Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Cuộc Chiến Disney - James B. Stewart

Đây là câu chuyện mê hoặc về một trong những công ty giải trí và truyền thông quyền lực nhất nước Mỹ, về những người lãnh đạo nó cũng như những người muốn lật đổ chế độ cai trị đó. Một câu chuyện đầy những nút thắt, những nhân vật để đời và đạt tới đỉnh cao ly kỳ, hồi hộp đến mức hoàn toàn có thể là chủ đề cho một bộ phim thần thoại về Disney, chỉ có điều chúng hoàn toàn là sự thật. Các bạn sẽ được chứng kiến quá trình ra đời của những bộ phim huyền thoại như Nàng tiên cá, Người đẹp và Quái thú, Vua Sư tử, Aladdin và cây đèn thần, Câu chuyện đồ chơi, Cướp biển vùng Ca-ri-bê. Các bạn sẽ được gặp lại những cái tên đình đám như Tom Hanks, Steve Jobs, Pixar, Johnny Depp. Cùng với đó là lịch sử hoạt động suốt 20 năm của Disney, từ năm 1984 đến năm 2003, dưới sự dẫn dắt của Michael Eisner, tràn đầy những thăng trầm, những cuộc chiến phe cánh, tranh giành quyền lợi, chức vụ, những chiến lược kinh doanh, v.v. Có thể nói, toàn bộ cuốn sách là một vở kịch bi tráng và sống động về quá trình phát triển của Disney, một trong những đế chế có ảnh hưởng nhất thế giới.         *** Roy E. Disney lái chiếc Ferrari đỏ đời 1999 vào bãi đỗ xe của quán rượu Bodega ở Pasadena. Đó là buổi chiều muộn ngày thứ Năm, 20 tháng Mười một năm 2003, một tuần trước lễ Tạ ơn. Roy thích chiếc Ferrari này. Nó là một trong số bằng chứng ít ỏi cho thấy cháu của Walt Disney huyền thoại, người đàn ông 73 tuổi giản dị và khiêm tốn này là một trong những người giàu có nhất nước Mỹ. Nó luôn là chiếc xe nổi bật nhất trên bãi đỗ của Disney, nơi Roy được dành riêng một chỗ cạnh Michael Eisner, chủ tịch kiêm giám đốc điều hành của công ty. Chính nhờ nó mà mọi người luôn biết khi nào Roy đang có mặt ở trụ sở. Roy căm ghét tòa nhà “Team Disney.” Nó được thiết kế bởi kiến trúc sư nổi danh Michael Graves theo chỉ thị của Eisner để làm trụ sở của công ty Walt Disney. Dù mặt trước đồ sộ đã được làm nhẹ bớt bằng các bức phù điêu đắp nổi hình bảy chú lùn, nhưng đối với Roy, nó vẫn đại diện cho tất cả sự phô trương và kệch cỡm mà Eisner đã tạo ra ở đây. Cũng như với rất nhiều thứ khác, Roy luôn băn khoăn không biết liệu chú Walt của mình sẽ nghĩ sao. Văn phòng của Walt vẫn ở đó, trong tòa nhà cũ, giản dị của xưởng phim hoạt hình. Eisner cũng từng dùng nó làm văn phòng của ông ta trước khi chuyển tới trụ sở mới này. Giờ đây Roy lại chuyển về đó. Nó khiến ông cảm thấy thoải mái hơn tòa nhà đồ sộ và khô khan mà ông vẫn đùa là mỗi khi bước vào ông phải rải vụn bánh mì làm dấu đường thì mới tìm được lối ra. Vài tháng gần đây, Roy đã thực sự tách mình ra khỏi Eisner và các lãnh đạo cấp cao khác của công ty. Mặc dù gần 20 năm trước, chính ông là người đã đưa Eisner tới Disney, nhưng giờ đây ông cảm thấy mình đang bị người đàn ông này lừa dối và phản bội. Eisner đến với Disney sau thành công chói lọi trong ngành sản xuất chương trình truyền hình ở kênh truyền hình ABC và sau đó là sản xuất phim tại hãng phim Paramount Pictures. Nhưng giờ thì Roy cho rằng những thành công rực rỡ mà Eisner có được trước đó chẳng qua là nhờ may mắn gặp được những đối tác ăn ý: Barry Diller ở ABC và Paramount; sau đó là Frank Wells và Jeffrey Katzenberg trong những năm đầu thành công đáng kinh ngạc ở Disney. Kể từ khi Wells qua đời trong một tai nạn máy bay thương tâm vào năm 1994, còn Katzenberg phải ra đi trong cay đắng liền sau đó, trách nhiệm đối với Disney đổ dồn lên một mình Eisner. Theo cách nhìn nhận của Roy thì tình cảnh đó đã dẫn đến những hậu quả vô cùng tồi tệ. Khi cả sức mạnh tài chính lẫn năng lực sáng tạo của công ty đều đi xuống, Eisner lại khư khư giữ lấy quyền lực như một kẻ quẫn trí, cho rằng ông ta và chỉ mình ông ta là sở hữu khả năng sáng tạo thiên bẩm cùng những kỹ năng quản lý cần thiết để dẫn dắt Disney trở thành tập đoàn giải trí và truyền thông của thế kỷ XXI. Eisner còn tự cho mình là người thừa kế ngôi vị của Walt, xuất hiện hàng tuần trên màn hình ti vi trong phòng khách của các gia đình Mỹ với tư cách người dẫn chương trình “The Wonderful World of Disney” (Thế giới kỳ diệu của Disney), hệt như những gì Walt đã từng làm. Về phương diện này, Roy cảm thấy Eisner chỉ là mắt xích tiếp theo trong chuỗi dài những kẻ dám tự vỗ ngực cho rằng mình có thể ngồi vào ngôi vị của Walt. Đôi khi ông băn khoăn tự hỏi, tại sao lại có quá nhiều người muốn là hiện thân của Walt đến vậy? Chẳng ai lượn quanh Hollywood để rao giảng rằng mình là Louis B. Mayer(1) hay Cecil B. DeMille(2) cả. Điều gì khiến bọn họ ảo tưởng rằng mình là người phù hợp để thay thế Walt? Đầu tiên là E. Cardon Walker, rồi đến con rể của Walt, Ron Miller – chủ tịch và giám đốc điều hành của Disney, những kẻ lúc nào cũng lôi những kỷ niệm về Walt ra để làm bệ phóng. Sau đó lại đến Jeffry Katzenberg, kẻ tự cho mình là người thừa kế của Walt trong vai trò người đứng đầu xưởng phim Disney. Tất cả bọn họ đều đã đi quá giới hạn; mỗi lần như vậy Roy lại buộc phải ra tay can thiệp, và họ đã bị thay thế. Giờ thì tới lượt Eisner, ông ta lại đang lần lượt bỏ qua tất cả các giới hạn. Roy không tự cho mình là Walt, nhưng nếu có ai đó được quyền thừa kế di sản mà Walt để lại thì người đó phải là ông. Trước toàn thế giới ông vẫn là hiện thân của công ty Disney và những gì mà nó đại diện, là người lãnh đạo cuối cùng của công ty còn mang họ Disney. Chỉ một tháng trước đây, trong lễ khai trương trò chơi mới tại Walt Disney World mang tên “Misson: SPACE,” Eisner còn công khai thay mặt công ty ca ngợi những đóng góp của Roy và được tán thưởng bằng những tràng pháo tay vang rền. Dường như đám đông luôn hưởng ứng Roy, có lẽ là bởi, ở tuổi 73, ông có vẻ bề ngoài rất giống Walt. Thế nhưng ẩn sau những lời ca tụng công khai của Eisner lại là sự thù nghịch cá nhân ngày một dâng cao. Khi Jane, vợ của Eisner đi ngang qua Roy và vợ ông, Patty, ngay trước khi bài phát biểu của Eisner bắt đầu, họ đã cố tình lờ nhau đi. Từ lâu Roy đã thôi không tham dự các buổi họp giao ban hàng tuần của Eisner với các lãnh đạo cao cấp khác của Disney, hay những bữa trưa mà Eisner dành để thông báo với Roy về các kế hoạch và chiến lược của công ty nữa. Roy đã không còn tin tưởng Eisner sau khi biết rằng ông ta đã cài cắm một gián điệp để theo dõi mọi lời nói và hành động của ông ở xưởng phim hoạt hình. Gần đây họ còn tránh không nói chuyện với nhau tại buổi công chiếu bộ phim Brother Bear (Anh em nhà Gấu) – tác phẩm hoạt hình mới nhất của Disney, mà theo Roy là rất tầm thường. Tệ hơn cả, năm đó Eisner đã không xuất hiện trong buổi lễ trao giải Disney Legends mà Edna, mẹ của Roy, cùng Lillian, góa phụ của Walt được trao giải còn Roy là người thay mặt gia đình lên nhận giải. Đó là lần đầu tiên Eisner không tham dự sự kiện thường niên này. Liền sau đó, những lời đồn thổi lan đi khắp công ty rằng chủ tịch và phó chủ tịch của Disney đã không còn nói chuyện với nhau nữa. Roy chẳng hề trông đợi cuộc gặp gỡ sắp diễn ra tại quán rượu với John Bryson, chủ tịch kiêm giám đốc điều hành của Edison International, công ty mẹ của Southern California Edison. Bryson tham gia hội đồng quản trị của Disney vào năm 2000 và sau đó trở thành chủ tịch ủy ban đề cử và kiểm soát đầy quyền lực của công ty. Tại các cuộc họp của hội đồng quản trị, Roy hiếm khi lên tiếng. Nhưng đồng minh, đối tác, luật sư của Roy, đồng thời cũng là thành viên của hội đồng quản trị, Stanley Gold, đã bù đắp lại sự kiệm lời đó của ông. Suốt nhiều năm, Gold luôn kịch liệt phê phán phong cách điều hành cùng kết quả tài chính của công ty. Nhưng những lời chỉ trích của ông tại hội đồng giống như nước đổ lá khoai. Các thành viên hội đồng dường như luôn mù quáng ủng hộ Eisner. Những người không ủng hộ ông ta, như Andrea Van de Kamp và Reveta Bowers, đều đã bị thanh lọc. Những gì đã xảy ra với họ cũng là sự cảnh báo cho những người còn ở lại về những điều có thể xảy ra với những kẻ bất phục tùng. Roy đặc biệt nghi ngờ Bryson, bề tôi trung thành của Eisner, kẻ đã thay thế Gold làm chủ tịch ủy ban kiểm soát và sau đó đẩy ông ra khỏi ủy ban luôn. Bắt đầu từ tháng Chín năm ngoái, Gold đã gửi hàng loạt thư chỉ trích kết quả làm việc và chế độ lương thưởng của Eisner tới các thành viên hội đồng. Ông và Roy cho rằng những chỉ trích bằng văn bản sẽ khó mà bị tảng lờ, đồng thời cũng muốn làm rõ quan điểm của mình. Gần đây nhất, Gold và Roy đã phản đối khoản tiền thưởng 5 triệu đô la dành cho Eisner trong một năm mà thu nhập từ hoạt động kinh doanh của công ty giảm tới 25% còn giá cổ phiếu thì chạm mức đáy trong vòng 52 tuần. Vài ngày trước đó Bryson đã gọi cho Roy. “Tôi cần nói chuyện riêng với ông,” Bryson nói và khăng khăng đòi hẹn gặp tại một địa điểm kín đáo để không bị ai nhìn thấy. Roy đã đồng ý, dù cho rằng trong giọng nói của Bryson có âm vực của sự “chết chóc.” Ông lo sợ rằng những kẻ trung thành với Eisner đang cố loại trừ Gold. Không khí của các cuộc họp hội đồng gần đây đã trở nên ngày một căng thẳng. “Mình phải làm sao để bảo vệ ông ấy đây?” Roy băn khoăn về Gold khi bước vào quán rượu. Ông không thể hiểu nổi tại sao hội đồng lại muốn loại bỏ tiếng nói đối lập cuối cùng còn sót lại. Vừa gọi đồ uống xong, Bryson mở đầu ngắn gọn rồi đi thẳng vào vấn đề. “Ông biết đấy, Roy, ông đã quá tuổi nghỉ hưu rồi đó,” Bryson nói. Roy sửng sốt trước sự thẳng thắn của Bryson, ông lẩm bẩm điều gì đó không rõ nghĩa. Phải, về mặt nguyên tắc là như vậy, bởi tuổi về hưu quy định là 72, mà Roy thì đã 73. Nhưng nó không áp dụng với các thành viên hội đồng quản trị kiêm nhiệm các chức vụ điều hành trong công ty, mà ông lại là trưởng bộ phận phim hoạt hình. Disney nổi tiếng một phần cũng vì rất nhiều nhân viên có tuổi đời cao. “Ủy ban đã họp,” Bryson tiếp lời, “Tom Murphy và Ray Watson sẽ rút lui.” Murphy, cựu chủ tịch Capital Cities/ABC, đã tham gia hội đồng quản trị sau khi Disney mua lại ABC vào năm 1995; còn Watson, chủ tịch của Disney trước khi Eisner nhận chức vào năm 1984, là thành viên thâm niên nhất tại hội đồng, chỉ sau Roy. Cả hai đều đã quá tuổi 72. Roy không ngạc nhiên về chuyện đó bởi họ đều đã cho ông biết trước kế hoạch nghỉ hưu của mình. “Chúng tôi đã cùng kết luận là ông không nên tái tranh cử nữa,” Bryson nói. Roy nhìn ông ta mà không tin nổi vào mắt mình. Ông không nói nên lời. Ông cảm thấy như có một mũi dao đang đâm thẳng vào tim. Chưa một giây phút nào ông thoáng có ý nghĩ rằng hội đồng sẽ đi xa tới mức này. Không chỉ bởi ông vẫn là một trong những cổ đông lớn nhất của công ty, mà còn bởi ông đã cống hiến 50 năm cuộc đời mình cho Disney. Ông là mối dây liên hệ trực tiếp duy nhất với Walt trong hội đồng. Chú Walt từng kể truyện cổ tích và đọc “Pinocchio” cho ông nghe khi ông còn nhỏ. Chính cha ông và Walt đã cùng nhau gây dựng Disney. Có một sự im lặng ngượng ngùng. Cuối cùng Bryson nói, “Tôi từng phải nói điều tương tự với Warren Christopher,” ý nói tới cựu ngoại trưởng của tổng thống Bill Clinton khi ông này đến tuổi về hưu trong khi đang là thành viên hội đồng quản trị của Edison. “Anh tốt thật nhỉ?” Roy nói. “Đương nhiên, ông có thể là thành viên danh dự suốt đời,” Bryson nói. “Chúng tôi vẫn muốn ông xuất hiện tại các công viên hay các sự kiện đặc biệt…” Roy cắt lời Bryson bằng tiếng cười lớn. Nghĩa là họ vẫn muốn phô trương ông giống như một nhân vật hoạt hình của Disney. Thật là một sự sỉ nhục! Lại một hồi im lặng kéo dài. Chẳng nghi ngờ gì là họ cho rằng ông sẽ ra đi lặng lẽ, ẩn giật tại lâu đài của mình ở Ai Len hay trên chiếc du thuyền cho qua ngày đoạn tháng. Nhưng bất chấp tuổi tác, Roy vẫn thấy mình tràn đầy năng lượng cùng lòng quyết tâm. Suốt cuộc đời ông đã luôn bị đánh giá thấp. Chuyện này đã từng xảy ra rồi. Nhưng nó sẽ không thể lặp lại nữa. Ông chỉ còn một điều duy nhất để nói: “Anh đang mắc một sai lầm nghiêm trọng đấy,” ông nói khi nhìn thẳng vào Bryson. “Và anh sẽ phải hối hận vì đã làm thế.” Rồi ông đứng dậy và bước thẳng ra ngoài. Đó là một ngày cuối tháng Năm, trời rất trong xanh, ở trung tâm Florida. Mới 10 giờ sáng mà nhiệt kế đã chỉ đến 32 độ còn độ ẩm thì cũng ở mức tương tự. Chẳng cần vận dụng nhiều trí tưởng tượng thì cũng có thể tin rằng Disney’s Animal Kingdom, một trong bốn công viên giải trí theo chủ đề của Walt Disney World, thực ra đang nằm ở vùng châu Phi nhiệt đới. Goofy đang đứng ngay bên ngoài hàng rào, sẵn sàng tiến vào trong công viên. Giống như du khách tại các khu bảo tồn động vật hoang dã ở châu Phi mong mỏi được nhìn thấy một trong “Bộ Năm(3)” loài động vật nổi tiếng nhất nơi đây, khách tham quan Animal Kingdom cũng mong mỏi được trông thấy “Bộ Năm” ngôi sao của Disney – Mickey, Minnie, Donald, Pluto, và Goofy, các nhân vật hoạt hình nổi tiếng nhất và được xin chữ ký nhiều nhất. Goofy là một chú chó, đương nhiên, chú có lông, cái mõm dài, hai tai mềm mượt, bụng hơi phệ cùng đôi bàn chân lớn. Chú cũng là nhân vật cao lớn nhất trong Bộ Năm, những trên một mét tám. Hôm nay chú được hóa trang để trình diễn tại Animal Kingdom. Chú đội một chiếc mũ mềm vành rộng, giày đi bộ và tất, quần soóc màu vàng chanh in hình khủng long, áo sơ mi kẻ ca rô đỏ, dây đeo quần và khăn quàng cổ bằng vải ka ki. Điều mà nhiều người không nhận ra là tầm nhìn của Goofy rất hạn chế. Đôi tai dài khiến chú khó mà nhìn được sang hai bên, cái mũi quá khổ lại cản trở tầm nhìn phía trước. Thứ chú nhìn thấy nhiều nhất có lẽ là mặt đất ở quanh chân mình. May mắn thay, Goofy có hai người dẫn đường giúp chú bước vào trong công viên. Họ mở cửa và nhẹ nhàng đẩy chú về phía trước. Chú phải cúi thấp người mới bước lọt qua. Goofy không biết chắc mình đang ở đâu, nhưng chú nghe thấy những giọng nói vọng lại từ xa. Chú thấy hồi hộp. Chú có thể cảm thấy tim mình đang đập thình thịch. Chỉ vài giây sau, chú bắt đầu nghe thấy những tiếng reo hò: “Goofy kìa!” Chú nghe thấy nhiều giọng trẻ con hơn và còn thấy một vài đứa đang chạy lại phía mình. Chú vẫy vẫy tay và biểu diễn màn “đi bộ kiểu Goofy,”điệu bộ ngớ ngẩn vừa đi vừa nhảy cẫng lên đó là một trong những đặc điểm nổi bật nhất của chú. Lũ trẻ lập tức bị mê hoặc! Chúng chạy tới đông hơn, các ông bố bà mẹ từ từ bắt kịp chúng ở đằng sau. Đột nhiên Goofy nhìn thấy một cô bé đang tiến dần về phía mình. Trông cô bé chỉ khoảng 5 hay 6 tuổi và có vẻ hơi sợ sệt. Khi tới nơi cô bé ngượng ngùng đưa ra cuốn sổ xin chữ ký và một cái bút. Goofy vụng về quặp lấy bút và ký vào một trang còn trống, cẩn thận kéo dài đuôi chữ f để nó luôn là nét nổi bật nhất làm nên chữ ký của Goofy. Thật là nhẹ nhõm khi chó không thể nói chuyện được. “Ôm Goofy đi con!” Một giọng người lớn cất lên. Cô gái nhỏ trông có vẻ hơi lo lắng, nhưng Goofy mở rộng cánh tay, và cô bé tiến đến sát gần chú. Chú trao cho cô bé một cái ôm dịu dàng. Thế rồi, trong một khoảnh khắc, Goofy nhìn thấy rõ gương mặt cô bé. Sự thẹn thùng tan biến, đôi mắt ánh lên niềm vui sướng và cả gương mặt như bừng sáng. Cô bé tựa vào lòng chú và đặt một nụ hôn lên cái mũi dài của chú. Ánh đèn dần tắt. Goofy ước mình có thể cởi bỏ đôi găng tay để gạt dòng nước mắt vừa chợt trào ra. Hay có lẽ đó chỉ là những giọt mồ hôi. Trong chốc lát, sự thẹn thùng của một đứa trẻ biến mất, thay vào đó là sự ngưỡng mộ và niềm vui sướng. Đó chính là thứ mà hầu hết các nhân viên của Disney đang nói đến khi họ dùng từ phép màu để mô tả công việc của mình. Đó cũng là lý do tại sao rất nhiều người đến đây làm việc từ khi còn là học sinh trung học hay sinh viên đại học, và rồi 20 năm sau vẫn còn ở lại. Đương nhiên, Goofy có thật. Đối với cô bé đó chú có thật, và đối với tôi thì giây phút ấy Goofy có thật. Tôi không còn là nhà văn hay nhà báo trong lớp hóa trang bằng đệm lót và bộ lông giả nữa. Tôi là Goofy. Mặc dù xuất hiện tại công viên giải trí trong vai trò một nhân vật hoạt hình là một phần của lớp học định hướng dành cho các nhà lãnh đạo cao cấp của Disney, nhưng chỉ sau khi chấp nhận vào vai Goofy tôi mới được biết rằng mình sẽ không được viết gì về chuyện đó, ít nhất không được tuyên bố hay ám chỉ rằng Goofy chỉ là một diễn viên được mặc bộ đồ hóa trang. Những người phụ trách các công viên giải trí đã áp đặt điều kiện này với tôi dựa trên nguyên tắc là ảo tưởng về sự tồn tại thực sự của các nhân vật hoạt hình của Disney không bao giờ được phép tiết lộ với bất kỳ ai. Lúc đầu tôi cho rằng chuyện này thật ngớ ngẩn. Bởi nó hiển nhiên như chuyện Ông già Noel không có thật và chắc chắn là tất cả mọi đứa trẻ khi lên 8 hoặc cùng lắm là 10 đều sẽ hiểu rằng bên trong những bộ đồ hóa trang đó là người thật. Nhưng những người làm việc trong các công viên giải trí vẫn cương quyết duy trì quy định đó, và đến khi gặp họ tôi mới hiểu tại sao. Gần như mọi thứ bên trong Disney World đều là ảo tưởng: xinh xắn hơn, sạch sẽ hơn, an toàn hơn, tốt đẹp hơn và vui vẻ hơn thế giới thực. Walt quả là thiên tài khi nhận ra rằng không chỉ có trẻ con mới muốn chạy trốn khỏi thực tại. Cũng giống như bất kỳ ảo thuật gia tài giỏi nào khác, bạn phải tin vào ảo tưởng, nếu không thì nó sẽ tan biến. Đó là niềm tin phổ biến mà rất nhiều người Mỹ vẫn say sưa ôm ấp, cho nên cái tên Disney mới có thể trở thành biểu tượng của văn hóa Mỹ được lý tưởng hóa trong đó những giấc mơ luôn trở thành sự thực. Nhưng cũng giống như rất nhiều thứ khác ở Disney, nguyên tắc này đã thay đổi trong vòng một năm rưỡi huyên náo sau buổi trình diễn đầu tiên của tôi tại Animal Kingdom. Sau khi Comcast Cooperation, một công ty truyền hình cáp khổng lồ có trụ sở ở Philadelphia tiến hành chiến dịch thù nghịch nhằm thâu tóm Disney vào tháng Hai năm 2004, Disney đã phải chịu đựng nhiều đòn tấn công ác ý của giới truyền thông. Một bài báo trên Wall Street Journal đã tiết lộ rằng tất cả các nhà lãnh đạo cấp cao của Disney đều đã xuất hiện tại các công viên giải trí trong trang phục của các nhân vật hoạt hình. Sau khi thông tin đó xuất hiện trên tờ tạp chí được phát hành rộng rãi trên toàn nước Mỹ, Eisner đã đồng ý là việc tôi giả vờ Goofy là có thật chẳng còn chút ý nghĩa nào nữa, và ông đã cho phép tôi mô tả trải nghiệm vào vai nhân vật hoạt hình này của mình. Tôi gặp Michael Eisner lần đầu tiên từ cách đây nhiều năm, trước khi tôi trở thành nhà báo. Năm 1978, tôi là một luật sư trẻ tại hãng luật lớn Cravath, Swaine & Moore có trụ sở ở New York, còn Eisner là chủ tịch hãng phim Paramount Pictures. Công ty của tôi đang đại diện cho kênh truyền hình CBS trong một vụ kiện chống độc quyền do Bộ Tư pháp khởi xướng, trong khi bên bị đơn là các kênh truyền hình cứ khăng khăng cho rằng họ chỉ phối hợp với nhau để giảm chi phí phải trả cho các chương trình mà các hãng phim Hollywood sản xuất. Các hãng phim Hollywood cũng chính là bên đã thúc đẩy vụ kiện và sẽ được hưởng lợi từ bất cứ thỏa thuận dàn xếp nào. Tôi được phân công phụ trách Paramount và giúp lấy lời khai của Eisner. Tôi vẫn nhớ hôm đến gặp ông tại xưởng phim Paramount ở Hollywood. Ông sở hữu một văn phòng rộng rãi trên tầng hai, có ban công phủ bóng mát của giàn dây leo. Dù bị một đám luật sư bao vây vặn hỏi, Eisner lại có vẻ tự tin và hài hước lạ thường, ông còn pha trò bằng những câu chuyện về mối quan hệ đôi khi căng thẳng của mình với chủ tịch của Paramount, Barry Diller. Ông tháo bỏ giày và ngồi thoải mái với đôi chân chỉ mang tất – cảnh tượng tôi chưa bao giờ thấy trong bất kỳ công ty luật nào ở New York. Mặc dù ở hai phía đối lập, Eisner vẫn tặng tôi vé tham dự buổi ghi hình chương trình “Mork & Mindy” tối hôm đó. Đây là một chương trình truyền hình đình đám của Paramount vào thời đó. Lần đầu tiên tôi được xem trực tiếp một buổi ghi hình của ngôi sao hài kịch Robin Williams. Trong thời gian giải lao khi các máy quay tạm nghỉ, Williams vẫn tiếp tục những đoạn độc thoại hài hước khiến khán giả trong trường quay cười ngất cho tới tận tờ mờ sáng. Tất cả những thứ đó hẳn đã gây ấn tượng lên tôi mạnh hơn nhiều so với lên Eisner. Cuối cùng chính phủ đã từ bỏ vụ kiện. Khi tôi hỏi Eisner ông có còn nhớ tôi cũng như buổi lấy lời khai đó hay không, ông đã không thể nhớ nổi chi tiết nào. Nhiều năm đã trôi qua, từ một nhà điều hành trẻ tuổi ở Paramount, ông đã trở thành vị chủ tịch đánh kính, thành công và giàu có của Disney. Khi ông gia nhập Disney vào năm 1984, cả công ty đang rệu rã, xưởng phim hoạt hình huyền thoại gần như hấp hối, còn tài sản của nó đang bị những kẻ thâu tóm dòm ngó hòng xé nhỏ để bán đi. Eisner không chỉ cứu vãn Disney, ông còn biến nó thành công ty giải trí hàng đầu thế giới và bảo vệ thương hiệu được công chúng vô cùng yêu mến. Tôi tiếp cận Eisner để đề nghị viết một cuốn sách về công ty vào năm 2001. Kể từ khi tham gia vào vụ kiện chống độc quyền chống lại các kênh truyền hình, ngành kinh doanh giải trí và Hollywood đã hấp dẫn tôi. Từng viết nhiều cuốn sách về thế giới tài chính phố Wall hay thế giới chính trị Washington, Hollywood dường như là trung tâm quyền lực và ảnh hưởng tiếp theo xứng đáng để tôi khai thác. Và với hình ảnh luôn được ngợi ca, những thành công nghệ thuật, chưa kể đến khá nhiều diễn biến kịch tính trong hoạt động kinh doanh thì dường như Disney là lựa chọn rõ ràng đối với tôi. Có thể đoán ngay là Eisner không hề hào hứng với ý tưởng đó. John Dreyer, khi đó là giám đốc quan hệ công chúng của Disney, thì lịch sự tiếp đón tôi nhưng không hề khuyến khích ý tưởng có một cuốn sách về Disney. Mặc dù vậy, khi tôi tiếp tục thu thập thông tin, Dreyer đã mời tôi tới gặp ông tại trụ sở của Disney ở Burbank. ... Mời các bạn đón đọc Cuộc Chiến Disney của tác giả James B. Stewart.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Quản Lý Chất Lượng Toàn Diện
Rất ít người trong chúng ta nhận ra những khoảng thời gian thú vị và đầy thách thức như thế nào và bao nhiêu may mắn, kĩ năng, công việc khó khăn cần thiết ra sao để có thể nhận ra những mối hiểm nguy của việc kinh doanh tại điểm chuyển giao của thế kỷ. Mối đe doạ nguy hiểm đối với việc kinh doanh là vấn đề của thiên niên kỷ với máy tính cá nhân (hay còn gọi là sự cố Y2K). Điều đó nằm ngoài dự đoán trừ khoản chi phí một nghìn tỷ đô la dành cho sự cố này và khả năng thanh toán bằng tiền mặt vượt mức của Cục Dự trữ Liên bang được bổ sung thêm vào hệ thống tài chính trong hoạt động ngăn ngừa sự cố Y2K - bao gồm cả khoản tín dụng. Tất cả các khoản chi phí dành cho công nghệ và viễn thông đã mở ra một thời kỳ phát triển nhanh chóng về kinh tế làm thay đổi đáng kể nền kinh doanh cũng như thị trường tài chính. Cũng giống như các chuyên gia phân tích giá trị tài sản cầm cố chào bán cổ phần của doanh nghiệp mà họ lập nên, các nhà tư bản và doanh nghiệp mạo hiểm cũng như các nhà đầu tư đã đạt tới địa vị danh tiếng. Các giá trị đạt được hoá ra lại ngớ ngẩn và không thể chứng minh được... Vấn đề kinh doanh nên tập trung vào việc đầu tiên và quan trọng nhất - đó là giá trị và tạo ra giá trị. Các công ty danh tiếng luôn biết cách tạo ra giá trị và mang giá trị đó đến với khách hàng, cổ đông, các nhân viên và tới cộng đồng, nơi họ thực hiện việc kinh doanh của mình. Việc mang lại lợi ích cho một nhóm cổ đông bằng chi phí của người khác có thể làm giàu cho nhóm ưu tiên trong chốt lát, tuy nhiên, rốt cuộc thì nó sẽ làm cho công ty trở nên suy yếu đi, không thể mạnh lên được. Ban quản trị cần phải để ý đến lợi ích của tất cả các cổ đông và cân bằng lợi ích mang lại cho mỗi nhóm. Những công ty thành công là những công ty thoả mãn được nhu cầu của thị trường. Các chiến lược được bắt đầu với sự hiểu biết về các nhu cầu và làm thế nào để thoả mãn các nhu cầu đó một cách tốt hơn, đặc biệt hơn các công ty khác. Việc thiết lập một  công việc kinh doanh ổn định lâu dài đòi hỏi cần có sự cách tân để duy trì sự khác biệt trong sản phẩm cũng như dịch vụ của công ty. Việc thực hiện mô hình kinh doanh phụ thuộc vào sự gắn bó và cam kết của các nhân viên ở tất cả các cấp bậc của công ty - điều mà tác giả gọi là lãnh đạo từ cấp trung. Tất cả những điều đó dường như khá dễ hiểu, nhưng những bài học từ những năm trước đó được dựa trên một loạt các ví dụ của các công ty mất tầm nhìn cơ bản. Trong một môi trường kinh doanh bất ổn, sự quản lý dễ bị cám dỗ để lạc ra khỏi giá trị cốt lõi của nó. Một trong những giả thuyết chính của tác giả là những giai đoạn thay đổi bất thường đó diễn ra chính xác khi hầu hết các công ty cần phải dựa vào giá trị và sức mạnh cốt lõi. Một công ty nên nắm bắt nhanh chóng những nguyên lý hướng dẫn để thực hiện cách tân hoặc đương đầu với những thách thức mới. *** Trọn bộ MBA Trong Tầm Tay gồm có: MBA Trong Tầm Tay – Tổng Quan MBA Trong Tầm Tay – Quản Lý Chiến Lược MBA Trong Tầm Tay – Nghiên Cứu Tình Huống Trong Đầu Tư Tự Doanh MBA Trong Tầm Tay – Đầu Tư Tự Doanh MBA Trong Tầm Tay – Marketing MBA Trong Tầm Tay – Quản Lý Chất Lượng Toàn Diện MBA Trong Tầm Tay – Quản Lý Dự Án MBA Trong Tầm Tay – Quản Trị Kinh Doanh MBA Trong Tầm Tay – Tài Chính & Kế Toán MBA Trong Tầm Tay – Tâm Lý Học Dành Cho Lãnh Đạo *** Chúng ta đều đã quen với nhu cầu của khách hàng: Chất lượng tốt hơn với chi phí thấp hơn trong thời gian ngắn hơn. Chúng ta cũng đã quen với một điều khoản phụ của doanh nghiệp: Việc lợi nhuận hợp lý.Chính nhu cầu đó đang khiến cho chúng ta yếu hơn bởi tốc độ phát triển quá nhanh trong khi sự mong đợi quá lớn. Chúng ta đang bị kéo theo quá nhiều hướng trong khi chỉ đủ khả năng phản ứng lại thời điểm chúng ta biết lường trước và lên kế hoạch. Đến khi sắp tan rã, chúng ta lại theo đuổi các mô hình hợp nhất - những ví dụ về các công ty biết rằng mọi việc mình làm phù hợp với sự thích thú của khách hàng và lợi ích công ty ra sao. Trong cuốn sách này, một lần nữa, cùng với chuyên gia hàng đầu về đánh giá chất lượng, cựu chủ tịch hội đồng Giải thưởng Baldrige về đánh giá các đội làm việc mang đến cho bạn một mô hình Quản lý Chất lượng toàn diện dựa trên các tiêu chuẩn của Giải thưởng Baldrige bao trùm mọi khía cạnh của doanh nghiệp bạn. Được rút ra từ những thực tiễn tốt nhất của 51 công ty (Trong đó 23 công ty đạt Giải thưởng Baldrige) mà việc thực thi xuất sắc của các công ty này đã khiến chúng trở thành những mô hình mẫu, chuẩn mực về quản lý chất lượng, cuốn sách này mang tới cho bạn: - Các thực tiễn và ứng dụng Quản lý Chất lượng Toàn diện tốt nhất từ những công ty quy mô nhỏ, các tập đoàn khổng lồ cùng tất cả những gì có liên quan. - Các thực tiễn Quản lý Chất lượng Toàn diện từ những cửa hàng bán lẻ, công ty dịch vụ, nhà sản xuất,… - Hàng trăm ví dụ trong thế giới thực, các quy trình được kiểm định và những kỹ thuật được đổi mới. - Các phương pháp được chứng minh rằng làm gia tăng lợi nhuận, truyền cảm hứng cho người lao động và làm thoả mãn khách hàng. Mời các bạn đón đọc Quản Lý Chất Lượng Toàn Diện của tác giả Stephen George & Arnold Weimerskirch.
Nghiên Cứu Tình Huống Trong Đầu Tư Tự Doanh
Rất ít người trong chúng ta nhận ra những khoảng thời gian thú vị và đầy thách thức như thế nào và bao nhiêu may mắn, kĩ năng, công việc khó khăn cần thiết ra sao để có thể nhận ra những mối hiểm nguy của việc kinh doanh tại điểm chuyển giao của thế kỷ. Mối đe doạ nguy hiểm đối với việc kinh doanh là vấn đề của thiên niên kỷ với máy tính cá nhân (hay còn gọi là sự cố Y2K). Điều đó nằm ngoài dự đoán trừ khoản chi phí một nghìn tỷ đô la dành cho sự cố này và khả năng thanh toán bằng tiền mặt vượt mức của Cục Dự trữ Liên bang được bổ sung thêm vào hệ thống tài chính trong hoạt động ngăn ngừa sự cố Y2K - bao gồm cả khoản tín dụng. Tất cả các khoản chi phí dành cho công nghệ và viễn thông đã mở ra một thời kỳ phát triển nhanh chóng về kinh tế làm thay đổi đáng kể nền kinh doanh cũng như thị trường tài chính. Cũng giống như các chuyên gia phân tích giá trị tài sản cầm cố chào bán cổ phần của doanh nghiệp mà họ lập nên, các nhà tư bản và doanh nghiệp mạo hiểm cũng như các nhà đầu tư đã đạt tới địa vị danh tiếng. Các giá trị đạt được hoá ra lại ngớ ngẩn và không thể chứng minh được... Vấn đề kinh doanh nên tập trung vào việc đầu tiên và quan trọng nhất - đó là giá trị và tạo ra giá trị. Các công ty danh tiếng luôn biết cách tạo ra giá trị và mang giá trị đó đến với khách hàng, cổ đông, các nhân viên và tới cộng đồng, nơi họ thực hiện việc kinh doanh của mình. Việc mang lại lợi ích cho một nhóm cổ đông bằng chi phí của người khác có thể làm giàu cho nhóm ưu tiên trong chốt lát, tuy nhiên, rốt cuộc thì nó sẽ làm cho công ty trở nên suy yếu đi, không thể mạnh lên được. Ban quản trị cần phải để ý đến lợi ích của tất cả các cổ đông và cân bằng lợi ích mang lại cho mỗi nhóm. Những công ty thành công là những công ty thoả mãn được nhu cầu của thị trường. Các chiến lược được bắt đầu với sự hiểu biết về các nhu cầu và làm thế nào để thoả mãn các nhu cầu đó một cách tốt hơn, đặc biệt hơn các công ty khác. Việc thiết lập một  công việc kinh doanh ổn định lâu dài đòi hỏi cần có sự cách tân để duy trì sự khác biệt trong sản phẩm cũng như dịch vụ của công ty. Việc thực hiện mô hình kinh doanh phụ thuộc vào sự gắn bó và cam kết của các nhân viên ở tất cả các cấp bậc của công ty - điều mà tác giả gọi là lãnh đạo từ cấp trung. Tất cả những điều đó dường như khá dễ hiểu, nhưng những bài học từ những năm trước đó được dựa trên một loạt các ví dụ của các công ty mất tầm nhìn cơ bản. Trong một môi trường kinh doanh bất ổn, sự quản lý dễ bị cám dỗ để lạc ra khỏi giá trị cốt lõi của nó. Một trong những giả thuyết chính của tác giả là những giai đoạn thay đổi bất thường đó diễn ra chính xác khi hầu hết các công ty cần phải dựa vào giá trị và sức mạnh cốt lõi. Một công ty nên nắm bắt nhanh chóng những nguyên lý hướng dẫn để thực hiện cách tân hoặc đương đầu với những thách thức mới. *** Trọn bộ MBA Trong Tầm Tay gồm có: MBA Trong Tầm Tay – Tổng Quan MBA Trong Tầm Tay – Quản Lý Chiến Lược MBA Trong Tầm Tay – Nghiên Cứu Tình Huống Trong Đầu Tư Tự Doanh MBA Trong Tầm Tay – Đầu Tư Tự Doanh MBA Trong Tầm Tay – Marketing MBA Trong Tầm Tay – Quản Lý Chất Lượng Toàn Diện MBA Trong Tầm Tay – Quản Lý Dự Án MBA Trong Tầm Tay – Quản Trị Kinh Doanh MBA Trong Tầm Tay – Tài Chính & Kế Toán MBA Trong Tầm Tay – Tâm Lý Học Dành Cho Lãnh Đạo *** MBA trong tầm tay - Nghiên cứu tình huống trong Đầu tư tự doanh là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý thuyết và thực tế đã được trình bày trong cuốn MBA trong tầm tay - Đầu tư tự doanh nhằm giúp bạn khởi nghiệp và điều hành doanh nghiệp của mình một cách hiệu quả nhất. Bạn sẽ có được cảm giác đích thực về các ý tưởng kinh doanh, phát triển ý tưởng, tìm nguồn tài chính và tổ chức điều hành kinh doanh đồng thời hiểu được cách thức lập kế hoạch kinh doanh, dự báo tài chính và vận hành doanh nghiệp. Các nghiên cứu tình huống được trình bày trong cuốn sách được lấy từ thực tiễn trong cả lĩnh vực sản xuất lẫn dịch vụ. Bạn sẽ khám phá ra những thử thách và gian truân cũng như thành quả trong khởi nghiệp của một hãng cung cấp dịch vụ du lịch, một cửa hàng bán đồ thời trang trên mạng Internet hay một dịch vụ bán tất cho phụ nữ bằng hình thức gửi thư trực tiếp. Bạn cũng sẽ bắt gặp nhiều tình huống cụ thể và sinh động trong ngành công nghệ thông tin, kinh doanh nhà hàng hoặc tư vấn kinh doanh... Mỗi một nghiên cứu tình huống đều được minh hoạ bằng các bảng biểu, sơ đồ, báo cáo tài chính, kế hoạch kinh doanh, hợp đồng mẫu và nhiều vấn đề khác được các doanh nhân quan tâm trong quá trình khởi nhgiệp. Cuốn sách rất hữu sách cho những ai khao khát tạo dựng một sự nghiệp kinh doanh thành công trên thương trường. Cuốn sách này là tuyển tập những câu chuyện về quá trình khởi nghiệp và phát triển trong những lĩnh vực mới, về các nhà đầu tư tự doanh, những cơ hội và yếu tố cần thiết để họ tạo dựng cơ nghiệp; ghi lại những ví dụ thực tế nhằm bổ trợ cho cuốn "MBA trong tầm tay - Đầu tư tự doanh" đã được tái vản lần thứ hai. Sẽ thật thiếu sót nếu cho rằng mỗi câu chuyện trong cuốn sách này chỉ để minh hoạ cho một chủ đề của một chương. Bắt đầu một công việc kinh doanh là cả quá trình tổng thể, chúng ta không thể dễ dàng chia nhỏ thành những nguyên tắc, quy luật quản trị "cổ diển" như trong marketing và tài chính. Tuy nhiên, mỗi câu chuyện của chúng tôi đều có trọng tâm của nó. Ví dụ, "Beautiful Legs BY POST" minh hoạ cho rất nhiều khái niệm trong cả Chương 5 "Xây dựng một kế hoạch kinh doanh thành công" và Chương 6 "Dự toán tài chính: Cách thức tiến hành". Đồng thời nó cũng đưa ra rất nhiều vấn đề khác liên quan đến quá trình kinh doanh, nhận diện và nắm bắt cơ hội, các chiến lược xâm nhập thị trường, tiếp thị, vốn mạo hiểm, vay nợ và thu lãi - những chủ đề trong các Chương 1, 2, 3, 4, 7, 8 và 14. Các ví dụ đã được chúng tôi lựa chọn cẩn thận sao cho những chủ đề quan trọng trong cuốc "MBA trong tầm tay - Đầu tư tự doanh" đều được đề cập đến ít nhất một lần. Cuốn sách này bao quát tất cả những vấn đề về sản phẩm tiêu dùng và sản phẩm công nghệ cao, các công ty theo phong cách sống và tiềm năng cao, các nguồn lực tài chính khác nhau bao gồm các thành viên sáng lập, gia đình, bạn bè, các nhà đầu tư cá nhân, các nhà quản lý vốn đầu tư mạo hiểm, các nhân viên môi giới hưởng hoa hồng, thẻ tín dụng và ngân hàng. Những câu chuyện đều diễn ra vào những năm 90 và liên quan đến từng thời điểm có tính quyết định. Do các sinh viên thường quan tâm đến các nhà đầu tư tự doanh trong những câu chuyện đó nên chúng tôi đã lựa chọn các nhân vật - những người mà chúng tôi tin rằng họ chính là những hình mẫu về tư cách đạo đức của đầu tư tự doanh. Mời các bạn đón đọc Nghiên Cứu Tình Huống Trong Đầu Tư Tự Doanh của tác giả Wilbur Smith & Dan D'Heilly.
Quản Lý Chiến Lược
"MBA trong tầm tay - Quản lý chiến lược" cung cấp cho bạn cách tư duy, phân tích và thực thi mới mẻ nhất từ kinh nghiệm của các chuyên gia, giáo sư tên tuổi thuộc các trường đại học hàng đầu thế giới. Machael E.Porter của Trường Kinh doanh Harvard sẽ chỉ cho bạn cách thừc đẩy mạnh lợi thế cạnh tranh thông qua một chiến lược tòan cầu. C.K.Prahalad giải thích về giải pháp tạo dựng và thúc đẩy những năng lực cốt lõi - một chiến lược đã dẫn các tổ chức đến với thành công vượt trội. Jeffrey Sample của trường Kinh doanh London trình bày về sự thách thức của Internet và lĩnh vực kinh doanh điện tử với nhiều ý tưởng nền tảng của chúng tôi về chiến lược. Bạn cũng sẽ nắm bắt được những giải pháp chiến lược cần thiết cho một tổ chức và các đơn vị kinh doanh, kể cả các chiến lược liên quan đến chính trị - nhu cầu quản lý các mối quan hệ với những bộ phận liên quan của những hiệp hội quần chúng, thương mại, các tổ chức chính phủ, các nhóm cộng đồng và những người có lợi ích liên quan khác. Để tận dụng lợi thế từ những ý tưởng hiệu quả nhất, cách tân nhất và mới mẻ nhất trong chiến lược kinh doanh từ những khả năng nhận thức vượt trội, hãy đọc cuốn sách này. *** Trọn bộ MBA Trong Tầm Tay gồm có: MBA Trong Tầm Tay – Tổng Quan MBA Trong Tầm Tay – Quản Lý Chiến Lược MBA Trong Tầm Tay – Nghiên Cứu Tình Huống Trong Đầu Tư Tự Doanh MBA Trong Tầm Tay – Đầu Tư Tự Doanh MBA Trong Tầm Tay – Marketing MBA Trong Tầm Tay – Quản Lý Chất Lượng Toàn Diện MBA Trong Tầm Tay – Quản Lý Dự Án MBA Trong Tầm Tay – Quản Trị Kinh Doanh MBA Trong Tầm Tay – Tài Chính & Kế Toán MBA Trong Tầm Tay – Tâm Lý Học Dành Cho Lãnh Đạo *** Rất ít người trong chúng ta nhận ra những khoảng thời gian thú vị và đầy thách thức như thế nào và bao nhiêu may mắn, kĩ năng, công việc khó khăn cần thiết ra sao để có thể nhận ra những mối hiểm nguy của việc kinh doanh tại điểm chuyển giao của thế kỷ. Mối đe doạ nguy hiểm đối với việc kinh doanh là vấn đề của thiên niên kỷ với máy tính cá nhân (hay còn gọi là sự cố Y2K). Điều đó nằm ngoài dự đoán trừ khoản chi phí một nghìn tỷ đô la dành cho sự cố này và khả năng thanh toán bằng tiền mặt vượt mức của Cục Dự trữ Liên bang được bổ sung thêm vào hệ thống tài chính trong hoạt động ngăn ngừa sự cố Y2K - bao gồm cả khoản tín dụng. Tất cả các khoản chi phí dành cho công nghệ và viễn thông đã mở ra một thời kỳ phát triển nhanh chóng về kinh tế làm thay đổi đáng kể nền kinh doanh cũng như thị trường tài chính. Cũng giống như các chuyên gia phân tích giá trị tài sản cầm cố chào bán cổ phần của doanh nghiệp mà họ lập nên, các nhà tư bản và doanh nghiệp mạo hiểm cũng như các nhà đầu tư đã đạt tới địa vị danh tiếng. Các giá trị đạt được hoá ra lại ngớ ngẩn và không thể chứng minh được... Vấn đề kinh doanh nên tập trung vào việc đầu tiên và quan trọng nhất - đó là giá trị và tạo ra giá trị. Các công ty danh tiếng luôn biết cách tạo ra giá trị và mang giá trị đó đến với khách hàng, cổ đông, các nhân viên và tới cộng đồng, nơi họ thực hiện việc kinh doanh của mình. Việc mang lại lợi ích cho một nhóm cổ đông bằng chi phí của người khác có thể làm giàu cho nhóm ưu tiên trong chốt lát, tuy nhiên, rốt cuộc thì nó sẽ làm cho công ty trở nên suy yếu đi, không thể mạnh lên được. Ban quản trị cần phải để ý đến lợi ích của tất cả các cổ đông và cân bằng lợi ích mang lại cho mỗi nhóm. Những công ty thành công là những công ty thoả mãn được nhu cầu của thị trường. Các chiến lược được bắt đầu với sự hiểu biết về các nhu cầu và làm thế nào để thoả mãn các nhu cầu đó một cách tốt hơn, đặc biệt hơn các công ty khác. Việc thiết lập một  công việc kinh doanh ổn định lâu dài đòi hỏi cần có sự cách tân để duy trì sự khác biệt trong sản phẩm cũng như dịch vụ của công ty. Việc thực hiện mô hình kinh doanh phụ thuộc vào sự gắn bó và cam kết của các nhân viên ở tất cả các cấp bậc của công ty - điều mà tác giả gọi là lãnh đạo từ cấp trung. Tất cả những điều đó dường như khá dễ hiểu, nhưng những bài học từ những năm trước đó được dựa trên một loạt các ví dụ của các công ty mất tầm nhìn cơ bản. Trong một môi trường kinh doanh bất ổn, sự quản lý dễ bị cám dỗ để lạc ra khỏi giá trị cốt lõi của nó. Một trong những giả thuyết chính của tác giả là những giai đoạn thay đổi bất thường đó diễn ra chính xác khi hầu hết các công ty cần phải dựa vào giá trị và sức mạnh cốt lõi. Một công ty nên nắm bắt nhanh chóng những nguyên lý hướng dẫn để thực hiện cách tân hoặc đương đầu với những thách thức mới. Mời các bạn đón đọc Quản Lý Chiến Lược của tác giả Liam Fahey & Robert M. Randall.
Quảng Cáo Theo Phong Cách Ogilvy
David Ogilvy là một trong những gương mặt nổi bật nhất của ngành quảng cáo, với danh xưng “Cha đẻ của nền quảng cáo hiện đại”. Các cuốn sách ông viết về nghệ thuật quảng cáo đều là những cuốn cẩm nang gối đầu giường của những người trong ngành, từ các vị giáo sư giảng dạy tại đại học đến những người thực sự lăn lộn tiếp xúc với khách hàng thường ngày. Họ gần như thuộc lòng những nguyên tắc và bí quyết của ông, đồng thời coi đó như kim chỉ nam trong nghề của mình. Với bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực quảng cáo, từng lên ý tưởng và chắp bút cho các quảng cáo của những thương hiệu hàng đầu thế giới như Hathaway, Dove, Schweppes và Rolls-Royce…, David Ogilvy đã chia sẻ những nguyên tắc của ông về quảng cáo trong cuốn Ogilvy on advertising. Cuốn sách bàn đến nhiều khía cạnh trong quảng cáo, từ những nguyên tắc đầu tiên để có thể tạo ra được một quảng cáo hiệu quả, cách thức điều hành một doanh nghiệp quảng cáo, bí quyết thu hút khách hàng, cho đến những chiến thuật quảng cáo trên các phương tiện phát thanh, truyền hình, báo in hay tạp chí… Quảng Cáo Theo Phong Cách Ogilvy (Ogilvy on advertising) là sách về marketing không dành cho những độc giả nghĩ rằng họ đã biết hết về quảng cáo mà dành cho những triển vọng trẻ – và những người đã có kinh nghiệm nhưng vẫn không ngừng tìm cách để cải thiện thành công trong nghề. Đây là cuốn sách vỡ lòng thẳng thắn, chân thực và không thể thiếu được đối với bất kỳ người làm quảng cáo nào. “Tôi chúa ghét những quy tắc.” – David Ogilvy. Tác giả: David Ogilvy (1911 – 1999) là người sáng lập, chủ tịch hãng quảng cáo danh tiếng Ogilvy & Mather. David Ogilvy được mệnh danh là “Cha đẻ của nền quảng cáo hiện đại”. Năm 1962, ông được tạp chí Time bình chọn là “Thiên tài được săn lùng nhất trong ngành quảng cáo”. David Ogilvy cũng là tác giả của nhiều cuốn sách về ngành quảng cáo, tiêu biểu là Confession of an advertising man; Blood, Brain & Beer và Ogilvy on advertising “Học Hỏi Nhiều Kỹ Năng Thuộc Ngành Quảng Cáo – Người ta hay nói: Sách là thầy! Quả không sai. Tôi nhớ cuốn sách chính thức đầu tiên về quảng cáo tôi đọc là Ý Tưởng Này Là Của Chúng Mình (của Huỳnh Vĩnh Sơn). Cuốn sách thiên về tâm lý nhiều hơn, giải tỏa những ức chế và những kỳ vọng không đáng có. Cuốn sách này của Ogilvy thì lại thiên nhiều về quản lý trong ngành quảng cáo, thiên về kỹ thuật hơn, và thiên về quảng cáo trên báo chí hơn, như về phương pháp trình bày, thiết kế mẫu quảng cáo, và tỉ mỉ đến kích cỡ chữ, hoa hay thường… Có những sự trùng hợp tình cờ giữa sách của Ogilvy và Huỳnh Vĩnh Sơn mà cuốn này như giải đáp của cuốn kia. Chẳng hạn, Sơn nêu hiện tượng nhiều người làm trong ngành quảng cáo cảm thấy “cắn rứt lương tâm” sau một thời gian thì Ogilvy sẽ giải tỏa một cách khúc chiết vì sao họ chẳng nên “mặc cảm tội lỗi” gì cả. Một chuyện bên lề về ngành quảng cáo. Trong nguyên tác “Ogilvy On Advertising”, trang đầu tiên có in hình màu rất nhiều mẫu quảng cáo, trong đó có một mẫu in hình cô người mẫu ngực trần (minh họa cho mẫu quảng cáo “táo bạo” của Pháp mà Ogilvy mô tả trong sách) thì trong bản dịch này, hình ảnh này đã bị cắt. Thật đáng tiếc, vì sự kiểm duyệt đôi khi cũng ngăn cản nhiều sáng tạo. Đọc xong và chỉ ước, giá có thể quay ngược thời gian, trẻ lại vài tuổi để có thể làm lại từ đầu, làm nghề mình thích” – Nguyễn Khánh Thành. “Cuốn Sách Nên Sở Hữu Cho Người Làm Marketing – Đầu tiên, tôi mượn cuốn sách của một người bạn để đọc, và sau đó tôi đã đặt mua để sở hữu nó. Với tất cả những ai đang làm việc trong lĩnh vực quảng cáo, marketing, kinh doanh, và cả những người quan tâm đến lĩnh vực này cũng nên sở hưu. Chỉ cần bạn tìm thấy 1 trong 4 nguyên nhân dưới đây có nghĩa là khoản đầu tư nho nhỏ cho cuốn sách đã mang lại lợi nhuận. Thứ nhất, cuốn sách phân tích nhiều khía cạnh quan trọng để có thể đánh giá một đối tác quảng cáo, và lên một kế hoach quảng cáo trên báo và trên truyền hình. Tôi thích việc nhấn mạnh vào giá trị của những nghiên cứu. Đôi khi tôi phải bỏ ra hàng trăm ngàn USD chỉ để biết tỷ lệ nam/nữ quan tâm tới một mẫu quảng cáo. Ở đây tôi thấy nhiều con số thực tế hơn nữa. Thứ hai, văn phong của sách làm cho mỗi buổi tối của tôi trở nên phong phú hơn. Đêm đầu tiên, tôi đọc khoảng 1/3 cuốn sách, và sáng hôm sau, tôi rút ngắn được 50% thơi gian để hoàn thiện một email súc tích gửi đến khách hàng, đương nhiên phản hồi tốt thì tôi mới kể. Buổi tối thú vị với những giấc mơ bay bổng về cách nói chuyện khinh khỉnh, mà rất bản lĩnh. Tuy biết đo lường là điều tối quan trọng của tất cả các kế hoạch, nhưng đo hiệu quả của một kênh quảng cáo thì lại rất khó khăn. Trước đây tôi hay mắm muối các bản báo cáo, và thêm chút gió, bỏ chút nước để sếp hài lòng với đề xuất trời ơi đất hơi. Sáng nay, tôi lại thêm một chuyện trời ơi nữa, nhưng sếp chỉ cười và duyệt. Khi tôi chắc chắn về hiệu quả của một khoản đầu tư mơ hồ, là khi tôi cảm thấy thật tuyệt vời. Cuối cùng, chỉ đơn giản là “cưới vợ” thì tuyệt vời hơn “mượn vợ” bạn rất nhiều. Và chắc chắn tôi sẽ cưới thêm vài cô vợ khác với chủ để online marketing và marketing trên social network. Không ai bắt bạn phải đổi một bữa ăn để lấy một cuốn sách, có lẽ đó và việc ngu ngốc. Nhưng tôi chỉ muốn khoe là tôi đã làm việc “ngu ngốc” đó rồi” – Trần Lê Nhựt. “Sách Rất Hay – Marketing nói chung và Quảng cáo nói riêng là lĩnh vực rất rộng, đòi hỏi bản thân phải cập nhật và trau dồi những kiến thức hằng ngày, và thực tế. Ogilvy – là một bậc thầy về quảng cáo, và cũng là người mà tớ rất khâm phục và mến mộ bởi tài năng của ông. Tớ được biết đến ông qua những thước phim quảng cáo và những người khác nói về ông. Và dĩ nhiên, cuốn sách quả thực không làm tớ thất vọng chút nào. Những kiến thức, những luồng không khí hoàn toàn mới mẻ về quảng cáo mà trước đây tớ chưa từng được học đã giải đáp cho tớ trong cuốn sách này. Nó không phải là lý thuyết suông mà là những điều bạn gặp trong thế giới quảng cáo thực thụ, nơi sự sáng tạo được thăng hoa” – Hồng Kim Loan. *** David Ogilvy (1911 – 1999) là người sáng lập, chủ tịch hãng quảng cáo danh tiếng Ogilvy & Mather. David Ogilvy được mệnh danh là “Cha đẻ của nền quảng cáo hiện đại”. Năm 1962, ông được tạp chí Time bình chọn là “Thiên tài được săn lùng nhất trong ngành quảng cáo”. David Ogilvy cũng là tác giả của nhiều cuốn sách về ngành quảng cáo, tiêu biểu là Confession of an advertising man; Blood, Brain & Beer và Ogilvy on advertising David Mackenzie Ogilvy CBE là một ông trùm quảng cáo người Anh, người sáng lập của Ogilvy & Mather, và được gọi là "Cha đẻ của Quảng cáo". Được đào tạo tại tổ chức nghiên cứu của Gallup, ông cho rằng sự thành công của các chiến dịch của mình là nghiên cứu tỉ mỉ về thói quen của người tiêu dùng. Mời các bạn đón đọc Quảng Cáo Theo Phong Cách Ogilvy của tác giả David Ogilvy.