Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Bánh Xe Nghiệt Ngã

Tiểu thuyết “BÁNH XE NGHIỆT NGÔ của tác giả PHI TRƯỜNG đưa bạn đọc đi sâu vào một cơ sở sản xuất của nền công nghiệp hiện đại Hoa Kỳ, hé cho ta thấy bí quyết thành công của nó : những giám đốc năng nổ, tháo vát làm việc mười hai mười bốn tiếng một ngày, những kỹ sư tận tụy yêu nghề luôn tìm cách ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới nhất để nâng cao chất lượng sản phấm, tổ chức lao động chặt chẽ trong nhà máy mẹ kết hợp với hệ thống xí nghiệp vệ tinh qui tụ những tay nghề cao, bộ máy quảng cáo và dịch vụ thương mại rộng khắp thuận tiện cho người tiêu dùng… Đồng thời tác giả cũng phanh phui những mâu thuẫn đang ngáng trở nền sản xuất lớn tư bản. Chủ nghĩa phát triển thậm chí có nguy cơ sa sút : sự cạnh tranh tàn nhẫn giữa các công ti cá mập, nạn ô nhiễm môi trường sống, tệ phân biệt chủng tộc và nạn mafia có mặt khắp nơi dùng khủng bố tàn bạo để bòn rút công nhân, số đông người lao động bần cùng nổi giận… Qua câu chuyên xoay quanh một nhà máy sản xuất ôtô lớn với nhiều gương mặt rất khác nhau, chủ tịch công ty, quản đốc phân xưởng, công nhân bình thường, da trắng và da đen, những cặp vợ chồng chung thủy và những cô nhân tình quí phái… bạn đọc có thể cảm nhận được ánh hào quang kỳ diệu nhưng đầy lo lắng của một hình thái kinh tế xã hội đang tìm cách thích nghi để tồn tại. *** Arthur Hailey (người Anh có quốc tịch Canada) (1920 - 2004) là tác giả của mười một cuốn best-sellers, trong đó có "Bản tin chiều" đã được dựng thành phim. Ông có 11 tiểu thuyết bán rất chạy được in ở 40 quốc gia với 170 triệu bản. Hailey được coi là người trường vốn trong sự nghiệp sáng tác. Những cuốn truyện ông viết đã vượt khỏi quê hương, được xuất bản trên 40 nước với hơn 170 triệu bản. Điểm nổi bật trong tác phẩm của ông là những nhân vật có xuất xứ rất tầm thường nhưng khi bị đẩy vào hoàn cảnh bi hùng đã vượt lên thành một số phận khác.  Sinh ngày 5/4/1920, Hailey sớm phải bỏ học ở tuổi mười bốn, bởi cha mẹ không đủ tiền chu cấp ăn học cho con trai. Sau đó, chàng trai Arthur trở thành phi công trong quân chủng Hoàng gia Anh trong đại chiến 2. Năm 1947, nhà văn tương lai rời bỏ xứ sở sương mù đến Canada và nhập quốc tịch tại đây. Thời gian đầu nơi đất khách, Hailey phải kiếm sống như một nhân viên tiếp thị cho nhà máy sản xuất máy kéo. Được một thời gian thì việc viết lách đã cám dỗ Hailey. Cuốn tiểu thuyết đầu tay của ông là The Final Diagnosis, xuất bản năm 1959, kể về một bác sĩ chẳng may gây ra cái chết với một bé sơ sinh.  Mải mê với những con chữ trong một thập kỷ, rồi ông trở về công việc kinh doanh, chỉ ngồi vào bàn viết như một thú vui. Bà vợ của Hailey cho biết, nhà văn rất khiêm tốn và giản dị, nhưng ông có một niềm hân hoan đặc biệt khi đọc những bức thư của độc giả tán dương tác phẩm mình. Hậu duệ của ông dự định sẽ tổ chức một bữa tiệc tưởng nhớ ông vào tháng giêng theo đúng nguyện ước của người quá cố. Mười bốn tuổi đã nghỉ học vì cha mẹ không đủ tiền cho ông đi học tiếp, Arthur Hailey tham gia thế chiến thứ 2 với tư cách là phi công trong không lực hoàng gia Anh và trở thành nhà văn khi xuất bản tác phẩm đầu tay The final diagnoisis vào năm 1959.  Arthur Hailey có cách viết tiểu thuyết rất hấp dẫn, mô tả những người bình thường trong hoàn cảnh bất thường. Năm 2001 ông nói với hãng tin AP: "Tôi không thật sự tạo ra ai cả. Tôi chỉ lấy từ đời thật". Một số tác phẩm của ông đã được ra tiếng Việt như: Bản Tin Chiều Lời Chẩn Đoán Cuối Cùng Phi Trường Tập 1 Phi Trường Tập 2 Nhà Băng Khách Sạn Phi Trường (Người dịch: DgHien) Bánh Xe Nghiệt Ngã ... *** Chủ tịch hãng Động Cơ Thông Dụng bực mình, cả đêm qua mất ngủ : chiếc chăn điện trở chứng liên tục và mỗi lần như thế ông lại thức giấc vì lạnh. Lúc này vẫn mặc bộ đồ ngủ, choàng áo khoác, ông rón rén đi lục tìm khắp ngôi nhà vắng lặng rồi mang bầy lên nửa còn lại của chiếc giường lớn nhiều thứ dụng cụ đồ nghề, bắt đầu tháo bộ phận điện trong khi Côrali vợ ông vẫn còn ngủ. Ông phát hiện ngay chỗ tiếp xúc kém. Vừa cằn nhằn các tay sản xuất chăn điện làm ẩu, ông mang xuống xưởng riêng dưới hầm để sửa. Người vợ vươn vai. Chỉ vài phút nữa đồng hồ báo thức sẽ đánh chuông. Lúc ấy bà mới dậy lo bữa điểm tâm trong khi vẫn còn ngái ngủ. Ở thị trấn Blumfin Hin cách Đitơroi mười lăm kilômét này bây giờ vẫn còn tối. Sáng sớm hôm đó chủ tịch hãng ĐCTD, người khô khan, cử chỉ lanh lẹn nhưng bản tính nói chung điềm tĩnh có hai cớ để bực mình : chiếc chăn điện tất nhiên là một, còn một nữa là cách xử sự rất đáng giận của Imơcxơn Vên. Mấy phút trước đây qua chiếc đài bán dẫn đặt trên bàn ngủ mở thầm đủ nghe ông đã nhận ra giọng nói chua ngoa quen thuộc và dễ ghét của nhà “phê phán xe hơi” cỡ lớn này. Bữa qua trong cuộc họp báo ở Oasinhtơn một lần nữa Imơcxơn Vên lại công kích ba người đáng ghét nhất xưa nay của lão : Động Cơ Thông Dụng, Fo và Craixlơ. Lên án ba ông Lớn về tội “tham lam, tụ tập bè đảng lưu manh, bội tín, cưỡng đoạt tiền của dân chúng”. Vì ba Ông Lớn đã hoàn toàn thỏa thuận cùng nhau ngăn cản việc phát triển loại xe “sạch sẽ” thay cho xe chạy xăng, loại xe chạy hơi nước hoặc chạy điện là những loại Vên cho rằng “đã sẵn sàng lăn bánh”. Lời buộc tội chẳng có gì mới. Nhưng Vên vốn rất khôn khéo trong sự giao tiếp với công chúng và giới báo chí nên đã lồng vào lời tuyên bố những tư liệu mới làm nó có giá trị thông tin, thu hút được người đọc. Vị chủ tịch hãng công nghiệp lớn nhất thế giới tốt nghiệp kĩ sư một trường nổi tiếng ngồi sửa bộ phận hâm nóng của chiếc chăn điện với niềm vui thích thường thấy khi có thì giờ làm các việc trong gia đình. Rồi ông đi tắm, cạo mặt, bận quần áo, tới dùng bữa sáng với Côrali. Trên bàn ăn có tờ Đitơroi Tự Do. Vừa trông thấy tên và ảnh Imơcxơn Vên in trên trang nhất ông chửi thề và quăng tờ báo xuống đất. Côrali đặt trước mặt chồng các món của bữa điểm tâm theo chế độ “chống tăng côléttêrôn” : bánh mì nướng không phết bơ, lòng trắng một quả trứng luộc, cà chua xắt khoanh, fomát trắng. Sáng nào vợ ông chủ tịch ĐCTD cũng tự tay soạn bữa ăn đầu tiên này và cùng ăn với chồng mặc dầu chồng phải đi làm sớm. Côrali ngồi xuống trước mặt chồng, nhặt tờ báo mở ra và nói : “Theo Imơcxơn Vên, chúng ta đã có đủ trình độ kỹ thuật để đưa người lên mặt trăng hoặc sao Hỏa thì ngành kỹ nghệ xe hơi cũng phải cho ra được loại xe hoàn hảo, không có khuyết điểm gì và không gây ô nhiễm không khí”. Người chồng đặt khăn xuống. “Định làm tôi ăn mất ngon đấy à ? Bữa ăn đã chẳng có gì lại còn…” Người vợ tủm tỉm cười. “Em thấy hình như anh đã hết ngon miệng rồi thì phải ! Ông Vên còn trích dẫn Kinh thánh nói về ô nhiễm nữa cơ. - Lay Chúa Kitô ! Kinh thánh nói gì về cái đó được ! - Không phải Chúa Kitô đâu. Đoạn này trích trong kinh Cựu Ước. - Thì đọc đi vậy. Đằng nào bà cũng định đọc”. Người chồng lầu bầu, vẻ tò mò muốn biết. “Thánh Giêrêmi: Ta cho ngươi tới xứ sở xanh tươi như một khu vườn để các người được ăn những trái quả tươi ngon nhất. Nhưng sau khi đến các người đã làm ô trọc xứ sở của ta, biến gia tài của ta thành thứ ghê tởm.” Bà rót cà phê vào tách. “Em thấy tay ấy viết khá tài tình”. - Chẳng ai cho cái thằng đểu ấy là kém thông minh. Người vợ đọc tiếp. “Ngành kỹ nghệ xe hơi và dầu mỏ đồng tình kìm hãm sự tiến bộ kỹ thuật đáng lẽ từ lâu đã dẫn đến việc phát minh ra xe chạy điện hoặc hơi nước. Lập luận của họ rất đơn giản : loại xe này sẽ biến thành số không toàn bộ khoản tiền khổng lồ đầu tư vào loại động cơ đốt trong đang đầu độc khí quyển”. Bà đặt báo xuống. “Bài này có gì đúng sự thật không ? - Rõ ràng Vên cho tất cả những điều ấy là đúng. - Anh thì không ? - Nhất định không. - Không có một tí nào ? - Đôi khi có thể thoang thoảng tí chút sự thật trong một lời tuyên bố ngoa ngoắt. Chính bằng cách đó mà những kẻ như Imơcxơn làm ra vẻ mình có lý”. Người chồng đáp lại, vẻ bực bội. - Anh sẽ bác bỏ những điều lão nói chứ ? - Có lẽ không. - Sao vậy ? - Vì nếu Động Cơ Thông Dụng nện Imơcxơn, người ta sẽ lên án cái Hãng lớn như thế mà đi đè bẹp một cá nhân tầm thường. Nếu không đập lại thiên hạ cũng sẽ nguyền rủa bọn anh, nhưng dù sao họ không thể trích dẫn lời bọn anh để xuyên tạc. - Sao không để một người nào khác đập lại ? - Nếu có tay nhà báo kha khá nào đó đụng đến Hăngri Fo xem, có lẽ ông ta sẽ trả miếng - ông mỉm cười - có điều là Hăngri sẽ nói toạc móng heo và sẽ không công bố lời ông ta được. - Ở địa vị anh, có lẽ em sẽ nói một cái gì. Tất nhiên nếu em tin chắc mình có lý. - Cám ơn lời khuyên của em. Vị chủ tịch ĐCTD chấm dứt bàn cãi ngồi ăn xong bữa. Nhưng cuộc tranh luận với những lời châm chọc cố tình mà Côrali cho là thỉnh thoảng đưa ra sẽ bổ ích cho ông, đã làm tiêu tan nỗi bực dọc từ sáng. Ông nghe phía ngoài cửa bếp bước chân người hầu gái đang vào. Như vậy là lái xe đón cô ta dọc đường đã về và đang đợi ông dưới kia. Ông đứng lên, ôm hôn vợ. Mấy phút sau, khoảng sáu giờ sáng chiếc Cađilắc chở ông theo đường Têlêgráf đi về phía đường FriUê và khu trung tâm. Vào một sáng tháng mười trong trẻo có từng cơn gió tây bắc báo hiệu mùa đông đang về. Thành phố Đitơroi bang Misigân, thủ đô thế giới của công nghiệp xe hơi bắt đầu tỉnh giấc. Ở Blumfin Hin, cách nhà ông chủ tịch ĐCTD mười phút đi bộ, phó chủ tịch hãng Fo cũng đang sửa soạn ra sân bay Mêtrôpôlitên của thành phố. Ông đã dùng xong bữa sáng, một mình. Người nữ nhân viên phục vụ bưng khay thức ăn vào tận văn phòng chiếu sáng yếu ớt trong đó ông ngồi đọc các bản báo cáo từ năm giờ sáng (phần lớn các báo cáo đều viết trên loại giấy xanh đặc biệt mà văn phòng phó chủ tịch dùng cho các văn kiện về thực hiện đề án mới) và ghi vào băng từ những chỉ thị rõ ràng, chính xác. Gần như ông không ngẩng lên nhìn khi bữa điểm tâm được mang vào và cũng chẳng nhìn xem mình đang ăn gì. Trong có một giờ ông làm xong khối công việc người khác phải làm trong cả một ngày hoặc hơn nữa mới xong. Phần lớn các quyết định xoay quanh việc xây dựng thêm xưởng máy mới hoặc mở rộng những nhà máy hiện có, tốn kém hàng mấy tỉ đô la. Phó chủ tịch ngoài nhiều nhiệm vụ khác, có trách nhiệm phê chuẩn hoặc bác bỏ các đề án được đệ trình và định thứ tự ưu tiên. Hôm có người hỏi ông phê duyệt những khoản lớn như vậy có thấy run tay không, ông đáp lại : “Không, bởi vì bao giờ tôi cũng thầm bỏ bớt ba chữ số cuối. Thành ra cũng không khó hơn khi cân nhắc mua một ngôi nhà”. Câu trả lời rõ ràng, bật ra rất nhanh, nói lên bản lĩnh của người vốn là anh bán xe xoàng xĩnh chỉ trong thời gian kỉ lục đã trở thành một trong mười hai ông chủ có quyền quyết định trong vương quốc xe hơi. Cũng chính cách làm ăn kiểu đó giúp ông trở thành siêu triệu phú. Vấn đề cần xem xét là sự tiến bộ và sự giàu sang có đáng với cái giá phải trả không. Phó chủ tịch làm việc mỗi ngày mười hai có khi mười bốn tiếng, thường là bẩy ngày trong một tuần với nhịp độ dồn dập. Như ngày hôm nay, trong lúc phần đông dân thành phố còn đang ngủ ông đã phải lên máy bay riêng của hãng bay đi NiuYoóc, trong lúc ngồi trên máy bay ông tranh thủ nghiên cứu thị trường với các nhân viên dưới quyền, vừa đến nơi phải chủ tọa ngay cuộc họp với các giám đốc địa phương cũng về vấn đề đó. Cuộc họp vừa xong ông phải tranh cãi gay gắt với hai mươi đại lý bang NiuGiơdi về việc bảo hành và các dịch vụ hậu mãi. Sau dó đến Manhattan dùng bữa trưa với một nhóm chủ ngân hàng, đọc một bài diễn văn. Rồi họp báo, đương đầu với các phóng viên. Buồi trưa trở về Đitơroi cũng bằng chiếc máy bay đó, ông có nhiều cuộc gặp gỡ để giải quyết công việc thường lệ cho đến bữa chiều. Trong ngày, vào một lúc nào đó chưa sắp xếp được, phải đưa đầu cho thợ đến tận nơi cắt tóc. Bữa tối ăn trên sân thượng sẽ được điểm xuyết bằng cuộc trò chuyện với người phụ trách các ban quan trọng về kiểu xe mới. Cuối cùng sẽ đến vĩnh biệt một đồng nghiệp mới từ trần tối qua vì nghẽn động mạch vành, (tại nhà thờ tang lễ Hêminhtơn, một chặng trên con đường đưa các ông Lớn ngành xe hơi tới nghĩa trang Út Lên). Sau tất cả những việc đó cuối cùng phó chủ tịch mới được về nhà ôm theo chiếc cặp căng phồng hồ sơ phải nghiên cứu để chuẩn bị cho ngày mai. Lúc này ông đẩy khay điểm tâm ra xa, thu gom giấy từ rồi đứng lên. Bốn bức tường của phòng làm việc đều có giá xếp đầy sách. Đôi khi, vào những buổi không bận rộn tối tăm mắt mũi như sáng nay ông ném lên chúng một cái nhìn tiếc nuối và thèm muốn. Vì nhiều năm trước đây có một thời ông đọc rất nhiều. Có thể ông đã trở thành sinh viên nếu đời ông đi theo hướng khác. Bây giờ thì không có thì giờ đọc sách nữa. Ngay cả việc đọc tờ báo hàng ngày cũng phải rình chộp thời cơ tranh thủ liếc thật nhanh. Nên ông cầm tờ báo còn nguyên nếp gấp khi nhân viên phục vụ mang tới và nhét luôn vào cặp. Vì thế mãi sau ông mới biết những lời công kích mới nhất của Imơcxơn Vên và nguyền rủa hắn như những người khác trong ngành xe hơi đã nguyền rủa từ sớm. Tại sân bay ban tham mưu cùng đi với ông đã tề tựu trong phòng đợi của đoàn Vận chuyển hàng không Hăngri Fo. Ông ra lệnh giọng khô khan. “Lên đường”. Động cơ chiếc Jết Xta bắt đầu chạy, trong lúc cả đoàn tám người lên máy bay. Những người lên sau chưa kịp đeo dây an toàn máy bay đã lăn bánh. Chỉ những người thường đi máy bay riêng mới thấy rõ cái lợi về tiết kiệm thì giờ so với đi máy bay công cộng. Máy bay lăn nhanh ra đường băng cất cánh trong lúc mọi người mở cặp đặt trên đầu gối. Phó chủ tịch mở đầu ngay cuộc thảo luận. “Kết quả thu được ở khu vực đông bắc mấy tháng gần đây không được khả quan. Các ông đều đã nắm được số liệu, cũng như tôi. Tôi đòi hỏi sự giải thích tình hình đó. Và muốn biết những biện pháp nào đã được thi hành”. Ông vừa nói xong thì máy bay cất cánh. Phía chân trời vầng dương đỏ quạch nhô dần, sáng lên giữa những đám mây xám trôi rất nhanh. Dưới cánh máy bay đang nâng độ cao, ánh sáng ban mai làm nhìn rõ thành phố và các vùng phụ cận trải dài. Khu trung tâm Đitơroi, ốc đảo vuông mỗi cạnh một cây số giống như một Manhattan thu nhỏ; tiếp liền sau đó là những héc ta đường phố buồn tẻ, nhà cao tầng, nhà máy, nhà ở, phần lớn cáu bẩn. Một thành phố công nghiệp dơ dáy phát sợ vì không chịu vung tiền cho công việc quét dọn vệ sinh. Phía tây thành phố, Điếcbơn sạch sẽ xanh tươi hơn, tận cùng bằng tổ hợp công nghiệp khổng lồ của LơRu. Ngược lại ở đầu phía đông, khu Mũi Lớn, phô những rặng cây thẳng tắp : đó là thiên đường của những kẻ giầu có. Phía Nam là khu công nghiệp Vianđốt mù mịt khói; đảo Bel-In nép sát bờ sông Đitơroi như chiếc sà lan mầu rỉ đồng chở khẳm. Bờ sông bên kia là lãnh thổ Canada, thành phố Oaixo cũng xấu xí cũng gớm ghiếc không kém Đitơroi trên đất Mĩ. Và trên khắp mọi miền, ánh sáng ban ngày làm nổi rõ mật độ giao thông dầy đặc trên mạng đường sá. Hàng vạn con người như đàn kiến cỏ (hoặc đàn chuột len-mút tùy theo cách nhìn từng người) gồm thợ thuyền, nhân viên, viên chức lũ lượt kéo nhau bước vào một ngày sản xuất mới trong vô vàn xí nghiệp lớn nhỏ. Đitơroi kiểm soát và điều khiển nền sản xuất xe hơi của cả nước, nên khi ngày làm việc bắt đầu thì nhịp xuất xưởng lập tức hiện trên tấm bảng lớn đặt tại điểm giao thông lộ các con đường đi tới Fo và tới Craixlơ, những con đường đầy ứ xe. Nhờ sử dụng một hệ thống thống nhất trong cả nước, từng phút một số lượng xe xuất xưởng trong năm hiện lên bằng những con số cao một mét rưỡi trên bảng. Mỗi khi có thêm một dây chuyền khởi động thì tổng số lại tăng lên. Lúc này đã có hai mươi chín nhà máy trong vùng đông bắc làm việc, gửi số liệu lên bảng, số liệu tăng vọt sau khi mười ba xưởng lắp ráp của trung tâm tây và sáu xưởng của Califoócnia khởi động. Những người chạy xe trên đường nhìn tấm bảng với tâm trạng của người bác sĩ nhìn số đo huyết áp, của kẻ đầu cơ chứng khoán khi nhìn bảng giá ở ngân hàng. Có những người còn cá cược nhau về tổng số lúc sáng, lúc chiều. Những xưởng gần nhất cách đây khoảng 1,5km là của Craixlơ, nói chính xác là các xưởng Đốt và Plai-mao mỗi giờ cho ra hơn trăm xe. Trước đây viên chủ tịch hội đồng quản trị của Craixlơ thỉnh thoảng đến giám sát việc bắt đầu chế tạo một sản phẩm mới và tự mình thử khi sản phẩm ra đời. Gần đây ít khi ông làm thế. Buổi sáng hôm đó ông vẫn còn ngồi nhà đọc từ nhật báo Phố Uôn và uống ly cafê do vợ pha trước khi bà đi dự cuộc họp Hiệp hội Nghệ thuật. Hồi đó ông tổng giám đốc hãng Craixlơ (mới nhậm chức chủ tịch gần đây) tất bật chạy ngược chạy xuôi khắp nhà máy không hề mệt mỏi, phần vì nhà máy thiếu máu đang rất cần một giám đốc năng nổ, phần khác là vì bản thân ông đang muốn dứt khoát dứt bỏ cái nhãn “kế toán” người ta thường gán cho những người ngoi lên theo con đường của ngành tài vụ chứ không qua ngạch kỹ sư hoặc chuyên viên thương mại. Dưới quyền ông, hãng đã trải qua nhiều bước thăng trầm : sáu năm thịnh vượng gây được lòng tin cho các cổ đông tiếp theo là sáu năm sa sút đến mức báo động. Sau đó bằng những cố gắng ghê gớm và những tiết giảm khắc nghiệt hãng đã vượt qua cơn hiểm nghèo, khiến có người cho rằng chưa bao giờ hãng hoạt động tốt bằng trong thời kì khó khăn. Tuy nhiên thời khó khăn đã qua, không ai cho rằng chiếc Pentátta đời mới nhất của Craixlơ có thể lại mất cái vị trí nó đã chiếm được. Vị chủ tịch có thể rảnh rang một chút, suy nghĩ nhiều hơn, đọc những thứ thấy thích đọc. Lúc này ông đang đọc bài của Imơcxơn Vên; bài đăng trên nhật báo Phố Uôn có phần kín đáo hơn trên từ Đitơroi Tự do. Nên làm ông chán ngấy, ông thấy lời chỉ trích của lão cùn mòn, không có bản sắc. Nên ông chỉ lướt qua rồi chuyển qua mục bất động sản có sức thuyết phục hơn. Không mấy người biết ít lâu nay Craixlơ đang chăm lo xây dựng một vương quốc bất động sản, trước mắt làm cho hoạt động kinh doanh của công ti phong phú hơn, và sao lại không ? trong vài thập kỷ nữa sẽ đưa “số ba” lên ngang hàng hoặc cao hơn Động Cơ Thông Dụng. Trong khi chờ đợi ngày đó, vị chủ tịch hài lòng ghi nhận nhịp độ sản xuất trên mức khả quan của các nhà máy Craixlơ. Như vậy đó, sáng nay cũng như tất cả các buổi sáng, Ba Ông Lớn vật lộn ráo riết để giữ vững ngôi thứ của mình trong khi một hãng khác ở bang Uýtcơnxin, hãng Động Cơ Mĩ bé nhỏ hơn cũng góp vào dòng lũ xe hơi này một phần tuy ít ỏi hơn nhưng hiện đại hơn. Mời các bạn đón đọc Bánh Xe Nghiệt Ngã của tác giả Arthur Hailey.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Người Lạ Trên Tàu
Đã quen với những tay sát nhân máu lạnh, với những âm mưu tỉ mỉ được lên kế hoạch kĩ càng, độc giả hẳn sẽ cảm thấy ngỡ ngàng khi bước chân vào thế giới của Người Lạ Trên Tàu. Dưới ngòi bút bậc thầy của Patricia Highsmith, ngay cả những con người bình thường nhất cũng có khả năng phạm phải những tội ác ghê gớm nhất. Guy và Bruno, hai con người với tính cách hoàn toàn đối lập, tình cờ gặp nhau trên một chuyến tàu. Trong khi Guy là một kiến trúc sư tài hoa đang cố gắng li dị cô vợ hư hỏng, thì Bruno là một cậu ấm vô công rồi nghề, đang tìm cách thoát khỏi vòng kìm kẹp của cha mình. Sau một tối ngập trong rượu, Bruno bốc đồng đề nghị Guy và cậu ta giết người hộ nhau: Guy giết cha cậu ta và đổi lại cậu ta sẽ giết vợ Guy. Một phi vụ giết người hoàn hảo. Câu chuyện đi theo Guy và Bruno qua những âm mưu, giằng xé đạo đức, những mối quan hệ phức tạp và mối liên kết không thể phá vỡ dần hình thành giữa họ.  *** “Khi trở nên kích động, thì chỉ cần một chuyện nhỏ nhặt nhất thôi cũng có thể đẩy con người ta xuống vực thẳm.” Đây là một câu nói thấm đẫm triết lý trong “Người lạ trên tàu” – một lời phản biện mà Charles Bruno dành cho Guy Haines khi tranh cãi về việc trong cuộc đời sẽ có ít nhất một kẻ nào đó mà ta thực lòng muốn thủ tiêu để thấy hạnh phúc hơn. Quyển “Người lạ trên tàu” dường như đã bị người ta lãng quên bởi sự thành công của bộ phim chuyển thể. Sự xuất sắc của đạo diễn Alfred Hitchcock khi chuyển thể ít nhiều đã làm lu mờ đi tác phẩm gốc của Patricia Highsmith đến nỗi mà người không nghĩ đây là tựa của một quyển sách nữa. Thực lòng thì cuốn sách cực kỳ hay và bộ phim cũng thế nên tôi thích cả hai phiên bản này. Tôi nghĩ bạn cũng thử xem cả phim và sách để có cái nhìn đối chiếu hoàn thiện hơn. “Người lạ trên tàu” là câu chuyện về Guy Haines một anh chàng kiến trúc sư tài hoa và nhà xã hội học giàu có Charles Bruno. Hai người gặp nhau trên một chuyến tàu khi Guy đang về nhà để yêu cầu vợ là Miriam ly hôn để anh ta có thể kết hôn với Anne Morton – một người ăn chơi, giàu có và tự cho mình là trung tâm của vũ trụ. Trước đó, Miriam đã từng đồng ý ly hôn, nhưng lần này Guy có căn cứ để cho rằng Miriam đang mang thai và Guy tin chắc chắn rằng anh không phải là cha. Tuy nhiên, trong lòng Guy vô cùng băn khoăn về việc ấy và nghĩ rằng cô vợ sẽ gây ra nhiều rắc rối để làm chậm trễ tiến trình ly hôn. Những nỗi lòng ấy được tâm sự với Bruno và một kế hoạch kỳ quái đã được đề ra. Nếu Guy đồng ý giết cha của Bruno thì anh ta sẽ giết Miriam dùm Guy. Sở dĩ Bruno đưa ra lời đề nghị kinh dị này bởi vì đối với anh ta thì người bố ấy là nguồn gốc của mọi sự khốn khổ trong cuộc sống của anh ta. Kế hoạch này dường như có lợi cho cả hai bên vì một kẻ tiêu diệt được người thân đáng ghét còn một kẻ sẽ tiếp tục thuận lợi trong con đường hôn nhân. Tuy nhiên, Guy không phải là một kẻ giết người máu lạnh và khi nghe được lời đề nghị đó, anh chàng đã bị sốc vô cùng và ngay lập tức gạt bỏ ý tưởng điên rồ ấy rồi xuống tàu với quyết định sẽ không bao giờ gặp lại con người kia. Nhưng mọi chuyện không hề êm đẹp như ước muốn của Guy bởi không lâu sau đó, Miriam bị giết và nghiễm nhiên là Guy biết ai là kẻ thủ ác. Tự nhiên Guy bị cuốn vào trò chơi giết người ấy dù không hề mong muốn. Kịch bản “mèo vờn chuột” luôn được tận dụng hoàn hảo trong các tác phẩm của Highsmith và “Người lạ trên tàu” cũng không ngoại lệ. Những sự tuyệt vọng của Guy khi cố thoát khỏi trò chơi của Bruno đã mang lại sự kịch tính cho truyện. Một Bruno loạn trí và một Guy mâu thuẫn trong nội tâm cùng chơi một “game thú vị”. Mạch truyện sau đó cho thấy không hề có yếu tố lãng mạn trong “Người lạ trên tàu”. Anne Morton là kiểu phụ nữ muốn tạo ra một vỏ bọc hôn nhân hoàn hảo cho bản thân, và dường như cô ta chỉ cần biết bản thân có chút thích anh chàng đó và không mấy quan tâm việc người đàn ông ấy có yêu mình hay không. Guy, may mắn thay, lại là người rất yêu Anne. Anh ấy có tầm nhìn về sự nghiệp của mình và biết cha của Anne có ảnh hưởng lớn đối với sự thành bại trong tương lai. Nhưng, nếu Guy dính líu đến vụ giết Miriam, thì anh ta chỉ có thể nói lời tạm biệt với Anne và những khao khát về nghề nghiệp. Trong khi mối quan hệ giữa Guy và Anne không phải là điều gì quá thú vị thì mối quan hệ giữa Guy và Bruno ngày càng trở nên phức tạp và mơ hồ. Bruno rõ ràng có rất nhiều vấn đề và những vấn đề này cũng mở rộng sang lĩnh vực tình dục. Một người đàn ông quá loạn trí khi tham gia vào bất cứ điều gì lành mạnh và mối quan hệ kỳ lạ của anh ta với cha mẹ, đặc biệt là với mẹ anh ta, ngăn cản anh ta phát triển mối quan hệ dị tính hoặc đồng tính trong quá khứ. Tuy nhiên, sự tiến triển trong mối quan hệ giữa Guy và Bruno rất hấp dẫn, đặc biệt là khi chúng ta chứng kiến sự suy đồi về tình cảm và đạo đức của Guy. Một số người có thể xem anh ta như một nạn nhân nhưng tôi thì không vì Guy hoàn toàn tỉnh táo, và anh ta đủ nhận thức để phải chịu trách nhiệm cho hành động của mình. Những câu văn trong “Người lạ trên tàu” mang lại cho tôi cảm giác vô cùng căng thẳng và hồi hộp, đôi khi không thể để đặt cuốn sách xuống ngay cả khi ngủ. Cảnh mà Bruno giết Miriam đặc biệt hồi hộp, và mặc dù tôi biết những gì sắp xảy ra, nhưng tôi thực sự không kịp chuẩn bị tinh thần cho tình cảnh đó. Đây là một cuốn sách miêu tả nội tâm nhân vật cực hay và phần lớn sự hồi hộp diễn ra trong tâm trí của Guy và Bruno. Highsmith khiến tôi hồi hộp và cắn móng tay vì không biết chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo cả. Với cách miêu tả kỹ lưỡng, tỉ mỉ từng chi tiết giằng xé nội tâm của hai nhân vật, từ những ngôn ngữ, cử chỉ, hành động cho đến những suy nghĩ điên rồ bệnh hoạn của Bruno; từ những đau đớn tột cùng của Guy khi bị Bruno chi phối, làm ảnh hưởng trầm trọng đến gia đình, tình yêu, sự nghiệp của Guy, cái cách mà Guy khốn khổ, vật vã khi không thể thoát ra khỏi sự bủa vây của Bruno trong tâm trí cũng như cuộc sống… đối với nhiều độc giả ưa thích motif nhanh, cuốn, không quá chuyên sâu vào việc lột tả tâm lý nhân vật, ưa thích những đòn cân não, những vụ án máu me, những suy luận sắc bén, hoặc đơn giản là không thích những cốt truyện mà tác giả tiết lộ hung thủ ngay từ đầu, có thể sẽ cảm thấy nó là lê thê, rệu rã, mất kiên nhẫn, là không đúng với gu của mình. Nó là quá trình hình thành nên cái bản ngã độc ác của một con người, nó từ lương thiện, hiền lành, khi gặp đúng hoàn cảnh thích hợp, nó sẽ tha hóa, biến chất, trở thành một tên sát nhân qua ngòi bút tỉ mỉ, đôi khi pha chút hóm hỉnh, những ví von hài hước nhưng cũng không kém phần mỉa mai, nhạo báng của Patricia Highsmith. “Cái ác ghê gớm nhất bắt nguồn từ chính chúng ta – Jean Jacques Rousseau”. Đọc “Người lạ trên tàu” – một tác phẩm xuất sắc của Patricia Highsmith để có câu trả lời cho bạn nhé. *** “Người lạ trên tàu là một cuốn trinh thám đơn giản đến ngỡ ngàng. Không có những pha hành động nguy hiểm, không có những sát thủ máu lạnh, không có những âm mưu tỉ mỉ được lên kế hoạch kỹ càng. Không có những cú twist hay những pha đấu trí căng thẳng. Không có những màn suy luận sắc sảo. Tội phạm được lộ diện ngay từ đầu. Nhưng chính cái sự đơn giản đến ngỡ ngàng của Người lạ trên tàu lại khiến người đọc bị thu hút. Tác giả tập trung vào khai thác tâm lý của nhân vật khiến ta phải giật mình suy ngẫm. Việc giết người được diễn ra dưới một cách thức hết sức đơn giản, tầm thường không cần phải sắp xếp hay theo một kế hoạch nào cả. Thủ phạm trong Người lạ trên tàu cũng rất đặc biệt. Anh ta muốn trả giá cho hành động của mình nhưng các mối quan hệ phức tạp khiến anh ta giằng xé và đấu tranh.” (Binh Boog) *** Con tàu lao đi vùn vụt với guồng quay bất ổn đầy giận dữ. Nó phải dừng chân ở các trạm thường xuyên hơn, nơi nó sẽ nôn nóng đứng chờ trong giây lát rồi lại tiếp tục tấn công thảo nguyên. Nhưng biến động mà nó gây ra lại quá đỗi nhỏ bé. Thảo nguyên chỉ khẽ dập dờn, như một chiếc chăn hồng mênh mông bị rũ nhẹ một cách thờ ơ. Tàu chạy càng nhanh thì những chuyển động dập dờn ấy lại càng trôi nổi trong gió với vẻ nhạo báng. Guy rời mắt khỏi khung cửa sổ, tiếp tục ngồi dính chặt vào ghế. Miriam sẽ cố gắng trì hoãn vụ ly dị lâu nhất có thể, anh nghĩ thầm. Vì tiền, có khi cô ta còn chẳng muốn ly dị cũng nên. Cứ thế này thì liệu anh có thể thật sự cắt đứt với cô ta không? Anh bắt đầu nhận ra sự căm ghét đang dần làm tê liệt suy nghĩ của mình, tạo ra những lối rẽ nhỏ tối tăm trên con đường mà logic đã chỉ ra khi anh còn ở New York. Anh có thế cảm nhận Miriam đang ở trước mặt, không còn xa xôi, làn da hồng hào và rám nắng, đầy tàn nhang, phát ra hơi nóng bệnh tật, như thảo nguyên bên ngoài khung cửa sổ kia. Sưng sỉa và thô lỗ. Anh tìm thuốc lá trong vô thức, lần thứ 10 nhớ tới quy định không được phép hút thuốc trong toa cao cấp, nhưng cuối cùng vẫn rút ra một điếu. Anh gõ điếu thuốc lên mặt đồng hồ rồi xem giờ, như thể điều đó vẫn còn có ý nghĩa trong ngày hôm nay, 5 giờ 12 phút. Anh đút điếu thuốc vào khóe miệng trước khi đưa que diêm lên. Thế rồi que diêm trên tay được thay thế bằng điếu thuốc, anh hít vào từng hơi thật đều và chậm rãi. Hết lần này tới lần khác, đôi mắt nâu của anh rơi xuống vùng đất bướng bỉnh và hấp dẫn bên ngoài cửa sổ kia. Một bên cổ áo mềm mại hơi vểnh lên. Trên hình ảnh phản chiếu được ráng chiều in lên cửa kính, viền cổ áo trắng dọc quai hàm gợi lại phong cách ăn mặc của thế kỷ trước, cũng giống như mái tóc đen được vuốt cao, rũ xuống trên đỉnh đầu rồi thu gọn lại sau gáy. Mái tóc vuốt lên và đường dốc của chiếc mũi dài khiến vẻ ngoài của anh mang theo nét mạnh mẽ và bạo dạn, dù hàng lông mày ngang rậm rạp và khuôn miệng lại cho thấy sự trì trệ và bảo thủ. Anh mặc một chiếc quần vải flannel phẳng phiu, áo khoác sẫm màu rũ xuống trên cơ thể dong dỏng và có màu tím nhạt ở những nơi được ánh sáng chiếu vào, cà vạt len màu cà chua được thắt cẩn thận. Anh không nghĩ Miriam sẽ có bầu trừ phi cô ta muốn. Điều đó cũng có nghĩa là người tình của cô ta có ý định cưới xin. Nhưng vì sao cô ta lại gọi cho anh? Cô ta không cần sự có mặt của anh thì mới có thể nộp được đơn ly dị. Và vì sao anh cứ lặp lại những luận điệu ngu ngốc mà anh đã nghĩ tới cách đây 4 ngày khi nhận được thư của cô ta? 5 hay 6 dòng gì đó bằng nét chữ viết tay tròn trịa của Miriam chỉ nói rằng cô ta sắp có con và muốn gặp anh. Anh lập luận rằng việc cô ta có bầu sẽ đảm bảo cho vụ ly dị được tiến hành, nhưng vì sao lúc này anh lại thấy lo lắng cơ chứ? Điều khiến anh bị tra tấn nhất là ở một vùng đất sâu thẳm trong tâm hồn, anh thấy ghen tị vì cô ta đang mang thai con của một người đàn ông khác, nhưng lại từng bỏ đi đứa con của anh. Không, anh tự nhủ rằng chẳng có gì ngoài cảm giác xấu hổ khiến anh bực bội, xấu hổ vì anh đã từng yêu một người như Miriam. Anh dập tắt điếu thuốc lên mặt lò sưởi. Đầu thuốc lăn xuống chân và anh đá nó vào phía dưới lò sưởi. Hiện giờ, có rất nhiều thứ để hướng tới. Ly dị, công việc ở Florida - gần như chắc chắn Ban giám đốc sẽ duyệt các bản vẽ của anh và trong tuần này thôi, kết quả sẽ ngã ngũ - rồi cả Anne nữa. Bây giờ, anh và Anne đã có thể bắt đầu lên kế hoạch được rồi. Hơn 1 năm qua, anh đã chờ đợi, cáu bẳn, mong đợi chuyện này xảy ra để anh được tự do. Cảm nhận được sự hạnh phúc đang bùng nổ một cách dễ chịu, anh thả lỏng người trên chiếc ghế xa hoa. Thật sự, suốt 3 năm qua, anh vẫn mong chờ chuyện này xảy ra. Anh có thể trả tiền để ly dị, tất nhiên, nhưng anh chưa bao giờ gom góp được nhiều tiền tiết kiệm như lúc này. Không có nhiều phúc lợi vì anh không làm việc ổn định ở một công ty nào, khởi nghiệp là một kiến trúc sư chưa bao giờ là một điều dễ dàng và ngay cả bây giờ cũng vậy. Miriam chưa bao giờ đòi lấy thu nhập của anh, nhưng cô ta yêu sách anh theo cách khác, nói chuyện về việc anh ở Metcalf như thể họ vẫn còn tốt đẹp lắm, như thể anh tới New York chỉ để thể hiện bản thân và cuối cùng sẽ đưa cô ta tới cùng. Thỉnh thoảng, cô ta lại viết thư vòi tiền anh, những khoản tiền nhỏ thôi nhưng rất phiền nhiễu, anh vẫn gửi bởi vì cô ta có thể thản nhiên khởi động một chiến dịch chống lại anh ở Metcalf, mà mẹ anh thì vẫn đang ở đó. Một chàng trai trẻ tóc vàng, cao ráo, mặc bộ vest màu nâu đồng vừa ngồi phịch xuống chiếc ghế trống đối diện Guy và nở một nụ cười có phần thân thiện, sau đó dịch người vào trong góc. Guy liếc nhìn khuôn mặt nhỏ thó, xanh xao của cậu ta. Có một cái mụn lớn ở giữa trán cậu. Guy lại đưa mắt nhìn ra ngoài cửa sổ. Chàng trai ngồi đối diện có vẻ đang đấu tranh xem nên bắt chuyện hay đánh một giấc. Khuỷu tay của cậu ta liên tục trượt dọc bục cửa số và mỗi khi hàng lông mi rậm rạp mở ra, đôi mắt xám đỏ quạch lại nhìn anh cùng với một nụ cười mỉm trên môi. Có lẽ cậu ta đang ngà ngà say. Guy mở sách ra đọc, nhưng đầu óc anh lại đi lang thang ngay sau một nửa trang giấy. Anh ngẩng lên khi hàng bóng đèn huỳnh quang trắng lập lòe chiếu xuống từ nóc toa tàu, ánh mắt vẩn vơ chạm vào một điếu xì gà chưa được châm đang xoay tròn lơ đãng bởi một bàn tay xương xẩu sau lưng ghế, sau đó anh nhìn vào hàng chữ viết hoa được lồng vào nhau đang lắc lư trên một sợi dây vàng mỏng vắt qua cà vạt của chàng trai ngồi đối diện. Hàng chữ ấy là CAB, chiếc cà vạt bằng lụa xanh lục, bên trên là những cây cọ chướng mắt màu da cam được vẽ bằng tay. Cơ thể thon dài mặc bộ đồ màu nâu đồng ấy đang nằm duỗi ra một cách ẻo lả, đầu ngả ra phía sau khiến cho cái nhọt lớn hoặc vết sưng trên trán kia trông như một ngọn núi lửa sắp phun trào. Đó là một khuôn mặt thú vị, dù Guy không biết vì sao. Trông nó chẳng già cũng chẳng trẻ, không thông tuệ cũng chẳng hoàn toàn ngu đần. Giữa vầng trán dô hẹp và quai hàm nhô ra, mọi thứ hõm xuống một cách nguyên thủy, hõm sâu nơi miệng hằn thành một đường thẳng, nhưng sâu nhất thì phải nói đến cái hõm xanh chứa hai mi mắt nhỏ hình vỏ sò. Da dẻ mịn như con gái, thậm chí là trơn nhẵn, như thể mọi bụi bẩn đã được rút sạch đế nuôi dưỡng cái mụn. Trong giây lát, Guy lại đọc sách. Các con chữ dần có ý nghĩa và bắt đầu xua tan sự lo lắng trong anh. Nhưng Plato* có thể giúp gì cho anh trong chuyện Miriam cơ chứ, một giọng nói trong lòng anh cất tiếng hỏi. Nó đã hỏi anh câu đó ở New York, nhưng anh vẫn mang cuốn sách theo, một cuốn sách cũ từ lớp triết hồi trung học, có lẽ là một sự tùy hứng để bù đắp cho việc anh phải tới gặp Miriam. *Plato (427 - 347 trước Công nguyên), là nhà đại hiền triết và nhà giáo dục của Hy Lạp cổ, đồng thời cũng là một trong các nhà tư tưởng quan trọng nhất, đã viết ra nhiều tác phẩm giá trị, tạo nên ảnh hưởng rộng lớn trong nền Triết học phương Tây. Anh nhìn ra ngoài cửa sổ, mắt chạm vào hình ảnh của chính mình đang vuốt phẳng cổ áo cong tớn. Anne luôn giúp anh làm việc đó. Đột nhiên, anh cảm thấy bất lực khi không có cô. Anh chuyển tư thế, vô tình va vào bàn chân duỗi ra của chàng trai đang ngủ, thích thú quan sát khi hàng lông mi của cậu ta nhíu lại rồi mở ra. Đôi mắt đỏ quạch hẳn đã tập trung nhìn anh từ nãy đến giờ qua hàng lông mi. “Xin lỗi,” Guy lầm bầm. “Không sao,” cậu ta nói, ngồi thẳng dậy và lắc đầu thật mạnh. “Chúng ta đang ở đâu?” “Đang vào Texas.” Mời các bạn đón đọc Người Lạ Trên Tàu của tác giả Patricia Highsmith.
Kẻ Bị Truy Nã
Hiếu Tân (dịch)   Ly kỳ, thương tâm, với những nhân vật mang tính cách mà bạn đọc không thể nào bỏ qua, Kẻ bị truy nã là tác phẩm trinh thám xuất sắc vế thế giới hậu 11 tháng Chín của John Le Carré, một trong những tác giả hay nhất trong thể loại tiểu thuyết tình báo thế kỷ 20, người góp mặt trong danh sách “50 nhà văn Anh vĩ đại nhất sau năm 1945” do tờ Times bình chọn. *** Một trong những tác giả hay nhất trong thể loại tiểu thuyết tình báo thế kỷ 20. Giữa đêm tối mịt mùng, một thanh niên Nga gần chết đói được chở lậu đến Hamburg, trong chiếc ví đeo trên cổ hắn là  một số tiền mặt đáng ngờ. Gã là một người Hồi giáo mộ đạo. Hay là không? Gã xưng tên là Issa. Một cuộc điện thoại bất ngờ gọi tới văn phòng Tommy Brue, chủ ngân hàng tư nhân Anh sắp phá sản trên đất Đức. Cuộc chuyện trò ngắn ngủi giữa chủ ngân hàng dạn dày với nữ luật sư trẻ xinh đẹp đã khởi đầu cho một cú lật nhào cuộc sống của tất cả những người liên quan. Cùng lúc, Issa và chiếc chìa khóa mở tài khoản Lippizzaner bí mật trở thành mục tiêu săn đuổi và giành giật của cả ba cơ quan tình báo khét tiếng phương Tây, nhân danh “Cuộc chiến chống khủng bố”. Ly kỳ, thương tâm, với những nhân vật mang tính cách mà bạn đọc không thể nào bỏ qua, Kẻ bị truy nã là tác phẩm trinh thám xuất sắc vế thế giới hậu 11 tháng Chín của John Le Carré, một trong những tác giả hay nhất trong thể loại tiểu thuyết tình báo thế kỷ 20, người góp mặt trong danh sách “50 nhà văn Anh vĩ đại nhất sau năm 1945” do tờ Times bình chọn. *** Lời khen tặng dành cho Kẻ bị truy nã “Tăm tối, xuất sắc, mê hoặc” - Independent on Sunday “Đầy sức mạnh” - Guardian “Một trong những lời đáp hư cấu phức tạp nhất trước cuộc chiến chống khủng bố từng được xuất bản” - Guardian, Anh “Kẻ bị truy nã mang trong nó mọi yếu tố có thể khiến tác giả của nó trở  thành một trong những người quan sát quan trọng nhất trong giai đoạn lịch sử này của chúng ta.” - Telegraph, Ấn Độ “Nếu ngày nay tiểu thuyết ly kỳ trở thành một thể loại mang tính thời sự nhất thì đó hẳn là nhờ công của ngài le Carré.” - Il Sole, Ý “Vừa lôi cuốn vừa đáng tin đến khủng khiếp.” - La Repubblica, Ý “John le Carré vẫn có tài năng và sinh lực bền bỉ mà nhiều nhà văn trẻ phải ghen tị… Cùng với Kẻ bị truy nã, ông đã cống hiến cho chúng ta một trong những tiểu thuyết hay nhất của mình, đậm đặc những đặc điểm đã làm nên thương hiệu của ông: những đoạn đối thoại được chạm khắc tinh xảo, phân tích tâm lý sâu sắc và sự lộn xộn của hoạt động tình báo quốc tế.” - Libre Belgique, Bỉ “Một trong những cuốn tiểu thuyết hay nhất mà ông đã viết. Có lẽ là quyển hay nhất, có thể lắm... Đây là cuốn sách mạnh mẽ nhất, đầy khí lực nhất của Le Carré. Nó liên quan rất nhiều đến nhịp điệu kể chuyện hầu như hoàn hảo và chất văn xuôi thú vị của nó, nhưng còn liên quan nhiều hơn đến những xúc cảm của độc giả của nó... Một cuốn tiểu thuyết phi thường.” - New York Times Book Review “Giống như Graham Green trước ông, Le Carré sành sỏi thu lượm thông tin trong khi dẫn dụ người đọc vào chính cái cơn mê cuồng vì tò mò đã lôi cuốn các nhân vật của ông...Một câu chuyện được xử lý tốc độ một cách tuyệt khéo, được chế tác một cách dị thường.” - San Francisco Chronicle “Chắc chắn là một trong những quyển hay nhất của ông - có cốt truyện phức tạp, hành văn đẹp, có sức đẩy, đầy tinh thần trách nhiệm đạo đức, nhưng có tính thời sự như những tít báo hàng ngày.”- Los Angeles Times “Le Carré vẫn cứ là đẳng cấp trên so với những hàng xóm của ông trong danh sách các sách bán chạy nhất. Con sư tử đáng nể của tiểu thuyết trinh thám và chính trị ly kỳ tiếp tục khẳng định rằng thể loại này không rời bỏ một giọng điệu đạo đức, cũng như không nên từ bỏ ngôn ngữ thuyết phục.” - Chicago Sun-Times “Le Carré [viết] với một độ kiềm chế tao nhã và một thính giác tuyệt vời. Những đoạn đối thoại của ông căng và sắc nhọn... Le Carré tinh tế trong phân tích những đấu đá tranh giành tệ hại trong nội bộ làng tình báo.” - Boston Globe “Một tập hợp tính cách tuyệt vời, phức tạp, mà chỉ Le Carré mới làm ra nổi.” - Washington Times “Một tiểu thuyết tình báo cực hay... Trong bản cáo trạng về cuộc chiến chống khủng bố, Le Carré đã vẽ nên chân dung chung của những người vô tội bị kẹt trong cái mạng lưới bủa vây bừa bãi của nó.” - GQ “Căng thẳng trong diễn biến, linh hoạt đầy màu sắc khi mô tả khung cảnh Đức và đầy tinh thần truy cầu sự thật khi trình bày Cuộc chiến chống khủng bố.” - Seattle Times “Văn xuôi [của Le Carré] là vô song.” - Newsweek “Một cuốn sách đẹp - cuốn hay nhất của ông... Không nhà tiểu thuyết Anh nào - và rất ít nhà văn kiệt xuất trên thế giới - viết về những sự kiện chính trị hiện thời một cách sắc bén và đầy tưởng tượng như Le Carré.” - Sunday Times (London) “Một cốt truyện phức tạp, thỏa mãn... Văn của Le Carré giữ được vẻ trong sáng và không hào nhoáng; nó trần trụi như những gián điệp của ông, những kẻ đội lốt hơn là chơi dao găm.” - Telegraph “Le Carré xử lý các chất liệu của ông bằng những nét nhẹ nhõm mong manh hiếm hoi, thường thiếu vắng trong những chân dung hiện thời về chống khủng bố: nó là một thứ thôi miên đen, lung linh.” - Independent on Sunday “Vị trưởng lão trong làng tiểu thuyết gián điệp ly kỳ... Ông không bao giờ để lọt khỏi tầm mắt những chiều kích con người trong các nhân vật của ông. Hấp dẫn và đầy những pha hồi hộp.” - Mail on Sunday “Đối thoại của Le Carré đột ngột, nhịp nhàng và hóm hỉnh.” - Sidney Morning Herald “Một nhà tiểu thuyết được ban tặng tài năng gần như một sự kết hợp kỳ lạ giữa những điểm ưu việt nhất của Graham Green và Joseph Conrad.” - Weekend Australian “Một trong những quyển sách hay nhất của ông.” - L’Express “Một kiệt tác văn chương quyến rũ.” - Die Zeit *** Một nhà vô địch quyền Anh hạng nặng người Thổ đang thơ thẩn khoác tay mẹ đi dạo dọc một đường phố Hamburg thì không thể trách anh ta không nhận ra mình đang bị một gã trai gầy nhom mặc áo choàng đen theo dõi. Melik Lớn, như anh được biết đến và ngưỡng mộ trong vùng này, là một chàng trai thân hình đồ sộ, râu ria tua tủa, trông nhếch nhác và tốt bụng, với nụ cười tự nhiên toác đến mang tai và mớ tóc đen buộc lại sau gáy như cái đuôi ngựa, dáng đi lắc lư, nghênh ngang, không có mẹ đi bên thì anh cũng đã choán hết nửa vỉa hè. Ở tuổi hai mươi anh đã là một người nổi tiếng trong cái thế giới nhỏ bé của mình, mà không chỉ về tài nghệ trên võ đài: anh còn là đại biểu trẻ được câu lạc bộ thể thao Hồi giáo bầu lên, ba lần chiếm ngôi á quân trong Giải Vô địch Bắc Đức môn bơi bướm 100 mét, và như thể thế vẫn còn chưa đủ, anh còn là thủ môn xuất sắc trong đội bóng đá ngày thứ Bảy. Giống như phần lớn những người to con khác, anh quen được người ta nhìn hơn là nhìn người khác, đó là một lý do nữa vì sao gã trai còm nhom theo dõi anh đã ba ngày đêm liền mà chưa bị phát hiện. Hai người lần đần tiên chạm mắt nhau khi Melik và mẹ anh, Leyla, từ văn phòng du lịch al-Umma bước ra, vừa mua vé máy bay để về dự đám cưới em gái của Melik ở làng quê họ bên ngoài Ankara. Melik cảm thấy có ai đang nhìn mình chằm chằm, anh đảo mắt nhìn quanh thì đối mặt với một gã trai cao bằng anh, gầy đét, với bộ râu lởm chởm, đôi mắt sâu hoắm đỏ ngầu và một chiếc áo choàng đen dài đủ trùm đến ba lão phù thủy. Gã có chiếc khăn trùm đầu hai màu đen trắng quấn quanh cổ và một chiếc túi yên lữ hành bằng da lạc đà đeo trên vai. Gã trân trân nhìn hết Melik rồi qua Leyla mẹ anh. Rồi gã lại nhìn sang Melik, không chớp mắt, nhưng khẩn cầu anh bằng đôi mắt trũng sâu, tha thiết. Tuy nhiên cái vẻ khốn quẫn tuyệt vọng của gã trai chẳng có gì để Melik phải bận tâm cho lắm, vì văn phòng du lịch nằm ở bìa một phòng đợi nhà ga xe lửa chính, nơi đủ loại linh hồn tội lỗi - những người Đức lang thang, người châu Á, người Ả-rập, người Phi và người Thổ Nhĩ Kỳ như anh, nhưng kém may mắn hơn - suốt ngày lảng vảng, chưa kể đến những người cụt chân ngồi xe lăn chạy điện, những tay buôn ma túy và khách hàng của chúng, những kẻ ăn mày và chó của họ, và một chàng cao bồi bảy mươi tuổi đội mũ rộng vành mặc quần cưỡi ngựa bằng da đính bạc. Vài người có công việc, còn một số ít chẳng có chuyện quái gì để đứng trên đất Đức này mà may mắn lắm là được dung túng theo một chính sách bần cùng có chủ ý, trong khi chờ lệnh trục xuất tức khắc, thường đến với họ vào lúc rạng sáng. Chỉ những kẻ mới đến hoặc những kẻ ngang ngạnh điên rồ mới dám liều mạng. Những kẻ sống chui bất hợp pháp khôn ngoan hơn bao giờ cũng tránh xa các nhà ga. Một lý do chính đáng nữa để bỏ qua gã trai kia là bản nhạc cổ điển mà ban quản lý nhà ga cho mở oang oang hết cỡ trong khu vục này của phòng đợi, phát ra từ những bộ loa nhắm kỹ. Mục đích của nó còn lâu mới là để lan tỏa ra cảm giác bình yên và hạnh phúc tới các thính giả, mà là để tống cổ họ đi. Bất chấp những trở ngại ấy, khuôn mặt của gã trai gầy nhom vẫn in hằn lên ý thức của Melik và trong một khoảnh khắc thoáng qua anh cảm thấy ngượng vì hạnh phúc của mình. Tại sao anh lại phải ngượng nhỉ? Một điều tuyệt diệu vừa xảy ra, và anh nóng lòng gọi điện cho em gái để báo rằng mẹ của họ, Leyla, sau sáu tháng săn sóc người chồng ốm nằm chờ chết, và sau một năm khóc thương ông đến tan nát cả cõi lòng, đang mừng quýnh lên vì sắp được về dự đám cưới con gái, và đang cuống lên về đủ chuyện, nào không biết nên mặc gì, nào của hồi môn có đủ lớn không, nào chàng rể mới thật bảnh trai khiến ai cũng tấm tắc khen, cả em gái của Melik cũng khen. Vậy thì tại sao Melik lại không được huyên thuyên với mẹ? Anh đang làm thế, thật say sưa, suốt quãng đường về nhà. Là do sự im lặng của gã trai gầy guộc kia, lúc sau anh xác định thế. Những nếp nhăn trên một gương mặt còn trẻ như mặt mình, vẻ mặt mùa đông của hắn vào một ngày xuân đẹp đẽ. • • • Hôm ấy là thứ Năm. Và vào tối thứ Sáu, khi Melik cùng Leyla vừa ra khỏi nhà thờ thì gã lại xuất hiện, vẫn gã trai đó, vẫn chiếc khăn và áo choàng rộng quá khổ đó, núp mình trong bóng tối một khung cửa đầy bụi bẩn. Lần này Melik nhận thấy cái thân hình gầy trơ xương đó có dáng đứng nghiêng nghiêng, như thể gã vừa bị đấm bật ra và giữ nguyên góc nghiêng lệch ấy cho đến khi có ai bảo gã đứng thẳng lên được rồi. Và cái nhìn rực lửa thậm chí còn mãnh liệt hơn hôm trước. Melik nhìn thẳng vào đôi mắt trân trối ấy, anh ước giá mình chưa nhìn, và anh nhìn lảng đi. Và cuộc chạm trán lần thứ hai này càng ít có khả năng xảy ra bởi vì Leyla và Melik rất hiếm khi đi nhà thờ, ngay cả một nhà thờ ôn hòa dùng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ. Từ 11/9, các nhà thờ Hồi giáo ở Hamburg đã trở thành chốn nguy hiểm. Vào nhà thờ không nên vào, hay vào đúng nhà thờ nhưng gặp thầy tế không nên gặp, thế là ta có thể thấy mình và gia đình nằm trong danh sách theo dõi của cảnh sát đến hết đời. Không ai nghi ngờ rằng gần như trong mỗi hàng tín đồ cầu nguyện đều có những kẻ mật báo đi đêm với chính quyền. Không một ai, dù là người Hồi giáo hay chỉ điểm cho cảnh sát, hay cả hai, có thể quên rằng thành Hamburg đã từng là nơi vô tình chứa chấp ba tên không tặc ngày 11/9, chưa nói đến những đồng bọn của chúng, thành viên của nhóm khủng bố, những kẻ âm mưu, hoặc quên rằng Mohammed Atta*, kẻ lái chiếc máy bay đầu tiên đâm vào tòa Tháp Đôi, đã thờ vị thần đầy thịnh nộ của hắn trong một đền thờ bình thường ở Hamburg. Mohammed Atta (1968-2001) là sinh viên Ai Cập học ở Đức cuối những năm 1990. Cùng với Ziad Jarrah, Marwan al-Shehhi và Ramzi Binalshibh lập thành cái gọi là Chỉ bộ Hamburg. Nhóm này sau đó liên kết với al-Qaeda, và Atta là tên không tặc khống chế chiếc máy bay đầu tiên đâm vào tòa Tháp Đôi, 11/9/2001. Mời các bạn đón đọc Kẻ Bị Truy Nã của tác giả John Le Carré.
Gai Hướng Dương
Là một câu chuyện giản dị mà giàu tính nhân văn về cuộc đời hai người phụ nữ: Kotani Natsuko và Ishida Tetsuko. Kotani Natsuko có một sở thích, đó là xoay đám đàn ông trong bàn tay nhỏ của mình. Mặc dù cô ta không có ngoại hình đẹp, chẳng giàu có, thậm chí còn không có một công việc ổn định, thế nhưng bằng cách nào đó, đàn ông luôn cảm thấy vui vẻ khi ở cạnh cô ta và tình nguyện mở ví rút tiền cho cô ta. Và mỗi khi gặp rắc rối, Natsuko lại nhờ một người họ hàng xa giúp đỡ. Đó là luật sư Ishida Tetsuko. Lần đầu tiên là khi Tetsuko hai mươi tư tuổi và bắt đầu làm luật sư, sau đó, với tần suất năm, bảy năm một lần, mối quan hệ khách hàng – luật sư giữa hai người kéo dài suốt gần năm thập kỷ. Rốt cuộc thì Kotani Natsuko là loại phụ nữ như thế nào? Trong đầu người đàn bà được đàn ông nhận xét là “xinh đẹp rực rỡ như mặt trời mùa hè” nhưng lại bị phụ nữ đánh giá là “lẳng lơ, tham lam” ấy chứa đựng những suy nghĩ gì? Đây là những thắc mắc mà không chỉ luật sư Tetsuko, ngay chính người đọc tiểu thuyết cũng sẽ đặt ra một cách rất tự nhiên. Rồi từng chút, từng chút một, hình tượng một Kotani Natsuko mạnh mẽ, đầy sức hút nhưng cũng không kém phần ranh mãnh, ích kỷ sẽ hiện ra chân thực và sống động trước mắt người đọc. *** Dẫu kể Gai hướng dương kể về cuộc đời của hai người phụ nữ, một Natsuko rực rỡ đầy sức sống như mặt trời nhưng lại ích kỷ dối trá, còn Testsuko lại cứng cỏi nghiêm nghị như một samurai cô độc, thì tôi vẫn luôn tìm thấy niềm vui khi khám phá về những nhân vật phụ bên cạnh hai con người ấy. Tôi vô cùng yêu thích cặp đôi văn thư Miyuki và luật sư Ogiwara. Cả hai người đều đã có gia đình nhưng họ quan tâm đến nhau theo một cách rất riêng. Miyuki lớn hơn Tetsuko 8 tuổi nhưng rất để ý đến các thay đổi nhỏ xíu. Cô không thích sự cẩu thả bừa bộn, cô để ý đến từng vết nhăn trên áo của Ogiwara. Chỉ nhìn qua cách gấp khăn của Ogiwara là Miyuki đã biết vợ chồng anh ly thân. Sau này Miyuki còn ghét cô gái mà Ogiwara đang hẹn hò, bởi việc đó khiến anh thay đổi quần áo đang mặc, không đặt lịch làm việc trước,… nói chung là vô tổ chức. Những tưởng Miyuki có tình cảm với Ogiwara nhưng có vẻ không như vậy, mối quan hệ giữa họ cao cả hơn cả tình yêu. Đó là tình giữa những con người đã gắn bó với nhau suốt nhiều năm liền. Review sách gai hướng dương Ngược lại, Ogiwara rất tin tưởng vào con mắt nhìn người của Miyuki, luôn hỏi ý kiến của cô trước khi nhận một vụ nào đó. Phong cách của Miyuki là luôn tiếp đón những người xa lạ như người thân, chứa trong đó bao nhiêu tình cảm. Mỗi câu nói của cô đều kéo tâm trạng người ta tốt hơn, cảm thấy gần gũi và sẵn sàng chia sẻ thông tin. Có lần cô ấy đã nói với theo một đứa trẻ, người đến văn phòng luật sư yêu cầu văn phòng đừng để cha mẹ ly hôn, rằng “Cháu có muốn mình hạnh phúc không?.. Cháu phải học cách chấp nhận những điều không thích cũng như nỗi buồn. Như thế mới dễ sống hơn được.” Cái câu nói ấy đã khiến cả Tetsuko và tôi phải suy nghĩ. Liệu cố gắng sửa chữa hoặc thay thế một cái gì đó mình không thích có phải là điều khiến mình hạnh phúc? Dù luôn liên kết với nhau theo một cách nào đó, nhưng cả Miyuki và Ogiwara đều vẫn rất quan tâm đến gia đình nhỏ của riêng mình. Ogiwara đã nhờ Tetsuko mua hoa để tặng cho con gái trong một buổi hẹn riêng với cô bé. Theo lời Ogiwara thì cô bé dù còn nhỏ mà đã cư xử như một bà cụ non và muốn được đối xử như một phụ nữ chân chính. Còn Miyuki dù rất yêu thích công việc tại văn phòng luật sư nhưng cũng quyết định rằng mình đã đến tuổi nghỉ ngơi. Bởi cô nhìn thấy bóng lưng người chồng khi về già sao mà nhỏ bé đến đáng thương, đó là khoảnh khắc Miyuki mong muốn được ở bên chồng cho đến cuối đời. Câu chuyện giữa người với người trong Gai hướng dương kéo dài hơn 40 năm, không chỉ là giữa mối oan gia giữa Natsuko và Tetsuko mà còn là tình bạn đẹp đẽ của Miyuki và Ogiwara. Đó mới thực sự là tri kỷ. Trương Thu Hoài Review *** Hay quá! Để viết lời bình của cuốn tiểu thuyết này, tôi đã đọc lại cuốn sách. Tuy đã đọc rồi nhưng cũng có nhiều đoạn khiến mắt tôi cay cay. Ví như đoạn nhân vật chính và đối tượng ngồi xem lại cuốn băng ghi âm lời nhắn nhủ của người đã khuất. Hoặc lúc chiếu lại bằng máy DVD cầm tay lời xin lỗi của người chồng đối với vợ cũ. Đó là đoạn Iso-kun đi cùng Ishida Tetsuko, và cậu ta đã khóc sướt mướt. Trong lòng tôi cứ nhủ thầm, Iso-kun, không được khóc đâu đấy, thế mà ngay cả tôi cũng khóc theo. Và cảnh cuối cùng khiến tôi cay mắt là lúc cao trào của truyện. Ôi, tôi thật muốn kể ngay với các bạn tại đây, nhưng thế thì mất hết cái hay, nên phải nhịn thôi. Phải giới thiệu về nội dung trước chứ nhỉ! Giờ chúng ta đi theo trình tự nhé! Đây là câu chuyện về một bậc thầy lừa đảo. Cuốn sách kể về cuộc đời chìm nổi của Kotani Natsuko, một kẻ lừa dối bẩm sinh, vô cùng ích kỷ và chuyên dựng chuyện. Cách nhanh nhất để hình dung về nhân vật này là qua lời nhận xét: “Nat-chan ấy mà, có tài năng thiên bẩm đấy, tài năng khiến cho đàn ông nhận ra được ước mơ của mình.” Thủ pháp này của tác giả cũng thật tài tình. Cô ta đến ngồi cạnh một người đàn ông bên quầy bar, hỏi anh ta nếu trúng số một triệu yên thì sẽ làm gì. Anh chàng kia liền bảo sẽ đi du lịch nước ngoài, thế là câu chuyện tiếp tục theo kiểu đi đâu rồi lúc nào, vân vân. Thực tế là anh ta chẳng trúng số, thậm chí chắc chả bao giờ mua xổ số, thế mà lại trái qua hai tiếng đồng hồ vui vẻ bên nhau. Khi ra về, cứ thử bảo là tháng sau mình không có tiền để trả tiền nhà xem, thế nào anh chàng chẳng lẳng lặng đem hết tiền trong túi ra đưa cho. Ngày hôm sau, cô ta lại ngồi cạnh một anh chàng khác bên quầy bar, rồi cũng chuyện trò rằng nếu trúng số một triệu yên, anh ta sẽ làm gì. Ngoài ra, xếp hạng mười điều vui vẻ trong cuộc đời cũng là phong cách của Natsuko. Cho dù cuộc đời có khổ đau thế nào thì cũng có một, hai việc vui, thế rồi cố gắng phân loại cái nào hơn, cái nào kém. Nhớ đến những lúc vui vẻ, con người ta sẽ trở nên dễ chịu. Bằng cách này, Natsuko đã giúp thay đổi tâm trạng cho một bệnh nhân mà cũng chẳng phải là con mồi của cô ta. Thật là một kẻ lừa đảo thú vị! Người chồng trước của Natsuko, Yoshiaki, đã nói như thế này: “Như cô biết đấy, cô ấy là người chỉ biết đuổi theo giấc mơ. Thấy tôi từ bỏ ước mơ, cô ấy khích lệ rằng không sao đâu, ai rồi cũng sẽ gặp phải chướng ngại, nhưng trên chướng ngại đó cũng sẽ có bao nhiêu là đường thông. Mắt con người chỉ để ý đến chiều cao của chướng ngại mà không biết nếu nhìn cẩn thận sẽ có đường vượt qua. Cô ấy đã đánh giá nhầm về tôi như thế đó. Lúc cô ấy ở bên, tôi như được ban cho phép màu.” Cô ta chẳng phải xinh đẹp tuyệt trần, nhưng lại khiến người khác bị hấp dẫn. Ở cùng Natsuko, chẳng hiểu sao mọi người lại thấy vui vẻ, cười nói liên tục. Tuy cô ta nói dối, tuy cô ta ích kỷ, tuy cô ta phiền phức, nhưng đó là người phụ nữ đầy sức hút. Việc tạo nên một nhân vật Natsuko như thế là điều tuyệt vời nhất của cuốn sách này, làm nên một nửa thành công cho câu chuyện. Vậy nửa còn lại là gì? Nếu nhìn vào cấu tứ của cuốn sách, chúng ta sẽ hiểu. Có nghĩa là, cách kể chuyện thông qua nhân vật luật sư Ishida Tetsuko. Đối với Tetsuko, Natsuko là cháu của em gái bà ngoại, là họ hàng xa. Lúc còn là một luật sư mới vào nghề, Tetsuko ở độ tuổi hai mươi tư cảm thấy không mấy thân thiết với người họ hàng mười bảy năm không gặp này. Hơn nữa, người này còn để lại ấn tượng xấu trong cô. Năm bảy tuổi, đến thăm nhà bà ngoại, cô gặp cô bé Natsuko cùng tuổi. Bà ngoại yêu thích may và nên đã may cho hai cô bé hai bộ váy giống nhau, và cho hai cô mặc thử luôn. Ngày hôm sau, chiếc: váy của Tetsuko bị xé tan tành, vứt trong máy giặt. Thủ phạm chính là Natsuko nhưng cô ta không hề nhận lỗi. Với một người như thế, làm sao thấy thân thiết được? Rồi mười bảy năm sau, cô ta gọi điện đến bảo là đang gặp rắc rối nên muốn gặp mặt trao đổi. Từ đó về sau, cứ vài năm, Natsuko lại liên lạc bảo là bị đòi tiền bồi thường, đang gặp rắc rối. Mối quan hệ giữa họ bắt đầu như thế. Lần thứ hai gặp mặt là năm năm sau, lần tiếp theo là bảy năm sau. Sau đó là bốn năm, bảy năm, chín năm, chín năm, sáu năm. Trong khoảng thời gian đó, Natsuko kết hôn rồi ly hôn, yêu trai trẻ, lừa người già, làm công nhân vệ sinh ở bệnh viên, làm nakai ở ryokan. Mỗi lần gặp là một lần nghề nghiệp thay đổi. Nơi ở cũng chuyển hết nơi này sang nơi khác, Hirosaki, N agoya, Wakayama, Yamaguchi, mỗi lần Tetsuko đều đến tận nơi. Mối quan hệ có thể gọi là nghiệt duyên giữa họ cứ thể duy trì. Dĩ nhiên trong quá trình này, Tetsuko cũng dần già đi. Ở chương một, cô ấy là một luật sư tập sự ở Văn phòng luật Ogiwara, hai mươi bốn tuổi, đến chương cuối, cô ấ đã nghỉ huu, là một bà lão bảy mươi mốt tuổi. Đây là một câu chuyện trải dài qua bao năm tháng như vậy, nhưng xin lưu ý rằng chưa một lần nào Natsuko xuất hiện độc lập, toàn bộ đều là qua lời kể của người khác. Đó là những đối tượng tố cáo Natsuko, hoặc là người quen ở nơi đó, là chủ quán nơi Natsuko thường đến. Thủ pháp này được sử dụng xuyên suốt cuốn sách. Không hề có câu thoại nào từ Natsuko cả. Xin chủ ý rằng, cảnh Tetsuko gặp Natsuko thường được miêu tả dưới dạng hồi tưởng, ví dụ: “Bốn tiếng trước lúc gặp Natsuko, bên khóe miệng bà ấy đã xuất hiện nếp nhăn tuổi tác.” Natsuko chưa từng xuất hiện ở bề nổi của câu chuyện. Triệt để đến mức như vậy, có thể thấy đây chính là ý đồ của tác giả. Dĩ nhiên, nội tâm của nhân vật Natsuko cũng không hề được miêu tả. Đây chính là đặc điểm lớn nhất của cuốn sách. Vì lý do đó, hình ảnh của thiên tài lừa đảo này mang sắc thái phong phú và có chiều sâu, càng ngày càng phát triển. Một điểm quan trọng nữa, đó là song song với việc miêu tả cuộc đời của thiên tài lừa đảo Kotani Natsuko, cuốn sách còn dành phần lớn đất để miêu tả cuộc đời của luật sư Ishida Tetsuko. Từ lúc còn là luật sư tập sự, không biết làm thế nào để thu xếp công việc, rồi dần dần biết việc hơn, tích lũy kinh nghiệm, cho đến khi nghỉ hưu. Cuộc đời của nhân vật được miêu tả rất sống động và chân thực. Khác với một Natsuko luôn rực rỡ và giỏi xã giao, Ishida Tetsuko không cởi mở, bạn bè cũng chẳng có, chỉ biết đến công việc. May mắn thay, cô được vào làm luật sư tập sự ở Văn phòng luật Ogiwara. Cô không nghĩ đến việc ra riêng, có lẽ là vì tôn trọng nhân cách của luật sư Ogiwara. Một lý do nữa là Miyuki đã hỗ trợ rất tốt cho cô, cũng như rất giỏi trong việc quyết toán. Luật sư tập sự mới của văn phòng Isozaki cũng là một thanh niên tốt. Tetsuko còn có người bạn thân là chồng cũ Sakaguchi, một người chị cá tính, và một người anh tuy vô dụng nhưng không thể nào ghét được. Tuy có lúc này lúc khác, nhưng có thể nói rằng Tetsuko đã may mắn gặp được họ. Nhưng cô có người bạn thực sự nào không? Cô có thực sự hạnh phúc không? Vụng về, cô đơn, dường như lúc nào cũng có thể bị sự trống rỗng nhấn chìm, chúng ta có thể thấy mình trong một Tetsuko như thế. Chúng ta không thể sống như Natsuko, nếu được vậy thì không biết sẽ tuyệt đến mức nào. Nhưng cuộc đời là thế, rất nhiều chuyện có muốn cũng chẳng được. Đúng vậy, cho nên tôi mới bị cuốn sách này thu hút. Lúc nhận ra điều này, tôi nhớ đến đoạn cuối. Cho dù không có bạn bè, mỗi ngày đều làm bạn với nỗi cô đơn thì cũng đừng chán nản với cuộc đời. Những lời trong bức thư cuối khiến tôi xúc động. Đây là cuốn tiểu thuyết hay, một kiệt tác của Katsura Nozomi. Nhà phê bình văn nghệ Kitagami Jiro Mời các bạn đón đọc Gai Hướng Dương của tác giả Nozomi Katsura.
Vụ Án Mạng Thứ Sáu
Thám tử Kỳ Phát là bộ truyện đã làm nên danh tiếng của "Vua trinh thám Việt" - nhà văn Phạm Cao Củng. Giống như Sherlock Holmes, Kỳ Phát luôn đề cao lí trí, lấy suy luận làm phương cách phá án. Vụ án mạng thứ sáu là tác phẩm tiếp theo trong Series truyện Thám tử Kỳ Phát, đánh dấu sự trở lại của Kỳ Phát sau một thời gian ở ẩn. Đón chờ chàng thám tử tài ba của chúng ta là một vụ án khá hóc búa. Hai cụ già, có thân phận và hoàn cảnh không liên quan gì đến nhau nhưng lại lần lượt bỏ mạng bởi một sợi dây thừng siết chặt quanh cổ. Thủ phạm sau khi ra tay đã để lại những lời cảnh báo đầy ngạo mạn, tự xem mình là "sứ giả" được Trời sai xuống để "hóa kiếp" cho các cụ già tới số. Bí mật ẩn sau những vụ án mạng này là gì? Thân phận thật sự của kẻ giết người là ai? Liệu Kỳ Phát có thể tìm ra thủ phạm trước khi có thêm những nạn nhân mới. *** Thám tử Kỳ Phát là bộ truyện đã làm nên danh tiếng của “Vua truyện trinh thám Việt Nam” - Phạm Cao Củng. Giống như Sherlock Holmes, Kỳ Phát luôn đề cao lý trí, lấy suy luận làm phương cách phá án. Series Thám tử Kỳ Phát gồm 5 cuốn: Đám cưới Kỳ Phát; Nhà sư thọt; Chiếc tất nhuộm bùn; Vết tay trên trần; Kỳ Phát giết người. Vụ Án Mạng Thứ Sáu Mặc dù học tập và ảnh hưởng từ truyện trinh thám phương Tây, nhưng Phạm Cao Củng đã sáng tạo nên những câu chuyện thấm đẫm đời sống Việt Nam, tính cách Việt Nam. Phá án theo phương pháp suy luận diễn dịch kiểu Sherlock Holmes, song nhân vật của Phạm Cao Củng mang đậm những phẩm chất được ưa chuộng ở phương Đông: trọng nghĩa khí, coi thường tiền bạc, không hành động vì thù lao, luôn tôn trọng tình cảm, đạo đức. Kỳ Phát giết người: Một hôm, nhận được thư của Cúc, Kỳ Phát vội vàng tới gặp tình cũ. Chồng Cúc mới qua đời, đứa con trai tên Hoàn lại bị bắt cóc, khiến cho nàng vô cùng hoang mang, đau đớn. Cùng lúc đó, một cậu bé tên Hoàn khác cũng mất tích. Kỳ lạ là trong cả hai vụ, hai gia đình đều bị trộm đột nhập nhưng chỉ mất mấy đôi đũa. Ai là kẻ chủ mưu đứng sau tất cả mọi chuyện? Kỳ Phát phải làm gì để tìm được con trai Cúc? Bí mật nào ẩn giấu đằng sau hai vụ bắt cóc và những đôi đũa bị đánh cắp? *** Qua con đường Sông Máng ngoằn ngoèo khúc khuỷu, tới gốc đa cụt, rẽ theo con đường điện thoại lối hai trăm thước thì đến đầu làng Văn Bối. Người ta có cảm tưởng như vừa bước vào một ngôi đền rộng lớn, vì ở đây, cổng làng dựng theo kiểu tam quan, và từ đó trở đi, đường lát toàn bằng đá phiến màu xanh biếc, bên lề lại có hàng thông, tiếng reo theo gió vi vu... Ngay cổng làng có hai dãy hàng quán: mấy lều bán nước, một hiệu thợ giày, một nhà chữa xe đạp, còn thì toàn hàng thịt chó. Ở đây, hình như có mấy tay chuyên môn làm thịt chó đã nổi tiếng từ xưa ở Hà Nội, vẫn thường được triệu đến khi các nhà quyền quý muốn thiết khách phương xa một bữa tiệc thịt chó cầu kỳ. Tới đây, chàng thiếu niên chợt dừng bước, ngơ ngác nhìn quanh, vì như thoáng nghe tiếng gọi: - Ông Kỳ! Ông Kỳ! Không thấy ai là người quen thuộc, chàng lại toan cất bước, ngờ rằng cặp tai mình bị huyễn hoặc theo dư âm của tư tưởng vừa thoáng qua. Nhưng không, quả có tiếng người gọi: - Ông Kỳ! Tiếp đó là tiếng người vừa hỏi, vừa cười ha hả: - Ông Kỳ Phát, ông đã chóng quên anh em thế? Kỳ Phát nhận ra người gọi mình là một người vào trạc tứ tuần, nhỏ bé, vận một bộ com-lê màu rêu rộng thùng thình, dáng chừng mua lại của một hàng quần áo cũ nào đó, đầu đội một chiếc mũ cát-két bằng da báo. Người ấy rướn cổ nhòm ra, trước một cửa hàng thịt chó, những toan chạy theo ra hẳn nếu Kỳ Phát không dừng bước. Sự thực, tuy ngờ ngợ quen quen, Kỳ Phát cũng chưa nhận ra là ai cả. - Ông Kỳ, thì ông hãy vào đây đã nào, ông hàng đây không lấy tiền chỗ ngồi của ông đâu mà sợ. Ông hàng thịt chó cũng đon đả tiếp: - Nhà cháu vừa pha ấm nước ngon lắm! Người đội mũ cát-két vênh mặt lên bảo ông chủ hàng: - Uống nước là thế nào? Hôm nay thì ông Kỳ phải ở lại đây xơi rượu đã! Và thấy Kỳ Phát có vẻ lúng túng, chưa biết trả lời ra sao thì người ấy lại phá lên cười: - Lòng người chóng thay đổi thực, ông quên tôi chứ tôi quên ông thế nào được? Vậy ông không phải họ Kỳ tên Phát, là chàng trinh thám muôn đời vẫn còn trẻ mãi trong lòng người ư? Ông quên thiên hạ, đã bao năm nay kín tiếng bặt hơi, nhưng thiên hạ quên ông sao được, người ta vẫn nhớ ông mãi, nhớ ông là người anh hùng trong bao vụ án rắc rối ly kỳ như vụ “Nhà sư thọt”, “Ba viên ngọc bích”... Người ấy nói nhiều quá, làm cho Kỳ Phát ngượng và không còn cách nào hơn là bước vào hàng: - Tôi gần đây không được khỏe lắm nên trí nhớ kém đi nhiều... Người ấy vỗ vào vai chàng, gật gù đỡ lời: - Nào tôi có dám trách gì ông đâu! Năm, sáu năm rồi còn gì nữa! Nhưng để tôi nói ông nghe... Thế này thì ông sẽ nhớ ra ngay tức khắc: tôi chính là bác Ba “thợ cạo” vẫn ngồi làm ở cửa nhà ông... gì này này, bạn ông ấy mà... Kỳ Phát reo lên mừng rỡ: - Bác Ba Hùy! Người đội mũ cát-két cũng reo lên nhắc lại: - Ba Hùy, đúng rồi, chắc ông không bao giờ lại ngờ “tha hương ngộ cố nhân” đấy nhỉ? Kỳ Phát không ngờ, vì chàng không bao giờ tưởng tới lại có thể gặp ở chỗ hẻo lánh này người thợ cạo mà chàng vẫn gọi đùa là Ba Hùy, người mà bạn chàng, hoặc chàng, mỗi khi đi vắng lại khóa cửa dặn: - Này, bác Ba Hùy, hễ có ai gọi hỏi gì thì bác nói giùm rằng chúng tôi đi hai hôm nữa mới về nhé! Bác Ba Hùy, vì hàng ngày vẫn bắc chiếc ghế vải ngồi cắt tóc cho khách ngay ngoài cửa nhà này, nên đã thành một “nhân viên thường trực” không lương cho hai chàng thanh niên ưa hoạt động. Kỳ Phát ngắm nghía Ba Hùy lại một lần nữa, rồi cười bảo: - Trông bác sang thế này, khác hẳn trước, thì tôi nhận ra sao được! Ba Hùy vỗ vào túi áo rồi đặt chiếc mũ cát-két xuống, trả lời: - Nghĩa là cũng “hình thức” cả thôi, ông ạ. Được cái tản cư thế này com-lê com liếc hay quần nâu áo vải, ăn vận thế nào cũng được, láo nháo chẳng ai để ý đến ai cả. Quay lại ngắm nghía Kỳ Phát, giây lâu, Ba Hùy tiếp: - Trông ông thì vẫn thế, chẳng thay đổi chút nào cả. Vẫn cặp mắt sáng nhanh, vẫn cái cười nửa miệng, còn cách ăn vận đối với ông thì chẳng kể được, ngay thời bình cũng vậy, ông luôn luôn thay hình đổi dạng đố ai nhận ra được nữa là... Ngừng lại một phút để suy nghĩ bác lại tiếp: - Đã hai lần tôi gặp ông đi qua đây, song không dám gọi vì thấy ông đi vội, và lại tôi cũng ngại sợ ông bận việc gì. Kỳ Phát mỉm cười, lắc đầu bảo: - Tôi có bận gì đâu, ít lâu nay chẳng làm gì, chỉ nằm một chỗ xem sách nên sinh ra lười, không giống như ngày xưa luôn luôn ưa hoạt động... Ba Hùy nhìn Kỳ Phát chăm chú giây lát, bỗng thở dài nói: - Nếu thế thì tiếc lắm nhỉ, tôi cứ tưởng rằng óc trinh thám của ông vẫn còn ưa tìm tòi hoạt động nên muốn hiến ông một vụ... Bỗng Ba Hùy dừng bặt, bước sấn lại bên Kỳ Phát, nắm chặt lấy hai vai chàng, nhìn sát lại gần thật kỹ, rồi ha hả cười lớn: - Có thể chứ, Kỳ Phát bao giờ cũng là Kỳ Phát của thời xưa. Tôi thấy mắt ông sáng quắc hẳn lên khi thoáng nghe có chuyện ly kỳ bí mật, tôi biết chắc rằng ngọn lửa thiêng trong lòng chàng thanh niên trinh thám số một của nước Việt Nam vẫn cháy bất diệt suốt ngàn đời... Kỳ Phát mỉm cười, kéo Ba Hùy ngồi xuống rồi bảo: - Điều này tôi nhận xét thì chắc không sai được, đó là ông Ba Hùy của tôi dạo này nói nhiều lắm, thao thao bất tuyệt, tôi không tài nào theo kịp được. Quay lại phía ông hàng thịt chó, Kỳ Phát vui vẻ tiếp: - Mà rượu của ông hàng chắc hẳn phải ngon lắm, nên ông bạn tôi đây càng uống càng ngọt giọng nói nhiều... Ba Hùy gật gù cười khi, ngắt lời Kỳ Phát: - Chết chửa, mải chuyện lôi thôi quên ngay mất điều cốt tử. Rượu hàng đây là của lò ngon nhất Đồng Văn, uống ngọt giọng mà say phải biết. Ông hàng cho thêm đũa chén ra đây, ông Kỳ phải uống với tôi một bữa thực là say túy lúy! Kỳ Phát lắc đầu từ chối: - Thôi, ông để cho khi khác. Ông cũng chẳng còn lạ gì, tôi có uống được rượu đâu, góc chén hạt mít thì đã gọi là say túy lúy, mặt bấy giờ sẽ hệt như Quan Công hiển thánh... Ba Hùy vẫn không lưu ý đến lời Kỳ Phát, vẫn ung dung lấy giấy bản lau đũa chén cho chàng rồi rót rượu: - Điều ấy không can hệ gì mấy, ông Kỳ ạ! Tôi chỉ muốn biết: ông thích tôi kể cho ông nghe vụ án ly kỳ hiện đương làm cho nhà chuyên trách vùng này rối như tơ vò không? Kỳ Phát gật đầu: - Điều ấy thì đã hẳn rồi, ông còn hỏi tôi thì khí thừa một chút! Ba Hùy gật gù đắc ý: - Vậy thì ông Kỳ ạ, ông không nên từ chối gì hết, hãy uống rượu và nhắm món rựa mận đi đã, ông sẽ thấy rằng ông hàng đây quả đã xứng danh là vô địch trong khoa nấu nướng thịt cầy... Kỳ Phát lắc đầu: - Ngồi chơi với ông thôi, chứ uống rượu thì chịu, tôi có uống được đâu... Ba Hùy ngắt lời: - Không nói lôi thôi gì hết, tôi chỉ biết có một điều kiện: ông có thích nghe chuyện thì đánh chén thịt chó với tôi, bằng không thì tôi nhất định nửa lời cũng không nói nữa... Kỳ Phát biết rằng Ba Hùy đã nắm được nhược điểm của mình, đành đấu dịu: - Vâng, thì tôi xin uống rượu thôi, chứ còn thịt chó thì chịu... - Sao lại chịu? “Sống ở trên đời chén miếng dồi chó” mà lại! - Không, tôi không biết ăn thịt chó thực! - Lại không biết! Cái gì mà đầu tiên người ta chẳng không biết, vậy rồi mà cũng biết tất. Ông Kỳ Phát ạ, ông không nên thoái thác, ông xơi một hớp rượu, rồi nhắm một miếng chả chó xem nó có “thú lý tình” không? - Tôi không biết ăn thực! - Tôi đã bảo không sao mà lại, rồi biết tất. Vả lại, ông chớ có quên, tôi chỉ có một điều kiện, ông phải đánh chén thịt chó với tôi, nếu không... Ngừng lại một phút, Ba Hùy nheo cặp mắt tinh nghịch nhìn Kỳ Phát: - Mà vụ án ly kỳ đặc biệt ông ạ, một án mạng, hai ba án mạng, rồi không chừng năm sáu án mạng nữa tiếp theo... Kỳ Phát gợi chuyện: - Ông nói đúng đấy, đã có hai ba thì sẽ tiếp theo năm sáu là thường, nhưng phải biết rõ người bị giết đầu tiên đã. Ông có thấy gì đáng để ý... Ba Hùy cười ha hả, gắp một miếng chả chó đặt vào bát Kỳ Phát rồi tủm tỉm cười: - Tôi tuy vô phép ông mà uống trước mất non một cút rượu rồi, nhưng tôi vẫn chưa đến nỗi say đâu, ông ạ, và không say, lẽ tất nhiên tôi không dại gì mà ông chưa đánh chén với tôi, tôi đã khờ khạo đi nói chuyện cho ông nghe về vụ án, dù là một đoạn mở đầu! Nào, xin rước ông, ta hãy đưa cay đi đã, rồi chúng ta sẽ nói chuyện sau. Kỳ Phát biết Ba Hùy đã nhất định đưa mình vào con đường cụt, khó thoát lối nào được nữa. Chàng gắp miếng chả chó lên rồi lại ngần ngại đặt xuống bát. Ba Hùy khuyến khích: - Ông cứ xơi thử mà xem, ngọt hơn thịt bò mà đậm hơn thịt gà, ông ạ, ăn một miếng thịt chó làm đúng cách thì dư vị còn ngon đến ba ngày sau không ít... Người ta vẫn nói, sức mạnh của tuyên truyền lợi hại thực, có nói thành không, không thành có là thường. Kể ra thì Ba Hùy tuyên truyền cho cái sự ngon lành của món ăn hoàn toàn Việt Nam ấy cũng đã mạnh, nhưng Kỳ Phát lúc nhắm miếng thịt chó đầu tiên trong đời vẫn thấy rùng mình ghê rợn, và chàng vội vàng tợp ngay một hớp rượu đưa cay... Ba Hùy ha hả cười lớn: - Khá lắm, có thể chứ, biết mùi rồi, chỉ sợ từ nay ông lại chẳng ngày nào cũng lại đây đánh chén thịt chó tì tì! ... Mời các bạn đón đọc Vụ Án Mạng Thứ Sáu của tác giả Phạm Cao Củng.