Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Hai Cuốn Nhật Ký

Tác phẩm của Tanizaki thường đi sâu vào lĩnh vực cấm kỵ. Từ sự khiêu dâm tinh tế đến tình dục bệnh hoạn đều được ông đưa cả vào sách của mình. Ông lãng mạn hóa sự khổ dâm, thi vị hóa sự dày vò tình cảm, ông viết chân thực về những xúc cảm dục vọng thầm kín của đàn ông, ông phanh trần ẩn ức dục vọng đàn bà. Người đọc có thể phì cười vì nỗi ám ảnh khiêu dâm trong sách của ông, nhưng cũng rất dễ dàng nhận thấy đó là sự hân hoan háo hức đòi hỏi cũng rất con người. Ông đưa tình dục của con người ta đi về một bến bờ nào đó xa lắc xa lơ. Trích đoạn Hai cuốn nhật ký “Vừa ân ái với người mình yêu, rồi lại gối chăn với kẻ mình ghét, người bình thường sẽ lấy làm khó chịu vô cùng, nhưng vợ tôi là ngoại lệ. Mà dẫu nàng có ý cự tuyệt tôi thì thân thể nàng lại chưa từng từ khước. Nàng có thể cự tuyệt tôi bằng lý trí, nhưng xác thịt nàng nào chống lại được ham muốn. Dâm phụ muôn đời vẫn là dâm phụ, điều ấy sao tôi lại quên nhỉ...” *** Năm 1956, thời điểm hồi phục kinh tế hậu chiến của Nhật Bản đã được hoàn thành và thời kỳ tăng trưởng kinh tế cao đang bắt đầu, người già đã trở thành một vấn đề của xã hội, tình dục người già càng là một chủ đề nhạy cảm. Nhưng cái gì càng nhạy cảm, Tanizaki luôn lao đầu vào, bất chấp mọi chuẩn mực xã hội, luôn giữ thái độ phản kháng văn hóa và thăm dò truyền thống. Bối cảnh Nhật Bản trong thời kỳ giao thoa văn hoá Tây phương, sự xung đột giữa truyền thống và hiện đại được thể hiện rõ nét trong “Hai cuốn nhật ký” của Tanizaki. Tác phẩm là câu chuyện được đan lát từ hai cuốn nhật ký đầy nhục dục của cặp vợ chồng trung niên. Người chồng là một giáo sư đại học. Cuốn nhật ký của ông không kể lại những câu chuyện hằng ngày, mà là nơi người đàn ông trung niên tội nghiệp thoát khỏi vỏ bọc của một con người trí thức thành công cùng cái tuổi tác đã ngấp ngưỡng lục tuần, để giãi bày tự nội tâm những ẩn uất về tình dục, với những ham muốn, ám ảnh, chán nản, bực bội và cả tiếc nuối. Người vợ của giáo sư là Ikuko, cũng viết nhật ký để nói lên những khao khát chốn phòng the mà bấy lâu nay chưa được chồng đáp ứng. Ikuko là một người vợ đặc trưng cho hình mẫu phụ nữ Nhật Bản, sinh ra trong một gia đình truyền thống, được dạy dỗ tử tế, phải giữ khuôn phép trong mọi cử chỉ hành vi, bởi vậy mà bà luôn rụt rè trong chuyện giường chiếu để tỏ vẻ chính chuyên… Ngán ngẩm một nỗi, thâm tâm Ikuko vốn là một người đàn bà hiếu dâm luôn tràn đầy ham muốn, và tư tưởng của bà trong buổi giao thời đã thoát ra lằn ranh truyền thống lại e dè vẫn cố bám vào truyền thống. Buồn của Ikuko là kể từ khi lấy chồng và đã có chung được một mụn con, bà vẫn chưa một lần đạt được thỏa mãn trong chuyện phòng the, bởi giáo sư là một kẻ “yếu nòng”, dẫu luôn khát khao vẻ đẹp của vợ. Những khúc mắc nhạy cảm không thể nói thành lời ấy khiến đời sống sinh hoạt tình dục của đôi vợ chồng suốt 20 năm qua không đạt được hạnh phúc. Họ tìm đến nhật ký để cả hai có thể tỏ bày nỗi lòng. Họ viết nhật ký nhưng lại không cất giấu, hoặc cất giấu một cách ỡm ờ, cố tình để cho đối phương đọc được. Một cuộc đấu trí căng thẳng và gay cấn giữa ông chồng già vẫn khát khao thể hiện bản lĩnh đàn ông và bà vợ hiếu dâm nhưng lại thích ra vẻ chính chuyên. Những mưu mô từng người giăng ra chực chờ đối phương mắc bẫy, để rồi kết thúc mở bằng một cuộc điều tra án mạng? Những tình tiết trần trụi ướt át dựng trên nền một cốt truyện trinh thám, Tanizaki đã làm mới mình bằng cách mô tả bài bản và tâm lý về nhân vật có ảo tưởng tình dục, nhưng lại kích thích trí tưởng tượng của người đọc lên đến đỉnh điểm. Người đọc gần như không nhận ra nổi tác phẩm chính là một kế hoạch giết người ẩn giấu, cho đến khi đọc đến những trang cuối cùng. ***   Truyện kể về cuộc đấu trí, lừa lọc nhau của 4 con người trong một gia đình, dưới hình thức 2 cuốn nhật ký của cặp vợ chồng trong cuộc. Và chủ đề của cuốn sách, cũng như công cụ của các âm mưu trong truyện, là tình dục. Thứ tình dục được nhắc tới ở đây, không phải thứ tình dục lãng mạn của tuổi trẻ, hay cuồng nhiệt của tuổi trưởng thành, mà là thứ tình dục khó nói, khó chia sẻ của tuổi trung niên và xế chiều. Cái độ tuổi mà con cái đã trưởng thành, sự nghiệp vững chắc, xã hội nể trọng, người ta thường hướng tới sự an nhàn, những thú vui tao nhã. Nhưng không, đó chỉ là những gì người ta dám thể hiện, còn những nhu cầu, nhưng khao khát rất “tầm thường” mang tên tình dục vẫn hừng hực như tuổi 20. Nó không hề già đi theo năm tháng, có chăng chỉ là sự chống đối của sức khỏe, nhưng tinh thần thì vẫn đầy năng lượng, đầy ham muốn. Bên cạnh tình dục là các âm mưu. Âm mưu để thỏa mãn nhu cầu bản thân, âm mưu để tránh tai tiếng, âm mưu đề chiếm đoạt, âm mưu để lợi dụng… Có quá nhiều âm mưu so với lượng nhân vật chỉ là 4. Tất nhiên, đã có âm mưu thì sẽ có kẻ thắng, người thua, và cho tới cuối cùng, tôi dám cá là người đọc ai cũng có suy nghĩ về cái kết của riêng mình. Truyện không dài, nên 4 nhân vật là hợp lý. Đây cũng là lý do tôi thích truyện Nhật hơn Âu Mỹ, nhân vật ít sẽ có đủ thời gian để xây dựng tình cách, người đọc sẽ dễ đồng cảm hơn. 4 người 4 cá tính, tuy được kể qua nhật ký của 2 nhân vật thôi, nhưng 2 người còn lại vẫn đủ sống động, đủ gây hứng thú. Một thiếu nữ hiểm độc, một chàng trai hám lợi danh, một ông chồng bệnh hoạn và một bà vợ dâm đãng. Cứ thế, họ tương tác và gây ảnh hưởng lẫn nhau, tạo nên một trận chiến không ồn ào, nhưng đầy mùi duc vọng. Lần đầu tới với Tanizaki, lại là câu chuyện được kể dưới dạng nhật ký, nhưng không thể phủ nhận cách dẫn dắt lôi cuốn và ngôn từ gợi cảm là điểm mạnh của nhà văn này. Bao nhiêu hư ảo của cuộc ái ân, vốn dĩ rất khó miêu tả thành lời, nay qua con chữ của ông hiện lên vô cùng rõ nét và rực rỡ, đem lại trải nghiệm độc đáo cho người đọc là tôi. Tóm lại, tác phẩm là kết hợp của cốt truyện thú vị, chủ đề nhạy cảm, lối kể độc đáo, nhân vật có cá tính, lời văn gợi cảm, dẫn dắt lôi cuốn. Từng đó lý do là quá đủ để ai yêu thích văn chương Nhật và không ngại các chủ đề “nhạy cảm” nên tìm đọc. *** Ngày mùng một tháng Giêng... Tôi quyết định từ năm nay sẽ bắt đầu ghi lại tất cả những điều chưa từng dám viết vào nhật ký. Trước giờ, những việc phòng the, sinh hoạt vợ chồng, tôi thường không dám ghi chép tỉ mi lại, bởi e ngại vợ mình đọc trộm mà sinh tức giận. Nhưng từ đầu năm nay trở đi, tôi quyết không lo lắng nữa. Nàng chắc chắn cũng biết cuốn nhật ký này được đặt đâu đó trong ngăn kéo tại thư phòng tôi. Nhưng vốn xuất thân từ một gia đình quyền quý ở Kyoto, coi trọng những giá trị đạo đức, lễ giáo cổ xưa, nàng đích thực là một tiểu thư con nhà gia giáo, thậm chí còn tự hào về điều ấy nữa, thế nên những chuyện như lén đọc nhật ký của chồng, chắc sẽ hiếm khi làm, dĩ nhiên chẳng có gì là không thể cả. Từ nay trở đi, tôi sẽ phá bỏ lệ cũ mà ghi lại sự tình ẩn mật trong những lần sinh hoạt vợ chồng. Liệu nàng có cưỡng lại nổi sự cám dỗ của việc rình lén những bí mật của chồng mình không? Nàng là người bẩm sinh kín đáo, đặc biệt hiếu kỳ với những bí mật. Nhưng dù có biết vẫn vờ như không, giữ kín ở trong lòng, chẳng dễ dàng nói ra miệng, tệ nhất là nàng nghĩ phụ nữ thì phải như thế. Trước giờ, tôi vẫn thường giấu chìa khóa ngăn kéo chứa cuốn nhật ký ở một nơi kín đáo, hơn nữa lại thường xuyên đổi chỗ giấu, thế nhưng với lòng hiếu kỳ phi thường ấy, nàng thừa sức dò được mỗi khi tôi thay đổi. Kỳ thực, đâu cần phải phiền phức đến vậy, chỉ cần đánh thêm một chiếc nữa là được mà... Mới rồi, tôi viết "từ đầu năm nay trở đi, tôi quyết không lo lắng nữa", nhưng thú thực tôi đã dự tính chuyện nàng sẽ đọc, thậm chí còn mong nàng đọc ấy chứ. Thế thì tại sao tôi còn phải trăm phưong nghìn kế để giấu giếm chìa khóa đi? Có lẽ là để thỏa mãn tính tò mò của nàng. Giả như tôi cố ý đặt ngay cuốn nhật ký ở nơi dễ thấy, hẳn nàng sẽ không tín mà cho rằng "chồng mình cốt viết nhật ký cho mình xem đây mà". Thậm chí lại cho rằng "chắc là còn cuốn nhật ký thật khác đang giấu ở đâu đó"... Ikuko, vợ yêu của tôi ơi, tôi chẳng biết mình đã đọc trộm cuốn nhật ký chưa. Mà dẫu tôi có hỏi thẳng mình chuyện ấy, hẳn mình cũng chối phắt "em chẳng xem trộm nhật ký ai bao giờ", rõ tốn công vô ích. Bất quá nếu mình có đọc mấy dòng này, thì tôi hy vọng mình sẽ tin rằng đây không phải là cuốn nhật ký giả, những gì viết trong đó đều là sự thật. Đương nhiên với những người đa nghi Tào Tháo, thì càng nói như vậy càng chẳng đáng tin. Nên tôi sẽ chẳng nhiều lời nữa, đọc hết nhật ký rồi, thực hư thế nào ắt mình sẽ hiểu. Đương nhiên tôi sẽ không chỉ viết những điều sướng tai nịnh mắt nàng, nhất định là sẽ có những điểm khiến nàng chướng tai gai mắt. Chính vì con người tôn thờ bí mật chủ nghĩa như nàng mà tôi viết nên cuốn nhật ký này. Ở chốn khuê phòng, nàng thường xấu hổ mỗi khi nhắc tới chuyện ân ái, nếu tôi có buột miệng thốt ra đôi câu khiếm nhã, nàng bèn bịt chặt hai tai rất "kiểu cách", rõ là giả vờ giả vịt "yểu điệu thục nữ", ra vẻ ta đây thanh tao cao nhã. Chúng tôi lấy nhau đã hơn hai mươi năm, có một con gái đã đến tuổi cập kê, mỗi khi lên giường đều yên lặng mà hành sự, chưa từng có lấy một câu ân ái, vợ chồng nào mà lại như vậy cơ chứ? Nàng cấm đoán đề cập tới chuyện phòng the khiến tôi cực kỳ bất mãn, nên quyết ghi hết lại trong nhật ký. Từ nay trở đi, bất kể nàng có đọc trộm hay không, tôi cứ cho là nàng đã đọc, những gì tôi viết ra cũng coi như đang gián tiếp đàm luận cùng nàng. Thực tâm tôi yêu nàng nhất trần đời, trước đây tôi vẫn luôn nói vậy, mà nàng cũng biết rõ điều ấy. Chỉ là trong vấn đề chăn gối thì tôi không được sung mãn, khó bề đáp ứng được nhu cầu của nàng. Tôi năm nay đã năm mươi sáu (còn nàng bốn mươi lăm), cũng chưa tính là quá già, nhưng chẳng hiểu nguyên cớ làm sao, mỗi khi làm chuyện ấy đều luôn cảm thấy lực bất tòng tâm. Thành thực mà nói, nếu chúng tôi ân ái mỗi tuần một lần... hay có lẽ mười ngày một lần thì hợp cho tôi hơn. Thế nhưng về phương diện này, nhu cầu của nàng lại mạnh mẽ một cách phi thường, bất chấp việc mắc bệnh tim bẩm sinh (nàng rất ghét nhắc đến việc này). Đây là điều khiến tôi lâu nay thực buồn rầu, lo lắng. Mình là chồng, lại không hoàn thành được nghĩa vụ với vợ, nên luôn nghĩ làm cách nào để bù đắp những thiếu thốn cho nàng. Nhưng nếu đề cập đến chuyện ấy, hẳn vợ tôi sẽ nổi cơn tam bành lục tặc. Mặt khác, giả như... chỉ giả như thôi nhé, nàng mơ tưởng tới chuyện ong bướm, thì tôi lại khó lòng mà chịu nổi. Cứ nghĩ tới chuyện đó thôi là tôi đã nổi cơn ghen đùng đùng lên rồi. Mà cũng phải suy xét cho sức khỏe của nàng nữa chứ, ít nhiều cũng nên kiềm chế bớt cái ham muốn quá độ đến bệnh hoạn ấy lại. ... Mời các bạn đón đọc Hai Cuốn Nhật Ký của tác giả Tanizaki Junichiro & Thanh Điền (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Tạ Ơn Thượng Đế
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Tạ Ơn Thượng Đế của tác giả Jean Vautrin & Vũ Đình Phòng (dịch). Bức tranh thơ mộng này thuật lại cuộc đời của ba thế hệ người Cajun, những người tiên phong rời nước Pháp đến định cư ở Lousiana. Những nhân vật này rất mạnh mẽ, phóng khoáng, cực đoan: Edius Raqun, người tiên phong cứng đầu, bà vợ Bazelle và cô con gái Azeline. Rồi đến chàng rể tương lai, Farouche Ferraille Crowley, người sống ngoài vòng pháp luật. Còn cả Palestine Northwood, thủy thủ từ Nantucket, và còn nhiều nhân vật khác của câu chuyện bắt đầu ở những nhánh sông và kết thúc ở New Orleans, vào thời điểm nhạc jazz xuất hiện. Lối hành văn của tác giả mô phỏng thổ ngữ ở Lousiana. *** Giải Goncourt, giải thưởng văn học danh giá của nước Pháp, vừa được trao cách đây vài giờ cho tác giả Hervé Le Tellier với tác phẩm «L'anomalie», được xuất bản bởi Gallimard. Lần gần nhất nhà xuất bản này có sách đoạt giải Goncourt là vào năm 2016 với «Chanson Douce» (Người lạ trong nhà) của tác giả Leïla Slimani. --- Giải Goncourt (Prix Goncourt) là một giải thưởng văn học Pháp được sáng lập theo di chúc của Edmond de Goncourt vào năm 1896. Hội văn học Goncourt thành lập chính thức năm 1900 và giải đầu tiên được trao ngày 21 tháng 12 năm 1903. Giải Goncourt, được sáng lập để trao mỗi năm cho «tác phẩm văn xuôi xuất sắc nhất trong năm», nhưng hầu như chỉ trao cho tiểu thuyết. Nó là giải thưởng văn học Pháp được mong muốn nhất. Mặc dù tiền thưởng của giải chỉ là 10 euro, nhưng sự nổi tiếng mà Goncourt đem lại cho cuốn sách sẽ là một phần thưởng lớn thay thế. Các thành viên của viện Goncourt họp vào các thứ ba đầu tiên mỗi tháng trong phòng khách của họ tại tầng hai nhà hàng Drouant ở Paris (Place Gaillon, quận 2). Tên người được giải sẽ công bố ngày 3 tháng 11 sau bữa ăn trưa tại nhà hàng (Năm nay, do ảnh hưởng của Covid-19 nên thời gian công bố đã được lùi lại). Giải chỉ trao cho mỗi nhà văn một lần. Duy có Romain Gary năm 1956 nhận giải với tiểu thuyết «Racines du ciel» (Rễ trời) và năm 1975 nhận một giải nữa với «La vie devant soi» (Cuộc sống ở trước mặt), nhưng dưới bút danh Émile Ajar. --- Một số cuốn sách đoạt giải đã được xuất bản tại Việt Nam: 1905: Những kẻ văn minh (Les Civilisés) - Claude Farrère 1916: Khói lửa (Le Feu) - Henri Barbusse 1919: Dưới bóng những cô gái đương hoa (À l'ombre des jeunes filles en fleurs) - Marcel Proust 1933: Thân phận con người (La Condition humaine)- André Malraux 1936: Sự tha thứ muộn màng (L'Empreinte du dieu) - Maxence Van der Meersch 1948: Những gia đình cự tộc (Les Grandes Familles)- Maurice Druon 1951: Bờ biển Syrtes (Le Rivage des Syrtes) - Julien Gracq 1956: Rễ trời (Les Racines du ciel) - Romain Gary 1970: Chúa tể đầm lầy (Le Roi des aulnes) - Michel Tournier 1974: Cô thợ thêu (La Dentellière) - Pascal Lainé 1975: Cuộc sống ở trước mặt (La Vie devant soi) - Émile Ajar 1977: Câu chuyện New York (John l'Enfer) - Didier Decoin 1978: Phố những cửa hiệu u tối (Rue des Boutiques obscures) - Patrick Modiano 1984: Người tình (L'Amant) - Marguerite Duras 1985: Những cuộc hôn thú man dại (Les Noces barbares) - Yann Queffélec 1987: Đêm thiêng (La Nuit sacrée) - Tahar Ben Jelloun 1988: Triển lãm thuộc địa (L'Exposition coloniale) - Erik Orsenna 1989: Tạ ơn Thượng Đế (Un grand pas vers le bon Dieu) - Jean Vautrin 1990: Chiến trường vinh quang (Les Champs d'honneur) - Jean Rouaud 1991: Những người con gái dòng Chúa chịu nạn (Les Filles du Calvaire) - Pierre Combescot 1995: Di chúc Pháp (Le Testament français) - Andreï Makine 1996: Chiếc máy bay tiêm kích Zéro (Le Chasseur Zéro) - Pascale Roze 1997: Chiến trận (La Bataille) - Patrick Rambaud 1998: Nỗi niềm (Confidence pour confidence) - Paule Constant 1999: Tôi đi đây (Je m'en vais) - Jean Echenoz 2000: Ingrid Caven - Jean-Jacques Schuhl 2001: Brésil Đỏ (Rouge Brésil) - Jean-Christophe Rufin 2003: Người tình của Brecht (La Maîtresse de Brecht) - Jacques-Pierre Amette 2004: Mặt trời nhà Scorta (Le Soleil des Scorta) - Laurent Gaudé 2005: Ba ngày ở nhà mẹ (Trois jours chez ma mère) - François Weyergans 2006: Những kẻ thiện tâm (Les Bienveillantes) - Jonathan Littell 2007: Alabama Song - Gilles Leroy 2008: Nhẫn thạch (Syngué sabour. Pierre de patience) - Atiq Rahimi 2009: Ba phụ nữ can đảm (Trois femmes puissantes) - Marie NDiaye 2010: Bản đồ và vùng đất (La Carte et le Territoire) - Michel Houellebecq 2012: La Mã sụp đổ (Le Sermon sur la chute de Rome) - Jérôme Ferrari 2013: Hẹn gặp lại trên kia (Au revoir là-haut) - Pierre Lemaitre 2014: Không khóc (Pas pleurer) - Lydie Salvayre 2016: Người lạ trong nhà (Chanson douce) - Leïla Slimani 2017: Chương trình nghị sự (L'Ordre du jour) - Éric Vuillard   Mời các bạn mượn đọc sách Tạ Ơn Thượng Đế của tác giả Jean Vautrin & Vũ Đình Phòng (dịch).
Câu Chuyện New York
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Câu Chuyện New York của tác giả Didier Decoin & Viễn Nguyên (dịch). Didier Decoin sinh năm 1945, bắt đầu con đường cầm bút với nghề làm báo rồi trở thành nhà văn có tên tuổi ở Pháp. Năm 1995, Didier Decoin được bầu làm tổng thư ký Viện Hàn Lâm Goncourt. Tác phẩm mang tên "John l’Enfer" (John Địa Ngục) - qua bản dịch của chúng tôi - "Câu chuyện New York" - đã được giải thưởng Goncourt năm 1977. Một nhà phê bình văn học viết trên báo Aurore bấy giờ đánh giá: “... Đối với tôi, đó là một trong những cuốn tiểu thuyết hay nhất tôi đã đọc trong mùa ấy”. Dịch giả Viễn Nguyên​ *** Didier Decoin viết nhiều truyện dài và kịch bản đã chuyển thành phim. "Khi chiếc xe tải của hãng truyền hình NA đến hiện trường xảy ra tai nạn, đám đông đã tự động tản ra làm hai nhóm; trên lề đường nhốn nháo, ồn ào như thể một đàn ong vỡ tổ. Những người được "may mắn" chứng kiến tận mắt tai nạn - đứng hơi lùi về phía sau. Nhóm những kẻ chạy đến quá muộn đứng gần hơn, bàn tán dựng lại cảnh bi thảm bên chỗ nạn nhân nằm. Họ ước đoán những cơ may sống sót và đưa ra các lời khuyên: "Có thể y bị trật khớp, có phần dập nát" "Đừng đụng vào y, cứ như thế chờ cảnh sát cơ động đến; không được di chuyển, không được cởi mũ y ra." "Máu chảy từ các lỗ mũi thì đó là dấu hiệu xấu rồi! Sao không gập một chiếc áo vét-tông đặt dưới gáy kẻ khốn khổ ấy?"... Còi ôtô cảnh sát New York rú lên từ xa, phía đầu công viên Row, gió nóng hầm hập thổi, uốn cong các cần ăng-ten mềm dẻo."... Tác phẩm này mang tên John l'Enfer (John Địa Ngục) - qua bản dịch của Nhà xuất bản Lao Động - "Câu Chuyện New York" - đã được giải thưởng Goncourt năm 1977. Xin trân trọng giới thiệu. *** TÓM TẮT Câu Chuyện New York là một tiểu thuyết của nhà văn Didier Decoin, được xuất bản năm 1977 và giành giải thưởng Goncourt. Truyện kể về cuộc đời của John, một thanh niên người Pháp sinh ra ở New York. John là một đứa trẻ mồ côi, được một gia đình người Pháp nhận nuôi khi còn nhỏ. Anh lớn lên ở Pháp, nhưng luôn cảm thấy mình là người xa lạ ở đất nước này. Sau khi tốt nghiệp đại học, John quyết định trở về New York để tìm kiếm nguồn gốc của mình. Anh bắt đầu cuộc sống ở thành phố này với tư cách là một nhà văn. Tại New York, John gặp gỡ nhiều người, từ những người nghèo khổ đến những người giàu có, từ những người thành đạt đến những người thất bại. Anh bắt đầu hiểu được sự phức tạp và đa dạng của thành phố này. John cũng bắt đầu khám phá quá khứ của mình. Anh tìm hiểu về cha mẹ đẻ của mình, về những người đã nuôi nấng anh và về những người đã ảnh hưởng đến cuộc đời anh. Trải qua những trải nghiệm ở New York, John bắt đầu tìm thấy chính mình. Anh trở thành một người đàn ông trưởng thành, có bản sắc riêng. Nhân vật John: Nhân vật chính của truyện. Anh là một người đàn ông trẻ tuổi, đang tìm kiếm bản thân và nguồn gốc của mình. Madame de Saint-Sauveur: Bà là người phụ nữ đã nuôi nấng John khi còn nhỏ. Bà là một người phụ nữ giàu có và quyền lực, nhưng cũng rất yêu thương John. Monique: Một cô gái người Pháp mà John yêu. Cô là một người phụ nữ xinh đẹp và thông minh, nhưng cũng rất bí ẩn. Larry: Một người đàn ông người Mỹ mà John gặp ở New York. Anh là một người đàn ông thành đạt và phóng túng, nhưng cũng rất tốt bụng. Cốt truyện Câu Chuyện New York là một tiểu thuyết về sự tìm kiếm bản thân và nguồn gốc. Truyện kể về cuộc đời của John, một thanh niên người Pháp sinh ra ở New York. Anh lớn lên ở Pháp, nhưng luôn cảm thấy mình là người xa lạ ở đất nước này. Sau khi tốt nghiệp đại học, John quyết định trở về New York để tìm kiếm nguồn gốc của mình. Tại New York, John gặp gỡ nhiều người, từ những người nghèo khổ đến những người giàu có, từ những người thành đạt đến những người thất bại. Anh bắt đầu hiểu được sự phức tạp và đa dạng của thành phố này. John cũng bắt đầu khám phá quá khứ của mình. Anh tìm hiểu về cha mẹ đẻ của mình, về những người đã nuôi nấng anh và về những người đã ảnh hưởng đến cuộc đời anh. Trải qua những trải nghiệm ở New York, John bắt đầu tìm thấy chính mình. Anh trở thành một người đàn ông trưởng thành, có bản sắc riêng. Đánh giá Câu Chuyện New York là một tiểu thuyết xuất sắc của Didier Decoin. Truyện có một cốt truyện hấp dẫn, những nhân vật được xây dựng tốt và một thông điệp nhân văn sâu sắc. Truyện kể về một câu chuyện tìm kiếm bản thân và nguồn gốc. Truyện đã khắc họa một cách chân thực và cảm động hành trình của John trong việc tìm kiếm chính mình. Truyện cũng đã gửi gắm một thông điệp nhân văn sâu sắc về sự trưởng thành và tìm thấy bản thân. Review Câu Chuyện New York là một cuốn tiểu thuyết rất đáng đọc. Truyện có một cốt truyện hấp dẫn, những nhân vật được xây dựng tốt và một thông điệp nhân văn sâu sắc. Dưới đây là một số điểm nổi bật của truyện: Cốt truyện hấp dẫn: Truyện kể về một câu chuyện tìm kiếm bản thân và nguồn gốc. Cốt truyện của truyện được xây dựng một cách logic và chặt chẽ, với nhiều tình huống bất ngờ và hấp dẫn. Nhân vật được xây dựng tốt: John là một nhân vật được xây dựng rất tốt. Anh là một người đàn ông trẻ tuổi, có tính cách phức tạp và đa dạng. Những nhân vật khác trong truyện cũng được xây dựng rất tốt, với những tính cách và số phận riêng. Thông điệp nhân văn sâu sắc: Truyện gửi gắm một thông điệp nhân văn sâu sắc về sự trưởng thành và tìm thấy bản thân. Truyện cho thấy rằng, mỗi người cần phải trải qua những thử thách và trải nghiệm để có thể tìm thấy chính mình. Nếu bạn đang tìm kiếm một cuốn tiểu thuyết hấp dẫn và ý nghĩa thì đây chính là cuốn sách dành cho bạn. Mời các bạn mượn đọc sách Câu Chuyện New York của tác giả Didier Decoin & Viễn Nguyên (dịch).
Bài Ca Núi Anpơ
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Bài Ca Núi Anpơ của tác giả Vasil Bykov & Văn Phú (dịch).   Nhiều thế hệ các nhà văn Xô-viết đã khai thác đề tài về cuộc chiến tranh vệ quốc vĩđại, soi rọi nó từ nhiều góc độ khác nhau, và đã tạo nên những tác phẩm xuất sắc của nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa viết về chiến tranh. Sau Phađêep. Erenbua, Sôlôkhốp, Ximônốp, v.v… những năm gần đây độc giả Xô-viết đánh giá cao các tác phẩm của Bônđarep, Tsakopxky, Bưcốp... và một loạt các tác giả trẻ khác. Trong lớp nhà văn kể trên, Vaxin Bưcốp, người Bieldrutxia (Bạch Nga), có một vị trí đặc biệt, và sở trường về truyện vừa. Ông đã được thưởng Huân chương Sao đỏ. Sinh năm 1924 ở Vilepcko, Bưcốp đã bước vào tuổi 18 đồng thời với cuộc chiến tranh khốc liệt chống phát xít. Cả thời thanh niên, Bưcốp đã lăn lộn trong chiến hào, và dấu ấn của những cuộc chiến đấu ấy còn in đậm suốt đời trong sáng tác của ông. Bản thân Bưcốp đã từng bị thương nặng, ngất lịm lâu đến nỗi đã được xếp vào hố chôn cùng với những người hy sinh, nhưng may mắn sao, ông đã tỉnh lại và được đưa về cứu chữa. Có lẽ vì thế, những trang miêu tả chiến đấu trong tác phẩm của ông hết sức chân thật, nóng bỏng. Ông không bao giờ nhìn chiến tranh bằng con mắt tĩnh tại, hoặc muốn đơn giản hóa hiện thực. Không phải ngẫu nhiên, nhà phê bình văn học E. Xi-Đôrốp đã viết: «Tất cả các tác phẩm của V. Bưcốp đều được soi rọi trong một ảnh sáng chân lý khốc liệt mang tính bi kịch: Có những giờ phút lịch sử mà con người chỉ có thể bảo tồn và xác định được những gì còn là chất người ở trong mình bằng cách trả giá cao nhất. đó là hy sinh mình hẳn về thể chất, để tạo nên được một chiến công!». Và chính Vaxin Bưcốp cũng đã phát biểu quan niệm sau đây về sáng tác của mình: «Điều trước tiên và chủ yếu mà tôi quan tâm là hai yếu tố đạo đức, có thể thâu tóm đơn giản như sau: Con người là gì khi đứng trước sức mạnh hủy diệt của một hoàn cảnh phi nhân đạo? Con người có năng lực làm được gì, khi mọi khả năng giành quyền sống đã bị vắt kiệt đến tận đáy? ...». Như vậy, đối với ông, cái kết cục cuối cùng của nhân vật không quan trọng bằng ý thức chủ đạo của con người hành động, con người tự vượt lên khỏi hoàn cảnh tưởng như không lối thoát của mình. Do quan niệm như vậy, Bưcấp không ngần ngại đầy nhân vật của mình vào những thử thách thắt nút, đến mitc, mọi giá trị tinh thần, đạo đức phải được phơi bày đến đây. Lúc bình thường, những nhân vật của Bưcốp không hề là những người xuất sắc hoặc có tính cách gì đặc biệt, thậm chí còn khá nhiều yếu điểm, khuyết điểm. Nhưng khi linh cách của họ được tôi luyện qua hoàn cảnh chiến đấu, họ trở nên mạnh mẽ, cao thượng, và sẽ tới lúc, họ làm nên những kỳ tích phi thường, đến chính họ cũng không ngờ. Đó là chủ kiến của Bucop về con người bình thường, – có thể nói là lầm thường. Tính bi kịch cũng là nét nổi bật trong các tác phẩm của Bưcốp. Hầu như tác phẩm của ông cũng mang đậm tính bi kịch: Từ Tiếng bầy sếu kêu (1960) đến Phát tên lửa thứ ba (1962)— tác phẩm đã gây ra khá nhiều tranh cãi về phẩm chất con người Xô-viết – đến Bài ca núi Anpơ (1964)— một mối tình quốc tế cảm động của những người tù - rồi tới Điểm cao đáng nguyền rủa (1968). Xốtnhicốp (1970). Đài kỷ niệm (1976), chất là kịch trong những tình huống mà nhân vật phải trải qua, càng ngày càng đậm, và làm người đọc phải suy nghĩ sâu sắc. Nhưng, ưu điểm của Bưcốp là ở chỗ tính bi kịch này không làm yếu con người trong tác phẩm của ông. Nó chỉ càng thúc đẩy con người vươn lên. Tới những tính cách mạnh mẽ, những quyết định quả cảm, và vì thế nó có tinh chất tích cực, tính chất tiến công. Nói khác đi, nó đẩy nhân vật của Bưcốp vươn tới chủ nghĩa anh hùng ngay cả trong điều kiện không thuận lợi nhất. Trong cuộc chiến đấu vừa với nội tâm, vừa với ngoại cảnh ấy, không một người nào được quyền sống vô ích và chết vô ích. Mỗi cá nhân phải trả lời trước tập thể, trước cả lịch sử nữa, về những hành động của mình, dù anh ta ở trong một hoàn cảnh biệt lập đi chăng nữa. Anh ta phải vận dụng mọi ý chí, kinh nghiệm, xử trí mọi quan hệ theo lương tâm và trách nhiệm cao nhất của mình. Chính đó là nét đặc trưng trong nhân vật của Bưcốp, mà nhà lý luận mỹ học V. Borep gọi là “tính tích cực lạc quan trong nhân vật bi kịch, đẩy vọt nhân vật lên tới tầm vóc tiến công”. Giới thiệu hai truyện vừa của V. Bưcốp được dư luận Liên Xô khá chú ý là Bài ca núi Anpơ và Phát tên lửa thủ ba( 1), chúng tôi mong giới thiệu thêm với bạn đọc Việt Nam một phong cách viết về chiến tranh, về chủ nghĩa anh hùng thầm lặng của người chiến sĩ, không phải trong chiến thắng vẻ vang, mà ngay trong những giây phút khó khăn, nặng nề, thậm chí tạm thời thất bại; giây phút mỗi người phải đối mặt với sự hy sinh và cái chết, tự đấu tranh với bản thân để giữ được và phát huy những gì cao đẹp, trong sáng nhất trong mình. NHÀ XUẤT BẢN TÁC PHẨM MỚI *** TÓM TẮT Bài ca núi Anpơ là một truyện vừa của nhà văn Vasil Bykov, được xuất bản năm 1964. Truyện kể về câu chuyện tình yêu giữa hai người tù chiến tranh, một người Nga và một người Đức, tại một trại tù ở dãy núi Anpơ. Nhân vật Nikolai Kovaliov: Một người lính Hồng quân bị bắt làm tù binh. Anh là một người đàn ông mạnh mẽ và kiên cường, nhưng cũng rất tình cảm. Inga: Một cô gái Đức bị bắt làm tù binh. Cô là một người phụ nữ xinh đẹp và dịu dàng, nhưng cũng rất kiên cường và dũng cảm. Cốt truyện Kovaliov và Inga gặp nhau trong một trại tù ở dãy núi Anpơ. Họ nhanh chóng bị thu hút bởi nhau, nhưng tình yêu của họ gặp phải rất nhiều khó khăn. Họ phải đối mặt với sự thù địch của những tù nhân khác, những người không muốn nhìn thấy một người Đức và một người Nga yêu nhau. Họ cũng phải đối mặt với sự nghi ngờ của chính bản thân mình, khi họ không thể tin rằng một người như họ có thể yêu một người như người kia. Dù vậy, tình yêu của họ vẫn vượt qua mọi thử thách. Họ đã cùng nhau vượt qua những ngày tháng khó khăn trong trại tù, và họ đã cùng nhau trốn thoát. Họ đã đến được một vùng đất tự do, nơi họ có thể sống cùng nhau và xây dựng một tương lai mới. Tính bi kịch Bài ca núi Anpơ là một truyện ngắn mang đậm tính bi kịch. Tình yêu của Kovaliov và Inga phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, và họ đã phải hy sinh rất nhiều để được ở bên nhau. Họ đã phải rời bỏ quê hương, gia đình và bạn bè của mình. Họ cũng đã phải đối mặt với sự thù địch của những người khác. Tuy nhiên, tính bi kịch trong truyện cũng không làm giảm đi sức hấp dẫn của nó. Tình yêu của Kovaliov và Inga là một tình yêu đẹp và cao thượng, và nó đã vượt qua mọi thử thách để tồn tại. Đánh giá Bài ca núi Anpơ là một truyện ngắn xuất sắc của Vasil Bykov. Truyện đã khắc họa một cách chân thực và cảm động câu chuyện tình yêu giữa hai người tù chiến tranh. Truyện cũng đã thể hiện được sức mạnh của tình yêu, khi nó có thể vượt qua mọi thử thách. Review Bài ca núi Anpơ là một truyện ngắn rất đáng đọc. Truyện có một cốt truyện hấp dẫn, những nhân vật được xây dựng tốt và một thông điệp nhân văn sâu sắc. Truyện sẽ mang đến cho bạn những cảm xúc sâu lắng và những suy ngẫm về tình yêu, chiến tranh và con người. Dưới đây là một số điểm nổi bật của truyện: Cốt truyện hấp dẫn: Truyện kể về một câu chuyện tình yêu giữa hai người tù chiến tranh, một người Nga và một người Đức. Chuyện tình của họ gặp phải rất nhiều khó khăn, nhưng cuối cùng họ đã vượt qua tất cả và được ở bên nhau. Nhân vật được xây dựng tốt: Kovaliov và Inga là hai nhân vật được xây dựng rất tốt. Họ là những người có tính cách mạnh mẽ, kiên cường và tình cảm. Thông điệp nhân văn sâu sắc: Truyện gửi gắm một thông điệp nhân văn sâu sắc về tình yêu, chiến tranh và con người. Tình yêu có thể vượt qua mọi thử thách, ngay cả trong những hoàn cảnh khó khăn nhất. Nếu bạn đang tìm kiếm một truyện ngắn hấp dẫn và ý nghĩa, thì Bài ca núi Anpơ là một lựa chọn tuyệt vời. *** Điều trước tiên và chủ yếu mà tôi quan tâm là hai yếu tố đạo đức, có thể thâu tóm đơn giản như sau: Con người là gì, khi đứng trước sức mạnh hủy diệt của một hoàn cảnh phi nhân đạo? Con người có năng lực làm được gì, khi mọi khả năng giành quyền sống đã bị vắt kiệt đến tận đáy?... V. BƯCỐP Những năm gần đây độc giả Xô Viết đánh giá cao các tác phẩm của Bondarep, Tsakopxky, Bưcốp… Trong lớp nhà văn kể trên, Vaxin Bưcốp, người Biêlðrutxia (Bạch Nga), có một vị trí đặc biệt và sở trường về truyện vừa. Ông đã được thưởng Huân chương Sao đỏ. Sinh năm 1924 ở Vitepxkơ, Bưcốp đã bước vào tuổi 18 dòng thời với cuộc chiến tranh khốc liệt chống phát xít. Cả thời thanh niên, Bucốp đã lăn lộn trong chiến hào, và dấu ấn của những cuộc chiến đấu ấy còn in đậm suốt đời trong sáng tác của ông. Có lẽ vì thế, những trang miêu tả chiến đấu trong tác phẩm của ông hết sức chân thật, nóng bỏng. Ông không bao giờ nhìn chiến tranh bằng con mắt tĩnh tại, hoặc muốn đơn giản hóa hiện thực. Nhiều tác phẩm của ông đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Trong số đó nổi bật nhất là những cuốn: Tiếng bầy sếu kêu (1960), Phát tên lửa thứ ba (1962), Bài ca núi Anpơ (1964), Điểm cao đáng nguyền rủa (1968), Xôtnhicốp (1970), Đài kỷ niệm (1976)...   GIÁ: 17 Đ Mời các bạn mượn đọc sách Bài Ca Núi Anpơ của tác giả Vasil Bykov & Văn Phú (dịch).
Bờ Biển Syrtes
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Bờ Biển Syrtes của tác giả Julien Gracq & Hoàng Phong (dịch). Kể về 1 chàng trai quý tộc, chán cảnh sống nhàn rỗi vô bổ ở đô thành, tình nguyện lĩnh chức vụ tại một vùng biển xa xôi heo hút để lánh mình. Một mối tình trên một thành phố hoang tàn đầy những ồn ào về số phận một công quốc cổ hủ cằn cỗi, sức tàn lực tận vẫn còn ngoan cố hiếu chiến, bám giữ hận thù... *** JULIEN GRACQ (bút danh của Louis Poirier) sinh năm 1910, mất năm 2007, là nhà giáo, nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình tiểu luận và nhà viết kịch Pháp. Song song với việc dạy học, ông theo đuổi sự nghiệp văn chương, và tên tuổi bỗng vang rộng bởi việc ông khước từ Giải Goncourt năm 1951 tặng thưởng tập tiểu thuyết được nhiều nhà phê bình coi là lộng lẫy và phong phú mà các bạn đang có trong tay : Le Rivage des Syrtes (Bờ biển Syrtes). Ông không nhận giải thưởng vì sự khí khái của người trí giả và ý muốn không chấp nhận mọi ràng buộc đối với nhà văn, nhất là không để biến văn chương thành thương phẩm. Người ta thường so sánh việc này với việc Jean Paul Sartre khước từ Giải Nobel năm 1964, coi đó là hai sự kiện mẫu mực của các nhà văn Pháp. Dịch giả Hoàng Phong​ *** Tóm tắt Bờ Biển Syrtes là một tiểu thuyết kể về câu chuyện của một chàng trai quý tộc trẻ tên là Azel, người chán ngán cuộc sống nhàn rỗi vô bổ ở đô thành, tình nguyện lĩnh chức vụ tại một vùng biển xa xôi heo hút để lánh mình. Tại đây, Azel gặp gỡ và yêu một cô gái tên là Isolde, một cư dân của thành phố hoang tàn Syrtes. Isolde là một người phụ nữ thông minh, sắc sảo và có tính cách mạnh mẽ. Cô là một trong số ít người dân Syrtes vẫn còn hy vọng vào một tương lai tươi sáng hơn cho công quốc. Tình yêu của Azel và Isolde là một mối tình đầy trắc trở. Họ phải đối mặt với sự phản đối của gia đình Azel, sự thù địch của người dân Syrtes và những hiểm nguy của vùng biển xa xôi. Cuối cùng, Azel và Isolde quyết định rời bỏ Syrtes để tìm một nơi mới để bắt đầu lại. Họ rời đi trong sự tiếc nuối của những người dân Syrtes, những người đã nhìn thấy ở họ một hy vọng cho tương lai của công quốc. Review Bờ Biển Syrtes là một tiểu thuyết mang đậm chất biểu hiện. Tác phẩm sử dụng ngôn ngữ tượng trưng và hình ảnh giàu tính thẩm mỹ để kể câu chuyện về một mối tình đầy trắc trở và một công quốc đang dần lụi tàn. Tình yêu của Azel và Isolde là một mối tình tượng trưng cho sự gặp gỡ giữa hai thế giới khác biệt. Azel đại diện cho thế giới của sự giàu sang và quyền lực, trong khi Isolde đại diện cho thế giới của sự nghèo khó và bất công. Công quốc Syrtes là một biểu tượng cho sự suy tàn của một thế giới cũ. Công quốc này đã từng là một cường quốc hùng mạnh, nhưng nay đang dần lụi tàn dưới sự cai trị của một chính quyền độc tài. Bờ Biển Syrtes là một tác phẩm giàu tính triết lý. Tác phẩm đặt ra những câu hỏi về ý nghĩa của cuộc sống, về sự tồn tại của tình yêu và về tương lai của thế giới. Đánh giá Bờ Biển Syrtes là một tiểu thuyết xuất sắc của Julien Gracq. Tác phẩm là một sự kết hợp hài hòa giữa nghệ thuật và triết học. Bờ Biển Syrtes là một tác phẩm đáng đọc cho bất kỳ ai quan tâm đến văn học hiện đại. Một số điểm nổi bật của cuốn sách: Ngôn ngữ tượng trưng và hình ảnh giàu tính thẩm mỹ Câu chuyện về một mối tình đầy trắc trở Biểu tượng cho sự suy tàn của một thế giới cũ Giàu tính triết lý Đối tượng phù hợp: Những người yêu thích văn học hiện đại Những người quan tâm đến triết học Những người thích những câu chuyện tình yêu đầy trắc trở Mời các bạn mượn đọc sách Bờ Biển Syrtes của tác giả Julien Gracq & Hoàng Phong (dịch).