Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Ngôi Nhà Mũi Tên

Bà Harlowe - một người phụ nữ giàu có qua đời. Di chúc của bà không hề đề cập đến người em rể. Như một lẽ tất nhiên, người đàn ông này bực tức cáo buộc người thừa kế - Betty Harlowe, đã giết bà Harlowe nhằm chiếm đoạt tài sản. Jim Frobisher, cộng sự tại công ty, lập tức đến Pháp để bảo vệ quyền lợi cho Betty. Tham gia cùng anh còn có thám tử Hanaud lừng danh của Sở Cảnh sát Pháp. Liệu tất cả mọi chứng cứ được phơi bày có giống như vẻ bề ngoài của nó? Liệu đây có đơn thuần chỉ là một vụ tống tiền lộ liễu hay là một âm mưu được dàn dựng công phu? Liệu Hanaud danh nổi như cồn đó có hoàn thành sứ mệnh của mình một cách xuất sắc giống như mọi người vẫn hằng khen ngợi?... *** Review: Ngôi nhà mũi tên - A.E.W.Mason Dịch giả: Nguyễn Thành Long Người viết Hà Quang Huy #trinh_thám_cổ_điển #ngôi_nhà_mũi_tên Nếu các bạn thích trinh thám cổ điển thì không nên bỏ qua cuốn này, cái twist khá ấn tượng . Cái thủ pháp thấy tuy là đơn giản, nhưng ngộ ra nó quả là cao siêu khó lường  Mở đầu là cái chết của bà Harlowe - người phụ nữ giàu có ra đi không để lại tý di chúc nào cho ông em rể, ông ta liền viết thư tống tiền trắng trợn cho Haslitt đồng thời đâm đơn kiện Betty bé nhỏ đã đầu độc bà Harlowe. Nhận được thư, Haslitt điều phụ tá của mình là Jim đến bảo vệ quyền lợi cho thân chủ là Betty xinh đẹp quyến rũ. Hanaud - vị thám tử trứ danh của sở cảnh sát Pháp được đặc quyền điều tra vụ án khó khăn nhất trong cuộc đời của ông. Một vị thám tử toát lên vẻ trang nghiêm, chói loà rất thân thiện ân cần và khâm phục trước vị thần May Rủi. Căn biệt thự được thiết kế tinh xảo trang nhã lại ẩn giấu âm mưu u tối xám xịt chết chóc lạnh lẽo. Một tội ác đã xảy ra trong ngôi nhà bất hảo vào cái đêm 27/4 định mệnh dưới bàn tay của "Kẻ gieo tai hoạ". Thứ thuốc độc quỷ quyệt hoang dã giết người không để lại dấu vết được trưng bày qua bao năm tháng đã phát tác mạnh bạo. Hanaud cùng Jim lần mò trong bóng tối mờ mịt vô phương để tìm ra mạnh mối, giải đáp các bí ẩn dưới đôi bàn tay tội lỗi...Những gì ông cần làm đều đã được đào tạo qua đấu trường bò tót, ông đã quá chai sạn với những bất ngờ, điều khiến ông bất ngờ chỉ là thần May Rủi. Ông đã sống trong thế giới tội ác và tội phạm nên ông hiểu chúng một cách thanh tao, nhìn thấu chúng bằng ánh mắt lạnh lùng sắt đá. Bằng suy luận sắc bén của một kẻ lập dị ông phải diễn trò trên cái sân khấu bất đắc dĩ để lấp đầy nỗi buồn chán và cô độc của bản thân! Đánh giá khách quan: 8.5/10 *** Trong số các thân chủ của công ty Frobisher & Haslitt, một công ty tư vấn luật nằm tại mạn đông quảng trường Russell, rất nhiều người sở hữu doanh nghiệp tại Pháp; và họ rất lấy làm tự hào về điều ấy. “Nhờ đó mà chúng tôi trở nên có chỗ đứng trong lịch sử,” ông Jeremy Haslitt vẫn hay nói. “Mọi chuyện bắt đầu từ năm 1806, khi ông James Frobisher, cộng sự cấp cao rất nhiệt huyết thời bấy giờ của chúng tôi, đã tổ chức cho hàng trăm công dân Anh bị giam giữ theo sắc lệnh của Napoleon Đệ Nhất thoát khỏi Pháp. Công ty được Chính phủ bệ hạ bày tỏ lòng cảm ơn và vẫn may mắn duy trì được mối quan hệ ấy. Tôi đích thân coi sóc mảng đó của công ty.” Bởi thế, trong số thư từ ông Haslitt nhận được hàng ngày, lúc nào cũng có một lượng lớn thư dán con tem xanh thẫm của Pháp trên phong bì. Tuy nhiên, vào buổi sáng đầu tháng Tư hôm nay, chỉ có duy nhất một bức như vậy. Chữ viết trên đó trông ngoằn ngoèo, nguệch ngoạc, và ông Haslitt không nhận ra là chữ ai. Nhưng nó mang dấu bưu điện Dijon, thế nên ông Haslitt nhanh chóng xé bao thư ra. Ông có một thân chủ ở Dijon, một góa phụ, bà Harlowe, và như ông nghe kể thì tình trạng sức khỏe của bà đang tệ lắm. Chắc chắn bức thư được viết tại nhà bà ấy, biệt thự Grenelle, nhưng không phải do đích thân bà viết. Ông lật sang phần chữ ký. “Waberski?” Ông vừa nói vừa cau mày lại. “Boris Waberski?” Và rồi ông thốt lên ngay khi nhận ra người viết thư, “À, phải rồi, phải rồi.” Ông ngồi xuống ghế và đọc. Phần đầu của bức thư chỉ đơn thuần là mấy câu văn hoa và khen ngợi, nhưng đọc được đến nửa trang hai thì mục đích của nó trở nên vô cùng rõ ràng. Đây là thư yêu cầu vay năm trăm bảng. Ông Haslitt mỉm cười và tiếp tục đọc, vừa đọc vừa độc thoại với người viết. “Tôi đang rất cần chỗ tiền đó,” Boris viết, “và…” “Hẳn là như thế rồi,” ông Haslitt nói. “Bà chị yêu quý của tôi, Jeanne-Marie…”, bức thư ghi tiếp. “Chị dâu,” ông Haslitt chỉnh lại. “… không thể sống lâu hơn được nữa, mặc dù tôi đã cố gắng chăm sóc chị ấy hết mực,” Boris Waberski tiếp tục trình bày. “Chắc hẳn ông cũng đã biết, chị ấy đã để lại cho tôi một phần lớn gia sản của mình. Vậy tức là nó đã thuộc về tôi rồi, đúng không? Có nói như vậy thì cũng sẽ không bị ai hiểu lầm ý cả. Chúng ta phải nhìn thẳng vào sự thật. Bởi vậy, xin hãy ứng trước cho tôi bằng thư đảm bảo một khoản nhỏ từ phần vốn đã thuộc về tôi, và cho tôi xin được gửi lời chào trân trọng nhất.” Nụ cười của Haslitt nở rộng hẳn ra. Bên trong chiếc hộp thiếc của ông là một bản sao tờ di chúc của Jeanne-Marie Harlowe, được công chứng viên người Pháp của bà tại Dijon viết lại theo đúng thể thức. Theo di chúc, mọi gia sản bà sở hữu sẽ được truyền lại vô điều kiện cho cháu gái chồng bà và con gái nuôi của bà, Betty Harlowe. Jeremy Haslitt thiếu chút nữa thì đã đem bức thư đi hủy. Ông gập nó lại; ngón tay giật giật trên nó; thậm chí phải đến khi xuất hiện cả một vết rách bên mép mấy tờ giấy thì ông mới đổi ý. “Không,” ông tự nhủ. “Không! Với cái tay Boris Waberski này thì không ai mà lường trước được,” và ông nhét bức thư vào một ngăn trong két riêng, sau đó khóa lại. Ba tuần sau, ông rất lấy làm mừng vì đã làm như vậy. Đó là lúc ông đọc được mẩu tin thông báo bà Harlowe đã qua đời trong cột cáo phó của tờ The Times, và nhận được một tấm thiệp lớn với viền đen rất đậm theo phong cách Pháp từ Betty Harlowe, ngỏ ý mời ông đến dự đám tang tại Dijon. Tấm thiệp mời này chỉ mang tính hình thức. Ông sẽ chẳng thể nào đến kịp Dijon để tham dự, kể cả nếu có khởi hành ngay tức khắc. Ông chấp nhận chỉ viết một vài dòng thành kính phân ưu với cô gái, và gửi một bức thư đến cho ông công chứng viên người Pháp, ghi rằng công ty ông sẽ hỗ trợ Betty. Thế rồi ông đợi. “Mình sẽ lại nghe tin từ cái tay Boris kia cho xem,” ông nói, và nội trong tuần đó, ông lại nhận được thư. Chữ viết trong thư thậm chí còn loằng ngoằng và nguệch ngoạc hơn hồi trước; sự hoảng hốt và phẫn nộ đã khiến cho câu từ của Waberski loạn hết cả lên; đồng thời hắn đã đòi lượng tiền lớn gấp đôi. “Thật không thể nào tin nổi,” hắn viết. “Chị ấy chẳng để lại chút gì cho người em trai tận tụy của mình. Có trò gì đó đang diễn ra, và tôi không ưa chút nào. Giờ số tiền sẽ phải là một ngàn bảng, gửi theo đường thư đảm bảo. ‘Boris tội nghiệp của chị, em luôn bị cả thế giới này quay lưng,’ chị ấy nói trong lúc mắt ngấn đầy lệ. ‘Nhưng chị sẽ bù đắp cho em trong di chúc.’ Và giờ thì chẳng có gì cả! Tất nhiên, tôi đã nói chuyện với cô cháu gái của tôi; ôi, con bé thật cứng đầu! Nó búng ngón tay vào mặt tôi! Hành xử theo cái thể thống gì vậy cơ chứ? Một ngàn bảng, thưa ông! Bằng không là sẽ có chuyện khó xử xảy ra! Vâng! Không ai búng ngón tay vào mặt Boris Waberski mà không trả tiền cả. Thế nên hãy trả tôi một ngàn bảng gửi theo đường thư đảm bảo, không là sẽ có chuyện khó xử”; và lần này Boris Waberski không buồn gửi lời chào nào đến cho ông Haslitt cả, cho dù có là trân trọng nhất hay không, chỉ đơn giản ký bằng một nét bút ngoáy tít, nhập nhằng khắp mặt thư. Ông Haslitt không mỉm cười với bức thư này. Ông nhẹ nhàng xoa hai lòng bàn tay vào với nhau. “Thế thì chúng ta đành phải để cho chuyện khó xử xảy ra vậy,” ông nói nhanh, và rồi cất bức thư thứ hai vào cùng chỗ với bức thư thứ nhất. Nhưng ông Haslitt cảm thấy hơi khó tập trung vào công việc. Bên trong cái ngôi nhà to lớn tại Dijon là một cô gái đơn côi, và không có người đồng hương nào ở bên cô ấy cả! Ông bất chợt đứng dậy khỏi ghế và băng qua hành lang, vào trong văn phòng của người cộng sự cấp thấp. “Jim, mùa đông này cậu đã đi Monte Carlo nhỉ,” ông nói. “Đi một tuần,” Jim Frobisher đáp. “Tôi nhớ mình có nhờ cậu đến thăm một thân chủ của chúng ta, người sở hữu một biệt thự ngoại ô tại đó - bà Harlowe.” Jim Frobisher gật đầu. “Tôi đã ghé. Nhưng bà Harlowe ốm rất nặng. Có một cô cháu gái, nhưng cô ta lúc ấy đang đi vắng.” “Thế tức là cậu không gặp ai cả?” Jeremy Haslitt hỏi. “Không, không phải,” Jim chỉnh lại. “Tôi thấy một nhân vật kỳ lạ ra mở cửa và xin lỗi thay bà Harlowe. Một ông người Nga.” “Boris Waberski,” ông Haslitt nói. “Đúng cái tên đó rồi.” Ông Haslitt ngồi xuống một cái ghế. “Kể cho tôi nghe về ông ta đi, Jim.” Jim Frobisher nhìn vào hư vô một vài giây. Anh là một thanh niên hai mươi sáu tuổi, mới chỉ tham gia làm cộng sự kể từ năm ngoái. Mặc dù rất nhanh nhẹn khi cần hành động gấp, anh lại hết sức cẩn trọng khi đánh giá bản chất người khác; và anh còn rất kính nể ông Jeremy Haslitt già, thế nên cứ mỗi khi làm gì liên quan đến công việc của công ty là lại cẩn trọng gấp đôi. Một lúc sau anh trả lời. “Ông ta là một người cao lớn, đi đứng trông có vẻ nặng nhọc, bên trên một vầng trán ngắn và một cặp mắt hoang dại là một mớ tóc bạc dựng thẳng đứng như dây kẽm gai. Ông ta gợi cho tôi nhớ đến một con rối không được gắn dây tử tế lên chân tay. Tôi tin con người này có bản chất khá ngông cuồng và dễ bị kích động, ông ta cứ liên tục miết bộ ria mép với mấy ngón tay dài ngoằng, ố màu thuốc lá. Đây là cái kiểu người có thể nổi điên bất cứ lúc nào.” Ông Haslitt mỉm cười. “Đúng như những gì tôi nghĩ.” “Ông ta gây rắc rối gì cho ông à?” Jim hỏi. “Chưa đâu,” ông Haslitt nói. “Nhưng bà Harlowe đã chết, và tôi tin rằng rất có khả năng ông ta sẽ giở trò gì đó. Ông ta có hay bài bạc gì không?” “Có, chơi rất khát,” Jim nói. “Tôi đoán là ông ta sống bám vào bà Harlowe.” “Tôi cũng nghĩ thế,” ông Haslitt nói, và ông im lặng ngồi đó một lúc. Thế rồi ông nói: “Thật đáng tiếc là cậu không được gặp Betty Harlowe. Tôi từng một lần ghé thăm Dijon trên đường đi qua miền Nam nước Pháp năm năm trước, hồi Simon Harlowe, chồng bà ấy, hãy còn sống. Betty hồi đó là một cô bé chân dài gầy gò, đi tất lụa đen, sở hữu một gương mặt trắng, sáng sủa, và mái tóc đen sẫm cùng cặp mắt lớn, xinh xắn lắm.” Ông Haslitt dịch người trên ghế một cách không thoải mái. Cả một ngôi nhà cổ với khu vườn lớn đầy dẻ và sung, trong khi cô gái kia thì một thân một mình, sống cùng với một tay đầu óc có vấn đề, đang bực bội và muốn gây chuyện khó xử cho cô. Ông Haslitt không thích cái hình ảnh đó chút nào! “Jim,” ông bất chợt nói, “cậu có thể thu xếp công việc sao cho nếu cần thiết thì sẽ có thể rời đi ngay lập tức được không?” Jim ngước nhìn lên, tỏ vẻ ngạc nhiên. Loạn cào cào, như kiểu dân sân khấu hay nói, không phải là chuyện hay xuất hiện tại công ty Frobisher & Haslitt. Dù cho đồ nội thất của họ hơi xỉn màu, tác phong của họ rất trang nghiêm; thân chủ có thể gặp chuyện khẩn, nhưng vội vã và gấp gáp là những từ công ty không bao giờ sử dụng. Chắc chắn đâu đó quanh đây sẽ có một luật sư chịu hiểu cho họ. Ấy nhưng giờ đây, đích thân ông Haslitt, cùng với mớ tóc bạc trắng và gương mặt tròn trịa khác thường, nửa trẻ con, nửa thông minh xuất sắc, lại đang đề nghị cộng sự cấp thấp của mình chuẩn bị sẵn sàng để đi thẳng sang đại lục châu Âu ngay khi có lệnh. “Tôi chắc chắn có thể làm vậy,” Jim nói, và ông Haslitt nhìn anh với vẻ hài lòng. Jim Frobisher sở hữu một nét tính cách rất khác người. Ngay cả người quen của anh, cho dù có là bạn bè thân thuộc, cũng mới chỉ từng biết đến các dấu hiệu anh để lộ ra bên ngoài. Anh là một người cô độc. Cho tới nay, anh chỉ quan tâm đến một số rất ít người, và ngay cả những người ấy anh cũng chẳng thiết tha gì mấy. Đam mê của anh là được cảm thấy rằng cuộc đời mình và ý nghĩa cuộc đời mình không phụ thuộc vào người khác. Trong những tháng được rảnh rang, anh luôn theo đuổi dam mê ấy. Một chiếc thuyền buồm nửa boong* chỉ cần một người lái, một cây rìu phá băng, một khẩu súng trường, một vài cuốn sách dài bất tận, chẳng hạn như Chiếc nhẫn và cuốn sách*. Đó chính là những người bạn đồng hành của anh trên biết bao chuyến thám hiểm cô đơn, bên cạnh các vì sao và những suy tư của riêng mình. Hệ quả là anh đã tự tạo cho bản thân mình một vẻ lạnh nhạt khác thường, khiến cho anh lập tức trở nên nổi trội giữa đám đông. Đây là một diện mạo đầy vẻ dối lừa, bởi lẽ nó dễ gợi lên sự tin tưởng cho người khác, mặc dù có khi chẳng có lý do nào để họ đặt lòng tin như vậy cả. Chính cái vẻ ngoài ấy bấy giờ đã thuyết phục ông Haslitt. “Đây đích thị là một người thích hợp để đối đầu với cái ngữ như Boris Waberski,” ông nghĩ thầm, có điều không nói hẳn ra như vậy. • Thuyền buồm nửa boong; loại thuyền half-deck, phần boong chỉ kéo dài bằng nửa thân tàu, có thể nằm ở cuối hoặc đuôi tàu. • Chiếc nhẫn và cuốn sách: tức The Ring and the Book, một tiểu thuyết dài được viết dưới dạng thơ của Robert Browning. Điều ông nói là: “Có khi cũng chẳng cần thiết phải làm vậy đâu. Betty Harlowe có một luật sư người Pháp. Chắc chắn anh ta sẽ đủ sức giải quyết. Ngoài ra…” - và ông mỉm cười lúc nhớ lại một câu trong bức thư thứ hai của Waberski - “Betty có vẻ là người rất có khả năng tự bảo vệ mình. Cứ để rồi xem.” Ông quay trở lại văn phòng của mình, và suốt một tuần liền ông không nhận được thêm bất cứ tin tức gì từ Dijon nữa. Lúc ông đã gần quên đi sự lo lắng của mình thì bất thình lình, một tin động trời xuất hiện, và nó được truyền đến thông qua một kênh rất bất ngờ. Jim Frobisher là người báo tin cho ông biết. Anh xộc vào văn phòng của ông Haslitt đúng lúc người cộng sự cấp cao đang đọc cho anh thư ký ghi lại lời phúc đáp cho mấy bức thư buổi sáng của mình. “Ông Haslitt!” Jim la lên, và ngưng bặt khi nhìn thấy viên thư ký. Ông Haslitt nhìn lướt qua gương mặt người cộng sự trẻ của mình và nói: “Godfrey, lát nữa chúng ta sẽ tiếp tục trả lời thư sau.” Viên thư ký mang cuốn sổ tay tốc ký ra khỏi căn phòng, và ông Haslitt quay sang Jim Frobisher. Mời các bạn đón đọc Ngôi Nhà Mũi Tên của tác giả A. E. W. Mason.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Biện Hộ Trắng Án - Trương Hải Sinh
Giản Minh, La Kiệt và Trương Tĩnh - ba nhân vật luật sư biện hộ các vụ án hình sự tổ hợp thành một chiếc kiềng ba chân vô cùng vững chắc. Họ luôn cố gắng hết sức để trả lại sự trong sạch cho người bị oan và để cho người mất được nhắm mắt! Trong chiếc xe bị vứt bỏ lại, cô gái quần áo xộc xệch, dấu vân tay, vết răng, tinh dịch và nhiều dấu vết khác đều nhằm vào một người, là chứng cứ vững chắc hay là âm mưu đã được dàn dựng công phu? Vị giáo sư đại học nho nhã lịch thiệp cầm trong tay chiếc chùy, là ngộ sát hay bị kẻ khác hãm hại? Người phụ nữ bị bắt cóc lại trở thành nhân vật trong tập đoàn buôn bán phụ nữ, là do tính cách bẩm sinh hay còn có ẩn tình nào khác? Còn cả những vụ án vô cùng kỳ bí, những linh hồn lượn lờ trên đường cái, những thi thể bị nát vụn, vụ việc ức hiếp trong trường học… Nhóm ba người Giản Minh - La Kiệt - Trương Tĩnh phải vận dụng kiến thức chuyên ngành của mình như thế nào để có thể điều tra ra được từng bí mật kinh thiên động địa ẩn giấu phía sau những vụ án bí ẩn này… *** Trương Hải Sinh: Hội viên Liên minh ngành bản quyền thủ đô và Hiệp hội tiểu thuyết kinh dị Hoa ngữ thế giới. Anh đã đọc vô số cuốn sách về ngành Luật, luôn mong muốn trở thành một luật sư tài năng, nhưng cơ duyên thế nào mà lại trở thành nhà văn. Anh đã sáng tác tiểu thuyết trinh thám kinh dị gần mười năm nay. Anh có lối tư duy logic chặt chẽ và sức sáng tạo phong phú, yêu thích việc sử dụng câu chữ để lột tả được nhân tính thiện ác được cất giấu nơi sâu kín nhất của con người. *** Đây là một cuốn tiểu thuyết về đề tại xét xử vụ án hình sự tại phiên tòa. Trong hệ thống tư pháp của Việt Nam và Trung Quốc có những nét tương đồng và khác biệt nhất định, nên tôi muốn làm rõ các danh xưng tại phiên tòa xét xử để độc giả tiện theo dõi. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Trung Quốc - Việt Nam 1. Thẩm phán trưởng (Quan tòa) Tại mỗi phiên tòa, trong Hội đồng xét xử sẽ có một vị thẩm phán nắm quyền điều hành phiên tòa.- Chủ tọa 2. Thẩm phán (Quan tòa) - Thẩm phán 3. Thư kí - Thư kí 4. Bồi thẩm - Hội thẩm 5. Công tố viên - Công tố viên *** Chính nghĩa cần phải tìm kiếm và tìm tòi, bởi vì chúng ta không có cách nào đạt đến được thực tế chính nghĩa hoàn mĩ trọn vẹn, chúng ta bắt buộc phải truy cầu. Công chính không phải là kết quả, mà là một quá trình. -- Alan Dershwitz -- Tôi... Tôi tên Giản Minh, 43 tuổi, độc thân. Giống như phần đông số người ở độ tuổi này, tôi hơi mập, tóc cũng rụng ngày càng nhiều, có lẽ chắc cũng chỉ vài năm nữa là tôi bị hói rồi. Cho nên, mấy hôm trước tôi đã cạo trọc đầu luôn, kết hợp với vết sẹo nơi hổ khẩu bên tay phải của tôi, đúng là có vẻ hơi đáng sợ. Nhưng hãy tin tôi đi, tôi là một nhân viên cổ cồn trắng mặc comple nghiêm chỉnh đấy. Đương nhiên, thực ra tôi cũng chẳng thích phải ngồi lâu trước bàn làm việc đâu, nếu như bạn đến phòng làm việc của tôi, tôi muốn nửa nằm nửa ngồi trên sofa để tiếp đón bạn hơn. Việc này không phải là vì tôi không quan tâm đến phép lịch sự, mà là phần lưng của tôi có chút vấn đề. Tôi cũng có một chút khác biệt đối với những người trong độ tuổi này, bốn năm trước, tôi không hút thuốc, nhưng bây giờ, chỉ cần là thuốc lá, tôi đều có thể hút vài hơi. Cần phải biết rằng, ở độ tuổi này mới bắt đầu hút thuốc, không phải là một việc đơn giản, cho nên, nói một câu không mấy mới mẻ gì, thứ tôi hút không phải là thuốc mà là nỗi cô đơn. Tôi không uống rượu, bất cứ loại rượu nào đều không được, chỉ cần có chút hơi men, một số thứ trong kí ức tôi không muốn nhớ đến sẽ giống như con mãnh thú đại hồng thủy phá vỡ con đê, triệt để nuốt chửng tôi. Hãy tin tôi đi, đó tuyệt đối là một việc không vui vẻ gì. ... Mời các bạn đón đọc Biện Hộ Trắng Án của tác giả Trương Hải Sinh.
14 Tập 2 - Peter Clines
Những cánh cửa khóa chặt. Đèn tường kỳ cục. Lũ gián biến dị. Có điều gì đó bất thường đang diễn ra trong căn hộ mới thuê của Nate! Đương nhiên anh có đầy thứ khác phải lo hơn là tìm hiểu mấy thứ trong căn nhà này. Công việc chán nản, tiền bạc không có, bạn gái cũng không, tương lai mù mịt, vì vậy dù căn nhà có không được hoàn hảo cho lắm, anh cũng chả quan tâm, chỉ cần ở được là đủ. Ít nhất là như vậy cho đến khi anh gặp Mandy - cô hàng xóm ở phòng đối diện và nhận ra vô số điều bất thường trong căn phòng cô đang ở… Và cả những căn phòng khác nữa. Tại nơi đã từng một thời là khu xa xỉ của Los Angeles này, mỗi căn phòng, mỗi bức tường đều đang che đậy những bí ẩn có thể đã tồn tại từ cả trăm năm trước. Một số hiển hiện ngay trước mắt, một số giấu mình đằng sau những cánh cửa đóng chặt. Và khi mọi mảnh ghép bí ẩn dần được phơi bày, khi bánh xe vận mệnh một lần nữa khởi động, Nate và “đồng bạn” sẽ phải đối mặt với những gì? Là tận cùng của sinh mạng… hay tận cùng của mọi thứ ? *** Peter Clines, sinh ra ở Cape Neddick, Maine là một tác giả và tiểu thuyết gia người Mỹ nổi tiếng với loạt truyện siêu anh hùng zombie, Ex-Heroes, và tiểu thuyết lấy cảm hứng từ Lovecraftian 14 và The Fold. *** LỜI TÁC GIẢ Quay trở lại khoảng thời gian vào tháng 5 năm 2012, tôi đã ở Crypticon bang Seatle để cố gắng thuyết phục mọi người xem qua cuốn sách mới của mình. Về cơ bản, nó vẫn chưa được hoàn thành. Nhà xuất bản Permuted Press đã in ra ba mươi bản mẫu với hy vọng sẽ huy động được đầu tư. Hãy lưu ý, tôi nói đó là “hy vọng”. Thực lòng, trong thời gian dài tôi lo sợ rằng việc này sẽ thất bại hoàn toàn. Tôi đã đạt được một vài thành công nho nhỏ về loạt sách nói về siêu anh hùng đánh lại xác sống, nhưng gần đây tôi cố gắng viết cái gì đó khác đi - cuốn The Eerie Adventures of the Lycanthrope Robinson Crusoe - đã không thành công như mong đợi. Thậm chí, tôi có thể nói đó là một thất bại lớn. Tôi đã lo lắng điều tương sự sẽ xảy ra. Thậm chí cả giám đốc nhà xuất bản Permuted Press, Jacob Kier, cũng đã miễn cưỡng để tôi quyết tâm đi theo một hướng khác lần nữa, mặc dù ông ấy cảm thấy khá hơn rất nhiều sau khi đọc 14. Nhưng nó cũng không giúp ích được gì khi cuốn sách vẫn được giữ bí mật. Thật sự, thật sự được giữ kín. Khi tôi đến Crypticon, chỉ để... chà, bốn mươi người đã đọc cuốn sách. Đó là những người đầu tiên đọc cuốn sách này của tôi, giám đốc nhà xuất bản, biên tập viên, nhân viên chạy quảng cáo. Tôi đã lo sợ tác phẩm bị xuyên tạc hay bị tiết lộ quá sớm, và độc giả sẽ chính thức đến với cuốn sách sẽ có ấn tượng hoàn toàn sai lệch hoặc không như kỳ vọng của họ. Vì vậy tôi đã đề nghị họ giữ kín bản mẫu và Jacob đã đồng ý. Và rồi tôi lại lo ngại về điều đó trong nhiều tuần. Vì vậy tôi đã ở Crypticon cùng với những bản mẫu. Tôi giữ chân ai đó phải nán lại, mời họ xem bìa cuốn sách vô cùng nghệ thuật và mới mẻ này, và họ hỏi tôi rằng cuốn sách viết về cái gì, tôi đã trả lời rằng. “Tôi không thể tiết lộ.” Tuy nhiên, không hiểu sao, tôi đã bán được hai mươi chín bản mẫu. Đáng ra đã bán được ba mươi bản, nhưng tôi đã giấu một cuốn trong túi. Vài tuần sau đó, cuốn sách đã được chính thức xuất bản và số lượng bán ra vô cùng lớn. Sau đó audiobook của cuốn sách này cũng đã được xuất bản và thậm chí nó còn bán chạy hơn sách giấy. Tôi đã choáng váng khi phát hiện ra mọi người không hề thích cuốn sách này... mà là họ YÊU nó. Rất nhiều người mến mộ cuốn sách này. Tôi thậm chí còn bị những phản ứng nồng nhiệt của những người bạn “thổi bay”. Hai năm sau, tôi vẫn còn cảm thấy chếnh choáng vì không thể tin nổi điều này. Tôi biết cuốn sách rất thú vị và đối với thể loại sách này tôi cũng rất thích đọc, nhưng tôi thực sự không nghĩ rằng cũng có rất nhiều người có chung sở thích như tôi. Tôi mong họ sẽ như vậy, nhưng tôi vẫn luôn luôn coi mình là một người thực tế. Phải nói rằng có ít nhất hai năm cảm thấy vô cùng khó tin đối với tôi. Ít nhất hai hay ba ngàn lần, tôi đã được hỏi liệu tôi sẽ viết phần tiếp theo hay không? Tôi không nghĩ vậy. Câu chuyện về tòa nhà Kavach đã khá hoàn chỉnh và độc đáo, tôi cho là vậy. Có lẽ vẫn còn một số điều liên quan tới những câu chuyện trong vũ trụ, nhưng tôi nghĩ Nate, Veek, và những người khác đã tìm được phần còn lại của nó. Có lẽ từ giờ đến vài năm tới, nếu mọi người vẫn còn quan tâm tới câu chuyện này, tôi sẽ cho ra một ấn bản kỷ niệm khoảng hơn 20.000 từ. Tôi phải cắt giảm ấn bản này vì những lý do xảy ra lần đầu tiên. Có một quả trứng Phục sinh thực sự thú vị, đấy là nói như vậy, và một bước ngoặt lớn mà tôi đã rất mong đợi. Vâng, trong cuốn sách này, thực sự có những bước ngoặt vào cuối truyện mà theo tôi, nó sẽ khiến độc giả thực sự bất ngờ. Dù sao... Có rất nhiều người mà tôi đã gửi lời cám ơn trong lần đầu cuốn sách này được xuất bản, và thật là thiếu sót nếu không nhắc tới tên họ một lần nữa. Thêm vào đó đã có thêm vài người tôi muốn được gửi những lời cám ơn chân thành nhất tới họ. Đầu tiên, tôi muốn gửi lời cám ơn tới Jacob, sáng lập nhà xuất bản Permuted Press, ông đã giúp tôi có những khoảng thời gian xa rời với xác sống và siêu anh hùng để kể về rất nhiều chuyện khác liên quan đến ngày tận thế. Tiếp đó là Thom Brannan, tác giả cuốn Lords of Night và đồng tác giả của cuốn Pavlov’s Dogs, Thom đã cung cấp cho cho tôi một loạt những nghiên cứu của Tesla mà Thom đã tích lũy từ những dự án riêng, và tôi đã vui vẻ đón nhận. Bob Spencer làm việc tại Sở Hành chính thành phố Los Angeles đã trao đổi với tôi về những kế hoạch xây dựng của các tòa nhà cổ. Bất kỳ một sai lệch nào so với thực tế trong câu chuyện này đều là do lựa chọn của riêng tôi vì những lý do tạo kịch tính cho tác phẩm, không phải do bất kể một thông tin sai lệch nào được cung cấp từ phía họ. Chitra đã giúp tôi với những cái tên tiếng Marathi, cách phát âm, và các bản dịch sau khi tôi tìm kiếm trên mạng Internet trong nỗ lực tìm kiếm một vài từ cố định. Tim là cái tên được đặt theo tên của một người bạn, anh ấy cũng đã cho tôi mượn tên của anh ấy để đặt cho một con rồng bằng bạc. Anh ấy luôn sẵn sàng giúp đỡ tôi với những vấn đề về kỹ thuật và máy tính có trong cuốn sách này, ví dụ như việc thiết kế nên hệ thống máy tính của Veek. Tôi đã có một vòng tròn bè bạn khăng khít, những người “tàn nhẫn” (thuộc hạng “tàn nhẫn” chưa từng thấy), những người đã đọc cuốn truyện này từ bản thảo đầu tiên và thuyết phục rằng nó không đến nỗi quá điên rồ và màu mè. Larry, John, Patrick, David đã đưa ra những gợi ý tuyệt vời cho tôi, động viên tôi, và cả việc bắt được rất nhiều điểm mà tôi đã bỏ qua. Tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc tới Felicia, biên tập viên tại nhà xuất bản Permuted Press đã biên tập tác phẩm này của tôi. Ray Porter đảm nhận công việc thu âm cho cuốn truyện 14 này và đã giúp tôi có thêm được nhiều fan bởi giọng đọc vô cùng cuốn hút của anh. Anthony và Michael, những nhân viên mới tại Permuted, đã đưa ra ý tưởng về một phiên bản Platinum cho cuốn sách này, cuốn mà bạn đang giữ trên tay. Người phụ nữ đáng yêu của tôi, Collen, tiếp tục cho tôi những lời khuyên, lời phê bình, sự thật khắc nghiệt, những lời động viên ngọt ngào, và đôi khi là cả sự nhắc nhở rằng tôi có thể làm được việc này. Cuối cùng, nhưng quan trọng không kém, tôi muốn gửi lời cám ơn sâu sắc tới tất cả các bạn, những người đang dành thời gian thư giãn của mình cho cuốn sách này. Tôi chỉ hy vọng rằng nó sẽ làm trí tưởng tượng của bạn bay cao và những điều dị thường theo cái cách mà tôi đã truyền cảm hứng bởi kĩ năng viết ngày một sắc sảo hơn trong những năm qua. Và nếu bạn đang sở hữu một trong ba mươi bản mẫu đầu tiên - một cuốn sách có những trang giấy trắng ở mặt sau - thì bạn đã sở hữu một tác phẩm trong bộ sưu tập những món quà vô cùng đặc biệt. Xin chúc mừng! Cám ơn vì đã “liều mình” với tác phẩm này ở Crypticon! PC Los Angeles, ngày 10 tháng 3 năm 2014 Mời các bạn đón đọc 14 Tập 2 của tác giả Peter Clines.
14 Tập 1
Những cánh cửa khóa chặt. Đèn tường kỳ cục. Lũ gián biến dị. Có điều gì đó bất thường đang diễn ra trong căn hộ mới thuê của Nate! Đương nhiên anh có đầy thứ khác phải lo hơn là tìm hiểu mấy thứ trong căn nhà này. Công việc chán nản, tiền bạc không có, bạn gái cũng không, tương lai mù mịt, vì vậy dù căn nhà có không được hoàn hảo cho lắm, anh cũng chả quan tâm, chỉ cần ở được là đủ. Ít nhất là như vậy cho đến khi anh gặp Mandy - cô hàng xóm ở phòng đối diện và nhận ra vô số điều bất thường trong căn phòng cô đang ở… Và cả những căn phòng khác nữa. Tại nơi đã từng một thời là khu xa xỉ của Los Angeles này, mỗi căn phòng, mỗi bức tường đều đang che đậy những bí ẩn có thể đã tồn tại từ cả trăm năm trước. Một số hiển hiện ngay trước mắt, một số giấu mình đằng sau những cánh cửa đóng chặt. Và khi mọi mảnh ghép bí ẩn dần được phơi bày, khi bánh xe vận mệnh một lần nữa khởi động, Nate và “đồng bạn” sẽ phải đối mặt với những gì? Là tận cùng của sinh mạng… hay tận cùng của mọi thứ ? *** Peter Clines, sinh ra ở Cape Neddick, Maine là một tác giả và tiểu thuyết gia người Mỹ nổi tiếng với loạt truyện siêu anh hùng zombie, Ex-Heroes, và tiểu thuyết lấy cảm hứng từ Lovecraftian 14 và The Fold. *** Ông ta chạy. Ông ta cố chạy nhanh hết sức, như thể Chốn Địa Ngục kia đang đeo bám lấy mình, như thể toàn bộ cuộc đời của ông ta đang phụ thuộc vào việc này. Ông ta chắc chắn rằng điều đó đã xảy ra. Sự thật là ông ta đã chết rồi. Ông ta đã từng chứng kiến cảnh máu me trong phòng phẫu thuật mẫu, và cảm nhận rõ máu đang túa ra ướt đẫm mạng sườn. Con dao mổ đã thực hiện nhiệm vụ của nó một cách chính xác nhất. Mặc dù ông ta không thể nghĩ gì thêm về bản thân mình. Không phải là lúc này. Có quá nhiều điều đang đe dọa đến ông ta. Ông ta phải tiếp tục chạy. Nếu hội The Family tóm được ông ta, tất cả sẽ đều phải chết. Mời các bạn đón đọc 14 Tập 1 của tác giả Peter Clines.