Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Ma Đao Ca (Liễu Tàn Dương)

Võ lâm có tránh khỏi kiếp nạn một sông máu đỏ hay không? Tất cả sẽ được thể hiện một cách tài tình sinh động dưới ngòi bút Liễu Tàng Dương qua tác phẩm kiếm hiệp Ma Đao Ca.***

Đầu xuân!

Mặc dù trên những ngọn núi cao nơi xa vẫn phủ đầy tuyết trắng, sớm tối vẫn gió rét căm căm nhưng liễu rũ đã rũ lá xanh, hoa đã hé nụ, loài người đã cảm thấy được mùa xuân đã đến với vạn vật.

Tại phía Tây nam huyện Nam Dương tỉnh Hồ Nam, núi non chập chùng uốn khúc như một con rồng khổng lồ đang nằm ngủ. Tương truyền Gia Cát Lượng đã từng cất nhà ở tại đây, người lấy tên theo địa danh, địa danh nhờ người lan truyền. Đây chính là Ngọa Long cương, nơi Gia Cát Võ Hầu đã ở ẩn khi xưa.

Trong sơn cốc cây cối sum suê, khắp nơi lộ ra những góc lầu trúc xanh biếc. Nếu không nhìn kỹ, lầu cùng màu với lá cây, khó mà phát hiện ra được. Tìm mua: Ma Đao Ca TiKi Lazada Shopee

Lúc này, nơi một khoảng đất bằng trên Ngọa Long cương vang lên một hồi tiếng cười đùa của trẻ con, thảy đều ngước mặt lên nhìn những chiếc diều đủ hình dạng bay liệng trên không. Có hình chim ưng màu đen, bướm màu sặc sỡ, chim hạc màu trắng và rết to màu tím. Tất cả bọn trẻ con đều đang nhìn chiếc diều hình rết uốn lượn trên không, mặt lộ vẻ kinh ngạc, hâm mộ và ganh tị.

Thiếu niên thả chiếc diều hình rết tuổi chừng mười lăm mười sáu, tuy mày thanh mục tú nhưng mặt đầy vẻ bệnh hoạn. Y đứng riêng lẻ ở một bên, không cùng đám với những đứa trẻ khác.

Bỗng, thiếu niên thả chiếc diều ưng đen hừ một tiếng thật mạnh, đưa mắt nhìn chiếc diều của mình, bất luận màu sắc hay kiểu dáng đều không bằng người khác, có thể nói là kém nhất so với những chiếc diều khác. Nhất là so với chiếc diều to lớn kia lại càng kém xa, đồng thời y thấy thiếu niên thả chiếc diều rết đứng riêng rẽ một mình, không giao du với những đứa trẻ khác, hiển nhiên là có ý khinh khi, bất giác đôi mắt tam giác trừng lên, lập tức nảy ý.

Y chạy đến giữa bọn trẻ, hai tay chống nạnh lớn tiếng nói:

- Chúng bây có thấy không, tiểu tử kia thật là hống hách, rõ là khinh khi chúng ta mà!

Bọn trẻ nghe y nói vậy cũng cảm thấy bực tức, cùng đưa mắt về phía thiếu niên thả diều rết, chỉ thấy y đang ngồi trên một tảng đá to thờ thẫn nhìn xuống sơn cốc.

Thiếu niên mắt tam giác như cố ý muốn cầm đầu gây hấn, nhặt lấy một hòn đá nhỏ, vù một tiếng ném vào sợi dây của chiếc diều rết. Đừng thấy thiếu niên mắt tam giác chỉ mới mười lăm mười sáu tuổi, nhưng hòn đá ném ra rít vang và rất chuẩn xác, mắt thấy đã sắp trúng vào sợi dây diều.

Một chiếc diều rết dài gần bốn trượng bay trên cao, dĩ nhiên sức rất mạnh. Nếu hòn đá ném trúng dây, chắc chắn sẽ đứt. Ngay khi hòn đá còn cách dây khoảng ba tấc, thiếu niên cô độc ấy bỗng hạ hai tay xuống, hòn đá lướt qua dây, bay xa xa mấy mươi trượng, đã chệch mục tiêu.

Thiếu niên mắt tam giác thoáng ngạc nhiên, lớn tiếng nói:

- Tiểu tử này không phải là người ở quanh vùng này, chúng ta phải ném rơi diều của hắn mới được.

Bọn trẻ lập tức xúm lại, mỗi người nhặt lấy một hòn đá sẵn sàng ném ra.

Thiếu niên cô độc đứng lên, thần thái hết sức điềm tĩnh như không chút ngán sợ lũ trẻ tinh nghịch này.

Thiếu niên mắt tam giác lại lớn tiếng nói:

- Nay ta đếm một hai ba, tất cả cùng lúc ra tay, lần này nhất định phải ném đứt dây diều của hắn... Một!

Bọn trẻ cùng giơ tay lên và nhắm kỹ, lúc này bọn họ chỉ cảm thấy chiếc diều rết to lớn kia là một niềm sỉ nhục và đe dọa đối với họ chứ không nghĩ là mình đã bị thiếu niên mắt tam giác sai khiến, hiếp đáp một đứa trẻ cô đơn, đó là một hành vi sai trái.

- Hai!

Họ đều mong mình có thể ném đứt dây, nhìn chiếc diều rết to lớn kia bay đi xa mấy dặm, nhìn thiếu niên kiêu căng kia khóc lóc rồi đón nhận những lời khen ngợi của thiếu niên mắt tam giác, lòng mới cảm thấy vui sướng.

- Ba!

Bảy tám hòn đá bay vút đi, nhắm vào sợi dây diều rết. Và cùng lúc ấy, thiếu niên mắt tam giác buông tiếng cười khẩy, vung tay ném ra một hòn đá nhắm ngay mặt thiếu niên cô độc.

Thiếu niên cô độc chẳng ngờ đối phương lại ném đá vào mặt mình, đương nhiên y cũng không muốn dây diều bị ném đứt nên phải tránh cả hai. Chỉ thấy y hai tay đưa lên hạ xuống thật nhanh đồng thời nghiêng đầu tránh khỏi hòn đá bay vào mặt.

Ngay trong khoảnh khắc ấy, thiếu niên mắt tam giác lại nhanh như chớp ném ra một hòn đá nhỏ, chỉ nghe soạt một tiếng, dây đã bị đứt, chiếc diều rết uốn lượn trên không bay đi mất dạng trong rừng rậm dưới sơn cốc.

Bọn trẻ liền tức vui mừng reo vang, đồng thời với ánh mắt kính phục nhìn thiếu niên mắt tam giác, một người lớn tiếng nói:

- Sử Báo đại ca qủa nhiên thân thủ bất phàm. Nào! Chúng ta hãy chúc mừng Sử Báo đại ca đi!

Bọn trẻ mắc diều vào cành cây, xúm nhau khiêng Sử Báo lên, tiếng reo hò vang dậy trên Ngọa Long cương.

Thiếu niên cô độc nhướng mày, nhặt lấy bảy tám hòn đá, quát to:

- Các ngươi ném đứt dây diều của người ta, vui lắm phải không?

Sử Báo ngạc nhiên như không ngờ thiếu niên cô độc này lại dám nói năng với y như vậy, bèn từ trên tay bọn trẻ phóng xuống, đôi mắt tam giác trừng lên nói:

- Tại sao không vui? Chả lẽ tiểu tử ngươi dám chống đối hả?

Những thiếu niên khác cũng ưỡn ngực lớn tiếng nói:

- Đúng rồi, diều của ngươi bay mất là tại ngươi xui xẻo, chả lẽ ngươi không phục hả?

Thiếu niên cô độc cười khẩy:

- Nếu như ta ném đứt dây diều của các ngươi, các ngươi có thể vui như vậy không?

Bọn trẻ cơ hồ không dám tin ở tai mình, đồng thanh nói:

- Ngươi dám ném đứt dây diều bọ ta ư? Có lẽ ngươi chưa nghe nói đến tiếng tăm của Sử Báo đại ca phải không?

Thiếu niên cô độc cười khinh miệt:

- Chỉ là một con Tử Báo, có gì là đáng kể?

Sử Báo ngửa mặt cười vang một hồi, y cố làm ra vẻ như người lớn, nghênh ngang tiến về phía thiếu niên cô độc.

Thiếu niên cô độc trầm giọng:

- Khi nãy ném đứt dây diều của ta, ngươi cười to tiếng hơn ai hết. Bây giờ ta phải xem thử ngươi có thể khóc ra tiếng hay không.

Vừa dứt lời, vung tay ném ra một hòn đá nhỏ.

Sử Báo quay đầu lại nhìn, hòn đá không ném đứt dây diều của y mà dọc theo dây bay thẳng lên chiếc diều ưng trên không.

Chiếc diều ưng ấy cao đến mấy mươi trượng và lại lay động không ngừng trên không, hòn đá lực đạo rất mạnh nhưng độc đáo hơn nữa là bay lên dọc theo dây như thể bị sợi dây hút lấy vậy.

Bọn trẻ chỉ cảm thấy thích thú, cùng vỗ tay reo hò.

Nhưng Sử Báo thì bất giác biến sắc mặt. Chỉ nghe soạt một tiếng, hòn đá bay lên đến bên chiếc diều ưng lực đạo vẫn chưa yếu đi, đã cắt đứt dây ở chỗ chạng ba.

Chiếc diều ưng lập tức lộn vòng, bay đi xa hơn dặm, rơi xuống trên vòm cây.

Sử Báo tức giận quát to:

- Đừng ồn!

Bọn trẻ lập tức im re. Chỉ thấy Sử Báo mặt mày u ám, bắt chước người lớn cười hăng hắc nói:

- Xem thủ pháp của ngươi vừa rồi, nhất định không phải hạng tầm thường. Ngươi là người của phái nào?

Thiếu niên cô độc lạnh lùng đáp:

- Ngươi không xứng đáng biết, cũng không xứng đáng hỏi.

Đoạn quay sang bọn trẻ nói tiếp:

- Vốn ra ta định làm đứt hết dây diều của các ngươi nhưng vì các ngươi chỉ là một bọn đáng thương không có chủ trương, chỉ nghe theo kẻ khác, hành động sai trái mà cũng không biết.

Sử Báo thấy vậy cả giận, xắn tay áo lên gằn giọng nói:

- Tiểu tạp chủng, Sử Báo này hôm nay phải cho ngươi một bài học mới được.

Thiếu niên cô độc cười khẩy:

- Họ Sử kia, ngươi không phải địch thủ của ta đâu, ta khuyên ngươi từ nay đừng cậy thế uy hiếp người nữa, phải biết thân thủ như ngươi chỉ là hạng xoàng xĩnh...

Sử Báo buông tiếng quát to, với thế Ngạ Hổ Phác Thố (hổ đói vồ thỏ) lao tới rồi bỗng đổi thế Đảo Diệu Hầu (quay lại đuổi khỉ), giữa chừng lại đổi chiêu Thập Tự Bãi Liên, song quyền nhanh như chớp công vào trung bàn thiếu niên cô độc.

Thiếu niên cô độc thoáng giật mình, nhận ra đối phương là người của phái Thái Cực, buông tiếng cười khẩy lách sang bên ba bước tránh khỏi.

Sử Báo ngỡ đối phương khiếp sợ lại với thế Ban Lan Chủy sấn tới. Thiếu niên cô độc lùi thêm hai bước. Sử Báo lại biến chiêu Lãm Tước Vỹ công vào huyệt Linh Đài của đối phương.

Thiếu niên cô độc nhanh nhẹn lách người tránh khỏi, nhướng mày nói:

- Chúng ta không thù không oán mà ngươi lại xuất thủ tàn độc như vậy, chả lẽ còn chưa biết khó tự lui hả?

Sử Báo liên tiếp mấy chiêu đều bị đối phương tránh khỏi dễ dàng, biết là đã gặp cao thủ nhưng tính y rất tự cao hiếu thắng. Hôm nay nếu bị bại, bọn trẻ này hẳn sẽ khinh y nên y cắn răng tung hết tuyệt chiêu ra tấn công tới tấp.

Thiếu niên cô độc tức giận nói:

- Đây là ngươi tự chuốc khổ vào thân, chớ trách ta độc ác.

Đồng thời lẹ làng lách người sang bên, hai chân tung lên. Chỉ nghe bộp bộp hai tiếng, Sử Báo loạng choạng lùi lại sau năm sáu bước, hai cánh tay đã trật khớp xương.

Bọn trẻ thấy Sử Báo bị đánh bại, thảy đều sợ hãi nhìn nhau, không một ai dám hó hé.

Sử Báo giận dữ nói:

- Các ngươi còn thừ ra đó làm gì? Tiến lên!

Bọn trẻ đành vâng lời xông tới, đấm đá lung tung. Trong số đó chỉ có hai người biết chút ít võ công nhưng để lộ rất nhiều sơ hở.

Thiếu niên cô độc không muốn đả thương họ, lùi ra xa hơn trượng nói:

- Các ngươi không phải địch thủ, đừng tự chuốc khổ vào thân thì hơn.

Sử Báo lớn tiếng nói:

- Ngươi có dám ở đây chờ ta không?

- Chờ ngươi chi vậy?

- Ta về nhà tìm ca ca ta!

Bọn trẻ nghe vậy càng cười phá lên, Sử Báo tức giận quát:

- Các ngươi dám vô lễ với ta thế này, để rồi xem ta có tha cho các người không cho biết.

Bọn trẻ đều từng nếm trải thủ đoạn của y, sợ hãi nín cười ngay.

Thiếu niên cô độc vốn không muốn đa sự, giờ thấy Sử Báo rõ ràng là cậy thế hiếp người. Bọn này đều sợ hắn, sao mình không trừng trị hắn một phen cho hắn bớt thói hống hách.

Thế là chàng trầm giọng nói:

- Được, ngươi hãy mau tìm y đến đây, nhưng ta phải nói trước ta chỉ có thể chờ chừng nửa giờ thôi đấy!

- Nửa giờ đủ rồi, ngươi đừng bỏ trốn đấy!

Thiếu niên cô độc cười khẩy nói:

- Chỉ cần ngươi đừng đi luôn là được rồi.

Sử Báo hừ một một tiếng, phóng nhanh đi xuống đồi.

Thiếu niên cô độc quét mắt nhìn bọn trẻ.

- Tại sao các ngươi lại nghe lời hắn? Chả lẽ không thấy hắn là kẻ ngang ngược hay sao?

Bọn trẻ đưa mắt nhìn nhau muốn nói gì đó nhưng lại không dám, ngập ngừng rồi im lặng.

Thiếu niên cô độc hiểu ý, lớn tiếng nói:

- Các ngươi sợ gì chứ? Có ta ở đây, ca ca hắn đến cũng chẳng làm gì được.

Một thiếu niên trong bọn nói:

- Ngươi không biết, ngoài ca ca hắn, trong nhà hắn còn có người lợi hại hơn.

- Trong nhà hắn còn có những ai nữa?

- Ngoài ca ca hắn, còn có một thúc thúc tuổi tác xấp xỉ ca ca hắn nhưng võ công thì lợi hại hơn ca ca hắn. Còn phụ thân hắn càng...

Thiếu niên ấy không dám nói tiếp, cùng nháy mắt nhau rồi mỗi người một đường giải tán, lát sau đã mất dạng.

Thiếu niên cô độc biết gia đình Sử Báo hẳn là ác bá trong vùng này, hoành hành vô kỵ nhưng chàng chẳng ngán sợ.

Bỗng nghe tiếng y phục phất gió, chỉ thấy Sử Báo theo sau hai người đàn ông trung niên phóng nhanh đến. Một người hai tai to lớn, trán gồ má cao, đôi mắt tam giác rực lên ánh sáng màu vàng cam. Một người vóc dáng cao to, sắc mặt đỏ gay, lưng giắt một chiếc Thái Cực khuyên (vòng).

Thiếu niên cô độc chẳng chút sợ hãi, với người giắt Thái Cực khuyên bốn mắt tiếp xúc hồi lâu không chớp.

Sử Báo đưa tay chỉ chàng nói:

- Tiểu tử, ngươi là môn hạ của ai?

Thiếu niên cô độc biết người này là thúc thúc của Sử Báo, vốn định với lễ tương kiến nhưng thấy đối phương kiêu căng hống hách liền bỏ ý định ấy nói:

- Môn phái của tại hạ chẳng tiện cho biết!

Người giắt Thái Cực khuyên thoáng ngạc nhiên, trầm giọng nói:

- Ngươi biết bổn nhân là ai không?

Thiếu niên cô độc nhìn chiếc Thái Cực khuyên đã biết y là nhân vật hạng nhì của Thái Cực môn và chính là Thái Cực Khuyên Sử Trường Phúc, lão nhị trong Thái Cực nhị tuyệt. Còn người trung niên kia hẳn là Thái Cực Truy Hồn Sử Hổ, ca ca của Sử Báo.

Thiếu niên cô độc ơ hờ lắc đầu, mặt đầy vẻ khinh miệt nói:

- Tại hạ không biết.

Thái Cực Khuyên Sử Trường Phúc buông tiếng cười khẩy, quay sang Thái Cực Truy Hồn Sử Hổ nói:

- Hổ nhi, bắt lấy hắn!

Thái Cực Truy Hồn Sử Hổ giết người như ăn mật ong, y với em trai Sử Báo từng gây nhiều tội ác trong vùng này, không một ai dám trừng mắt hay chau mày trước mặt y.

Y tung mình lướt tới đứng cách thiếu niên cô độc chừng năm bước, lạnh lùng nói:

- Tiểu tử, ngươi có gì trăn trối không? Phải biết Sử Hổ này một khi đã động sát cơ là không một ai có thể thoát chết.

Thiếu niên cô độc vừa thấy vẻ mặt nham hiểm của y là đã động sát cơ, trầm giọng nói:

- Các hạ bình sanh đã giết bao nhiêu người vô tội rồi?

Sử Hổ cười vang:

- Mặc kệ có tội hay vô tội, chỉ cần đại gia thấy chướng mắt là giết ngay, nay tính ra đàn ông chừng một trăm, đàn bà con gái cũng có bảy tám mươi, trẻ con dưới mười tuổi có lẽ có khoảng năm sáu mươi.

Thiếu niên cô độc quắc mắt gằn giọng:

- Các hạ có biết câu giết người đền mạng, thiếu nợ trả tiền không?

Sử Hổ cười khẩy:

- Sử Hổ này giết người không bao giờ đền mạng, thiếu nợ không bao giờ trả tiền...

Sử Trường Phúc lạnh lùng ngắt lời:

- Hổ nhi, ngươi còn lải nhải với hắn làm gì?

Sử Hổ ngậm thinh, nhanh như chớp sấn tới tấn công ra ba chiêu.

Thiếu niên cô độc thầm kinh hãi, thì ra Sử Hổ này võ công cao hơn em trai rất nhiều, thân pháp nhanh nhẹn, xuất chiêu hiểm độc.

Thế là chàng quyết tâm lấy mạng y tại đây, nhặt lấy một cành cây khô trên mặt đất thay kiếm chớp nhoáng công ra ba chiêu bức lùi Sử Hổ ba bước.

Sử Trường Phúc thấy vậy hết sức kinh ngạc, Sử Hổ đã buông tiếng quát vang, lại tung mình lao tới, quyền đổi sang trảo rít gió ghê rợn, thì ra là Thái Cực trảo, một tuyệt học của Thái Cực môn.

Thiếu niên cô độc hết sức căm thù đôi trảo của y bởi đôi trảo này đã từng giết chết hàng mấy trăm người vô tội. Chỉ thấy cành cây trong tay chàng rung lên hóa thành bảy tám đóa hoa kiếm nhỏ quét vào đôi trảo của đối phương.

Sử Trường Phúc kinh hãi vội quát:

- Dừng tay!

Nhưng thiếu niên cô độc đã bừng sát cơ, đâu chịu thu chiêu. Chỉ nghe soạt một tiếng, cổ tay trái của Sử Hổ đã bị tiện lìa, máu tuôn xối xả.

Sử Hổ lùi sau năm bước, trán nổi gân xanh, mồ hôi đổ ra như mưa.

Sử Trường Phúc vốn định hỏi rõ môn phái của thiếu niên này vì y nhận thấy kiếm thuật của chàng huyền diệu tuyệt luân, uy lực cương mãnh kinh người. Nhưng thấy Sử Hổ đã bị tiện mất một bàn tay trở thành tàn phế từ đây, ý định thỏa hiệp liền tiêu tan, cười hung tợn nói:

- Tiểu tử, ngươi đã không vị tình thì đại gia cũng chẳng kể ngươi là môn hạ của ai!

Đoạn hai tay đưa lên ngang ngực chuẩn bị xuất thủ.

Thiếu niên cô độc trầm giọng nói:

- Khoan đã! Nghe đâu Thái Cực Khuyên là cao thủ hạng nhì của Thái Cực môn, một đôi Thái Cực khuyên khá là lợi hại. Hôm nay tại hạ cũng muốn lĩnh giáo một phen.

Sử Trường Phúc vốn đã có ý lấy binh khí xuống nhưng còn e ngại đến thân phận, giờ nghe đối phương nói vậy liền choang một tiếng rút lấy đôi vòng thép đường kính hơn thước rưỡi. Tiếng vang kinh tâm động phách, trên tỏa sáng xanh biếc, hiển nhiên có tẩm kịch độc.

Thiếu niên cô độc thoáng giật mình như vẫn điềm tĩnh nói:

- Tại hạ xin mạn phép!

Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Ma Đao Ca PDF của tác giả Liễu Tàn Dương nếu chưa có điều kiện.

Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.

Nguồn: thuviensach.vn

Đọc Sách

Gót Sắt (Jack London)
Năm 1907, Jack London cho ra đời cuốn tiểu thuyết Gót sắt. Đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của nền văn học Mỹ đề cập đến cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước Mỹ. Đây là cuốn tiểu thuyết viễn tưởng thể hiện những tư tưởng ước mơ xã hội của ông. Nhà văn đã tự đặt mình là con người sống vào thế kỷ XXVI, lúc loài người đã trải qua bốn thế kỷ đại đồng và sau khi đã đập tan cái gót sắt là sự áp bức con người. Tiểu thuyết của nhà văn Mỹ Jack London được sáng tác theo hình thức viễn tưởng, thể hiện lòng khao khát tự do, công lý và niềm tin sâu sắc vào tương lai tất thắng của cách mạng vô sản trên toàn thế giới.***Jack London là nhà văn nổi tiếng người Mỹ, tác giả Tiếng gọi nơi hoang dã (The Call of the Wild), Gót sắt (Iron Heel), Martin Eden, Tình yêu cuộc sống (Love of Life), Nanh trắng (White Fang) và hơn 50 tác phẩm khác. Các tác phẩm của ông được dịch ra hàng chục ngôn ngữ khác nhau trên thế giới và cho tới nay vẫn được độc giả tìm đọc. Jack London năm 1876 ở thành phố San Francisco, và mãi ra đi vào ngày 22/11/1916 khi mới tròn 40 tuổi. Năm 1896, do mong muốn làm giàu nhanh chóng, ông đã theo chân những người tìm vàng đến vùng Krondike thuộc Canada và đã nếm đủ mùi vất vả. Tại đây, Jack London đã được nghe những kẻ tha phương kể lại những câu chuyện về đói ăn, mất của và về những con chó trung thành. Tìm mua: Gót Sắt TiKi Lazada Shopee Tất cả những mẩu chuyện này đã ám ảnh Jack London và ông đã viết thành những câu chuyện danh tiếng như: Đứa con của chó sói (viết năm 1902), Răng nanh trắng (1906), Ánh sáng ban ngày cháy đỏ (1910) và đặc biệt là tác phẩm Tiếng gọi nơi hoang dã (1903) đã gây được tiếng vang lớn, và từ đó Jack London đã có thể sống được bằng nghề viết truyện.***Gió mùa hè hiu hiu lay động những cây thông khổng lồ và sông Wild-Water vỗ sóng nhịp nhàng vào những tảng đá xanh rêu. Bướm lượn dưới nắng và bốn bề tiếng ong bay vù vù như ru ngủ. Yên tĩnh quá. Thái bình quá. Và tôi ngồi đây, lo lắng, bồn chồn. Chính cái yên tĩnh làm cho tôi bồn chồn. Nó hư hư thực thực thế nào ấy. Khắp thế giới yên tĩnh, nhưng đó là cái yên tĩnh trước cơn giông tố. Tôi lắng tai nghe và tất cả các giác quan của tôi cũng căng lên chờ đón dấu hiệu của cuộc đại biến sắp nổ ra 1. Phải, miễn nó đừng nổ non! Miễn nó đừng bùng ra sớm quá! Tôi bồn chồn cũng không có gì lạ. Tôi suy nghĩ, suy nghĩ liên mien, và không thể đừng suy nghĩ. Tôi vật lộn với cuộc sống đã từ lâu, đến nỗi thấy yên tĩnh là tức thở, không chịu được. Và tôi không thể không nghĩ đến trận cuồng phong chết chóc và tàn phá sắp sửa nổi lên. Trong tai tôi vang lên tiếng kêu gào của những người gục xuống, và tôi có thể nhìn thấy, cũng như tôi đã từng nhìn thấy 2 da thịt mơn mởn của con người bị dập vùi, tan tác, linh hồn con người bị giằng khỏi những tấm thân đầy kiêu hãnh và ném cho Thượng đế. Khốn khổ thay nhân loại chúng ta, muốn đạt đến mục đích của mình phải cố giết chóc, tàn phá, để đem lại cho trái đất một nền hoà bình và hạnh phúc bền vững. Vả chăng, tôi chỉ có một mình. Lúc nào không nghĩ đến những điều tất phải xảy đến thì tôi nghĩ đến những điều đã qua, những điều không còn nữa. Tôi nghĩ đến con Đại bàng của tôi trước kia vẫn dang đôi cánh không biết mỏi ra vùng vẫy giữa trời xanh để bay về phía lí tưởng chói lọi của tự do nhân loại. Lí tưởng đó chính là mặt trời của anh. Tôi không thể ngồi yên để chờ đợi cái biến cố lớn lao do bản thân anh làm ra, mặc dầu anh không còn sống để nhìn thấy nó. Bao nhiêu năm anh sống làm người thì bấy nhiêu năm anh cúc cung tận tuỵ vì nó. Anh đã hiến cả đời anh cho nó. Nó là sự nghiệp của tay anh. Chính anh đã làm ra nó 3. Cho nên trong thời gian chờ đợi lo lắng này, tôi sẽ viết về chồng tôi. Có nhiều điều chỉ mình tôi có thể nói rõ về anh, một con người cao quý dù ca ngợi bao nhiêu vẫn chưa đủ. Tâm hồn anh bao la như biển cả. Và khi tình yêu của tôi đã gột hết lòng vị kỉ thì tôi tiếc nhất là anh không còn sống để chứng kiến buổi bình minh sắp ló ra. Chúng tôi không tài nào thất bại được. Anh đã xây dựng vững chãi quá, chắc chắn quá rồi. Thảm hại thay cái Gót sắt đang dận trên ngực nhân loại! Chẳng bao lâu nữa, nó sẽ bị nhổ bỏ. Khi nào hiệu lệnh tung ra, lao động khắp thế giới sẽ dấy lên tầng tầng lớp lớp. Chưa bao giờ có một việc như thế trong lịch sử loài người. Sự đoàn kết của lao động đã được đảm bảo, và lần đầu tiên sẽ nổ ra một cuộc cách mạng quốc tế bao trùm cả thế giới 4. Như các bạn đã thấy, óc tôi nghĩ miên man về sự kiện sắp xảy ra. Tôi sống miệt mài với nó, sống ngày, sống đêm, sống rất lâu, đến nỗi nó luôn luôn hiện ra trong tâm trí tôi. Tôi không thể nghĩ đến chồng tôi mà không nghĩ tới nó. Chồng tôi là linh hồn của nó, làm sao trong tư tưởng tôi có thể tách rời chồng tôi với nó được? Như tôi đã nói, có nhiều điều chỉ mình tôi có thể nói rõ về anh. Ai cũng biết anh đã vì tự do mà chịu nhiều gian truân, đau khổ. Anh đã làm việc cực nhọc đến thế nào, đã đau khổ ghê gớm như thế nào, tôi biết hết. Vì tôi đã sống bên anh suốt hai mươi năm sóng gió vừa qua và tôi biết rõ lòng kiên trì, sự cố gắng không mệt mỏi và sự tận tuỵ không bờ bến của anh đối với Sự Nghiệp chung. Anh đã chết cho Sự Nghiệp, mới cách đây hai tháng. Tôi sẽ cố viết giản dị và kể ra đây Ernest Everhard đã bước vào đời tôi như thế nào - thoạt tiên, tôi gặp anh ra sao, vì duyên cớ gì tôi đã thành một phần của chính mình anh, và anh đã gây cho đời tôi những biến đổi ghê gớm như thế nào. Như vậy, các bạn có thể nhìn anh qua mắt tôi, và biết về anh cũng như bản thân tôi - biết hết, trừ những chuyện riêng của vợ chồng chúng tôi. Tôi gặp anh lần đầu tiên vào tháng 2 năm 1912. Anh là khách của ba tôi và hôm ấy anh đến ăn cơm ở nhà tôi, tại thành phố Berkeley. Có thể nói, ngay từ lúc đầu, tôi không có cảm tình với anh. Ngoài anh ra, còn nhiều khách khứa khác. Chúng tôi đang ngồi trong phòng khách chờ mọi người đến đông đủ thì anh vào, trông đến là thảm hại. Tối hôm ấy là tối họp mặt của các mục sư - ở nhà, ba tôi 5 vẫn thường gọi thế. Ngồi giữa các nhà tu hành, Ernest nhất định là lạc lõng. Trước hết, quần áo anh không vừa người anh. Anh bận một bộ đồ may sẵn bằng vải sẫm, xộc xà xộc xệch. Trong thực tế, chẳng có thứ quần may sẵn nào mà anh mặc vừa. Tối hôm ấy, mà bao giờ cũng thế: các bắp thịt của anh hằn lên mặt vải. Vai anh u lên, và cái áo vét-tông anh bận dăn dúm cả ở giữa hai vai. Cổ anh banh ra, chắc nịch: giống hệt cổ những kẻ đi đánh nhau ăn giải 6. Tôi nghĩ bụng: Té ra nhà triết học xã hội, nguyên làm nghề bịt móng ngựa, mà ba tôi đã phát hiện được, ngài là như thế đấy. Vai u thịt bắp như thế, thật đúng quá đi rồi. Tôi liền liệt anh vào hạng dị nhân và coi anh như một lão Blind Tom 7 của giai cấp công nhân. Rồi anh lại bắt tay tôi nữa kia chứ! Anh xiết mạnh quá, chặt quá, nhất là anh nhìn tôi một cách táo tợn bằng cặp mắt đen lay láy - táo tợn quá, theo ý tôi. Các bạn cũng thừa hiểu tôi là sản phẩm của hoàn cảnh và khi ấy bản năng giai cấp của tôi rất mạnh. Giá một người đàn ông thuộc giai cấp tôi cũng táo tợn như thế thì không thể nào tha thứ được. Tôi đành cúi nhìn xuống đất. Lúc anh đi khỏi, tôi nhẹ cả người, quay lại nhìn đức Giám mục Morehouse. Đức Giám mục là một người tôi rất mến, một người đứng tuổi, hiền hoà, nghiêm chỉnh, tướng mạo và từ tâm hệt như đức Chúa. Chẳng những thế, Người còn là một nhà học giả. Nhưng cái táo tợn mà tôi tưởng là tự phụ đó lại là đầu mối cho tôi tìm hiểu bản chất của Ernest Everhard. Anh giản dị, ngay thẳng, chẳng biết sợ cái gì và không thích mất thì giờ vào việc xã giao. kiểu cách. Mãi về sau, anh giải thích: “Em rất hợp ý anh, làm sao anh lại không nhìn thẳng vào người mà anh ưa thích?” Tôi đã bảo, anh chẳng sợ một cái gì. Anh là người bản chất quý phái, mặc dầu anh đứng trong phe thù địch của bọn quý phái. Anh là một siêu nhân, một “Con vật tóc vàng” như Nietzsche 8 đã miêu tả, và cộng thêm vào đó, anh mang những tư tưởng dân chủ cháy rực trong người. Vì mải tiếp những người khác, và cũng vì sẵn có ấn tượng xấu, tôi quên khuấy mất nhà triết học của giai cấp công nhân, mặc dầu tôi có chú ý đến anh một hai lần trong bữa ăn - đặc biệt là lúc anh long lanh đôi mắt nghe các vị mục sư nói chuyện. Tôi nghĩ bụng: anh là người vui tính và tôi hầu như tha thứ cho cách ăn mặc của anh. Nhưng thời gian cứ đi, bữa ăn cứ tiếp tục, anh vẫn không buồn nói nửa lời. Trong khi ấy, các vị mục sư bàn luận miên man về giai cấp công nhân, về quan hệ của nó với Nhà thờ. Nhà thờ đã làm gì và đang làm gì cho nó. Tôi nhận thấy Ernest không nói làm cho ba tôi không bằng lòng. Nhân một lúc im lặng, ba tôi yêu cầu anh phát biểu, nhưng Ernest nhún vai: “Tôi chẳng có điều gì muốn nói cả” và lại ngồi ăn hạnh đào muối. Nhưng ba tôi không chịu. Một lúc sau ba tôi bảo: - Chúng ta có một người giai cấp công nhân ở đây. Tôi tin chắc người đó có thể trình bày các việc theo một quan điểm mới, vừa hay lại vừa bổ ích. Tôi muốn nói ông Everhard. Những người khác tỏ vẻ thích thú một cách lịch sự và giục Ernest tuyên bố những quan điểm của mình. Thái độ của họ hết sức khoan dung, hoà nhã: đúng là thái độ của những kẻ đỡ đầu. Tôi thấy Ernest cũng nhận ra điều ấy và anh lấy thế làm khoái lắm. Anh chậm rãi nhìn bốn xung quanh và mắt anh sáng lên một cách ranh mãnh. - Tôi quả thật không quen với những cuộc tranh luận tao nhã của Giáo hội, - anh bắt đầu được mấy lời đã ngập ngừng ngay, vẻ mặt khiêm tốn và do dự. Họ giục: “Ông cứ tiếp tục đi!” và bác sĩ Hammerfield bảo: “Chân lí dù ở miệng ai nói ra chúng tôi cũng đều không ngại. Miễn là nó trung thực”. - Vậy ra ngài tách rời trung thực khỏi chân lí ư? - Ernest cười hỏi rất nhanh. Bác sĩ Hammerfield luống cuống trả lời: - Giỏi đến đâu cũng phải có lúc nhầm, ông bạn trẻ ạ. Người giỏi nhất trong chúng ta cũng phải có lúc nhầm. Ernest bỗng thay đổi hẳn. Anh đã thành một người khác. - Vâng, được, - anh đáp. - Và tôi xin phép bắt đầu bằng câu này: là các ngài nhầm tuốt. Các ngài không biết gì về giai cấp công nhân, không biết một tí gì hết. Khoa xã hội học của các ngài sai bét và vô giá trị, cũng như phương pháp suy luận của các ngài. Những lời anh nói chính lại không nặng bằng cách anh nói. Tôi giật cả mình trước hết vì giọng nói của anh. Nó cũng táo tợn không khác gì hai con mắt anh. Nó là một tiếng kèn chiến đấu và nó làm cho toàn thân tôi rung lên. Bàn tiệc xao động. Cái không khí đều đều buồn tẻ bị phá vỡ. - Ông bạn trẻ tuổi! Phương pháp suy luận của chúng tôi có chỗ nào sai lầm và vô giá trị ghê gớm đến thế kia, thưa ông? - Bác sĩ Hammerfield hỏi, vẻ khó chịu thoáng hiện ra giọng nói và cách phát biểu của ông. - Các ngài là những nhà siêu hình học. Các ngài có thể dùng siêu hình học để chứng minh bất cứ một cái gì, và xong thì mỗi nhà siêu hình học lại có thể tuỳ thích chứng minh rằng các nhà siêu hình học khác là sai. Các ngài là những kẻ vô chính phủ trong lĩnh vực tư tưởng. Các ngài là những nhà chế tạo ra vũ trụ. Điên rồ ơi là điên rồ! Mỗi ngài sống trong một vũ trụ riêng, do trí tưởng tượng riêng và những sở thích riêng của mình tạo nên. Các ngài không biết gì về cái thế giới thực các ngài đang sống, và tư tưởng điên loạn của các ngài hoàn toàn không có chỗ đứng trong thực tại.Dưới đây là những tác phẩm đã xuất bản của tác giả "Jack London":Tiếng Gọi Nơi Hoang DãCô Gái Băng TuyếtGót SắtJack London Truyện Ngắn Chọn LọcJack London Tuyển TậpMartin EdenMối Thù Thiên ThuTừ Bỏ Thế Giới VàngĐộc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Gót Sắt PDF của tác giả Jack London nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
Góc Khuất Đàn Bà (Huyền Trang Bất Hối)
Những người xuất hiện trong “Góc khuất đàn bà”, liệu ai là người hạnh phúc nhất, hoặc liệu những người đàn bà trong cuốn sách này, ai là người đau khổ nhất? Sinh ra là đàn bà, là phụ nữ, từ những tháng ngày tuổi trẻ vô lo, rồi đến khi trưởng thành mang trong lòng bao nghĩ suy hay đến khi trở thành một người đàn bà thuần thục lại đem trong mình là hàng trăm những âu lo dang dở. Từ một bí mật nhỏ nhoi, dần dần lại trở thành một góc khuất sâu thẳm. Từ một giọt nước mắt, lại trở thành một nỗi khổ triền miên. Sau cùng, trong “Góc khuất” của đàn bà, bao nhiêu là đau khổ do đàn ông tạo ra, hay là do tự mình tạo nên, ai biết? Rốt cuộc, là đàn ông phụ họ, hay họ phụ chính mình?***Là đàn bà, sinh ra chính là mang theo vận khổ. Khổ từ khi còn là một đứa trẻ luôn canh cánh nỗi lo “phận vịt trời”, khổ khi lớn lên mang theo nỗi đau của cuộc tình đổ vỡ và khổ khi phải chính mình che giấu những đau thương cuộc đời đằng sau góc khuất. Tìm mua: Góc Khuất Đàn Bà TiKi Lazada Shopee Con người ai cũng có bí mật không muốn cho người khác được biết. Điều đó ta đều hiểu, bởi căn bản đó là những gì của riêng bạn không muốn nói cho ai, không muốn được sẻ chia cùng ai, cũng chẳng muốn ai đào bới, gặng hỏi bí mật ấy ra. Nhưng bạn có biết, đàn bà, họ mang nhiều bí mật hơn bạn tưởng rất nhiều. Không phải là những gì vụng trộm họ cần che giấu, mà đó chỉ là những nỗi đau họ không muốn ai biết, không muốn ai nhìn thấy, không muốn mình yếu đuối. Họ đang cố khoác cho mình một bộ cánh đại bàng lên người con chim sẻ để mạnh mẽ vươn lên trời cao. Là một người chồng tâm lý có lẽ bạn nên sẻ chia những bộn bề, thấu hiểu người nỗi lòng người phụ nữ mình yêu. Là một thằng con trai, nên hiểu rõ trái tim người con gái nắm tay mình hằng ngày. Là một người con gái, một người phụ nữ nếu có quá nhiều góc khuất trong nỗi lòng, thì hãy tìm đọc cuốn sách Góc khuất đàn bà để nỗi lòng nặng trĩu của mình được sẻ chia qua những trang sách nhé! Góc khuất đàn bà chính là một trong ba gia tài lớn nhất của Huyền Trang Bất Hối. Bên cạnh “Cốt cách phụ nữ” hay “Phụ nữ vạn người mê,” lại một lần nữa ta nhìn thấy ngòi bút sắc sảo đến từng câu chữ của Huyền Trang trong cuốn sách này. Là một nhà văn, trước giờ quen viết những tác phẩm thay lời tâm sự của phụ nữ tế nên không lạ khi Góc khuất đàn bà vừa ra mắt đã nhận được sự ủng hộ nhiệt tình từ bạn đọc. Trước giờ phụ nữ có cái tật là che giấu rất giỏi, những gì là của riêng họ thì sẽ chẳng bao giờ có người thứ hai biết nếu như họ không nói hay không thể hiện ra. Thế mà lần này Huyền Trang Bất Hối lại đục khoét tất cả những góc khuất chung của những người phụ nữ lên. Cuốn sách như đang muốn đào bới tất cả những nỗi đau đã chôn vùi từ lâu trong bạn. Đào thật sâu những gì bạn cất giữ thật kĩ, thế rồi, để tuyệt tình đâm một nhát thật sâu vào nỗi đau ấy, “để rồi đến khi cuốn sách khép lại, vết thương ấy sẽ dần lên da non và lành lại, chứ không phải ngày ngày âm ỉ chảy máu hay nhói lòng mỗi khi đêm về” Đọc Góc khuất đàn bà ta như được trút bỏ hết nỗi lòng của mình bấy lâu, những gì bạn che giấu, những gì bạn khó nói đều được cuốn sách này nói hộ, rất chân thành và thật tâm. Là một người con gái, là một người phụ nữ dường như tôi luôn cả thấy mình bị bó hẹp trong một giới hạn nào đó, luôn bị thứ mang tên chung là “đàn ông” khống chế cảm xúc, suy nghĩ và tâm tư cho đến khi tìm được tản văn này của Huyền Trang Bất Hối. Giờ tôi thực sự đang sống chính cuộc sống của mình, đối diện với nỗi đau và đã ngưng coi ai đó là cả thế giới.Dưới đây là những tác phẩm đã xuất bản của tác giả "Huyền Trang Bất Hối":Cốt Cách Phụ NữGóc Khuất Đàn BàPhụ Nữ Vạn Người MêTuyển Tập Truyện Ngắn Huyền Trang Bất HốiĐộc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Góc Khuất Đàn Bà PDF của tác giả Huyền Trang Bất Hối nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
Gỗ Mun (Ryszard Kapuściński)
Trước hết là cái nhìn: Ryszard Kapuściński. Đó là một cái nhìn luôn luôn độc đáo và thấu suốt, cho dù đối tượng sự quan sát của ông có là gì, và cho dù không mấy khi ông thích phân tích dài dòng. Nhất là khi đối tượng ấy là châu Phi, một lục địa dường như rất hợp với tâm tính ông, thì Kapuściński nhìn thấy cả những gì sâu xa, nhỏ bé nhất của nơi đây. Và sau đó là cách chạm vào châu Phi: thông qua sự mô tả cuộc đối đầu nghẹt thở với một con rắn, Kapuściński làm sống lại sự rung động của tâm hồn cả một châu lục, trong đó có sự mãnh liệt và có hiểm nguy tàn khốc. Rồi tất nhiên ta phải nói đến một tài năng văn chương hiếm thấy, hiện ra tràn ngập những trang viết của thông tín viên Ba Lan kiệt xuất này. Tất cả cộng lại để tạo nên một Gỗ Mun như tác phẩm không thể không nhắc tới về châu Phi thế kỷ XX.***Lời khen tặng dành cho Gỗ Mun: “Giống như Gabriel García Márquez là ông hoàng đen vĩ đại của tiểu thuyết hiện đại, Kapuściński là vị phù thủy kiệt xuất của phóng sự.”- John Le Carré “Ryszard Kapuściński là một ví dụ hiếm hoi trong nền văn hóa của chúng ta về một nhà văn người-Ba-Lan-toàn-cầu. Ông, một công dân thế giới, luôn luôn chống lại việc dựng lên các rào ngăn đối với Người Khác, đóng sập cửa trước mặt họ. Dường như ông muốn nói: bài ngoại là căn bệnh của những kẻ khiếp nhược, bị mặc cảm về sự thấp hèn hành hạ, sợ hãi ý nghĩ đến lượt họ sẽ phải soi mình trong văn hóa của Người Khác.”- Adam Michnik Tìm mua: Gỗ Mun TiKi Lazada Shopee “Chúng ta đang sống trong một thế kỷ nhiều thách đố nhất trong lịch sử thế giới, bản chất thực của nó còn là một bí ẩn tối tăm. Chúng ta rất cần những nhà giải mã như Ryszard Kapuściński.”- Salman Rushdie “Tôi nghĩ đến những cuốn sách ông đã viết với lòng biết ơn sâu sắc, và nghĩ đến những cuốn sách ông còn chưa kịp viết với nỗi buồn sâu sắc. Một nhà văn lớn, một con người cao quý, một người lữ hành không mệt mỏi qua thế giới đầy quyến rũ nhưng mãi luôn luôn bất an của chúng ta.- Wisława Szymborska “Tôi không biết bất cứ ai có viết với sự thấu cảm đến thế về Thế giới Thứ ba. Mỗi lần được tin giải Nobel được trao cho một người khác, tôi lại cảm thấy thất vọng. Tôi luôn luôn chắc chắn rằng Kapuściński sẽ nhận được giải thưởng này.”- Tomas Venclova “Ryszard Kapuściński đã viết một tác phẩm để đời: cuốn sách về châu Phi với nhan đề Gỗ Mun. Cuốn sách của Kapuściński đặt chúng ta trước nhiều câu hỏi. Đó là những câu hỏi cốt yếu. Cuộc sống là gì, ý nghĩa của nó, đạo đức, tội ác, lòng kiêu hãnh và khiêm nhường, sự phản kháng hay chấp nhận số phận? Chúng ta vẫn luôn đặt ra những câu hỏi ấy trong văn hóa của mình, nhưng những lời giải đáp và phản ứng của chúng ta lại hoàn toàn khác.”- Helena Zaworska “Không trực tiếp, nhưng rất rõ ràng, Kapuściński luận chiến với hai lối nghĩ dĩ Âu vi trung rập khuôn về châu Phi: với khuôn mẫu khiến người ta nhìn châu Phi như một châu lục của những người man rợ thấp kém hơn về văn hóa, khó hiểu (vì chẳng đáng được hiểu); và với huyền thoại hậu thực dân đầy cảm tính (dù chỉ như trong Xa mãi Phi châu của Karen Blixen) nhìn thấy ở châu Phi thiên đường đã mất.”- Piotr Bratkowski***Trước hết là ánh sáng đập vào mắt. Khắp nơi là ánh sáng. Khắp nơi chói lòa. Khắp nơi là nắng. Mới ngày hôm qua, London mùa thu lướt thướt nước mưa. Máy bay lướt thướt nước mưa. Gió lạnh và âm u. Còn ở đây, từ sáng sớm cả sân bay ngập trong nắng, tất cả chúng tôi ngập trong nắng. Thời trước, khi người ta đi bộ du hành qua thế giới, cưỡi ngựa hay đi thuyền, cuộc hành trình làm họ thích nghi dần với các thay đổi. Các hình ảnh của trái đất từ từ trôi qua trước mắt họ, sân khấu của thế giới quay chầm chậm từng chút một. Hành trình kéo dài hàng tuần, hàng tháng. Con người có thời gian để thích nghi với môi trường khác, với quang cảnh mới. Khí hậu cũng thay đổi từng bước, qua các giai đoạn. Trước khi một người du hành từ châu Âu lạnh lẽo đến được xích đạo nóng bỏng, anh ta đã trải qua cái ấm áp dễ chịu của Las Palmas, cái nóng nực của Al-Mahara và địa ngục Quần đảo Cape Verde. Ngày nay, những giai đoạn ấy chẳng còn lại chút gì. Máy bay đột ngột bứt chúng ta ra khỏi tuyết và băng giá rồi ngay ngày hôm đó ném ta vào vạc dầu nhiệt đới nóng rực. Đột nhiên, chỉ vừa mới dụi mắt là ta đã ở trong địa ngục ẩm ướt. Ta bắt đầu đổ mồ hôi ngay. Nếu bay đến từ châu Âu mùa đông, ta quăng bỏ áo choàng, cởi áo len. Đó là hành động đầu tiên của chúng ta, người phương Bắc, khi đến châu Phi. Người phương Bắc. Có bao giờ ta từng nghĩ rằng người phương Bắc chỉ chiếm một phần rất nhỏ trên hành tinh này? Người Canada và Ba Lan, người Litva và bán đảo Scandinavia, một bộ phận người Mỹ và Đức, người Nga và Scotland, người Sami[1] và Eskimo, người Evenki và Yakut, danh sách cũng không dài lắm. Tôi không rõ tổng cộng nó có nhiều hơn năm trăm triệu người - chưa đến 10% cư dân trái đất - hay không. Ngược lại, một phần rất lớn sống trong ấm áp, cả đời được sưởi nắng. Vả lại, con người được sinh ra trong ánh nắng, những dấu vết cổ xưa nhất của con người được tìm thấy ở các xứ sở ấm áp. Thiên đường trong Kinh Thánh có khí hậu thế nào? Ở đó ấm áp vĩnh cửu, nóng nực là đằng khác, đến nỗi Eva và Adam có thể trần truồng và không cảm thấy lạnh ngay cả trong bóng cây. Ngay ở cầu thang máy bay ta đã gặp một điều mới mẻ khác: mùi nhiệt đới. Điều mới mẻ? Nhưng đó chính là mùi hương ngập tràn trong cửa tiệm nhỏ của ông Kanzman “Hàng hóa từ thuộc địa và các loại khác” trên phố Pereca ở Pinsk[2] đấy mà! Quả hạnh, đinh hương, chà là, ca cao. Va ni, lá nguyệt quế; cam và chuối bán quả, bạch đậu khấu và nghệ bán cân. Còn Drohobych thì sao? Những cửa hàng quế của Schulz[3] thì sao? Chính là “những đồ vật sẫm màu và trang trọng được chiếu sáng lờ mờ, thơm nồng mùi của màu, sơn, nhang, đẫm hương của các xứ sở xa xôi và những chất liệu quý hiếm”! Tuy vậy, mùi nhiệt đới có khác một chút. Ta nhanh chóng nhận ra sức nặng của nó, sự nhớp nháp của nó. Thứ mùi này cho ta biết ngay rằng ta đang ở một điểm trên trái đất nơi giới thực vật rậm rạp và không mệt mỏi luôn liên tục hoạt động, sinh sôi, lan tràn và nở hoa, song đồng thời cũng đang tật bệnh, bị đốn ngã, sâu ruỗng và héo rụi. Đó là mùi của những tấm thân được sưởi nóng và cá khô, của thịt ôi và sắn nướng, của hoa tươi và tảo rữa, tóm lại là mùi của tất cả những thứ đồng thời vừa dễ chịu vừa khó chịu, vừa lôi cuốn vừa đáng ghét, những thứ cám dỗ hoặc làm người ta ghê tởm. Thứ mùi này bay đến với chúng ta từ những rừng cọ không xa, thoát ra từ mặt đất nóng ran, bốc lên trên những rãnh nước mốc meo của thành phố. Nó không rời chúng ta, nó là một phần của miền nhiệt đới. Và cuối cùng là khám phá quan trọng nhất - con người. Những người ở đây, dân bản xứ. Họ mới hợp với phong cảnh, ánh sáng và thứ mùi này làm sao! Dường như họ tạo thành một tổng thể. Dường như con người và cảnh vật không tách rời nhau, bổ sung cho nhau, là một bản sắc, một cộng đồng hài hòa. Dường như mỗi sắc dân được đặt vào phong cảnh của riêng mình, khí hậu của mình! Chúng ta tạo ra phong cảnh của mình, còn phong cảnh nặn thành hình các đường nét trên gương mặt chúng ta. Người da trắng ở giữa những cây cọ và đám dây leo này, trong các bụi cây và rừng rậm này là một điều gì đó lạc lõng thừa thãi. Nhợt nhạt, yếu ớt, áo đẫm mồ hôi, tóc dính bết, anh ta luôn bị cái khát, cảm giác bất lực và chán nản hành hạ. Anh ta luôn luôn sợ hãi, sợ muỗi, a míp, bọ cạp, rắn - tất cả những gì cử động đều làm anh ta tràn ngập lo sợ, khiếp hãi, hoảng loạn.Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Gỗ Mun PDF của tác giả Ryszard Kapuściński nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
Quán Tai Heo (Bình Nguyên Lộc)
Tiểu thuyết này đăng báo “Tiểu Thuyết Thứ 7” năm 1960 nhưng câu chuyện xảy ra năm 1959. Nhạc phụ bản do Phạm Duy sáng tác năm 1963. Theo lời giải thích ở đầu truyện, Quán Tai Heo đã được in trên “Tiểu Thuyết Thứ 7” vào năm 1960, sau đó Bình-nguyên Lộc có nhắc tới truyện Quán Tai Heo khi trả lời phỏng vấn của Lê Phương Chi (Tin Sách số 2-1965) rằng truyện này cũng có trong tập truyện Quán Bên Đường. Như vậy bản in của Vạn Xương là bản in lần thứ ba. Bản in trong “Tiểu Thuyết Thứ 7” chắc chắn có chỗ khác với bản này vì lúc bấy giờ (1960), Phạm Duy chưa phổ nhạc bài thơ của Minh Phẩm (1963) và điểm chú thích số 1 sẽ không có lời hát của bản nhạc “Khoai Ngọt Bánh Đắng”. Chúng tôi chưa tìm ra được tung tích nào của tập truyện Quán Bên Đường, trong đó có truyện Quán Tai Heo như lời Bình-nguyên Lộc trả lời phỏng vấn của Lê Phương Chi. Vậy quí vị độc giả nào còn giữ tập truyện Quán Bên Đường, kính xin vui lòng giúp chúng tôi có được phiên bản Quán Tai Heo trong tập ấy, để tài liệu được đầy đủ hơn cho những độc giả nghiên cứu. Tìm mua: Quán Tai Heo TiKi Lazada Shopee Bài thơ có chú thích số 1 chắc chắn là của Minh Phẩm, với nhan “Cuộc Đời”, và bản nhạc được Phạm Duy sáng tác năm 1963 với tựa là “Khoai Ngọt Bánh Đắng” và nếu so sánh lời của bản nhạc trong chú thích số 1 với lời của bản nhạc “Quán Bên Đường” cũng của Phạm Duy, ta không thấy sai biệt nào ngoài những dấu câu mà gốc vẫn là bài thơ “Cuộc Đời”. Như vậy lời nhạc Quán Bên Đường là của Minh Phẩm. Trên trang nhà của Phạm Duy (đã ngưng hoạt động) và một số trang web cho rằng lời nhạc là của Bình-nguyên Lộc. Điều này không đúng.Dưới đây là những tác phẩm đã xuất bản của tác giả "Bình Nguyên Lộc":Cõi Âm Nơi Quán Cây DươngĐò DọcGieo Gió Gặt BãoQuán Tai HeoLữ Đoàn Mông ĐenNguồn Gốc Mã Lai Của Dân Tộc Việt NamNửa Đêm Trảng SụpTỳ Vết Tâm LinhSau Đêm Bố RápThầm LặngTruyện Ngắn - Bình Nguyên LộcĐộc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Quán Tai Heo PDF của tác giả Bình Nguyên Lộc nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.