Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Miền Tây

Trong làng văn học Việt Nam rất hiếm có nhà văn nào nhận được sự yêu thương, mến mộ từ nhiều thế hệ độc giả khác nhau như nhà văn Tô Hoài. Nếu các bạn nhỏ biết đến ông như một người bạn dí dỏm, đáng yêu qua kiệt tác Dế mèn phiêu lưu ký và series truyện ngộ nghĩnh về loài vật, thì độc giả lớn tuổi biết đến ông như một cây đại thụ của làng văn với nhiều tác phẩm đã trở thành những tượng đài bất tử như Vợ chồng A Phủ, Cứu đất cứu mường, Chuyện đầm sen đền Đồng Cổ… Bộ sách tập hợp những tuyệt phẩm để đời của Tô Hoài để tưởng nhớ một năm ngày Cụ trở về với cát bụi gồm 9 tác phẩm, bao gồm 4 tiểu thuyết, 3 truyện ngắn và 2 bút ký: Quê nhà (tiểu thuyết) Quê người (tiểu thuyết) Mười năm (tiểu thuyết) Khách nợ (truyện ngắn) Chiếc áo xường xám màu hoa đào (truyện ngắn) Chuyện để quên (truyện ngắn) Miền Tây (tiểu thuyết) Kí ức Đông Dương (bút ký) Kí ức Phiên Lãng (bút ký) Được viết năm 1965, Miền Tây là tác phẩm tiếp nối cho đề tài về vùng đất Tây Bắc “để thương để nhớ” cho Tô Hoài trong suốt cuộc đời cầm bút của mình. Tô Hoài đã dành cho cuốn tiểu thuyết những nét vẽ chân thật và sinh động nhất, với hình ảnh những người con đất Phiềng Sa tình nghĩa đã sống qua hết những vất vả, đau thương, đấu tranh và dựng xây. Khai thác nhiều tư liệu lịch sử, chính trị, quân sự, tác phẩm đã tạo nên những bức tranh đối lập xưa và nay trong cuộc sống, số phận con người Phiềng Sa. Ở đó, hình ảnh con người chưa bao giờ được tác giả tạo nên bằng bút pháp lí tưởng hóa, mà họ luôn chân thật và gần gũi, mang đầy đủ mặt tốt và mặt xấu của một con người bình thường trong đời sống. Chính vì thế, họ đã sống rất lâu và vững bền trong trái tim rất nhiều độc giả Việt. *** Cảm nhận Quen biết nhiều, từng trải lắm, quả thật có thể nói Tô Hoài đã trở thành một cuốn từ điển sống của nghề văn. Qua các tác phẩm đã in của ông, mãi mãi người ta còn tìm thấy hình ảnh con người một thời, với tất cả những lo toan hàng ngày, sự phấn đấu của chúng ta cùng những khó khăn những hạn chế hoàn cảnh đã đặt ra mà không ai trong chúng ta vượt qua nổi. Thời gian sẽ sàng lọc để chọn ra những gì tinh hoa Tô Hoài đã viết, từ đó làm giàu thêm cho văn học Việt Nam. Nhà phê bình Vương Trí Nhàn Tô Hoài hay “khoe”, chẳng chịu bỏ phí những chuyến đi nên ông viết bút ký, ký sự về rất nhiều nước ông có dịp đặt chân đến. Về điều này có lẽ ông cũng là bậc thầy. Những tập ký, truyện ngắn lấy bối cảnh nước ngoài của ông rất khác với nhiều tập sách về nước ngoài của các tác giả thế hệ sau này. Đọc ông luôn có văn, có sáng tạo. Cũng như nhiều bạn đọc thuở ấy, trong đó có tôi, các tác phẩm này của Tô Hoài đã mở giúp chúng tôi một cửa sổ để nhìn ra một góc thế giới trong thời buổi sách quá hiếm, không có phương tiện thông tin. Đỗ Quang Hạnh Tiểu thuyết Tô Hoài là hình ảnh của dòng đời tự nhiên, chảy trôi miên viễn. Cuộc sống hiện ra dưới cái nhìn của Tô Hoài thật dung dị tự nhiên như nó vốn thế: có mọi thứ của sinh hoạt đời thường, vặt vãnh, cái tốt đẹp và cái tầm thường, có đời sống xã hội, vận động của lịch sử và đời sống thế sự, sinh hoạt phong tục. Nhà phê bình Nguyễn Văn Long Đời thường, bình dị và trầm buồn, đó là miền núi của Tô Hoài. Những đặc trưng phong cách này đã khơi gợi lịch sử nhiều đau thương của miền núi theo một cách riêng, gần gũi và nhân bản. Nét dịu dàng, sâu lắng, giàu chất thi họa của nó cũng là một đặc sắc thẩm mĩ, vừa mộc mạc cổ điển vừa có sức sống lâu bền. Phạm Duy Nghĩa ***             Năm nào cũng vậy, đoàn ngựa buôn của ông khách Sìn về đến châu Yên, dừng lại, thay tay thồ, thì vừa xong gặt hái tháng mười. Các phiên chợ tết đã đến rồi.             Ông khách Sìn chỉ bán ghé chợ châu Yên có một phiên, rồi lại đóng hàng vào ngựa mới, bắt đầu lên Phiềng Sa. Hàng của khách Sìn vốn quen ăn các chợ Mèo.             Câu chuyện giữa khách Sìn và chủ ngựa Tòng hôm ấy.             - Chào ông chủ Tòng, năm nay bao nhiêu ngựa ông đi Phiềng Sa được? Hàng nặng đấy, ông ạ.             - Bẩm ông chủ, ngoài trăm con tôi cũng có thừa sức.             - Tốt lắm...             - Nhưng mà...             - …             - Con nhất, con nhì... tôi.             - Sao?             - Nó... ốm.             - Không may cho ông.             - Vâng, bẩm ông chủ, mấy chợ nay, tôi bỏ cả những chuyến thồ gần thật ngon ăn để đợi hàng ông chủ về…             Ông khách Sìn liền khóa ngay cái giọng sắp muốn mè nheo của lão chủ ngựa:             - Phải rồi, ông mà lên được Phiềng Sa với tôi, ông cứ nhấc cái thồ xuống là có tiền chảy đến, ông còn kiếm gấp trăm những chuyến ngon ăn khác kia!             - Vâng, cũng nhờ lộc ông chủ.             - Hàng tôi cần lên kịp chợ, không nấn ná được. Để bảo ngựa ông Đèo vậy.             Lão chủ ngựa Tòng xám hẳn mặt. Ngựa lão Tòng vốn quen thồ hàng cho khách Sìn trên chặng Phiềng Sa đã hàng chục năm. Ngưạ tốt, khách hàng sòng phẳng, mà lão Tòng mỗi chuyến lên vùng Mèo cũng phát tài riêng được một bọn thuốc phiện mang lậu về.             Không ngờ khách Sìn lại dửng dưng ném phắt ngay lão đi như thế.             Lão Tòng cay quá, đứng ơ. Ông khách Sìn còn vỗ vai lão, cười nhăn nhở, nói:             - Ông chủ bằng lòng nhé, sang năm giúp cho tôi, tôi chờ đấy.             Nhưng lúc ấy lão Tòng chẳng còn nghe biết khách Sìn nói vuốt gì nữa. Lão điếng người, lại nghĩ đến hai con ngựa.             Hai con ngựa nhất, ngựa nhì đầu đàn của lão.             Chỉ có nửa buổi, lăn ra chết cả.             “Hay là nhà thằng Đèo hại mình?” - Lão Tòng hốt hoảng, bối rối nghĩ.   * *    *               Đoàn ngựa thồ hàng ông khách Sìn lên Phiềng Sa.             Tết sắp đến, những đoàn ngựa thồ hàng của người buôn lại lũ lượt lên các vùng núi cao miền tây.            Không ai biết ngựa buôn hàng ở mãi đâu về, phía nào tới, Vân Nam xuống hay bên nước Lào, nước Miến Điện sang, hay từ ngoài sông Đà vào. Nhưng cứ trông người đi đuổi ngựa cho các ông chủ hàng có thể đoán những chặng đường họ đã đi qua. Đủ cả: người Kinh, người Lào, người Thái, người Xạ Phang, người Hà Nhì, đôi khi cũng có người Xá, người Mèo tận Mường Cò Nòi bên Miến Điện. Hễ năm nào nhiều người Xạ Phang, người Hà Nhì theo ngựa thì bảo đoàn này trên Vân Nam xuống, có người Kinh thì chắc hàng ngoài cửa Vạn sông Đà vào, có người Lừ, người Khạ thì biết họ từ Lào sang.             Có đến ngoài trăm cơn ngựa thồ hàng ông khách Sìn lên Phiềng Sa.             Con ngựa nhất, con ngựa nhì thắng yên cương đỏ, lưng không đeo hàng, thung dung đi trước. Tiếng nhạc rung sang sảng. Trên bờm cắm ngù đỏ, hai bên mông rực rỡ chiếc hoa thị vải đỏ năm cánh.             Những con ngựa mộc, thồ hàng đi sau, tai nghe nhạc, mắt chăm chăm nhìn vào cái hoa đỏ đính đuôi ngựa trước, mõm cất cao, bước không loạn vó, không đá nhau, không quơ vặt ven đường. Ngựa nào cũng ngoan nết bắt chước hai con đầu đàn.             Lão chủ ngựa họ Đèo ngồi xếp chân trên cọc thồ giữa lưng con ngựa thứ ba. Lão náu mình trong chiếc áo bành tô đẫm nước mưa, xám ngắt. Nếu chốc chốc không thấy từ trong đống áo xù xụ có một đám khói thuốc lá cuốn xanh mờ nhả ra, cũng dễ tưởng đấy là một kiện hàng.             Sau lưng lão, cứ chừng mười thồ, lại một người phu ngựa kèm.             Những người phu co ro cầm cái roi, khi thì lập cập chạy theo ngựa, khi thì gật gưỡng ngủ ngồi trên thồ hàng.             Đàn ngựa kéo dài qua những vùng vàng rượi cỏ tranh cứ xoay tròn lên lưng trời, đi cả ngày trông xuống vẫn thấy độc có một vết dốc vượt hôm trước. Không một tiếng người, chỉ nghe vó ngựa và tiếng roi quất dứ qua quãng kẹt núi dựng, tiếng gió gào quẩn trên đầu sóng cỏ tranh, chốc lại xô lên, lấp cả người, cả ngựa.             Đôi khi mặt trời rầu rĩ nhô ra, làm cho các mỏm núi và đến cả các khe suối xa bỗng nhiên nhuộm nắng úa xuộm.             Một tiếng hát, tiếng hò hay tiếng kể lể than vãn của người phu ngựa Xạ Phang đột ngột cất lên, lê thê lướt qua. Cái dốc núi càng rét, càng vắng, càng chơ vơ.   * *    *               Bóng tối trĩu nặng từng quãng, nhanh và dữ tợn. Các mỏm núi đương vàng rực, bỗng xanh rợn. Gió chồm lên rồi chết đứng từng đợt ngay giữa các triền đồi tranh im lặng.             Đoàn ngựa lên dốc. Tối dần.             Một lúc, cả đoàn dừng lại. Những người phu nhảy xuống, chạy quanh ngựa, hấp tấp rút trên túi ngực ra một ống nứa đựng rượu ngâm củ gấu đặc sẫm. Họ lần lượt xách cương kéo mõm từng con ngựa lên, rồi dốc ngược cả ống rượu gấu vào họng ngựa. Những tiếng hí rít vang sâu vào các hõm núi. Con ngựa rùng mình, lắc lắc, nhảy vung hai chân trước. Rồi lại đứng yên. Ngựa đã quen được nhai củ gấu ngâm rượu thuốc, mỗi chuyến đi dài. Rượu gấu ngấm vào làm rung bốn vó, đổ thêm sức cho ngựa dấn nốt đoạn dốc cuối cùng dài nhất, dai dẳng nhất.             Rồi đoàn ngựa lại chuyển động và bắt đầu ló lên một quãng trống lưng đèo, trông như đàn kiến nối nhau, nhấp nhô.             Trên một khe núi kia, bà Giàng Súa đương nhìn xuống.             Đàn ngựa thấp thoáng qua khúc đường còn loang lổ sót lại một chút nắng đến chỗ tối bóng núi, bà Giàng Súa không đếm hết từng con được. Bà chỉ thấy mờ mờ lố nhố.             Bà Giàng Súa sợ hãi, nghĩ đến các con.             Trong vách, lúc ấy chỉ có bé Mỵ ngồi bên đống lửa đương lụi. Bé Mỵ đợi anh Nhìa vác thêm củi về nhóm sưởi. Còn Khay thì ra nhà nương lấy ngô. Sao hai anh em nó đi lâu thế? Bà Giàng Súa lại lo. Cứ bao giờ có nỗi lo láng gì đến, mọi người mẹ đều tựa gà mái ấp, muốn được các con mình ở cạnh. Chúng nó đi đã lâu, mà đàn ngựa ai lên núi thì nhiều thế kia, dài thế kia…             Ngựa lên núi, ngựa lính, ngựa quan, ngựa thồ người buôn, ngựa nào cũng chỉ buộc lo, buộc sợ vào mình. Ngựa nào cũng của quan, của người chức việc, của người ta. Nhà bà Giàng Súa chưa được nuôi ngựa bao giờ. Mà đời bà, con ngựa chỉ có mang tai họa đến mà thôi.             Năm ấy, đương cày nương xuân, chồng bà Giàng Súa phải bỏ cày. Mùa nương nhà dân sao bằng mùa thuốc nhà quan, chồng bà Giàng Súa đành cắm cái cày giữa nương, bỏ đi tải thuốc phiện cho nhà thống lý.             Con ngựa tải thuốc phiện lần ấy chẳng may tuột chân xuống vực đá.             Có người về bảo: lúc ngựa ngã, chồng bà còn bíu được ghềnh đá, thằng người nhà quan thấy rơi mất thồ thuốc, nó mới luống cuống đẩy nốt chồng bà xuống.             Có người về nói: tại chồng bà sợ quá, nhảy liều theo ngựa và thuốc phiện.             Có người về thì thào: chồng bà phải ma chài nên đánh mất thuốc phiện nhà quan, quan bắt nó chết rồi.             Người nào cũng rằng đích tai đã nghe quan nói thế.             Đằng nào thì chồng bà Giàng Súa cũng không về nữa, dù cho mọi đồn đại khác lời nhau. Nhưng còn một điều ghê gớm hơn thế. Ấy là từ đấy, cả làng bảo: con mẹ Giàng Súa có ma.             Người ốm rét mê hoảng, reo: “Giàng Súa, con ma Giàng Súa bắt tôi!". Hôm sau nữa, có người ra nương gặp bà Giàng Súa về rồi ốm, họ bảo đấy là tại đi đường gặp "con ma Giàng Súa". Bà Giàng Súa khiếp sợ quá. Có lúc tưởng mình có ma thật, bà Giàng Súa đã đi lấy sỏi lấy đá ngậm hàng tháng trong miệng. Khi còn bé nghe nói ai có ma muốn giải ma thì ngậm hòn đá ba mươi đêm, con ma sẽ hóa cục máu ra theo hòn đá. Hòn sỏi nằm trong miệng đủ ba mươi đêm, đến lúc bà Giàng Súa nhổ ra, cũng chẳng thấy cục máu ra!             Người làng xôn xao lo lắng, giận dữ bàn tán: cho mẹ con nhà Giàng Súa ăn Tết này xong rồi đem giết đi. Nếu không, cũng có lúc ma làm chết hết làng.             Đến cả bé Mỵ cũng nghe trẻ con dọa bé Mỵ thế. Suốt ngày, suốt mấy ngày, suốt tháng, bé Mỵ, các anh Thào Nhìa, Thào Khay, với mẹ, cứ ngồi xó nhà, tưởng người ta sắp xông vào bắt đem đi giết.             Rồi, một hôm, ai như ngựa nhà thống lý đến trước cửa. Có nhẽ thế. Một tiếng quát chõ qua khe cửa:             - Con ma Giàng Súa! Mày chết đi, con ma Giàng Súa à!             Tiếng chân ngựa vừa rời, bốn mẹ con bà Giàng Súa lật đật chạy vào rừng. Đấy là quan bảo, hay người làng đến chửi rủa? Chạy vào rừng, cũng chẳng dám quay lại đeo đi một mảnh chảo gang vỡ nữa!             Từ đấy, bốn mẹ con chúi vào rừng sâu. Tối quá, khổ quá. Nhưng thà ở rừng một mình, chứ nếu ra ngoài gặp người thì còn khổ hơn, hãi hơn. Thấy bóng ai làm nương phía nào, mẹ con lại lủi đi trú chân rừng khác - như con hươu, con chuột sợ người. Quanh năm chẳng gặp ai. Người ta cũng tránh ma chài. Mẹ con cứ vật vờ như người hủi, người ốm lâu bị làng đem bỏ vào rừng đợi chết.             Nhưng không chết. Mẹ con bà Giàng Súa bám lấy rừng mà sống. Cũng phá được một khoảnh nương kín đáo trồng bắp và nuôi được nhiều đàn ong mật trong gốc cây. Không chết, bà Giàng Súa sống mịt mù như trên đời chỉ còn có bốn mẹ con.             Mấy năm như thế, mấy năm đổi rừng ở mấy lần, bà Giàng Súa cũng không đếm được.             Lúc ấy có tiếng lạt sạt đến sau lưng bà Giàng Súa. Một thân cây to tướng rơi huỵch xuống trước vách. Thào Nhìa chạy vào, vừa thở vừa trỏ tay đằng kia:             - Bao nhiêu ngựa, mẹ ơi!             Bé Mỵ cũng lật đật chạy ra khỏi đám lửa lom đom. Bé Mỵ rét quá, run rẩy, lập cập hàm răng hỏi anh:             - Nhiều quá hả? Có ngưa à? Ngựa nào, ngựa quan à?             Thào Khay, ngoài nương ngô, cũng vừa về.             Cái địu nhẹ thếch khoác vai, buông thõng một dây nghiêng trên lưng. Trong địu lăn ra mấy bắp ngô khấp khểnh, hạt long, hạt chuột gặm, mỗi bắp rơi một nơi. Cũng chưa ai buồn nhặt, có gì mà nhặt! Khay đứng trố mắt, như hỏi Nhìa. Thào Nhìa còn mải cắt nghĩa cho bé Mỵ:             - Không, ngựa thồ đấy. Mày chưa trông rõ à? Một toán lại có một người đuổi ngựa đấy thôi. Toàn ngựa tải hàng.             Chẳng hiểu gì cả, bé Mỵ cũng reo to:             - Phải rồi.             Thào Khay nhìn ra phía dốc núi tối mịt rồi nói:             - Ngựa tải hàng, mẹ ạ. Nhiều quá. Mẹ thấy không?             Bà Giàng Súa đáp:             - Mẹ nghe tiếng rồi.             Những tiếng gì cứ vừa xôn xao vừa mơ hồ tới, như tiếng rít, tiếng vó ngựa, tiếng thở, tiếng nhạc khô lạnh ở cổ ngựa.             Trẻ con lúc nào cũng thích xem ngựa. Cả ba anh em đều ra chăm chú nhìn xuống. Bấy giờ chẳng nhìn thấy gì nữa, nhưng vẫn sướng mê vì chúng đương tưởng ra một đàn ngựa hết sức đông đương nối đuôi đi lên, lẫn lộn với bóng sương, bóng núi, bóng tối.             Bà Giàng Súa đứng dậy, gỡ cái địu nghiêng trên vai Thào Khay. Cái bắp ngô bị chuột cắn xơ xác rơi nốt xuống. Bà toan hỏi Khay: "Còn mấy bắp này thôi à?", nhưng thấy bọn trẻ con mải nghé nghiêng, bàn tán chuyện đàn ngựa, bà lại im. Nỗi lo hết ngô chen mềm vui có các con đông đủ trước mặt. Bà Giàng Súa thở dài rồi ngồi xuống.             Lát sau, bà khe khẽ nói:             - Ngựa tải hàng ông Sìn đấy. Tết đến rồi.             Bây giờ thì cả các chỏm núi và vệt đường chân dốc đều đã bị xóa mờ từ lâu. Nhưng người đàn bà khốn khổ vẫn trông thấy trong vòm sương đặc những ngày xưa có gió thổi thật rét, những ngày Tết nhộn nhạo tiếng khèn, tiếng sán tiếng thanh la, tiếng người cúng hò hét, rin rít, có cả xóm đến xem cúng và ăn cỗ.             Ngày Tết vui những nhà ai ngày trước. Trẻ con khi ấy cũng biết uống từng bát rượu.             Bốn mẹ con cứ ngồi yên quanh bếp đã vạc hết lửa, trong lòng rừng.             Trên lưng dốc tối đen dưới kia bỗng bật hồng một loạt đuốc dài, sáng lốm đốm như hàng chân con giời leo đương bám bóng đêm bò lên.             Đã nghe rõ hẳn tiếng móng ngựa trượt đá, tiếng ngựa hí vào đêm vắng. Những âm vang lạ lùng đem đến bao nhiêu chờ đợi và lo lắng cho mọi người.             Một cái Tết lại sắp qua ngoài kia, đến tận các làng xa. Lũ con bà Giàng Súa nương náu trong rừng không biết Tết, chỉ mang máng cái Tết từ lâu lắm, và bao giờ nghĩ đến cũng háo hức vô cùng.             Đêm ấy, mẹ con nhà Giàng Súa đành ngồi chịu lạnh đến tận khuya.             Không dám nổi lửa, sợ người ngựa đi ngoài rừng trông thấy. Mời các bạn đón đọc Miền Tây của tác giả Tô Hoài.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Cõi Âm
Tên Ebook: Cõi Âm (full prc, pdf, epub) Bộ Sách: Nữ Thần Báo Tử-Soul Screamers (Tập 7) Tác Giả: Rachel Vincent Thể Loại: Best Seller,  Kỳ Ảo, Tiểu Thuyết, Tình Cảm, Văn học phương Tây Người dịch: Thanh Nga Công ty phát hành: Báo Sinh Viên VN - Hoa Học Trò Nhà xuất bản: NXB Trẻ Trọng lượng vận chuyển: 450 grams Kích thước: 15 x 24 cm Số trang: 300 Ngày xuất bản: 10/2013 Đánh máy: Đào Tiểu Vũ Ebook: Đào Tiểu Vũ eBook - http://www.dtv-ebook.com   Bìa sách Nữ Thần Báo Tử tập 7: Cõi Âm Giới thiệu: Cuộc hành trình của Rachel cùng hai chàng trai Nash-Tod và nhóm bạn chống các Tà Ma cuối cùng cũng đến chặng cuối. Vào ngày 30/10 tới đây, SOUL SCREAMERS tập 7 do tác giả Rachel Vincent chấp bút viết sẽ ra mắt phiên bản tiếng Việt do Hoa Học Trò phát hành. Tập 7 của SOUL SCREAMERS với tựa tiếng Anh “Will All My Soul” mới được tác giả Rachel Vincent cho ra mắt vào ngày 26/3 năm nay. Và Hoa Học Trò đã rất nhanh chóng mua bản quyền tác phẩm để sớm cho ra mắt bản dịch, đáp ứng mong muốn được đọc trọn bộ tác phẩm của cộng đồng teen yêu sách. Bạn nghĩ sao khi trường học của bạn được bầu là ngôi trường nguy hiểm nhất nước Mỹ? Đã đến lúc dạy cho đám tà ma một bài học… Sau cái chết không hề mong muốn của bản thân và cô bạn thân nhất, Kaylee Cavanaugh thề sẽ giành lại trường trung học Eastlake từ tay đám tà ma hắc ám Cõi Âm và trả lại sự bình yên cho ngôi trường. Cô sẽ tìm mọi cách để khiến cho đám hiện thân của Lòng Tham, Sự Đố Kỵ và Phù Hoa kia quay ra chống lại nhau, nhờ đó bảo vệ cho các bạn của mình và kết thúc cuộc chiến tranh này, một lần và mãi mãi. Nhưng rồi cô gặp hiện thân của Sự Phẫn Nộ và hiểu rằng mình đang lâm vào tình thế nguy hiểm hơn bao giờ hết. Và chỉ sau khi mất đi thêm một người thân nữa, Kaylee mới nhận ra rằng cô sẽ không thể cứu được tất cả những người thân yêu của mình nếu không mạo hiểm đánh đổi tất cả những gì cô có… Mời các bạn đón đọc.
Quy Luật của Muôn Đời - Nodar Dumbatze
Tên eBook: Quy Luật Của Muôn Đời (full prc, pdf, epub) Tác giả: Nodar Dumbatze Thể loại: Tiểu thuyết, Kinh điển, Văn học phương Tây Nhà xuất bản Cầu vồng Maxcơva – 1987 In theo bản dịch của Nhà xuất bản văn học Hà nội Người dịch: Phạm Mạnh Hùng Hiệu đính: Lê Anh Hiển File scan: Cải Đánh máy: notrinos Soát lỗi lần cuối: notrinos Chế bản: Tây Phong Lĩnh Nguồn: tve-4u.org Ebook: Đào Tiểu Vũ eBook - www.dtv-ebook.com Giới thiệu: Quy luật của Muôn Đời là một tác phẩm nổi tiếng của Dumbatzé. Nhân vật chính trong tác phẩm là Batsana, một nhà văn nhà báo lớn, Câu chuyện diễn ra khi ông bị nhồi máu cơ tim, phải nằm trong bệnh viện. “Con người ta cần ốm nặng ít nhất một lần trong đời. Như vậy sẽ có dịp phân tích và đánh giá lại toàn bộ quãng đường đã qua..” (Lời Batsana)   Thân thể nằm bất động trên gường bệnh, bằng suy tưởng, hồi ức, bằng trò chuyện với 2 người bệnh cùng phòng là Đức Cha Iôram và bác thợ giày Bulika, Batsana tìm lời giải đáp cho những câu hỏi: Ta sinh ra đời để làm gì? Hạnh phúc là thế nào? Bản chất của cái Thiện là gì? Cuối cùng ông đã tìm ra câu trả lời: Đó chính là Quy luật của Muôn đời. Mời các bạn đón đọc Quy luật muôn đời của tác giả Dumbatza.  
Kho báu của vua Solomon - H. Rider Haggard
Henry Rider Haggard (1856 - 1925) là một trong những nhà văn nổi tiếng trong lịch sử văn học Anh. Những tác phẩm nổi tiếng với những tình tiết ly kỳ, hấp dẫn của ông được đông đảo bạn đọc khắp nơi trên thế giới yêu thích và tìm đọc.   Chính từ những cuộc phiêu lưu từ thơ ấu đã giúp cho ông có được kinh nghiệm quý báu trong mảng văn học này. Vào năm 1875, với tư cách là thư ký riêng của Toàn quyền Anh tại thuộc địa Natan, bản thân ông đã trực tiếp gặp không ít cuộc phiêu lưu mạo hiểm, và chính những cuộc mạo hiểm này đã tạo cho ông nguồn cảm hứng để viết tiểu thuyết "Kho báu của vua Solomon". Cuốn tiểu thuyết nhanh chóng thu hút và lôi cuốn được độc giả bởi chuyến phiêu lưu kỳ thú. Tên tuổi của ông đã đi xa khỏi biên giới nước Anh và đến với hầu hết các bạn đọc trên thế giới.   Tác phẩm "Kho báu của vua Solomon" được coi là "tiểu thuyết thuộc địa" rất phổ biến tại văn học Tây Âu những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Trong tác phẩm, ông đã giúp những người bản xứ, những người thời đó bị coi là "mọi đen" lên án sự áp bức bóc lột của tộc người da trắng. Ngay từ trang đầu ông đã viết: "Trong đời, tôi đã gặp nhiều mọi đen. Không, tôi xin xóa chữ ấy, tôi không thích dùng nó. Tôi đã gặp nhiều người bản xứ thực sự là những người tử tế, đáng kính. Tôi cũng biết không ít những người da trắng đểu cáng, tồi tệ và chẳng bao giờ là người tử tế, dù họ có rất nhiều tiền...".   *** Theo truyền thuyết lịch sử và văn hóa cổ đại, Solomon thường được gọi là một Quốc Vương lý tưởng, một ông vua thánh hiền. Thực ra ông ta là một bạo chúa, ông ta đánh thuế nặng nề, thực thi cưỡng bức lao động, bắt thần dân phải xây dựng một cung điện và miếu thần vô cùng tráng lệ trên Núi Jerusalem. Trong Kinh Thánh đã ghi lại chân thực câu chuyện Solomon xây dựng thần Jéhova: "Solomon cho là cần phải xây cho Thần Jéhova một cung điện thờ, cho mình một cung điện. Thế là Salomon cho tuyển 8 vạn phu khuân vác, 8 vạn thợ đục đá và 3600 đốc công đến xây dựng".   Theo Kinh Thánh viết: Solomon ra lệnh 20 vạn người xây dựng miếu thần đều không phải là người Israel. Ông ta lại chọn trong người Israel được 5 vạn nhân công làm lao dịch. Công trình đó kéo dài đến 7 năm. Điện thần này hướng từ Đông sang Tây dài 250m, rộng hơn 90m được xây dựng cẩn trọng chặt chẽ, nguy nga tráng lệ, phía bên trong trang trí vô cùng hoa mỹ. Thật là một tác phẩm kiến trúc tuyệt vời. Điện thần này đã trở thành trung tâm tôn giáo và hoạt động chính trị của người Do Thái Cổ, đồng thời cũng là biểu tượng của họ.   Hàng ngày, các giáo đồ đến đây để bái yết và hiến tế thần linh. Đá Thánh A La được đặt giữa điện thần. Đá Thánh cao 20m rộng 15m, là một tảng đá hoa cương, được dỡ bởi hai trụ đá cẩm thạch tròn. Phía dưới Đá Thánh là Nham Đường cao 35m, bên trong có bàn thờ, trên bàn thờ đặt một hòm thánh có khắc dòng chữ "Maxi Thập giới" còn gọi là "Mười lời răn của Thánh Jéhova", Jéhova là giáo chủ của Đạo Do Thái. Trong hòm thánh, ngoài những điều răn của Thánh còn có Tây Nại pháp điển. Hòm Thánh được làm bằng vàng ròng, gọi là Hòm của Jéhova cũng còn gọi là Hòm ước vàng. Nó được người Do Thái cổ đại coi là Bảo vật giữ nước liên quan đến việc tồn vong hưng thịnh của dân tộc Do Thái. Ở phía dưới Đá Thánh A La, Solomon cho xây một căn hầm và một đường hầm bí mật. Theo truyền thuyết Solomon đã cất giấu ở căn hầm và đường hầm này rất nhiều châu báu và các đồ vật quý giá. Đó chính là Kho báu của vua Solomon mà cả Thế giới đều đã được nghe nói tới.   Mời các bạn đón đọc Kho báu của vua Solomon của tác giả Henry Rider Haggard.
Nhật ký Sa Tăng - Lâm Trường Trị
Người dịch: Aficio Nguồn: tangthuvien.com Ebook: Đào Tiểu Vũ eBook - www.dtv-ebook.com     Nhật ký Sa Tăng là một tác phẩm tiêu biểu cho văn học mạng thời kỳ đầu, tiếp nối thành công sau Lần đầu tiên thân mật của Thái Trí Hằng. Nó được mệnh danh là: Sử thượng tối bạo tiếu văn học tác phẩm - Tác phẩm văn học gây cười nhất. Tây Du Ký bản thân nó đã là một tác phẩm có chất trào lộng u mặc, thâm thúy hóm hỉnh đặc trưng cho thời đại. Nhật ký Sa Tăng cũng thừa kế cái tư tưởng ấy. Hãy xem xem Sa Tăng tẩm ngẩm tầm ngầm mà đánh chết voi này giấu gì trong lòng nhé... Tác giả là 1 người trẻ tuổi bình thường, có chút hóm hỉnh. Trước những áp lực đè nặng của cuộc sống, anh chỉ viết cho vui, xả Stress, nhưng mấy tên bạn nghịch ngợm đưa lên mạng, cuối cùng lại… nổi tiếng. Nghe nói giờ Lâm Trường Trị chuyển hẳn sang viết thể loại này.     - Viết theo hứng thú cá nhân, nên có chỗ cần ngẫm suy, có chỗ thì hời hợt. Có cái cười thật “nóng”, song có cái cười khá “lạnh”.   - Mấy “ngày” đầu là cái cười “nóng”, về sau sẽ “lạnh” hơn.   - Đọc truyện, bạn cứ coi 4 thầy trò như mấy người đồng nghiệp. Đường Tăng là lão Trưởng phòng lắm lời, cáo già. Ngộ Không là nhân viên lão thành, nhiều công lao. Bát Giới là tay giỏi ăn chơi. Sa Tăng út ít nhất, bị bắt nạt nhiều nhất, là kẻ quan sát tất cả trong thầm lặng. Nhưng cả 4 đều chỉ là những lao động bình thường, tình cờ phải đi làm 1 nhiệm vụ có phần quan trọng mà thôi. Họ phải chịu khá nhiều áp lực, bất công từ bên ngoài.   - Phật tổ, Quan Âm, Ngọc Hoàng,… là những sếp sòng cao cấp, còn đám yêu quái là những kẻ cản trở công việc.   - Tây Du Ký về thực chất, cũng có 1 lớp nghĩa là phản ánh cái bất công trong xã hội thời đó.   - Truyện tuy thế không quá nặng nề, bạn xem nó như Gặp nhau cuối tuần, đưa ra cái nhìn hài hước về những hiện thực trong cuộc sống là được.   - Nếu bạn còn ngồi ghế nhà trường, chưa chịu áp lực công việc, chưa thấy cái mệt mỏi của quan liêu, sẽ hơi khó cảm thụ. Nhưng kể cả không thế, những nhân vật, tình huống truyện vẫn là sự phản ánh đời thực khá rõ nét, bởi vậy, nó đi vào lòng độc giả trẻ tuổi thế hệ mới ở Trung Quốc khá dễ dàng.   - U mặc là gì nếu không phải thứ lợi khí của con người, chống lại những áp lực, sự khô khan tâm hồn trong thời đại?   - Truyện không liên quan mấy tới nguyên bản Tây Du Ký, mà giống “Người Trung Quốc xấu xí” nhiều hơn.