Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Những Kẻ Phiêu Lưu

“… “Đây là một người hùng,” nhà báo nói. “Trái đất rung chuyển khi ông bước, đàn ông yêu ông và sợ ông, đàn bà run rẩy trước sức mạnh nơi bắp vế ông, người ta tìm kiếm sự chiếu cố của ông. Mà giờ không một ai ở đây để tưởng nhớ ông.” Nhà báo quay đi. “Ông nói đúng. Người chết là cô đơn.” Ông cai lại nắm tay áo ông. Nhà báo quay lại, đối diện ông ta, cảm thấy mệt mỏi rã rời. Ông mong giá mình không thấy mấy dòng thông cáo, đã không đi dưới mặt trời kinh khủng để đến nơi nẻo hãi hùng này, đến cáci thế giới không ký ức này. “Thưa ông, không”, ông cai nói nhỏ. “Tôi nhầm. Ông ta không cô đơn. Ông ta đã ở đây mà…” Câu chuyện xoay quanh cuộc đời nhân vật chính Diogenes Alejandro Xenos (hay còn gọi là Dax). Lớn lên với một tuổi thơ đầy ám ảnh về cái chết bi thảm của mẹ và người chị gái, cuộc đời Dax trải qua rất nhiều sóng gió nhưng cũng không kém phần oanh liệt. Thông qua cuộc đời nhân vật Dax, độc giả sẽ được chứng kiến nhiều sự kiện, biến động của xã hội phương Tây trong những năm trước và sau chiến tranh thế giới thứ hai. Những sự kiện liên tiếp diễn ra khiến người đọc bị hấp dẫn và lôi cuốn không thể nào dừng lại được. Xung quanh nhân vật chính, tác giả cũng xây dựng nên nhiều tuyến nhân vật với đủ loại thân phận thuộc các giai tầng khác nhau, rất phong phú và đa dạng. Một xã hội phương Tây như được thu nhỏ trong mỗi trang văn của Harold Robbins. Những kẻ phiêu lưu vừa mang yếu tố hiện thực sâu sắc vừa mang tính lãng mạn với những khát khao, đam mê cháy bỏng của tình yêu. Harold Robbins (1916 – 1997) là một trong những nhà văn có tác phẩm bán chạy nhất mọi thời đại của Mỹ. Trong suốt sự nghiệp của mình, ông đã viết hơn 25 cuốn sách, được dịch sang 32 ngôn ngữ và bán được hơn 750 triệu bản. *** Mười năm sau cuộc bạo động, trong đó anh đã chết. Thời của anh trên trái đất này đã qua. Hạn tro của anh trong chiếc hộp bé tẹo cuối cùng để ẩn náu này cùng đã hết. Giờ đây, quy trình đã được hoàn tất. Anh đã trở về với tro bụi của trái đất, là nơi anh đã sinh ra. Mặt trời xứ nhiệt đới phả những đợt sóng ẩm nóng chói chang xuống những cây thập tự sơn đen bên những bức tường sét trắng của nghĩa trang khi nhà báo Mỹ bước ra khỏi taxi bên những cánh cổng sắt hoen gỉ. Ông đưa cho người lái xe tờ năm peso rồi quay đi trước khi anh ta kịp nói lời cám ơn. Các quầy bán hoa đã tấp nập. Những người đàn bà vận đồ đen đang mua những bó hoa nhỏ. Những tấm mạng đen dầy cộp của họ như che chắn cho họ khỏi sức nóng và ngăn niềm thương đau của họ với cuộc đời. Đám ăn mày cũng ở đấy, những đứa trẻ nhỏ với những cặp mắt thẫm mầu thô lố nằm trong những quầng đen trũng, bụng chúng trương lên vì đói. Khi ông đi qua, chúng giơ những bàn tay bé nhỏ dơ dáy ra đón những đồng xu ông lơ đễnh buông xuống. Khi đã qua cổng thì chỉ còn ắng lặng. Cứ như thể có một cầu dao chính nào đó đã ngắt hẳn thế giới bên ngoài. Một người đàn ông vận đồng phục đang ngồi trong chiếc chòi để hở. Nhà báo đi về phía ông ta. "Làm ơi chỉ giùm, senior?". Và thấy một thoáng ngạc nhiên trên mặt khi người đàn ông trả lời "Phố Sáu, nhà hai mươi". Nhà báo Mỹ mỉm cười, quay đi. Hầu như trong cái chết họ vẫn bám lấy dòng đời. Những lối mòn được gọi là đường phố và nơi họ an nghỉ sau bốn bức tường được gọi là khu nhà. Rồi ông lấy làm lạ về nét ngạc nhiên trên khuôn mặt người đàn ông. Ông đã đọc thấy mấy dòng thông báo mà ông hằng tìm kiếm khi ngồi trong hành lang một khách sạn mới, lật qua các báo chí địa phương, như ông vẫn làm mỗi khi đến một thành phố mới. Đó là bốn dòng nhỏ xíu vùi giữa các trang cuối, hầu như mất hút trong mớ hỗn độn các thông cáo khác lớn hơn. Ông đang thả bộ xuôi con đường mòn với những lăng mộ cá nhân trau chuốt. Một cách trễ nải, ông quan sát các tên người: Ramirez, Santos, Oberon, Lopez... Dù dưới sức nóng mặt trời, ông vẫn thấy giá lạnh phả ra từ những tấm cẩm thạch trắng và cảm thấy mồ hôi ẩm lạnh nơi cổ áo. Giờ đây lối mòn đã rộng hơn. Phía trái ông là những bãi trống lô nhô những bia mộ nhỏ. Bé nhỏ, không được coi sóc, bị quên lãng. Đó là những nấm mồ của kẻ nghèo. Bị ném vào lòng đất trong những hộp gỗ mỏng dính và mặc cho tan biến vào thiên nhiên mà chẳng hề có sự trông nom hay tưởng nhớ. Bên phải ông là các "dãy nhà". Khu chung cư của người chết. Đó là những toà nhà lớn mái lợp ngói Tây Ban Nha đỏ và xám, cao hai mươi, rộng bốn mươi, dài tám mươi foot, gồm những khối xi măng trắng, từng cụm ba khối. Mỗi ô vuông ba foot, đều mang tên kẻ ngụ cư, một thập tự nhỏ khắc chìm vào xi măng ở bên trên tên người, còn ngày qua đời thì ở bên dưới. Ông nhìn lên toà nhà đầu tiên. Có một biển kim loại nhỏ gắn trên mái hiên. Phố 3, nhà 1. Ông còn phải đi xa. Cái nóng bắt đầu đổ xuống. Ông nới rộng cổ áo và rảo bước. Đến giờ rồi, mà ông thì không muốn trễ. Thoạt tiên ông tưởng mình đến nhầm chỗ. Không một ai ở đấy. Ngay cả những người phu đám cũng không. Ông kiểm tra tấm biển kim loại trên toà nhà, rồi kim thời gian trên chiếc đồng hồ đeo tay. Cả hai đều đúng. Ông mở tờ báo xem thử mình có nhầm ngày chăng, nhưng ngày cũng đúng. Ông thở dài nhẹ nhõm và châm điếu thuốc. Đây là Mỹ La tinh. Ở đấy thời giờ chẳng chính xác như ở nhà. Ông chậm rãi dạo quanh, đọc tên người trên các ô vuông. Cuối cùng, ông có được điều ông tìm kiếm đang ẩn trong một góc tối dưới mái hiên phía tây nam của toà nhà. Bản năng khiến ông vứt điếu thuốc đi, ngả mũ và chằm chằm nhìn lên văn bia. D.A.X 10 tháng Năm 1955 Ông nghe thấy tiếng xe ngựa lọc xọc trên đá cuội phía sau. Đấy là chiếc xe trần do con lừa mệt mỏi kéo đi, hai tai dán chặt vào đầu để phản đối việc bị cưỡng bức làm việc trong nóng bức. Xà ích mặc bộ đồ kaki đã bạc. Ngồi bên gã là người đàn ông mặc complê đen, đội mũ đen, chiếc cổ áo trắng hồ bột đã ngả vàng vì mồ hôi và bụi bặm. Đi bên xe là một gã phu với chiếc cuốc chim trên vai. Chiếc xe hộc lên rồi dừng lại. Người vận đồ đen tụt xuống, rút từ trong túi áo ra tờ giấy, liếc qua, rồi nhìn vào những bia mộ dọc theo các bức tường. Mãi tới lúc ông ta dừng lại trước mặt nhà báo Mỹ mới nhận ra rằng người ta đến để mở căn hầm mộ. Người vận đồ đen, cũng là ông cai, vẫy gã xà ích đến bên rồi nhìn chăm chăm vào căn hầm, khẽ lầu bầu gì đó bằng tiếng Tây Ban Nha trong khi gã xà ích trễ nải kéo lê theo chiếc thang nhỏ chắp bằng nhiều mảnh gỗ. Gã dựng thang vào tường rồi trèo lên, nhìn sát vào khối xi măng hầm mộ. "Dax", gã nói, giọng khàn đặc. "Dax", ông cai gật đầu, nhắc lại bằng giọng thoả mãn. Gã phu mang ra cuốc chim cũng gật đầu. Có một âm hưởng thích thú trong giọng của gã. "Dax". Gã xà ích đứng trên thang đưa tay ra. "Cuốc". Rồi với một cú bổ thiện nghệ, gã choảng mạnh lưỡi cuốc vào giữa khối bê tông. Nó bắn toé chùm tia, rạch qua dòng chữ đục, toả ra tứ phía, đúng vào lúc mặt trời đi ngang góc mái hiên. Gã chửi đổng mặt trời bỗng dưng xuất hiện và kéo mũ sụp xuống che mắt, rồi lại choảng mũi cuốc chim vào xi măng. Lần này phiến đá vỡ toang, mảnh bay rào rào trên nền cuội. Nhà báo nhìn ông cai. Ông ta có vẻ đang theo dõi hai người phu, nhưng rõ ràng là chẳng quan tâm gì tới công việc họ đang làm. Ông ta như chán nản với tất cả. Đây chỉ là công việc muôn thuở mà thôi. Ông ta quay lại khi nhà báo bước tới. "Những người khác đâu cả?" Nhà báo hỏi bằng thứ tiếng Tây Ban Nha ngập ngừng của mình. Người đàn ông nhún vai. "Chẳng có ai khác nữa". "Nhưng trong báo... " Nhà báo ngừng lại. Ông hầu đã cạn vốn tiếng Tây Ban Nha "Nói tiếng Anh chứ?" Ông cai mỉm cười kiêu hãnh "Vâng, vâng". Ông ta ré lên. "Xin hầu ông". "Tôi thấy thông cáo trên báo", nhà báo nói với cảm giác nhẹ nhõm, "nên tưởng sẽ có những người khác nữa". "Không có ai cả", ông cai nói. "Nhưng ai đã đăng thông cáo? Chắc chắn phải có ai đó chứ. Ông ta là một người nổi tiếng. Rất nổi tiếng". "Văn phòng đăng thông cáo. Thời gian đã qua khá lâu để ai đó đến mà nhận thi thể. Còn bao kẻ đang chờ chỗ này. Thành phố cứ liên tục phình ra mà. Chúng tôi đã quá chật chội rồi. Ông thấy đấy". "Tôi thấy rồi" nhà báo nói, ngập ngừng. "Thế không còn ai nữa à? Gia đình. Hoặc bạn bè. Ông ta có rất nhiều bạn bè". Một nét u ám thoáng nơi cặp mắt người đàn ông. "Người chết là cô đơn". Một tiếng kêu làu bàu phát ra từ gã xà ích trên thang. Họ quay nhìn lên. Gã đã phá thủng mặt ngoài, và qua đó có thể thấy chiếc quan tài gỗ đã bị mối đã ăn luỗng và bạc màu. Giờ gã đang dùng lưỡi cuốc chim để nậy những mảnh xi măng còn lại rồi nhoai người vào trong hầm mộ kéo chiếc quan tài ra. Nhà báo quay lại ông cai. "Bây giờ sẽ làm gì tiếp?" "Ông ta sẽ được đưa lên dàn hoả". "Rồi sau đó?" Ông cai nhún vai. "Vì chẳng có ai đến nhận nên tro sẽ đổ chung với tro người khác rồi đổ vào bãi đất mà chúng tôi đang lấn ra đầm lầy". Chiếc quan tài được đặt trên dải xi măng hẹp bên toà nhà. Ông cai nhìn xuống, kiểm tra dòng chữ viết trên tấm biển kim loại nhỏ trên nắp với tờ giấy trong tay. "Đúng". Ông ta nói, rồi nhìn lên nhà báo. "Ông muốn xem bên trong quan tài?" "Không", nhà báo lắc đầu. "Vậy... khi không có gia đình để trả tiền thì những người phu được phép. Chắc ông hiểu?" Nhà báo gật đầu và quay đi khi hai người phu bắt đầu mở nắp quan tài, lắng nghe tiếng họ thì thầm khi bàn luận về những thứ mà họ tìm được, và chia chác chúng ra sao. Có một lời rủa khẽ. Rồi âm thanh đóng ván thiên. Ông cai trở lại bên nhà báo. "Hai anh phu đang thất vọng", ông ta nói "Chẳng có gì ngoài mấy chỗ hàn răng bằng vàng, và chiếc nhẫn này". Nhà báo nhìn xuống chiếc nhẫn trong tay ông ta. Một lớp bụi phủ kín nó. "Tôi lấy chiếc nhẫn" ông cai nói "còn để họ lấy mấy mối hàn. Chiếc nhẫn có giá trị, phải không?" Ông ta lấy chiếc khăn nhớp nhúa trong túi ra lau nhẫn rồi đặt nó trong lòng bàn tay. Nhà báo cúi nhìn. Đó là chiếc nhẫn vàng gắn một mặt đá đỏ thẫm. Ông cầm lên và đọc dòng chữ quen thuộc. Đó là nhẫn của trường Harvard, 1939. "Vâng" ông nói "Nó có giá trị đấy". "Mười đô la Mỹ?" ông cai hỏi. Phải mất một khoảnh khắc trước khi nhà báo nhận ra mình được mời mua chiếc nhẫn. Ông gật đầu và rút tiền ra. "Cảm ơn" ông cai nói. Nhà báo cất nhẫn vào túi. Họ quay về phía các gã phu đòn. Chiếc quan tài đã nằm trên xe. "Đi thôi. Giờ thì đến giàn hoả" ông cai nói, trèo lên xe và ra hiệu chỗ ghế bên cạnh cho nhà báo. Trời nóng hơn. Chiếc sơ mi của nhà báo ướt đẫm, thấu sang cả áo ngoài. Mất đến hai mươi phút trước khi họ đến một ngôi nhà mái bằng, xám xịt, tẻ ngắt dùng làm nơi hoả táng. Trong không khí thoáng có mùi khói khi nhà báo xuống xe đi theo hai gã phu đòn khênh chiếc quan tài vào tiền sảnh rộng. Vào trong, ông ngạc nhiên thấy nhà không có mái. Thay vào đó là bầu trời nóng bỏng trên cao. Có sáu chiếc lò hở miệng bằng đá đặt thành trời vòng tròn trong bốn bức tường của ngôi nhà. Trên mỗi miệng lò, bầu không khí chập chờn, nhảy múa với sức nóng trong lòng nó. Một người đàn ông mặc chiếc áo khoác ngoài xám phủ đầy tro bụi, tiến đến phía họ. "Đúng chứ?" Ông cai gật đầu và đưa cho ông ta mẩu giấy trắng. "Đúng". Ông ta ra hiệu cho các phu đòn. "Lò một". Hai gã phu bước đến lò đá gần nhất và lao chiếc quan tài vào. Ông cai cầm cánh tay nhà báo và họ đến bên lò. Chiếc quan tài nằm trên những thanh sắt ám khói đen, bên dưới hình như là một lưới sắt nhỏ mắt. "Lấy tro không?" Nhà báo gật đầu. Người đàn ông vận áo khoác xám đứng nhìn. Ông cai giật tay aó nhà báo. "Hắn chờ năm peso cho công việc này đấy. Lệ thế mà". Nhà báo thò tay vào túi và đưa ra tờ giấy bạc. Hai hàm răng loé trắng giữa bộ mặt ngăm đen. "Cảm ơn". Ông ta ra hiệu cho họ và, vẫn tuân theo áp lực trên cánh tay, nhà báo lùi lại cho đến khi họ cùng áp sát bức tường xa. Rồi người đàn ông vận áo khoác xám bắt đầu kéo bễ. Thoạt tiên là tiếng sôi ùng ục nhẹ trong lò, rồi chuyển nhanh thành tiếng réo ầm ầm. Cứ như thể sấm rền trong chiếc hộp nhỏ, mà vẫn không thấy ngọn lửa. Chiếc quan tài hầu như chỉ ánh lên trong những luồng khí nóng. Bỗng người đàn ông kéo cánh tay đòn và trong khoảnh khắc hầu như toàn bộ lửa của địa ngục chồm lên. Nhà báo cảm thấy luồng nóng táp vào mặt, nhưng chỉ trong khoảnh khắc, rồi những ngọn lửa biến mất và chiếc quan tài như tanthành đám bụi xám, xẹp dần trong lò. Ông cai giật tay áo nhà báo. "Chúng ta ra ngoài hút thuốc đi. Trước khi hút xong, hắn sẽ mang tro đến". Ông cai nói đúng. Họ chưa hút xong điếu thuốc thì người đàn ông đã ra với chiếc bình nhỏ đựng tro hoả táng bằng sứ xám. Ông ta nhìn ông cai. "Chiếc bình năm peso đấy" ông cai thì thầm như có lỗi. Nhà báo lấy tiền trả. Người đàn ông lại gật đầu cám ơn và đưa chiếc bình cho ông cai. "Giờ chúng ta ra xe" ông cai nói, rồi cho xe quành về phía sau toà nhà. Một chiếc xe nhỏ với con lừa mắt ngái ngủ đang đỗ đấy. Xe đầy rác, bụi và ruồi bay vù vù xung quanh. "Chúng ta đổ tro vào đây". Nhà báo nhìn chiếc xe chằm chằm. Có điều gì đó bỗng kinh lợm trong ông. "Không còn chỗ nào khác à?" Ông cai nhìn ông chằmchằm, gật đầu "Có một trang trại ở bên kia đường. Chỉ năm peso là người nông dân sẽ cho chúng ta rắc tro ở đấy". "Chúng ta đến đó". Họ đi qua cánh đồng khoai, rồi qua đường. Người nông dân xuất hiện như thể từ trong lòng đất, nơi khoai đã mọc lên. Ông ta biến mất ngay khi nhận đồng năm peso. Ông cai đưa chiếc bình ra "Mời ông?" Nhà báo lắc đầu. "Ông biết ông ta chứ ạ?" ông cai hỏi. "Vâng" nhà báo nói. "Tôi biết ông ta". Ông cai mở nắp bình, rắc tro vào trong gió. Lặng lẽ, họ nhìn gió trải tro bay ngang cánh đồng. "Nhảm hết" nhà báo chợt nói "Nhảm hết". "Vì sao, thưa ông?" "Đây là một người hùng" nhà báo nói. "Trái đất rung chuyển khi ông ta bước. Đàn ông yêu ông ta và sợ ông, đàn bà run rẩy trước sức mạnh nơi bắp vế ông ta, người ta tìm kiếm sự chiếu cố của ông ta. Mà giờ không một ai ở đây để tưởng nhớ ông". Nhà báo quay đi. "Ông nói đúng. Người chết là cô đơn". Ông cai lại nắm tay áo ông. Nhà báo quay lại, đối diện ông ta, cảm thấy mệt mỏi và rã rời. Ông mong giá mình đã không thấy mấy dòng thông cáo, đã không đi dưới mặt trời kinh khủng để đến nơi nẻo hãi hùng này, đến cái thế giới không ký ức này. "Thưa ông, không" ông cai nói nhỏ. "Tôi nhầm. Ông ta không cô đơn. Ông ta đã ở đây mà". Mời các bạn đón đọc Những Kẻ Phiêu Lưu của tác giả Harold Robbins.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Sự Hy Sinh Của Thầy Trừ Tà
CẢNH BÁO: KHÔNG ĐƯỢC ĐỌC SAU KHI TRỜI TỐI "Một người nào đó sẽ phải đứng lên để chống lại bóng tối. Và con là người duy nhất có thể." Trong nhiều năm qua, Thầy Trừ Tà Gregory đã giữ cho Hạt an toàn khỏi ma quỷ. Giờ thời gian của ông đã kết thúc, nhưng ai sẽ là người tiếp quản chuyện đó? Hai mươi chín người học việc đã đến thử - một vài người không đạt tiêu chuẩn, một vài người đã bỏ trốn, một vài người đã chết. Chỉ còn lại duy nhất Thomas Ward. Cậu là niềm hy vọng cuối cùng; cậu bé học việc cuối cùng. Liệu Thomas có thành công? Liệu cậu có học được sự khác nhau giữa phù thủy loại lành và phù thủy loại độc? Liệu lời cảnh báo của Thầy Trừ Tà về những cô gái đi giày mũi nhọn có bao gồm cả Alice không? Và điều gì sẽ xảy ra nếu Thomas vô tình giải thoát Mẹ Malkin, phù thủy độc ác nhất ở Hạt…? Câu chuyện đáng sợ đầu tiên trong series Cậu Bé Học Việc và Thầy Trừ Tà. *** Joseph Delaney từng dạy truyền thông và phim ảnh ở một trường trung học tại Blackpool, Anh. Ông sống cùng gia đình ở Lancashire, giữa trung tâm lãnh thổ của ông kẹ. Sự Báo Thù Của Phù Thủy là cuốn tiểu thuyết đầu tay. Truyện được hãng Warner Bros. Pictures mua bản quyền và chuyển thể thành phim với tên Người con trai thứ bảy (The Seventh Son, đạo diễn: Sergei Bodrov). Phim sẽ được phát hành trong đầu năm 2013, có sự tham gia của nam diễn viên Ben Barnes (vai Thomas Ward), Julianne Moore (vai Mẹ Malkin), nam diễn viên Jeff Bridges (vai Thầy Trừ Tà Gregory)… Series Cậu Bé Học Việc và Thầy Trừ Tà do Chibooks xuất bản 2012-2013: Phần 1: Sự Báo Thù Của Phù Thủy (The Spook’s Apprentice) Phần 2: Lời nguyền của Quỷ độc (Spook's Curse) Phần 3: Đêm của Kẻ Đánh Cắp Hồn (The Spook’s Secrect) Phần 4: Đòn Tấn Công của Quỷ Vương (The Spook’s Battle) Phần 5: Cơn Thịnh Nộ của Huyết Nhân (The Spook’s Mistake) Phần 6: Sự Hi Sinh của Thầy Trừ Tà (The Spook’s Sacrifice) Phần 7: The Spook’s Nightmare Phần 8: The Spook’s Destiny Phần 9: The Spook’s I am Grimalkin Phần 10: The Spook’s Stories: Witches Phần 11: The Spook’s Bestiary *** "Phù thủy hả mẹ? Chúng ta liên minh với phù thủy sao?" Là chân học việc của Thầy Trừ Tà, nhiệm vụ hàng đầu của Tom là bảo vệ Hạt khỏi thế lực bóng tối. Nhưng giờ đây mẹ lại cần đến sự giúp sức của cậu tại quê nhà Hy Lạp của bà để nổi dậy chống lại một trong mấy vị Cổ Thần, mụ Ordeen gớm ghiếc. Mẹ đã triệu tập một nhóm hùng hậu để chiến đấu, nhưng trong số đó lại có cả các phù thủy đến từ Pendle. Liệu Tom có thể đi ngược lại tất cả những gì Thầy Trừ Tà đã dạy mà liên minh với kẻ thù hay không? Điều bí mật gì mẹ đang cố giấu cậu ấy? Và điều gì cần phải hy sinh trong trận chiến chống lại bóng tối? Câu chuyện đáng sợ thứ 6 trong series Cậu bé học việc và thầy trừ tà. *** Tôi bừng tỉnh với tâm trạng bồn chồn lo lắng có chuyện gì đó chăng lành. Ngoài trời, những tia sét đánh chằng chịt bên khung cửa, tiếp nối bằng những đợt sấm rền. Trước đây tôi từng ngủ qua những đêm giông bão ở Hạt, nên chắc chắn những thứ ấy không thể làm tôi thức giấc. Không đâu, tôi linh tính có một mối nguy nào đó đang chực chờ ngoài kia. Tôi nhảy phóc ra khỏi giường, đúng lúc chiếc gương ngay cạnhđầu giường tôi đột nhiên sáng hơn lên. Tôi thoáng thấy hình ảnh phản chiếu của ai đó lướt qua rồi nhanh chóng biến mất. Nhưng tôi đã kịp nhận ra khuôn mặt. Là Alice. Dù được đào tạo trong hai năm liền để trở thành phù thủy, Alice vẫn là bạn tôi. Cô bé đã bị Thầy trừ tà xua đuổi nên phải quay trở lại khu đồi Pendle. Tôi nhớ có ghê lắm nhưng vẫn ráng giữ lời hứa với Thầy mình mà tảng lờ mọi nỗ lực liên lạc của cô ấy. Nhưng lần này tôi không thể lờ đi được nữa. Cô ấy đã cố ghi lại lời nhắn trên gương, còn tôi không thể không đọc trước khi dòng chữ phai mất. Maenad là gì nhỉ? Tôi chưa từng nghe đến. Với lại làm sao mà một tên sát thủ bất kỳ nào có thể tiếp cận được tôi khi hắn phải băng qua khu vườn của Thầy trừ tà - nơi luôn được Ông Kẹ thần thánh của Thầy trông chừng? Nếu kẻ nào đó xâm phạm khu vườn, Ông Kẹ ấy sẽ gầm lên một tiếng đến cả cách đó hàng dặm vẫn còn nghe ra, và sẽ xé xác kẻ xâm phạm thành trăm mảnh. Còn nữa, làm sao Alice biết được mối nguy hiểm đó? Cô bé đang ở Pendle cách đây hàng dặm. Tuy vậy, tôi cũng sẽ không làm ngơ lời cảnh báo của cô ấy đâu. Thầy tôi, John Gregory, đã ra ngoài xử lý một hồn ma chuyên gây rắc rối, chỉ còn lại mỗi tôi trong ngôi nhà này. Mà tôi lại chẳng có gì tự vệ trong tay. Thanh trượng cùng túi đồ của tôi đang ở tuốt trong bếp, nên tôi phải đi lấy vậy. Đừng hoảng, tôi tự nhủ. Từ từ bình tĩnh nào. Tôi nhanh chóng mặc quần áo, xỏ chân vào đôi ủng. Tôi nhẹ nhàng mở cửa phòng ngủ và cẩn thận lẻn ra ngoài khu hành lang tối om om ngay lúc tiếng sấm rền vang một lần nữa. Tại đây tôi dừng lại nghe ngóng. Vạn vật im phăng phắc. Thấy chắc ăn rằng chưa có kẻ nào đột nhập vào được trong nhà, nên tôi tiếp tục rón rén đi xuống cầu thang. Tôi lướt qua khu tiền sảnh rồi hướng thẳng vào bếp. Tôi nhét sợi xích bạc vào túi quần, rồi vừa nắm lấy thanh trượng, tôi vừa mở cửa sau để bước ra ngoài. Ông Kẹ đâu nhỉ? Tại sao Ông Kẹ lại không bảo vệ ngôi nhà và khu vườn khỏi kẻ đột nhập? Mưa xối thẳng vào mặt tôi khi tôi đứng chờ, kỹ lưỡng dò mắt qua sân cỏ lẫn cây cối ngoài kia xem có cử động nào không. Mời các bạn đón đọc Cậu Bé Học Việc Và Thầy Trừ Tà Tập 6: Sự Hy Sinh Của Thầy Trừ Tà của tác giả Joseph Delaney.
Và Rồi Núi Vọng
Afghanistan trong Người đua diều (The Kite Runner) là một giấc mơ ấu thơ đẹp đẽ, sự đẹp đẽ được reo rắc, ươm mầm từ những hoài niệm, xót thương, ẩn ức. Cậu bé Amir đi xa Kabul đến vạn dặm vẫn khắc khoải về một góc phố, về một ngôi nhà, về một ấu thơ thấm đẫm nỗi niềm. Người đua diều ngay khi ra mắt đã trở thành hiện tượng xuất bản. Tác phẩm đầu tay của bác sĩ Khaled Hosseini trở thành “best seller” trong nháy mắt. Người Mỹ kinh ngạc và lặng đi trước một Afghanistan đau thương nhưng lấp lánh giấc mơ. Afghanistan trong Và rồi núi vọng (And the Mountains Echoed) là một giấc mơ thăm thẳm đau đớn. Ở đó, đói nghèo đặt dấu vết lên từng nhân vật, chiến tranh tàn phá từng số phận, sự đau khổ, trống rỗng hủy hoại từng cuộc đời. Những số phận mang hình hài Afghan Shadbagh (một địa danh ở Pakistan) không hiểu vì sao được đặt tên cho ngôi làng của Afghanistan - nơi Hosseini bắt đầu câu chuyện của mình. Người cha Saboor nghèo khổ, gia cảnh kiệt quệ sau cái chết của đứa con trai chưa đầy tuổi hồi mùa đông đã quyết định bán cô con gái Pari cho một gia đình giàu có ở Kabul. Hành trình kéo xe của Saboor từ Shadbagh đến Kabul như vô tận, lết theo đó là nỗi tuyệt vọng khôn cùng. Saboor không có sự lựa chọn. Nghèo đói đã trĩu nặng trên vai ông. Sự trong sáng, thơ ngây của 2 đứa con dày vò, hành hạ ông. Và cuộc chia ly ở Kabul đã xô đẩy cuộc đời mỗi người trong số họ theo những hướng khác nhau, Pari ở lại với gia đình giàu có trong cô đơn, trống rỗng. Ông bố Saboor, người anh trai Abdullah trở về Sadbagh trong nỗi đau đớn dày xéo họ suốt phần đời còn lại. Và rồi núi vọng là cuốn sách thứ 3 của bác sĩ Hosseini. Trước đó, anh đã từng viết Người đua diều và Ngàn mặt trời rực rỡ, đều để lại ấn tượng mạnh mẽ về đất nước Afghanistan. Cuốn Người đua diều được chuyển thể thành phim năm 2007. Và rồi núi vọng được kể theo thời gian phi tuyến tính. Mỗi chương là một dấu mốc thời gian. Mỗi dấu mốc thời gian là một cuộc đời. Từ cuộc chia tay Kabul, diễn biến câu chuyện vừa như có sự sắp đặt, vừa như chẳng hề có sự sắp đặt nào. Những nhân vật đến rồi đi. Nhiệm vụ của họ là kể câu chuyện của mình, sứ mệnh của họ là một nút thắt, một dấu chấm trên hành trình cuộc đời đằng đẵng với chằng chịt các mối quan hệ kết nối. Theo nhiều cách, số phận đẩy chúng ta ra xa nhau, rồi kết nối lại bằng những biến cố, bằng những sợi dây vô hình. Những số phận Afghan trong Và rồi núi vọng bị xô đẩy, bị vùi dập, bị hủy hoại, bị chia cắt trong bối cảnh đất nước chiến tranh kéo dài. Cuộc chiến của Mỹ, sự can thiệp của người Nga, sự tàn bạo của Taliban đã chia cắt Afghanistan thành từng số phận nhỏ. Dưới ngòi bút của Hosseini, “ở Kabul, mỗi một dặm vuông có cả ngàn thảm kịch”. Ông lão Nabi bám trụ ở Kabul để chứng kiến cuộc sống thay đổi theo chiến sự. Pari bị xô đẩy đến Pháp với khoảng trống vô tận trong lòng. Abdullah bằng cách nào đó đã đến Mỹ với câu hỏi của cả cuộc đời: em gái đang ở đâu? Anh em Timur, Idris từ Mỹ trở về Afghanistan mang theo những mục đích riêng. Markos vòng quanh thế giới để tìm bản ngã. Gia đình Parwana trôi dạt theo cuộc di cư tị nạn ở Pakistan… Mỗi người trong số họ đều mang những bi kịch riêng, những gương mặt riêng của một người Afghan đặc trưng. Cùng quẫn và bế tắc. Day dứt và bất lực. Đau đớn và kiên cường. Nỗi đau của nhà văn giấu trong từng nhân vật Chất chứa đằng sau mỗi số phận là nỗi xót thương hoang hoải và trĩu nặng tâm tư của tác giả. Tưởng như, nỗi niềm dân tộc, nỗi niềm Afghanistan khiến tác giả đau đớn trong cả những giấc mơ. Khaled Hosseini sinh năm 1965 tại Kabul, Afghanistan. Anh và gia đình rời Kabul sang Paris năm 1976. Năm 1980, gia đình Hosseini được chính phủ Mỹ bảo hộ, họ sang California và định cư tại đó đến nay. Đằng sau một Pari tha hương bé nhỏ, là những con chữ len lỏi nói về sự mạnh mẽ. Đằng sau một Roshi bất hạnh là niềm kiêu hãnh âm thầm về sự kiên cường của dân tộc Afghan. Hay, đằng sau bác sỹ Idris là thấp thoáng những nỗi day dứt, dày vò của chính tác giả, khi tận mắt chứng kiến cả ngàn thảm kịch ở Kabul, Idris trở về Mỹ nhìn cuộc sống giàu sang, xa hoa thấy như lạc lõng, như nực cười, như vô vị. Khi nhìn những đứa trẻ bị bỏ đói, bị hãm hiếp, bị giết hại ở Afghan, cuộc sống nhung lụa ở California bỗng trở nên tội lỗi. Idris đã nghĩ đến việc xây dựng một rạp chiếu phim mini trong nhà, và thấy như muốn khóc khi số tiền đó có thể xây được một ngôi trường ở Afghan. Chỉ tiếc, Hosseini đã quá tham nhân vật, quá tham diễn giải về những số phận, đôi khi, anh để mình lan man, và trượt quá xa câu chuyện chính. Khi độc giả chờ đợi một sự quay về, chờ đợi một lần gặp gỡ, chờ đợi một kịch tính, Hosseini lại để mình lạc đi trong những mối quan hệ rối bời. Kể từ Người đua diều, Ngàn mặt trời rực rỡ đến Và rồi núi vọng, câu chuyện trở đi trở lại với Hosseini, là ở Kabul, cứ một dặm vuông có cả ngàn thảm kịch. Đọc Và rồi núi vọng để thấy, trong từng câu chữ, trong từng nỗi nhớ thương, trong từng hoài niệm, trong cả những nỗi đau đớn khôn nguôi là một giấc mơ Afghan thăm thẳm. *** Khaled Hosseini, là một tiểu thuyết gia và dược sĩ người Hoa Kỳ. Tên tuổi ông trở nên nổi tiếng nhờ hai cuốn tiểu thuyết đầu tay của mình, Người đua diều (2003) và Ngàn mặt trời rực rỡ (2007) bán được 38 triệu bản trên toàn thế giới. Ngoài ra, Người đua diều đã được chuyển thể thành bộ phim cùng tên năm 2007. Năm 2003, Hosseini cho ra mắt cuốn tiểu thuyết đầu tay tên The Kite Runner (nghĩa là: Người đua diều). Cuốn sách là câu chuyện về cậu bé Amir vật lộn để có hàn gắn quan hệ với cha mình và vượt qua nỗi ám ảnh về một sự việc thời thơ ấu. Bối cảnh truyện đặt ở Afghanistan, từ lúc chính quyền Taliban rệu rã đến khi sụp đổ hoàn toàn, và khu vực vịnh San Francisco mà cụ thể là Fremont, California. Trong các chủ đề được nói tới, bao gồm căng thẳng sắc tộc giữa người Hazara và người Pashtun ở Afghanistan, và những trải nghiệm di cư của hai cha con Amir đến Mỹ. Theo thông tin của Nielsen Bookscan, Người đua diều xếp thứ ba trong số những cuốn sách bán chạy nhất tại Mỹ năm 2005. Phiên bản sách nói của cuốn sách được đọc bởi chính tác giả. Tháng 12 năm 2007, bộ phim cùng tên dựa trên cuốn tiểu thuyết được công chiếu. Hosseini có một vai nhỏ khúc gần cuối phim - một người lạ đứng ngoài nhìn Amir mua con diều để sau đó thả với Sohrab. Năm 2008, cuốn sách được chuyển ngữ tiếng Việt và được tái bản năm 2013 xuất bản bởi Nhã Nam và nhà xuất bản Hội Nhà Văn. Tiểu thuyết thứ hai của ông A Thousand Spendid Suns (tạm dịch: Ngàn mặt trời rực rỡ) được phát hành vào năm 2007, cũng lấy bối cảnh tại Afghanistan. Truyện theo dõi sự giao thoa giữa hai số phận của hai người phụ nữ cách nhau một thế hệ, Mariam và Laila. Thời gian trong tiểu thuyết từ lúc Afghanistan chịu sự chiếm đóng của Xô Viết, đến những năm dưới ách Taliban và hậu Taliban. Nhà sản xuất Scott Rudin và hãng Columbia Pictures đã mua quyền chuyển thể cuốn sách thành phim. Năm 2010, tiểu thuyết được dịch sang tiếng Việt và xuất bản bởi Nhã Nam và nhà xuất bản Hội Nhà Văn. Các tác phẩm được dịch, xuất bản tại Việt Nam: Người Đua Diều Ngàn Mặt Trời Rực Rỡ Và Rồi Núi Vọng ... Mời các bạn đón đọc Và Rồi Núi Vọng của tác giả Khaled Hosseini.
Whiney Yêu Dấu
Niềm say mê trẻ con của Whitney Stone đối với anh chàng hàng xóm đã khiến người cha lạnh nhạt, không tình cảm đẩy nàng đến Paris để sống cùng với dì và chú. Dưới sự chỉ dẫn đầy yêu thương, cô gái trẻ đã trở thành một người đẹp mê hồn và được cả xã hội Paris hoa lệ yêu quý... Công tước Claymore đẹp trai và quyền lực đã quyết tâm biến nàng thành vợ mình. Bất chấp sự quan tâm nhiệt thành của Công tước, Whitney vẫn kiên định với tình yêu thời thơ ấu. Cho đến khi nàng nhận thấy mình bị Công tước cuốn hút, sự cuốn hút vừa khiến nàng vừa thích thú vừa hoang mang. Nhưng Công tước không hề có chút băn khoăn. Chàng muốn Whitney và chàng đã lên kế hoạch để giành lấy nàng, bấp chấp vô số ngáng trở, bao gồm cả lòng mê đắm của Whitney với một chàng trai khác, sự lo lắng ngày càng tăng của dì nàng và những nỗ lực vụng về của người cha tham lam nhằm kiểm soát đứa con gái xinh đẹp của mình. Đam mê bốc cháy giữa Công tước và cô gái trẻ, nhưng Whitney không dễ dàng khuất phục trước 'ông chủ' của mình. Những hiểu lầm và sự phản bội ám ảnh cả Whitney và Clayton. Phải chăng "Tình yêu có thể chiến thắng được tất cả"? Nhưng để hạnh phúc đơm hoa kết trái, họ sẽ phải vượt qua một đầm lầy hiểu lầm đe dọa bất cứ hy vọng nào về một kết thúc hạnh phúc. "Trong vòng mười lăm năm kể từ khi Whitney yêu dấu được phát hành lần đầu tiên, tôi đã phải cưỡng lại mong muốn viết một tập tiếp theo, nhưng tôi cũng luôn ước rằng mình đã không kết thúc câu chuyện khá đột ngột như đã làm. Tôi thấy rằng mình có thể bổ sung một số cảnh tuyệt vời và kéo dài những cảnh khác, nhưng tôi không hề nghĩ mình có cơ hội làm điều đó. Quyết định tái bản Whitney yêu dấu như một ấn phẩm đặc biệt mang lại cho tôi cơ hội đó, tôi hy vọng các bạn cũng thích thú thưởng thức ấn phẩm mới có bổ sung này nhiều như tôi thích thú mang lại nó cho bạn." (Judith McNaught) *** Nhận định "Judith McNaught là một đẳng cấp riêng." - USA Today "Tác giả ăn khách bậc nhất New York Times đã khéo léo dệt nên một câu chuyện ly kỳ đắm chìm trong bầu không khí căng thẳng hồi hộp, đầy những nhân vật không thể quên và chằng chịt những mạch ngầm dữ dội của khát khao, tham vọng." - Amazon.com "Một câu chuyện tình yêu đích thực hòa trộn giữa sự hài hước, hồi hộp, bí ẩn và lãng mạn khôn cùng."- Regan *** JUDITH McNAUGHT (1944) được xem là một trong những tác giả được yêu thích nhất mọi thời đại với thể loại tiểu thuyết lãng mạn cổ điển. Trước khi bước vào sự nghiệp viết lách, McNaught đã thành công trong lĩnh vực phát thanh, điện ảnh và tài chính. Bà đã quyên góp và làm rất nhiều việc từ thiện. Judith McNaught hiện đang sống ở Houston, Texas. Tác phẩm: Hơn Cả Tuyệt Vời Như Cõi Thiên Đường 11 Năm chờ 11 Tuần yêu Ai Đó Dõi Theo Em Whitney Yêu Dấu Vương Quốc Của Những Giấc Mơ Em Có Để Ta Hôn Em Không? Hạnh Phúc Nhân Đôi Tender Triumph Trong Từng Hơi Thở Tiếng Sét Xanh Định Mệnh Yêu Em Cho Đến Hơi Thở Cuối Cùng Một Lần Và Mãi Mãi Điều Kỳ Diệu Remember When Thiên Đường ... *** Trong cỗ xe du hành sang trọng lắc lư nhè nhẹ trên con đường mòn ngoại ô, Quý bà Anne Gilbert tựa má vào vai chồng và thốt ra một tiếng thở dài nóng ruột. “Phải đến cả tiếng đồng hồ nữa chúng ta mới đến nơi, vậy mà sự chờ đợi đã gần như ăn mòn em. Em đang băn khoăn bây giờ Whitney trông như thế nào khi cô bé đã lớn”   Bà chìm vào im lặng và lơ đãng nhìn khung cảnh miền quê xanh tươi của nước Anh trôi qua cửa sổ xe bao phủ bởi hoa mao địa hoàng màu hồng và hoa mao lương vàng hoang dại, trong khi cố gắng hình dung đứa cháu gái bà đã không gặp gần 11 năm qua.   “Cô bé sẽ rất đẹp, như mẹ của nó. Và cô bé sẽ có nụ cười, sự dịu dàng và tính tình ngọt ngào của mẹ nó…”   Quý ông Edward ném một cái nhìn ngờ vực cho vợ mình. “Tính tình ngọt ngào?” ông lặp lại với vẻ nghi ngờ hài hước. “Đó không phải những gì mà cha cô bé nói trong lá thư của ông ấy.”   Là một nhà ngoại giao đại diện cho Lãnh sự quán Anh ở Paris, Ngài Gilbert là một bậc thầy với những lời bóng gió, nói tránh, ám chỉ và hàm ý. Nhưng trong cuộc sống riêng, ông thích lựa chọn dễ chịu là thẳng thắn nói lên sự thật. “Cho phép anh gợi lại trí nhớ của em,” ông nói, dò dẫm trong túi quần và rút ra lá thư từ cha của Whitney. Ông đẩy đôi kính mắt lên sống mũi, và phớt lờ vẻ nhăn nhó của vợ, ông bắt đầu đọc: “‘Cách cư xử của Whitney là một sự sỉ nhục, những hành vi của con bé thật đáng bị chỉ trích. Nó là một con bé lanh chanh ngỗ ngược, là sự thất vọng đối với tất cả những người nó quen và là một nỗi xấu hổ của tôi. Tôi xin cô đưa con bé đến Paris với cô, hy vọng rằng cô có thể thành công hơi tôi với đứa bé ngang bướng này.’”   Edward cười khoái trá. “Chỉ cho anh chỗ nào nói cô bé có ‘tính khí ngọt ngào.’”   Vợ ông quăng cho ông một cái nhìn dằn dỗi. “Martin Stone là một người đàn ông lạnh lùng và không có cảm giác, không nhận ra sự dịu dàng và phẩm chất tốt đẹp cho dù Whitney có! Chỉ cần nghĩ đến cách ông ta mắng cô bé và bắt nó về phòng ngay sau đám ma của chị gái em.”   Edward nhận ra sự ngoan cố biểu hiện trên cằm của vợ và vòng tay ôm vai bà trong một cử chỉ hòa giải. “Anh cũng không thích người đàn ông đó hơn em, nhưng em phải thừa nhận là, vừa mới mất người vợ trẻ trong một đám tang sớm, lại bị đứa con gái buộc tội, ngay trước mặt năm mươi người, là đã nhốt mẹ nó vào một cái hộp vì vậy bà ấy không thể đi ra đã khiến ông ta khá bối rối.”   “Nhưng Whitney vừa mới năm tuổi đầu!” Anne nóng nảy phản đối. .... Mời các bạn đón đọc Whiney Yêu Dấu của tác giả Judith McNaught.
Vương Quốc Của Những Giấc Mơ
Vương Quốc Của Những Giấc Mơ là một cuốn tiểu thuyết lãng mạn lịch sử bán chạy nhất năm 1989 của New York Times được viết bởi tác giả người Mỹ Judith McNaught. Nó được thiết lập trong đầu thế kỷ 16. Vương Quốc Của Những Giấc Mơ được sáng tác sau khi JM viết hai cuốn là Whiney Yêu Dấu và Em Có Để Ta Hôn Em Không? nói về nhà Westmoreland, nhưng lại đưa độc giả ngược dòng thời gian trở về điểm xuất phát của dòng họ danh giá này - vị công tước đầu tiên của dòng họ. Cuộc thương lượng của Sói... "Chàng đã nói em quá kiêu hãnh và em - em đúng là như vậy" Jennifer nói, đặt bàn tay nàng lên ngực Royce trong một cử chỉ cầu xin vô vọng. "Nếu chàng để em gái em đi, em sẽ làm mọi việc mà chàng sai bảo. Em sẽ cọ sàn nhà. Em sẽ đợi chàng bên bàn ăn. Em thề là em sẽ đền ơn chàng bằng mọi cách." Royce nhìn xuống bàn tay bé nhỏ, xinh đẹp đang đặt trên ngực mình; hơi ấm thấm qua áo chẽn của chàng, ham muốn đã làm các thớ thịt của chàng cứng lại. "Làm ơn," Jenny thì thầm, "em sẽ làm bất cứ điều gì. Chàng chỉ cần nói chàng muốn gì." "Ta muốn nàng trên giường của ta." Bàn tay của Jennifer trượt khỏi ngực áo chàng. Đằng sau họ tiếng ho của em gái nàng đã lên đến một âm vực khủng khiếp và Jenny rùng mình lo lắng. "Chúng ta sẽ thoả thuận với nhau chứ?" chàng hỏi, và khi nàng ngập ngừng, chàng nói một cách bình tĩnh, "Thật ra, ta hoàn toàn không cần phải mặc cả với nàng gì cả, Jennifer, và nàng biết điều đó. Ta muốn nàng, và nếu điều đó làm cho ta trở thành một kẻ man rợ trong mắt nàng, thì ta cũng mặc xác, nhưng mọi chuyện không cần phải như vậy. Sẽ không có sự nhục nhã hay đau đớn nào dành cho nàng trên giường của ta. Sẽ chỉ có niềm vui thú." Jenny nhớ lại những lần trước đây khi mà chàng ôm nàng, hôn nàng - và những phản ứng đáng kinh ngạc của chính nàng. Máu bắt đầu dồn lên mặt nàng. "Chúng ta thoả thuận với nhau chứ?" Royce hỏi, những ngón tay dài của chàng trượt dọc theo cánh tay nàng vuốt ve một cách vô thức... *** Nhận định "Judith McNaught là một đẳng cấp riêng." - USA Today "Tác giả ăn khách bậc nhất New York Times đã khéo léo dệt nên một câu chuyện ly kỳ đắm chìm trong bầu không khí căng thẳng hồi hộp, đầy những nhân vật không thể quên và chằng chịt những mạch ngầm dữ dội của khát khao, tham vọng." - Amazon.com "Một câu chuyện tình yêu đích thực hòa trộn giữa sự hài hước, hồi hộp, bí ẩn và lãng mạn khôn cùng."- Regan *** JUDITH McNAUGHT (1944) được xem là một trong những tác giả được yêu thích nhất mọi thời đại với thể loại tiểu thuyết lãng mạn cổ điển. Trước khi bước vào sự nghiệp viết lách, McNaught đã thành công trong lĩnh vực phát thanh, điện ảnh và tài chính. Bà đã quyên góp và làm rất nhiều việc từ thiện. Judith McNaught hiện đang sống ở Houston, Texas. Tác phẩm: Hơn Cả Tuyệt Vời Như Cõi Thiên Đường 11 Năm chờ 11 Tuần yêu Ai Đó Dõi Theo Em Whitney Yêu Dấu Vương Quốc Của Những Giấc Mơ Em Có Để Ta Hôn Em Không? Hạnh Phúc Nhân Đôi Tender Triumph Trong Từng Hơi Thở Tiếng Sét Xanh Định Mệnh Yêu Em Cho Đến Hơi Thở Cuối Cùng Một Lần Và Mãi Mãi Điều Kỳ Diệu Remember When Thiên Đường ... *** Tháng 1, năm 1499 “Đại sảnh trống rỗng như thế này kì cục quá,” Stefan nói đùa, liếc nhìn về phía hai mươi lăm người vừa kết thúc bữa ăn tối no nê, trong đó có cả mười lăm vệ sĩ riêng của Royce. “Những con gấu nhảy múa đâu rồi, em yêu?” Royce châm biếm, đặt cánh tay lên lưng ghế của Jenny và cười với nàng. Bất chấp lời nói đùa về những chú gấy của chàng, Royce chưa từng bao giờ tận hưởng một mùa Giáng Sinh như chàng đã có năm nay. Nàng cười, bàn tay đặt lên bụng, “trông em cứ như là em vừa nuốt phải một con ấy.” Bất chấp việc nàng đang mang thai, Jenny vẫn khăng khăng rằng Claymore và mọi dân cư của nó đều nên kỉ niệm mười bốn ngày từ Đêm Giáng sinh cho đến Lễ phục sinh theo cách truyền thống, tức là giữ “căn nhà rộng cửa.” Kết quả là, trong suốt tám ngày qua, tiệc tùng diễn ra không ngớt, và bất kì vị khách qua đường nào đến cánh cổng của Claymore đều được chào đón như người nhà. Đêm qua, lâu đài đã có một buổi lễ ăn mừng rất lớn dành cho người hầu và lính của Royce, cũng như các dân làng. Bữa tiệc có âm nhạc và các bài hát mừng giáng sinh của những người hát rong, biểu diễn xiếc gấu, hề, nhào lộn, và thậm chí cả một vở kịch Chúa giáng sinh nữa. Jenny đã lấp đầy cuộc sống của chàng với tiếng cười và tình yêu, và nàng sẽ tặng cho chàng, có thể vào bất kì giây phút nào sắp tới đây, đứa con đầu tiên của họ. Sự thoả mãn của Royce là vô biên - nhiều đến nỗi cả trò hề của Gawin cũng không làm chàng thấy phiền đêm nay. Để chiều theo ý muốn kỉ niệm mùa giáng sinh theo cách truyền thống của Jenny, Gawin đã đảm nhận vai trò Lãnh chúa Nghịch đảo - có nghĩa là trong vòng ba ngày, cậu ta sẽ ngồi ghế chủ toạ trên cái bàn cao, ở đó vai trò mới cho phép cậu ta nhại lại chủ nhân của mình, ban ra những mệnh lệnh kì quặc, và nói chung là cố gắng làm và nói những điều mà thể khiến Royce tống khứ cậu ta khỏi Claymore. Vào lúc này, Gawin đang ngồi uể oải trên ghế của Royce ở giữa bàn, cánh tay vòng qua lưng ghế bà dì Elinor nhái theo cách Royce đang ngồi cạnh Jennifer. “Công tước,” cậu ta nói, nhại lại giọng nói khẩn trương của Royce khi chàng muốn được tuân lệnh ngay lập tức, “có vài người trong chúng tôi muốn được trả lời cho một câu đố.” Royce nhướn mày về phía cậu ta và chờ đợi câu hỏi một cách cam chịu. “Có đúng là,” Gawin hỏi, “ngài được gọi là Sói bởi vì ngài đã giết con quái vật ấy lúc tám tuổi và đã ăn mắt nó trong bữa tối không?” Jenny cười khùng khục, và Royce ném cho nàng một cái nhìn chống đối giả vờ. “Thưa lệnh bà,” chàng nói, “bà cuời như thế có phải vì nghi ngờ tôi không đủ khoẻ để giết con thú ấy vào lúc quá nhỏ tuổi hay chăng?” “Không, thưa đức ông,” Jenny khúc khích cười, chia sẻ một cái nhìn hiểu biết với Godfrey, Eustace, và Lionel, “nhưng đối với một người thà bỏ bữa còn hơn phải ăn những thức ăn không ngon, tôi không thể tưởng tượng cảnh đức ông ăn mắt của bất cứ cái gì!” .... Mời các bạn đón đọc Vương Quốc Của Những Giấc Mơ của tác giả Judith McNaught.