối dày đặc của vòm đá vào miền ánh sáng của mặt trăng đêm cuối hè dịu nhẹ. Hắn cách cô khoảng sáu mét. ... Mời các bạn đón đọc Vịnh Nhật Thực của tác giả Jayne Ann Krentz.
Căn Phòng Rực Lửa - J. Dickson Carr
Tác phẩm của ông hoàng mật thất. Ông Miles Despard bị đầu độc chết trong một căn phòng khóa kín. Người ta tìm thấy trong tay có một sợi dây thừng chín gút. Bà phục vụ bếp khai rằng trong đêm ông chết, bà nhìn vào khe cửa thấy trong phòng ông có một người phụ nữ ăn mặc theo lối cổ điển đưa cho ông một cái tách và sau đó biến mất qua... tường.  Sau khi chôn cất, người cháu là Mark Despard nghi ngờ ông bác mình bị đầu độc nên tiến hành mở quan tài để kiểm tra. Sau khi hầm mộ đóng kín được cạy lên, quan tài mở nắp mới biết bên trong rỗng không và lại có thêm một sợi dây chín gút.. Vậy là cả 2 sự kiện liên quan đến vụ án đều xảy ra trong phòng kín. Hung thủ là ai khi mà tất cả những người trong nhà đều có chứng cớ ngoại phạm rõ ràng ?  Huyền thoại kể rằng có những phù thủy chuyên đầu độc người khác để mua vui, họ dù có bị giết chết nhưng sau đó vẫn sống lại. Và một sợi thừng thắt chín gút sẽ khiến cho nạn nhân hoàn toàn tuân theo sự sai khiến của phù thủy. Án mạng lần này, cũng từ bàn tay của một phù thủy tái sinh ư ?  *** Ngày xưa, có một người đàn ông sống cạnh nghĩa trang... Là phần mở đầu thích hợp cho một câu chuyện. Điều này kể ra cũng phù hợp với Edward Stevens. Dẫu sao, ở kế cận nhà anh ta cũng có một nghĩa trang nho nhỏ và Despard Park thì luôn bị người ta xì xầm về những chuyện ma quái rùng rợn, nhưng điều này chỉ là một khía cạnh không đáng kể của câu chuyện. Trên chuyến tàu sẽ ghé lại ga Broad Street vào lúc 18 giờ 48, Edward Stevens đang ngồi trong toa dành cho những người hút thuốc. Anh ba mươi hai tuổi và giữ một chức vụ khá quan trọng trong công ty Herald and Son, những nhà xuất bản nổi tiếng. Anh mướn một căn hộ ở thành phố và đồng thời là chủ một biệt thự nhỏ ở Crispen, ngưỡng cửa của thành phố Philadelphia, nơi anh về sống hầu hết những ngày nghỉ cuối tuần vì vợ chồng anh rất thích vùng thôn dã. Chính vì thế mà chiều thứ sáu hôm nay, anh đã trở về đó để gặp Marie và mang theo trong chiếc cặp da của anh tập bản thảo mới nhất của Gaudan Cross viết về những vụ án mạng nổi tiếng. Đây là những sự kiện trung thực nhất của chúng. Chẳng một hiện tượng bất thường nào xảy ra trong ngày và Stevens chỉ đơn giản là đang trên đường về nhà, như bất cứ một người hạnh phúc nào, có nghề nghiệp, một người vợ và một lối sống thích hợp. Chuyến xe lửa dừng lại thật đúng giờ ở Broad Street và Stevens chợt nhớ ra rằng mình phải đánh một bức điện khi tàu dừng lại ở Crispen trong bảy phút nữa. Chẳng ai có thể hiểu tại sao Crispen lại không được sáp nhập vào Haverford hay Bryn Mawr, hai thị trấn kề cận với nó. Crispen gồm khoảng nửa chục nóc gia rải rác trên một sườn đồi, nhưng dẫu sao chăng nữa, trong một nghĩa nào đó, đấy cũng là một cộng đồng nho nhỏ. Thật vậy, ở đây có một bưu điện, một hiệu thuốc và có cả một phòng trà - tiệm bánh ngọt, lấp ló sau đám cây phong hùng vĩ, nơi đại lộ King chạy dọc theo Despard Park. Nơi đây cũng còn có một cửa hàng phục vụ mai táng nữa. ... Mời các bạn đón đọc Căn Phòng Rực Lửa của tác giả J. Dickson Carr.