Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Người Trong Lưới

Ở chung cư nọ, cứ chiều xuống là các cụ già lại ra ngồi bên cửa sổ ngắm nhìn phố xá. Chiều hôm ấy, đang ngắm phố xá như thường lệ, có hai cụ trông thấy một cô bé ở tòa nhà đối diện mở cửa sổ, leo lên bệ cửa rồi nhảy xuống. Một trong hai cụ sợ đến ngất xỉu, cụ còn lại hô hoán người nhà báo cảnh sát. Cả hai đều khai, lúc cô bé nhảy xuống không có bất cứ ai đứng sau lưng cả. Chung cư này cũng là nơi dân tình hay ném đồ đạc trên cao xuống, người ta phải lắp camera giám sát để bắt phạt, một trong các camera cũng trung thực ghi lại cảnh cô bé nhảy lầu. Còn rất nhiều nhân chứng vật chứng khác cho thấy đây là một vụ tự sát, nhưng chị cô bé không tin. Không chấp nhận kết quả điều tra chính thức, không muốn em gái phải chết mù mờ oan ức, cô đã bắt tay lùng tìm theo một hướng bất hợp pháp, để lần lượt lôi ra từng kẻ thủ ác đang thu lu sau màn hình. Đặt cuộc trả thù cá nhân vào bối cảnh Hồng Kông hiện đại, khi ai nấy vô hồn với xung quanh vì chỉ biết cắm mặt vào điện thoại, Người trong lưới là một sự thật nhức nhối về ranh giới mỏng manh giữa vô tâm và ác tâm. *** Tác giả: Chan Ho Kei. Dịch giả: Thu Hường Thể loại: Trinh thám hiện đại Hong Kong Mức độ yêu thích: Gấp đôi điểm tuyệt đối . . “… dẫu số phận bi thảm đến đâu, thì việc gây bất hạnh cho người khác cũng không mang lại hạnh phúc cho bản thân, trái lại còn khiến nỗi đau thêm dai dẳng. Thù hận tưởng chừng tiêu tan, thật ra là tồn tại dưới một hình hài khác, gặm nhấm thêm nhiều linh hồn lương thiện, đem lại khổ đau cho nhiều người nữa”. Tết cổ truyền VN năm nay rơi vào đúng các ngày ngay trước Lễ Tình Thương, nên từ hai mấy tháng Chạp tôi đã cân nhắc chọn đọc cuốn nào đem lại tâm trạng tốt cho mình để hên cả năm. Điểm qua một lượt các “em” sách giấy trên kệ, tôi quyết định gửi gắm vận may của mình cho tác giả Chan Ho Kei. Ngay đêm Giao Thừa, ôm quyển “Người trong lưới” đọc được gần trăm trang thì tôi biết ngay mình đã chọn đúng. Suốt mấy ngày đầu năm, tôi cứ lải nhải với người nhà rằng “Ôi con chọn được cuốn sách quá đỉnh để đọc mấy ngày này”.   Âu Nhã Văn là cô bé 15 tuổi đang học trung học. Cha bị tai nạn lao động qua đời nhưng công ty toa rập với bên bảo hiểm để ăn chặn tiền bồi thường của gia đình cô, mẹ vất vả cả đời cũng không đủ sức đem đến cuộc sống sung túc cho cả nhà, chị gái Âu Nhã Di không học ĐH mà đi làm để kiếm tiền nuôi hai chị em. Vốn là người nội tâm, nhạy cảm, không thể chống chọi với sóng to gió lớn ập đến với mình, Văn nhảy lầu tự sát ngay lúc chị gái Di vừa đi làm về. Rơi vào hố sâu tuyệt vọng điên cuồng, Âu Nhã Di cảm thấy mục đích sống của mình đã trở nên vô nghĩa. Thế nhưng, mục đích sống mới xuất hiện, đó là tìm và báo thù những kẻ trực tiếp hoặc gián tiếp gây nên cái chết thê thảm của em gái cô. Di thuê thám tử tư điều tra, nhưng vụ việc nhanh chóng hiện rõ tính chất phức tạp đến mức thám tử cũng từ chối.   Khi đọc phần giới thiệu nội dung truyện, tôi nửa tin nửa ngờ vào độ lôi cuốn của “Người trong lưới”, vì nghĩ rằng nạn nhân là một cô bé nhảy lầu tự sát, không ai đẩy xuống, không có di thư, vụ án nghe có vẻ đơn giản làm sao có thể viết nên một cuốn sách to dày như thế. Thế nhưng, chỉ mới đọc mười mấy trang, tôi đã nghẹn lòng xót thương gia cảnh của Âu Nhã Di, đồng thời lập tức đặt mình vào vị thế của cô khi thấy cô cũng là mọt sách và làm việc trong thư viện. Nghề nghiệp của nữ chính khiến tôi chủ quan cho rằng cuốn “Người trong lưới” đúng là viết ra dành riêng cho mình! Đây là câu chuyện trinh thám – tâm lý XH phản ánh rõ nét XH Hong Kong nói riêng và XH hiện đại của loài người nói chung. Cả truyện chỉ có một nạn nhân tử vong, còn lại đều là quá trình điều tra diễn tiến đầy phức tạp, nhưng tôi thấy từng đoạn từng câu đều hấp dẫn. Có nhiều chỗ tôi không hiểu vì dùng nhiều thuật ngữ thuộc ngành Công nghệ Thông tin (IT) nhưng tôi cố gắng không đọc lướt đoạn nào. Sau vài chục trang, tôi tự hỏi tác giả phải tìm hiểu kỹ về IT đến mức nào để có thể viết được những đoạn văn chứa đựng nhiều kiến thức phức tạp và chính xác như thế, nhưng khi giở bìa gấp trước ra xem thì tôi vỡ lẽ rằng tác giả Chan Ho Kei đã tốt nghiệp khoa Khoa học Máy tính thuộc ĐH Trung văn Hong Kong. Một người học và làm trong ngành công nghệ mà viết tiểu thuyết điêu luyện như thế, thật sự đáng ngưỡng mộ và học hỏi. Chan Ho Kei đã chiếm trọn sự yêu thích và quan tâm của tôi từ sau cuốn 13.67. Tôi cũng có thể khẳng định tác giả Hong Kong này đọc RẤT nhiều sách (vì đọc nhiều là một trong những yếu tố giúp viết hay), trong cuốn này có đề cập đến vài tựa sách tiểu thuyết cổ điển lẫn hiện đại thuộc vài thể loại khác nhau, cả truyện kiếm hiệp và thể loại trinh thám Nhật, cụ thể như sau: + “Thiên long bát bộ” của Kim Dung + “Thú tội” của Minato Kanae + “Đêm trắng đi hoang” của Higashino Keigo + “Bí kíp quá giang vào ngân hà” của Douglas Adams   Đọc khoảng trăm trang đầu thì tôi nghĩ cốt truyện cũng đơn giản, nhưng càng đọc tôi càng nhận ra mình đã lầm. Phía sau vụ nhảy lầu tự sát của cô bé 15 tuổi là mạng lưới đan xen dày đặc của các mối quan hệ trường lớp, ác tâm của những kẻ gọi là bạn bè, ác ý và sự vô cảm của cư dân mạng, sự thờ ơ không cố tình của người chị ruột… tất cả hình thành nên tấm lưới uất ức từ từ siết chặt lấy cô gái nhỏ. Trong truyện có hơn ba lần tác giả nhắc đến “chọn lọc tự nhiên” bằng những câu văn tương tự nhau, chẳng hạn như “Ở thành phố này, chỉ kẻ mạnh mới sống sót được. Nếu không muốn làm kẻ bị bóc lột, chúng ta chỉ còn cách trở thành kẻ đi bóc lột… Đừng khờ khạo cho rằng ở hiền gặp lành” hoặc “Trong xã hội cá lớn nuốt cá bé, người ta chia nhau ra đóng vai kẻ lợi dụng và người bị lợi dụng, ai am hiểu cách lợi dụng nhược điểm của con người đều có thể đặt chân lên con đường thành công”. ____ Tuy vậy, độc giả sẽ hiểu rõ không phải ý tác giả là “chỉ kẻ mạnh mới tồn tại nổi”, mà sẽ cảm nhận được tính nhân văn sâu sắc của truyện. Không biết vì tôi đọc lúc thể trạng đang không tốt hay vì bắt gặp những chi tiết đau lòng mà đôi lúc tôi phát hiện mắt mình ươn ướt.   Nếu trong 13.67, người đọc thích thú khi ngay chương đầu đã bắt gặp việc ứng dụng khoa học công nghệ vào điều tra phá án, thì đến “Người trong lưới”, các chi tiết về khoa học máy tính xuất hiện dày đặc khiến tôi không khỏi liên tưởng mạnh mẽ đến cuốn “Sát nhân mạng” của Jeffery Deaver, đương nhiên là những dòng viết về công nghệ trong “Second Sister” mang tính thời đại hơn “The blue nowhere” nhiều, vì cuốn của Trần Hạo Cơ ra đời sau cuốn của bác Deaver tận 19 năm, tính theo thời gian trong truyện là 14 năm. Qua phần Lời Bạt cuối truyện của tác giả Chan Ho Kei, tôi cũng biết thêm một từ mới, là “thủ pháp cá trích đỏ” (red herring). Nhưng cụm từ tôi thích nhất, sẽ học hỏi và áp dụng sau khi đọc cuốn này là “tấn công phi kỹ thuật”.   Như đã viết ở trên, tôi cảm thương với gia cảnh và đồng cảm với nghề nghiệp của Âu Nhã Di, nhưng khi thấy Di hơi kém cỏi trong việc cập nhật công nghệ thì tôi có chút ngán ngẩm (tội lỗi quá), nhưng tôi buộc mình phải thấu hiểu rằng một phụ nữ trẻ vất vả kiếm sống trong một XH chỉ cho phép kẻ mạnh tồn tại thì không còn hơi sức và khả năng kinh tế để quan tâm đến những thứ đồ chơi công nghệ phức tạp đắt đỏ. ____ Còn nhân vật Nem, ban đầu tôi không ưa anh ta, chỉ thích bí danh của anh ta vì nó khiến tôi liên tưởng đến đồ ăn. Sau đó tôi đoán anh ta tên thật là Inoue Satoshi. Càng đọc, tôi càng liên tưởng Nem với thiên tài hacker trong cuốn “Sát nhân mạng”.   Tuy bối cảnh truyện là XH Hong Kong hiện đại năm 2015, cốt truyện phức tạp nhiều chi tiết nhưng tôi vẫn tự cho phép mình đúc kết khuôn mẫu của mối quan hệ giữa nam nữ chính trong truyện: Di giống như nàng Lọ Lem nghèo khổ kiên cường vượt qua những trắc trở trong cuộc sống, nhưng trong cái rủi có cái xui à không có cái may, số phận đưa đẩy khiến nàng tình cờ gặp được bậc quân vương đội lốt ăn mày, văn võ toàn tài, hào hiệp giúp đỡ kẻ yếu nhưng cứ luôn khẩu xà tâm Phật. Tuy bây giờ tôi không còn mơ mộng ảo tưởng như hồi trước nhưng với diễn biến + phần cuối truyện, tôi không khỏi nghĩ đến mấy bộ phim cổ tích Disney với câu “Và họ sống hạnh phúc mãi mãi về sau”! (thêm n+1 cái chấm than)   Tôi đồng ý với lý thuyết chọn lọc tự nhiên – kẻ mạnh mới tồn tại được – mà tác giả Chan Ho Kei nhiều lần nêu lên trong truyện, nhưng tôi không đồng ý với tư tưởng rằng để trở thành kẻ mạnh / hoặc đã vốn là kẻ mạnh thì tự cho mình quyền sinh sát, không quan tâm đến nỗi khổ của người khác, có thể thản nhiên giết người hoặc nhìn người khác lâm vào chỗ chết, miễn là họ không ảnh hưởng đến lợi ích của mình. Nếu ai cũng nghĩ vậy mà sống thì trần gian sẽ trở thành địa ngục. Trong khoảng thời gian đọc “Người trong lưới”, tôi có duyên nghe được vài câu rất hay, khiến tôi cảm thán sâu sắc với nội dung cuốn sách này: “Con người phải biết đủ trong cuộc sống, gặp nghịch cảnh không oán hận, gặp thuận cảnh không cao ngạo, chỉ có luôn tu sửa hành vi chính mình và biết quan tâm giúp đỡ người khác thì bản thân mới đạt được hạnh phúc”.   Nghe nói cuốn này dịch thiếu nửa chương 9 và toàn bộ chương 10, tuy đã được một đại công tử nhân hậu tặng ebook tiếng Anh nhưng vì lười nên tôi chưa đọc bản Anh, chỉ mới đọc bản Việt + chương 10 do anh Nabil Kamal dịch (xin cảm ơn anh nhiều). Về bản dịch Việt của IPM, kẻ mù công nghệ như tôi đọc thấy rất hay, rất dễ hiểu trừ những đoạn tôi không hiểu. Sách được trình bày đẹp, chữ in to rõ, bìa trước dường như thiết kế theo phong cách truyện tranh Nhật, bạn nào nếu vì cái bìa của 13.67 mà chưa muốn mua đọc thì có lẽ cũng không quá thích bìa của “Người trong lưới”, riêng tôi thì yêu cả hai cuốn. Cũng như với 13.67, “Người trong lưới” được tôi đưa vào danh mục sách mà tôi sẽ mua thêm để tặng người khác.   Tôi cố gắng viết và cố ý đăng review cuốn này vào 14-2 như một cách bày tỏ lòng hâm mộ của mình đối với tác giả Trần Hạo Cơ, nhưng nếu có ai thành lập fanclub thì tôi không tham gia đâu. Lần sau có dịp vào tiệm mì Tàu, tôi sẽ thử gọi “Sen lớn thêm xanh ít bánh nước riêng cải trụng rưới không dầu” xem chủ quán sẽ trầm trồ hay sẽ nhìn tôi bằng ánh mắt kỳ dị.   (Sea, 14-2-2021) Cáo Biển Non Xanh *** MỞ ĐẦU 8 giờ sáng sửa soạn đi làm, Di không hề biết hôm nay sẽ là ngày thay đổi cuộc đời cô. Tưởng đâu chỉ cần cắn răng chịu đựng, bao khốn khổ dồn dập ập xuống suốt một năm qua sẽ chấm dứt, ắt có ngày mưa tạnh trời quang. Thế nhưng số phận biến động khôn lường, ông trời không chỉ thích đùa giỡn người trần, mà còn đùa toàn những trò thảm khốc. Hơn 6 giờ chiều, Di lê tấm thân mệt mỏi từ bến xe buýt mini xanh*về khu nhà ở xã hội, vừa đi vừa nhẩm tính xem thức ăn trong tủ lạnh có đủ nấu một bữa cho hai người không. Xe buýt loại nhỏ chỉ dừng ở điểm quy định, phân biệt với xe buýt mini đỏ cho phép khách xuống dọc đường. Mấy năm nay giá cả đắt đỏ khủng khiếp. Ngày xưa một cân* thịt cùng lắm hơn 20 đô*, bây giờ ngần ấy tiền chỉ mua được nửa cân. Gọi là “ngày xưa” nhưng cũng mới bảy, tám năm trước thôi. Thịt thà rau dưa giờ tăng giá gấp đôi là ít, nhưng lương lậu của giai cấp vô sản thì vẫn còm cõi như cũ. Giá thực phẩm tăng vọt không đơn giản vì giá bán buôn tăng. Di từng nghe một hàng xóm lớn tuổi nói đùa, “Người Hồng Kông không ăn cơm mà ăn gạch*.” Sau khi chính phủ bán chợ và cửa hàng bách hóa ở khu nhà xã hội cho doanh nghiệp tư nhân, các hộ kinh doanh phải đối mặt với áp lực tiền thuê tăng. 1 cân Hồng Kông tương đương 600 g. Đô la Hồng Kông. Từ đây đến cuối sách, nếu chỉ nói “đô” không, tức là đô la Hồng Kông. Ngụ ý giá nhà đất quá cao nên ảnh hưởng nặng nề đến miếng cơm manh áo. Để có thêm thu nhập đập vào tiền thuê đắt đỏ, đương nhiên họ sẽ đẩy gánh nặng lên người mua hàng. Di nhớ trong tủ lạnh còn vài lạng thịt và cải bó xôi. Làm món thịt xào cải bó xôi với gừng, thêm đĩa trứng hấp là được bữa tối đơn giản giàu dinh dưỡng. Tiểu Văn, cô em nhỏ hơn Di tám tuổi, từ bé đã thích ăn trứng hấp. Mỗi khi nhà thiếu thức ăn, Di lại lấy hai quả trứng gà ra hấp, rắc ít hành lá, rưới chút nước tương, bưng lên bàn ăn trông vừa ngon vừa đẹp. Quan trọng là rất rẻ. Bữa tối nay thế là đủ rồi, nhưng Di vẫn định đi chợ xem thế nào. Vốn tính lo xa, cô rất sợ cảnh tủ lạnh trống trơn. Hơn nữa, khá nhiều quầy thực phẩm giảm giá trước giờ đóng cửa, tranh thủ dạo một vòng có khi lại kiếm được đồ rẻ, mai khỏi phải đau đầu nhức óc chuyện ăn uống. Úúúú… Xe cảnh sát thình lình lao vụt qua cạnh Di, tiếng còi đinh tai nhức óc kéo suy nghĩ của cô từ hàng giảm giá về thực tại. Cô dõi mắt nhìn thì thấy một đám đông đang xúm xít trước tòa nhà Hoán Hoa mình ở. Có chuyện gì sao? Di nghĩ thầm, nhưng vốn không phải dạng ưa hóng chuyện nên chân vẫn bước rất thong thả. “Á, Di! Di ơi…” Trong đám đông, một bác gái tầm 50 tuổi, tóc xoăn, người đậm, đang cuống cuồng vẫy gọi. Di biết người này, đây là bác gái họ Trần thuê nhà cùng tầng 22 với cô, bình thường chạm mặt ngoài hành lang vẫn gật đầu chào hỏi. Song trừ biết tên và thi thoảng xã giao dăm ba câu thì đôi bên chẳng qua lại mấy. Chỉ còn cách nhau một quãng ngắn thôi, nhưng bác Trần vẫn sốt ruột chạy lại túm tay lôi tuột Di về phía tòa nhà. Di không nghe rõ bác nói gì. Ngoại trừ tên mình, cô thấy những lời tuôn ra từ miệng bác chẳng khác nào tiếng nước ngoài. Mất mấy giây định thần, cô mới vỡ lẽ bác Trần hoảng quá nói chẳng nên lời. Vỡ lẽ xong, cô nghe thêm được hai chữ “em gái”. Di bước tới gần đám đông. Cảnh tượng quái dị hiện ra trước mắt cô, dưới trời chiều còn chưa tắt nắng. Dân tình đang túm tụm quanh khoảnh sân xi măng trước cửa chính cư xá Hoán Hoa. Thường ngày sân trống trơn, nhưng hôm nay lại có cô bé mười mấy tuổi mặc đồng phục trắng nằm ngửa ở đó, tóc rối tung phủ lên mặt, chất lỏng đỏ sậm rỉ ra từ cổ đọng thành vũng nhỏ. Suy nghĩ đầu tiên vụt qua óc Di là, đó chẳng phải đồng phục trường Tiểu Văn sao? Hai giây sau Di nhận ra, cô bé nắm bất động trên sân kia, chẳng phải chính là Tiểu Văn sao? Người thân của cô. Người thân duy nhất. Khoảnh khắc ấy, Di cảm thấy mọi thứ quanh mình thật lạ lẫm. Mình đang nằm mơ ư? Chắc là mơ rồi. Di quay sang nhìn bên cạnh, toàn những gương mặt quen thuộc, nhưng giờ phút này lại xa lạ vô cùng. “Di! Di ơi!” Bác Trần tóm bả vai Di lắc mạnh. “Tiểu… Tiểu Văn?” Di lắp bắp gọi tên, không tài nào liên hệ nổi vật thể hình người dưới đất với em gái mình. Đáng lẽ giờ này Tiểu Văn phải ở nhà, chờ Di về nấu cơm cho nó ăn chứ. Đấy mới là “hiện thực bình thường” đối với Di. “Lùi lại nào, lùi lại.” Một cảnh sát ăn mặc chỉnh tề chen vào giữa đám đông, ra hiệu bảo mọi người đứng giãn ra. Cùng lúc, hai nhân viên y tế đẩy xe cáng từ phía sau vượt lên trên Di rồi ngồi xổm xuống cạnh Tiểu Văn. Nhân viên y tế lớn tuổi hơn kiểm tra hơi thở của cô bé, ấn ngón tay lên cổ tay trái cô, sau đó lần túi lấy đèn pin khám, tay trái vạch mắt tay phải rọi đèn soi đồng tử. Chuỗi hành động diễn ra chỉ vỏn vẹn vài giây, nhưng trong mắt Di từng động tác của nhân viên y tế lại ì trệ như những khung hình tĩnh. Di không còn nhận thức về thời gian nữa. Hay nói cách khác, tiềm thức Di muốn ngăn cô đối mặt với hiện thực. Nhân viên y tế đứng lên, lắc đầu với đồng nghiệp đẩy xe cáng và mấy cảnh sát đang chắn đám đông. “Mọi người lùi lại, đừng cản trở quá trình điều tra…” Lúc cảnh sát nói câu này, hai nhân viên y tế nghiêm mặt lại, từ từ rời khỏi chỗ Tiểu Văn. “Tiểu… Tiểu Văn? Tiểu Văn! Tiểu Văn!” Di hất tay bác Trần đang giữ vai mình, chạy tới chỗ Tiểu Văn. “Cô gái!” Một cảnh sát cao to nhanh nhẹn giơ tay ngang hông chặn Di lại. “Tiểu Văn!” Di vừa giãy giụa vừa ngoảnh nhìn cảnh sát, nôn nóng nói, “Đó, đó là em tôi, cứu con bé với!” “Thưa cô, cô bình tĩnh đã…” Cảnh sát cố trấn an Di, nhưng anh ta biết lời mình nói không mấy tác dụng. “Xin, xin anh cứu con bé! Bác sĩ ơi!” Mặt mày tái nhợt, Di bỗng xoay phắt lại, hét lên với hai nhân viên y tế đang chăm chú nhìn mình. “Sao không đỡ Tiểu Văn lên xe? Nhanh lên! Mau cứu Tiểu Văn đi!” Hai nhân viên y tế đứng lặng cạnh xe cứu thương lộ vẻ khó xử. Người lớn tuổi hơn rất muốn nói thẳng sự thật với cô, nhưng dù gặp cảnh sinh ly tử biệt mỗi ngày, anh vẫn không đành lòng làm cô gái mới đôi mươi này đau đớn. “Cô là chị của em này sao? Cô bình tĩnh lại đã…” Anh cảnh sát chặn Di thử nhẹ nhàng khuyên bảo. “Tiểu Văn…” Di ngoảnh nhìn em gái nằm trơ như tượng dưới đất, thì thấy hai cảnh sát khác cầm khung kim loại và vải bạt chống thấm màu xanh sẫm đến dựng lều nhỏ xung quanh che Tiểu Văn lại. “Các… các người làm gì thế? Dừng tay! Dừng tay đi!” “Cô gái! Cô gái à!” “Đừng che người nó! Nó còn thở! Nhất định tim nó còn đập!” Di yếu ớt nhoài người tới trước. Anh cảnh sát vốn có nhiệm vụ ngăn cản đề phòng cô phá hỏng hiện trường, giờ trở thành điểm tựa duy nhất đỡ lấy cô. “Cứu em gái tôi với! Xin các anh cứu em tôi… Tôi xin các anh đấy… Nó, nó là em gái tôi, là em gái duy nhất của tôi…” Xế chiều một ngày thứ Ba bình thường, tại khoảnh sân trống trước tòa nhà Hoán Hoa thuộc cư xá Lạc Hoa* quận Quan Đường, những cư dân thường ngày ưa ngồi lê đôi mách giờ đều nín lặng. Giữa những tòa nhà lạnh lẽo, chỉ còn vang vọng tiếng khóc thống thiết cùa một người chị, tựa tiếng gió len vào tai mỗi người, để lại từng giọt buồn không thể xua đi. Lok Wah. Khu nhà ở xã hội thuộc quận Quan Đường, bán đảo Cửu Long, nổi tiếng với bãi để xe có kiến trúc ô cửa sổ tròn sơn xanh độc đáo rất thu hút khách du lịch. Mời các bạn đón đọc Người Trong Lưới của tác giả Chan Ho Kei & Thu Hường (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Tên Trộm Xác Người - James Bradley
Tên Trộm Xác Người là tác phẩm thứ ba của nhà văn người Úc James Bradley, sinh năm 1967. Ông được nhật báo Sydney Morning Herald hai lần phong tặng danh hiệu là một trong “Những tiểu thuyết gia trẻ người Úc tài ba nhất”. Hiện ông sinh sống ở Sydney. Câu chuyện kể về Gabriel Swift, một sinh viên y khoa ngành phẫu thuật. Anh tới London vào năm 1826 để theo học với Edwin Poll, một bác sĩ phẫu thuật lớn. Từ những giao dịch mua bán tử thi, Swift dần lún sâu vào con đường tội lỗi do sự dụ dỗ của Lucan, kẻ nhiều quyền lực nhất trong số những tên đào trộm xác chết của thành phố và cũng là tên trùm cai quản hoạt động này. Bị bác sĩ Poll đuổi học, Gabriel bị cuốn vào thế giới ngầm tàn ác và bí ẩn của thủ đô London thời kỳ Georgian, trở thành một tội phạm. Dù sao, sự cứu rỗi đã đến với Swift ở phần cuối sách. Quyển tiểu thuyết dựa một phần vào sự kiện có thật về hai tên giết người hàng loạt Burke và Hare hồi đầu thế kỷ 19 ở Anh và các hoạt động mua bán xác người của các bệnh viện hay trung tâm phẫu thuật lúc bấy giờ. Truyện không phân theo chương nên khó theo dõi nếu bạn đọc không đọc liền một mạch. Rất cảm ơn sự ủng hộ của các bạn. Sài Gòn, tháng 4/2015 ★★★ “Chúng ta chào đời cùng người chết Thấy chăng, họ quay về, và mang chúng ta theo.” — T.S. Eliot, Four Quartets ★★★ “Nhiều tháng sau khi bạn đã khép lại trang sách cuối, những câu chữ của James Bradley vẫn còn đọng trong tâm trí bạn: Đẹp, hấp dẫn và không thể nào quên.”  — Markus Zukas, tác giả quyển The Book Thief “Một thiên tiểu thuyết lãng mạn kinh dị đầy chất cổ điển.”  — Daily Telegraph “Một quyển truyện kinh dị trần trụi, khơi gợi suy tư… Khi bạo liệt, khi đầy triết lý, quyển truyện này đầy ắp không khí.”  — Big Issue ★★★ London, 1826-1827 Họ nằm trong những cái bao tời như nằm trong tử cung của mẹ; gối chạm cằm, đầu ép xuống, như thể chết chỉ đơn giản là quay về với nhục thể mà từ đó chúng ta sinh ra, và đây là sự thụ thai lần thứ hai. Một sợi thừng sau gối giữ họ trong tư thế đó, một sợi khác cột đôi tay họ, rồi miệng bao khép lại bên trên họ và được cột ràng lần nữa, toàn thể trông như một gói đồ nén chặt, đã được ngụy trang một cách dễ dàng, vì nếu bị người bên ngoài nhìn thấy, một thứ hàng hóa như thế sẽ thu hút cả một đám đông. Thế rồi một con dao cắt phăng sợi thừng cột bao, và người này nhấc lên, người nọ kéo, chúng tôi lôi những thứ bên trong bao ra, đặt họ duỗi dài lên mặt bàn, trần truồng và giá lạnh, như một con bê hoặc một em bé chuồi ra khỏi lòng của mẹ, sợi dây và cái bao được giữ lại, vì một lát sau chúng tôi sẽ dùng lại chúng, để thu dọn những mảnh xác bị cắt rời. Chúng tôi cùng giữ chặt họ, kéo thẳng thi thể họ ra lần nữa. Dù tứ chi của họ không mềm quặt mà cũng không cứng lại, bất chấp sự giá lạnh vẫn còn nấn ná bên trong, tình trạng cứng đờ của họ đã bị phá vỡ bên cạnh nấm mồ khi họ bị bẻ gập lại và cột ràng để nhét vào bao. Lúc này, họ duỗi ra dưới bàn tay nắm giữ của chúng tôi, di chuyển với sự dễ uốn nắn lạ lùng của một thân hình nằm giữa cái chết và tình trạng thối rữa. Đấy là một công việc ghê tởm, thế nhưng sự ghê tởm không nằm ở việc đứng gần người chết mà ở sự thân mật nó đòi hỏi từ chúng tôi, sự cận kề với xác thịt và vật chất của thi thể họ. Khi họ đã được uốn nắn xong, nằm tái nhợt và trần truồng trên bàn, chúng tôi bắt tay vào việc. Trước hết chúng tôi lật úp họ xuống, để lộ phần lưng và mông lốm đốm tím và xanh giống như những vết bầm do máu đã tụ lại suốt nhiều giờ sau khi chết. Nếu lớp thịt bắt đầu thối rữa, sẽ có những chỗ phồng dộp, mềm, nhũn nước và tái nhợt, có thể vỡ toang nếu bị chạm vào, nhưng khi đó, lớp da cũng ẩm ướt do thứ chất lỏng giống như mồ hôi rỉ ra từ chúng. Đôi khi, những người liệm xác sẽ nút kín những lỗ hậu môn, và nếu thế, những vật đó phải được lấy ra khỏi xác. Sau đó, với giẻ lau, nước và dấm, chúng tôi bắt đầu rửa ráy cho họ, đôi tay cẩn thận di chuyển qua lớp da của họ, mùi dấm lẫn vào những thứ mùi u ám hơn bám vào họ, chúng tôi tiết chế những cử động nhưng không phải không lau chùi một cách nhẹ nhàng. Khi đã làm xong phần lưng và hai cẳng chân, chúng tôi lật họ trở lại, lau từ bàn chân lên háng, từ háng lên ngực, hai cánh tay và hai bàn tay, cuối cùng tới bộ mặt. Ở đây chúng tôi làm việc cẩn trọng nhất, lau quanh những đầu xương và chỗ nhô lên với những tấm giẻ gấp gọn, quanh đôi gò má, quanh phần trũng quanh mắt. Đôi khi hai mí mắt vẫn còn hé mở, cứng đờ, đôi mắt bên dưới mờ đục và không màu sắc như mắt của những người rất già. Khi lau rửa xong xuôi, chúng tôi xuống sân lấy nước, xà bông và dao cạo. Nước lạnh, dùng cho thi thể lạnh. Thế rồi, kéo thẳng lớp da chùng, chúng tôi bắt đầu cạo; trước tiên là phần da đầu và mặt, tóc ướt được tách thành từng lọn để lộ ra phần u lên của cái sọ; sau đó là lồng ngực và hai nách; rồi cuối cùng là bộ phận sinh dục, lưỡi dao cạo soàn soạt lướt trên lớp da. Đôi khi chúng tôi cắt phạm vào họ, nhưng chẳng có chút máu nào chảy ra, vết đứt tái nhợt và trống rỗng. Tôi không thể nói do đâu chúng tôi biết rằng đây là công việc cần phải được tiến hành trong im lặng. Chỉ biết cách thức là thế, phải luôn là thế. Vào những lúc khác chúng tôi di chuyển quanh họ như thể họ không nằm đó, nói cười với nhau trong lúc lôi kéo, cắt và dọn dẹp những mảnh thịt, gạt chúng sang bên một cách ngẫu nhiên giống như gạt sang bên một cuốn sách hay cái áo khoác đang nằm ở nơi ta định ngồi xuống. Nhưng lúc này chúng tôi lặng lẽ làm việc, không nói nhiều hơn mức cần thiết. Như thể việc rửa ráy người chết này chính là một nghi lễ: giống như người ta rửa sạch những thứ nhớt nhau từ lòng mẹ trên thân hình một em bé, chúng tôi chùi sạch mùi âm ty địa ngục khỏi những xác chết bị đánh cắp đó, đưa chúng mới tinh khôi vào thế giới. Khi công việc đã hoàn tất, mấy cái bao đã được gấp lại gọn gàng, mấy cái xô đã trút sạch nước, những tấm giẻ đã được vắt và phơi, bắt đầu tới việc tính tiền. Thầy chúng tôi kỹ lưỡng nhất trong việc lưu giữ sổ sách tiền nong, và số tiền trả cho Caley và Walker phải được ghi lại: tám đồng tiền vàng cho một xác đàn ông hay phụ nữ đã trưởng thành, hay thứ chúng tôi gọi là một cái lớn; bốn đồng tiền vàng cho một đứa trẻ con, hay một cái nhỏ; một siling mỗi phân Anh cho thứ mà chúng tôi gọi là một bào thai, hay một em bé dài chưa tới một bộ Anh. Và cứ vậy, trong lúc tôi lau sàn, Robert lặng lẽ tính toán trên cuốn sổ cái, ghi lại những khoản thanh toán, kiểm lại số tiền còn tồn trong hộp đựng tiền, gương mặt giấu sau một tấm mặt nạ lặng buồn mà anh luôn khoác lên khi nghĩ rằng mình không bị ai quan sát. ... Mời các bạn đón đọc Tên Trộm Xác Người của tác giả James Bradley.
Giả Thuyết Thứ 7 - Paul Halter
Một ngày nọ ở Luân Đôn, có hai người đàn ông tài ba danh giá quá chẳng để làm gì, đã chơi tung đồng xu để thách thức tài trí nhau. Theo đó người thắng phải gây ra một vụ án mạng kiểu gì cũng được, sao cho bản thân mình có đầy đủ chứng cứ ngoại phạm, còn các manh mối phạm tội sẽ đổ dồn vào người thua. Một âm mưu thoạt nhìn chỉ để cho vui, cuối cùng như hơi độc thổi bung ra trong không khí, xé toang lồng ngực bao nhiêu người khác, lại cũng làm ngạt thở chính mình. Bởi vì mạng người chưa và không bao giờ là thứ nên đem ra làm trò đùa cợt. Paul Halter, nhà văn trinh thám người Pháp, sở hữu gia tài gồm hơn 30 tiểu thuyết cùng các giải thưởng trong nước và quốc tế. Ông được ưu ái mệnh danh là “Bậc thầy của những căn phòng khóa kín”. Truyện của ông độc đáo vì đã xây dựng được những câu đố và âm mưu tội ác gần như không tưởng. Dùng tiểu thuyết “chuyên chở thông điệp xã hội, khám phá các vấn đề nhân đạo và triết học” cũng trở thành một điểm nhấn khó phai khi nói về Paul Halter. *** Khoảng 10 giờ tối, cảnh sát Edward Watkins đi ngang cung điện St. James như ông vẫn làm nửa tiếng một lần vào những buổi tối phải trực thế này. Nhiều năm qua, ông đã đều đặn thực hiện đúng lộ trình đó mà không gặp sự cố gì. Thi thoảng chạm trán một tay say xỉn có phần ngỗ ngược không thể bỏ qua, nhưng đám đó cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Khu vực này rất yên bình, yên bình như cuộc đời cảnh sát viên của ông, khi ông đã đi mòn gót, tâm trí chỉ nghĩ về thời khắc nghỉ hưu sắp tới bên người vợ yêu quý của mình. Một cuộc đời chẳng có biến cố gì, thực vậy - cho tới đêm 31 tháng Tám năm 1938. Hai bàn tay đan chéo sau lưng, chiếc mũ cát kéo sụp xuống đầu, thứ âm thanh duy nhất ông nghe được là tiếng bước chân của chính mình trong cái khu vực đang say ngủ, chìm trong bóng đổ của những tòa nhà gớm ghiếc cao ngất bao quanh. Đêm khá lạnh và màn sương nhẹ lững lờ buông xuống phần mặt tiền đầy vẻ hăm dọa. Ông rẽ xuống phố King, đi được nửa chừng thì dừng lại ngó qua vai, như một việc rất bình thường. Đúng lúc ấy, ông nghe tiếng bước chân ở đâu kia phố King, ngay chỗ ngã tư với phố Bury. Nhưng khi vòng trở lại, ông chỉ thấy cái bóng của một kẻ qua đường, hắt lên bức tường cách đó hơn chín mét nhờ một ngọn đèn đường năm ở góc ngã tư. Cảnh sát Watkins đứng yên vài giây, miệng há hốc. Mặc dù chỉ thấy cái bóng trong một thoáng, ông cũng đủ nhận ra một điểm dị thường: Nó có cái mũi dài lạ lùng. Không phải dài hơn mức bình thường vài phân, mà dài một cách quái đản, dễ chừng bằng cả vành mũ rộng mà kẻ đó đang đội. Quỷ quái gì vậy? Một gã cải trang thành chim chăng? Edward Watkins đứng yên thêm vài giây nữa, tâm trí quay cuồng. Khi trấn tĩnh lại, ông rảo bước tới góc phố Bury và nhìn dọc xuống lối đi, vừa kịp thấy nhân vật kia sắp rẽ phải vào một hẻm ở quãng giữa phố, nơi hình như có thêm nhân vật khác đã đến từ trước. Watkins chưa xác định được nhân dạng của kẻ thứ hai, nhưng thoáng thấy thứ gì đó rất giống áo choàng. Diễn biến tiếp theo khá nhanh. Nhân vật kia, có lẽ bị đánh động bởi tiếng chân bước của viên cảnh sát, quay phắt lại đối diện với ông và, lộ rõ vè ngạc nhiên, nó vọt nhanh vào ngõ hẹp. Trong những tình huống bình thường, viên cảnh sát sẽ lập tức bám theo. Nhưng những gì ông vừa thấy - và đặc biệt là vào thời điểm đó - lạ lùng đến mức phải mất vài phút quý giá tâm trí ông mới phục hồi được. Nhưng các giác quan thì không hề phản bội ông và hình ảnh dị thường kia vẫn rõ rệt trong tâm trí: áo choàng dài đến mắt cá chân, đôi tay đeo găng, chiếc mũ rộng vành, và thay vì khuôn mặt, lại chình ình một chiếc mặt nạ trắng ởn mà ở chính giữa là cái mũi dài ít nhất cũng hơn ba mươi phân. Mặc dù chưa bao giờ nhìn thấy hình ảnh ấy bằng xương bằng thịt, nhưng ông đã xem đủ minh họa để hiểu ra: Ông vừa nhìn thấy một bác sĩ dịch hạch. Một bác sĩ dịch hạch. Đã từng có dịch hạch ở Luân Đôn. Những câu chuyện về bệnh dịch khủng khiếp vụt qua tâm trí ông: Người chết nhiều như ruồi trên đường phố, quằn quại trong đau đớn, thân thể đầy mụn mủ, mí mắt thâm đen, gương mặt teo tóp. Xác chất đống lên xe đẩy, rồi trút xuống hào sâu bên ngoài thành phố, nơi một sự hoảng loạn không tên ngự trị, nơi gần như không thể trốn chạy, và nơi người sống trong những ngôi nhà bị nhiễm bệnh chết vì đói hơn là vì dịch hạch. Viên cảnh sát xua dòng ý nghĩ hắc ám ấy đi và định thần lại. Ba trăm năm nay không còn dịch hạch ở Luân Đôn, đã có nhiều hiện pháp hiện đại để kiểm soát nó. Hơn nữa, các bác sĩ không còn lang thang trên đường phố trong bộ trang phục kỳ dị này nữa. Người ông vừa nhìn thấy hoặc là một người đi dự tiệc hoặc một dạng tội phạm nào đó đang chuẩn bị ra tay. Không, như thế thật vô nghĩa. Có nhiều cách kín đáo hơn để che giấu nhân dạng. Vậy thì là gì chứ? ... Mời các bạn đón đọc Giả Thuyết Thứ 7 (Dr. Twist #6) của tác giả Paul Halter.
Kẻ Giết Người Đội Lốt - Erle Stanley Gardner
Theo GUINNESS, quyển sách ghi các kỷ lực thế giới, Erle Stanley Gardner được ghi nhận là tác giả sách bán chạy nhất của mọi thời đại. - Erle Stanley Gardner có trên 150 tác phẩm trinh thám tin cậy, đáng giá và hợp thời đại. - Erle Stanley Gardner, người đã tạo nên nhân vặt truyền kỳ luật sư Perry Mason, cô thư ký tinh ý Della Street, và viên thám tử tài ba Paul Drake. - Erle Stanley Gardner, tác giả duy nhất có sách bán chạy hơn cả bốn tác giả nổi tiếng khác cộng lại gồm: Agathe Chistie, Harold Robbins, Barbara Cartland và Louis L’amour   *** Một số tác phẩm đã được xuất bản tại Việt Nam:   1. Móng vuốt bọc nhung (Đôi tất nhung) [Perry Mason #1 - The Case of the Velvet Claws] (1933) 2. Cháu gái người mộng du [Perry Mason #8 - The Case of the Sleepwalker's Niece] (1936) 3. Vị giám mục nói lắp [Perry Mason #9 - The Case of the Stuttering Bishop] (1936) 4. Kẻ hùn vốn [Perry Mason #17 - The Case of the Silent Partner] (1940) 5. Con vịt chết chìm (Mười tám năm sau) [Perry Mason #20 - The Case of the Drowning Duck (Le Canard Qui Se Noie)] (1942) 6. Cô gái có vết bầm trên mặt [Perry Mason #25 - The Case of the Black-Eyed Blonde (La Blonde au Coquard)] (1944) 7. Lá thư buộc tội [Perry Mason # 44 - The Case of the Runaway Corpse] (1954) 8. Viên đạn thứ hai [Perry Mason #45 - The Case of the Restless Redhead] (1954) 9. Con mồi táo bạo [Perry Mason #54 - The Case of the Daring Decoy] (1957) 10. Kẻ mạo danh [Perry Mason #64 - The Case of the Spurious Spinster] (1961) 11. Người đàn bà đáng ngờ [Perry Mason #69 - The Case of the Mischievous Doll] (1963) 12. Vụ Án Hoa Hậu Áo Tắm [Perry Mason #78 - The Case of the Queenly Contestant] 13. Kẻ Giết Người Đội Lốt [Perry Mason #40 - The Case of the Grinning Gorilla] (1952) 14. Tiếng Chó Tru Trong Đêm [Perry Mason #04 - The Case of the Howling Dog] (1934) 15. Người Được Minh Oan [Perry Mason #27 - The Case of the Half-Wakened Wife] (1945) 16. Người Đàn Bà Đáng Sợ [Perry Mason #53 - The Case of the Lucky Loser] (1958) *** Vào sáng thứ hai, mười giờ kém năm, Perry Mason, cặp dưới nách một gói bọc giấy màu nâu, một tay gỡ cái mũ phớt và ném về phía bức tượng bán thân Blackstone vốn là thứ trang điểm cái giá sách phía sau bàn làm việc của ông. Chiếc mũ phớt lười biếng quay mấy vòng rồi chụp thẳng xuống vầng trán cẩm thạch của vị luật sư lừng tiếng, tạo cho ngài một vẻ ngang tàng quái đản. Della, cô thư kí riêng của Mason đang mở thư tín buổi sáng bên bàn, vỗ tay hoan hô. “Chà, lần này thực sự thành công lắm!” Mason đồng tình với niềm kiêu hãnh kiểu trẻ con. “Blackstone chắc là phải nhảy chồm lên ở dưới mồ,” Della nhận xét. Mason mỉm cười. “Ông ấy đã quen từ lâu rồi. Năm mươi năm gần đây tất cả các luật sư chỉ có làm mỗi việc là chất mũ của mình lên vầng trán cao thượng của Blackstone. Điều đó là đặc trưng trong thời đại chúng ta.” “Đó là điều gì chứ?” “Ném mũ.” “Tôi sợ là không hiểu được hết ý nghĩa.” “Vài thế hệ trước,” Mason giải thích với cô, “các luật sư từng là những người chán ngắt hiếm thấy. Đặt tay lên vạt áo vét, họ nói những diễn từ cầu kì theo mọi quy tắc của nghệ thuật hùng biện. Các văn phòng của họ nhất thiết phải được trang điểm bằng tượng bán thân của Blackstone. Thế nhưng các luật sư trẻ được thừa kế các bức tượng cùng với đồ đạc văn phòng và hàng đống bộ luật thì phát cáu bởi cái vẻ tự mãn khoa trương đông cứng trên bộ mặt bằng đá của lão già này.” “Chắc là anh cần phải đến gặp nhà phân tâm học, sếp ạ,” Della nói. “Có lẽ đối với anh Blackstone tượng trưng cho cái gì đó mà anh cố sức chống chọi lại một cách vô thức. Thế cái gói gì chỗ anh thế?” “Có quỷ mới biết nó,” Mason đáp. “Theo tôi, tôi cố sức chống chọi các định kiến u tối. Tôi đã trả mất năm đôla - tôi có ý nói cái gói ấy.” Trong giọng Della che giấu lòng bao dung dịu dàng sau vẻ giận dỗi giả tạo, “Tôi hi vọng anh không định ghi khoản đó vào chi phí công vụ chứ?” “Tất nhiên, tôi sẽ ghi. Chứ khác đi thì theo cô các chi phí chung là cái gì?” “Và anh thậm chí không biết cái gì bên trong đó ư?” “Tôi mua nó mà không giở ra.” “Tôi sẽ hơi khó quyết toán, nếu phải ghi vào cột chi năm đôla vì cái gói mà không rõ có gì nằm trong đó. Điều gì đã xui khiến anh như thế?” “Nói chung,” Mason thốt ra, “sự thể là thế…” Ông mỉm cười. “Nào tiếp theo là gì?” Della hỏi, cũng không đủ sức kìm nổi nụ cười. “Cô nhớ cái cô Helen Cadmus nào đó không? Cái tên ấy không nói với cô điều gì sao? “ “Một cái tên khá lạ,” cô nói. “Tôi có cảm giác… Khoan, đó có phải là cô gái đã tự tử, nhảy xuống biển từ tàu buồm của một nhà triệu phú nào đó?” “Phải, phải, chính cô ta. Benjamin Addicts, một triệu phú khá bất thường, nghỉ ngơi trên chiếc tàu buồm của mình. Giữa biển khơi, cô thư kí của ông ta, Helen Cadmus biến mất không để lại dấu vết. Người ta phỏng đoán là cô ta đã nhảy ra ngoài thành tàu. Mà trong cái gói này… Nào chúng ta cùng xem điều gì viết ở đây.” Mason lật cái gói lại và đọc, “Đồ vật riêng của Helen Cadmus. Văn phòng mõ tòa.” Della thở dài. “Đã bấy nhiêu năm tôi là thư kí riêng của anh… và thậm chí đôi khi tôi có cảm giác rằng tôi đã biết anh khá rõ, nhưng rồi lại xảy ra gì đó như kiểu này, và tôi lại nhận thức rằng anh vẫn là ẩn số đối với tôi. Trời ơi, anh lấy thứ đó ở đâu và vì cái gì mà bỏ ra những năm đôla cơ chứ?” “Mõ tòa khá thường xuyên đưa ra đấu giá đủ thứ vớ vẩn khác nhau chất đống trong văn phòng ông ta. Và hôm nay trong gian nghị án đã có cuộc đấu giá, còn tôi lại vô tình có mặt không xa chỗ đó. Ở đấy diễn ra những cuộc đấu giá khá hăng, tất cả tranh giành các chế tác kim hoàn, các bức tranh quý hiếm, bộ đồ ăn bằng bạc và đủ mọi thứ khác nữa. Sau đó người ta đưa ra đấu giá cái gói này, và chẳng có ai thèm trả giá. Cô cũng biết mõ tòa - ông ta là một bạn tốt của tôi. - Thế là tôi nháy mắt cho ông ta, và đề nghị đặt giá đầu tiên là năm đôla, nhằm kích động công chúng. Và cô biết sao không? Tôi chưa kịp trấn tĩnh thì họ đã dúi cái gói cho tôi rồi, thành ra trong ví tôi bớt đi năm đôla.” “Thế có gì bên trong ấy?” Della tò mò. “Ta cùng xem,” Mason đề nghị. Ông mở con dao díp, cắt dây buộc và mở tờ giấy bọc ra. “Ái chà chà! Giống như chúng ta có được cuốn ngữ pháp tiếng Anh, cuốn từ điển, vài sách giáo trình tốc kí, mấy cuốn nhật kí và quyển album với những tấm ảnh.” “Có thế mà mất những năm đôla!” Della kêu lên. “Ta ngó qua album ảnh xem,” Mason nói. “Chà! Đây có những tấm ảnh mà ai cũng muốn xỉa năm đôla mua nó.” Della đi lại gần và ngó qua vai ông. “Nếu đó được gọi là quần áo tắm,” cô nhận xét, “thì tôi…” “Thế nhưng giống như nó chính là thế,” Mason đáp. “Bộ đồ tắm từ ba mảnh vải hình vuông, bằng cách thần diệu nào đó đã bám được vào các đường nét uyển chuyển của thân hình khá đáng yêu. Tôi cho rằng đó chính là Helen Cadmus.” “Cô ta không che giấu quá nhiều khỏi những con mắt người lạ,” Della nói. “Chắc gì người lạ nào đó đã chụp, có lẽ một cô bạn nào đó của cô ta biết sử dụng máy ảnh, may mắn tóm được khuôn hình gây ấn tượng mạnh. Ồ, ở đây còn cả một tập những bức ảnh của lũ khỉ nữa.” ... Mời các bạn đón đọc Kẻ Giết Người Đội Lốt của tác giả Erle Stanley Gardner.
Chiếc Khuy Đồng - Lev Ovalov
Cuốn tiểu thuyết tình báo "Chiếc khuy đồng" của Ô-va-lốp viết dựa trên một câu chuyện có thật, xảy ra tại thành phố Ri-ga, nước Cộng hòa Lét-tô-ni (Liên-xô) tạm thời bị quân phát xít Đức chiếm đóng vào những năm đầu chiến tranh thế giới lần thứ hai. Câu chuyện lý thú phản ánh cuộc đấu tranh gay go, mạo hiểm, quyết liệt giữa cơ quan tình báo Liên xô và bọn gián điệp của các nước đế quốc; nêu lên những mâu thuẫn, xung đột tất yếu không thể tránh khỏi trong nội bộ bọn gián điệp đế quốc, phản ánh sự cấu xé vì quyền lợi và tham vọng giữa các nước đế quốc, dù lúc bấy giờ với danh nghĩa là đồng minh của Liên xô chống phát xít Hít-le. Hiện nay, bọn phản động bành trướng bá quyền Bắc Kinh đang ra sức cấu kết với đế quốc Mỹ, tiến hành một kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt đối với nước ta. "Chiếc khuy đồng" ra mắt lần này chắc chắn sẽ góp phần giúp bạn đọc nâng cao tinh thần cảnh giác Cách mạng, bồi dưỡng và củng cố thêm ý chí bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. *** Lời Tác giả: Tính đến nay đã gần tròn 20 năm, tôi có viết về Prô-nin, một cán bộ của Cục An ninh Quốc gia, và là người bạn của tôi, một tập truyện nhan đề là NHỮNG VIỆC MẠO HIỂM CỦA THIẾU TÁ PRÔ-NIN. Xuất bản tập truyện ấy chẳng được bao lâu thì cuộc Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc bùng nổ. Từ đó chúng tôi mỗi người một ngả, không liên lạc và cũng không hề gặp nhau. Trong quãng thời gian ấy, những sự kiện lớn lao đã bắt buộc một số người phải rút vào hoạt động bí mật.. . Rồi chiến tranh lại tan đi, công cuộc kiến thiết hòa bình trở lại trên khắp đất nước, người người lại sum họp và sau đó một thời gian mà tôi cho là dài lắm, cuộc sống lại trả hai chúng tôi về cảnh cũ. Đương nhiên tôi có hỏi về cái quá khứ của Prô-nin, tuy rằng anh không bao giờ thích để ai ca tụng mình. Anh đáp: "Tôi đã làm những gì thì chưa đến lúc phải kể lại, mà tôi cũng không có quyền nói hết những việc mình làm. Nhưng tôi có quyển nhật ký nhỏ của một đồng chí sỹ quan mà tôi có nhiệm vụ phải gặp gỡ trong những ngày đầu chiến tranh. Xin biếu anh đây. Đọc trong ấy tất anh sẽ biết được ít nhiều về tôi. Anh ta ghi quyển nhật ký này không phải để cho mọi người xem, nhưng nếu thấy thích, anh có thể phổ biến. Tất nhiên, những tên thật nên thay đổi đi ". Tôi đọc hết những dòng nhật ký đó và quyết định viết thành tiểu thuyết này. Lời lẽ quyển tiểu thuyết gần giống y như bản thảo nhật ký, tôi chỉ chữa lại một vài tình tiết ở đôi chỗ và thay đổi vài ba tên thật mà thôi. Tôi mở ngăn kéo bàn giấy lấy chiếc khuy đồng ra. Chiếc khuy đồng giản dị này là vật kỷ niệm duy nhất của tôi để ghi nhớ lại những sự việc lạ lùng nửa hư nửa thực mà tôi đã bị bắt buộc phải chứng kiến và tham dự vào... Cái vật bằng đồng nhỏ bé đó nằm gọn lỏn trên lòng bàn tay, gợi lại trong tâm trí tôi hình bóng ả đàn bà ấy, một hạng đàn bà kỳ dị hiếm có ở trên đời mà tôi đã quen biết trong những cảnh ngộ thật là éo le, khó hiểu. Đó là Xô-phi-a An-cốp-xcai-a. Nếu nói theo quan niệm thông thường của ta thì ả không phải là một trang tuyệt thế giai nhân: nét mặt không cân đối, thân hình chả lấy gì làm hoàn mỹ. Thế mà ả đã khiến cho nhiều kẻ mày râu phải "đổ quán xiêu đình" trước cái sóng khuynh thành của mình... Bạn thử hình dung ra một người đàn bà khá cao, tóc nâu sẫm, mặt hơi dài, trán dô gần như trán đàn ông với đôi mắt một mí màu gio mà trong cơn giận dữ thường biến sang màu xanh như mắt mèo và sắc như lưỡi dao cạo. Mũi hếch, cằm thon. Khác thường nhất là đôi môi đỏ chót, trề ra y hệt như môi trẻ con và có thể đột ngột mím chặt lại một cách dữ tợn, tái dần đến nỗi trắng nhợt ra. Hai vành tai quá rộng nói lên đặc khiếu thẩm âm của ả. Đôi má thỉnh thoảng mới ửng hồng, mái tóc mềm hơi uốn cong bên thái dương, hai cánh tay có vẻ quá mảnh khảnh nếu đem so với bộ đùi nở nang như đùi nhà thể thao chuyên nghiệp. Trong khi trò chuyện với ai ả chỉ nghe một bên tai, còn tai kia hình như đang mải lắng nghe một khúc nhạc hiu hắt từ cõi xa xăm nào vọng tới; nếu một mắt nhìn chòng chọc vào mặt người đối diện thì mắt kia hình như đang đăm chiêu soi vào khoảng không gian thăm thẳm. Và nếu tay phải ả dịu dàng vuốt ve anh thì tay trái có thể thình lình móc khẩu súng lục xinh xắn tối tân ở trong xắc ra để bắn chết anh trong nháy mắt. Phải chăng trong câu chuyện oái oăm này cũng phải có một nhân vật lạ đời như thế? Tôi là thiếu tá Ma-ca-rốp, sĩ quan tham mưu Liên Xô. Mấy tháng trước khi xảy ra chiến tranh, tôi được phái đến Ri-ga, một thành phố lớn và cổ kính nằm giữa hai miền Đông và Tây Âu... Nhiệm vụ của tôi là nghiên cứu chiến trường và chuẩn bị kế hoạch bố trí quân lực ở miền Tây Bắc để ngăn chặn một cuộc tiến công bất ngờ của quân địch khi chiến tranh bùng nổ. Công tác đó có tính chất hết sức bí mật. Lúc bấy giờ Ri-ga là một thành phố đông đúc và phức tạp. Những dãy nhà nguy nga tráng lệ ngất nghểu bên những phố xá tồi tàn đổ nát. Trước mắt chúng tôi đầy rẫy những nghịch cảnh giàu nghèo, sang hèn, vừa khêu gợi trí tò mò mà lại vừa kỳ lạ. Ri-ga là thủ đô của nước Cộng hòa xô-viết Lét-tô-ni vừa thành lập được ít lâu. Tôi sống khá kín đáo trong căn buồng riêng tại nhà đồng chí công nhân xưởng cơ khí tên là Xe-plít. Đồng chí là một đảng viên cộng sản lâu năm đã được tôi luyện trong thời kỳ hoạt động bí mật. Nhờ có chìa khóa riêng để ra vào cửa lớn nên tôi ít làm phiền đến chủ nhà. Tôi còn nhớ rõ đêm ấy vào khoảng cuối tháng sáu, sau khi báo cáo tình hình công việc hàng ngày với thủ trưởng, tôi bước ra khỏi tòa nhà đồ sộ sáng trưng ánh điện, đi qua một phố nhỏ rồi rẽ xuống đường bờ sông Đô-gáp xây bằng đá, rộng thênh thang. Mùa hè ở biển Ban-tích thật là êm dịu. Khí trời khô ráo nhẹ nhõm. Lòng tôi lâng lâng giữa biển hương thơm ngào ngạt dâng lên từ dòng sông và từ hoa cỏ dại đẫm sương... Đêm đã khuya. Bốn bề vắng ngắt. Tôi đội mũ dạ, mặc áo choàng màu sẫm, trong bóng tối khó mà nhận thấy. Một làn gió lạnh thoảng qua. Tôi rùng mình định kéo cổ áo lên chợt nghe tiếng gọi khẽ sau lưng. ... Mời các bạn đón đọc Chiếc Khuy Đồng của tác giả Lev Ovalov.