Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Thám Tử Rời Sân Khấu - Agatha Christie

Thám tử rời sân khấu (Curtain: Poirot's Last Case hoặc Curtain) là một tiểu thuyết hình sự của nhà văn Agatha Christie được hãng Collins Crime Club xuất bản lần đầu tại Anh tháng 9 năm 1975. Đây là tiểu thuyết cuối cùng của Agatha Christie về nhân vật thám tử Hercule Poirot cũng như Arthur Hastings với bối cảnh là điền trang Styles, nơi từng diễn ra vụ án đầu tiên trong loạt truyện về Hercule Poirot. Tác phẩm này được Agatha Christie viết từ đầu thập niên 1940 trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ hai với ý định làm đoạn kết cho toàn bộ loạt truyện về Hercule Poirot, nữ nhà văn giữ nó trong nhà băng suốt hơn 30 năm rồi mới cho ấn hành chỉ một năm trước khi bà qua đời. *** Ghi chú của đại úy Arthur Hastings Bốn tháng sau cái chết của Hercule Poirot một văn phòng luật gia mời tôi đến gặp tại trụ sở. Tại đây, họ làm theo yêu cầu của khách hàng của họ, trao cho tôi một phong bì kín, bên trong có văn bản mà tôi chép lại sau đây: Văn bản của Hercule Poirot Bạn thân mến, khi anh đọc những dòng này, tôi đã mất được bốn tháng. Tôi chần chừ không muốn viết, nhưng sau lại thấy cần phải nói cho ai đó biết sự thật về những gì xảy ra ở Styles. Chắc rằng đến lúc đọc bài này, anh đã đặt ra đủ các loại giả thuyết một cách chật vật hòng đi đến kết quả. Song xin nói để anh biết rằng lẽ ra anh đã sớm tìm ra sự thật, vì tôi đã cố ý cung cấp những dấu hiệu để dẫn anh tới đó. Nếu anh chưa tìm ra được, ấy là tại vì bản chất anh quá tin người, trước sau anh vẫn vậy! Ít nhất anh cũng phải biết ai đã giết Norton chứ, dù là còn tù mù về cái chết của Barbara Franklin. Nhưng hãy nói từ đầu. Tôi mời anh đến Styles, nói là tôi cần anh. Đó là sự thực. Tôi bảo anh phải là tai, là mắt cho tôi. Đó cũng là sự thực, nhưng có lẽ không hẳn theo nghĩa mà anh hiểu. Anh phải nhìn thấy những gì tôi muốn anh nhìn, nghe thấy những gì tôi muốn anh nghe. Anh phàn nàn về chuyện tôi không nói thật hết với anh khi trình bày vụ việc. Đúng, tôi không chịu nói rõ lai lịch tên X. Nhưng tôi phải làm thế, mặc dù ở đây cũng vậy, lý do tôi viện ra với anh không phải là lý do thực. Lý do thực, rồi anh sẽ hiểu ngay bây giờ. Tôi đã chuyển cho anh bản tóm tắt năm vụ án khác nhau. Tôi đã nêu bật nhận xét rằng trong mỗi vụ án đó, người bị kết án hoặc bị nghi ngờ dường như không phải thủ phạm thực. Tôi lại nêu rõ một điều quan trọng nữa, trong mỗi vụ, X đã có mặt tại chỗ hoặc ở quanh quẩn đâu đó. Anh đã vội suy diễn ngay ra một điều, trớ trêu thay, vừa đúng vừa sai. Anh nghĩ X là người đã trực tiếp phạm các tội ác đó. Nhưng bạn ơi, hoàn cảnh xảy ra là trong mỗi vụ, duy nhất chỉ có người bị kết tội mới có cơ hội làm việc đó. Như vậy, sẽ giải thích sự có mặt của X như thế nào? Trừ phi là người có dính dáng đến cảnh sát hoặc là một nhóm người quyền chức sa đọa, rất khó cho một người nào lại dính liên tiếp đến năm vụ án khác nhau. Điều đó không thể xảy ra anh hiểu không? Không ai lại đến gặp anh mà nói: "Tôi trực tiếp quen biết năm kẻ giết người". Không, không thể có như vậy. Thực ra, chúng ta đứng trước một hiện tượng xúc tác kỳ cục. Phản ứng giữa hai chất chỉ xảy ra khi có mặt chất thứ ba, chất này có vẻ như không đóng vai trò gì và không hề bị biến đổi. Tình hình là như thế: khi X có mặt, là án mạng xảy ra, nhưng X không mó tay trực tiếp. Đây là một tình hình kỳ lạ, hoàn toàn bất bình thường. Và tôi hiểu ra là vào cuối đời, mình đã gặp một hung thủ tạm gọi là "hoàn hảo" hắn đã thực thi một kỹ thuật tinh vi làm cho hắn không bao giờ có thể bị vạch mặt. Kỹ thuật đó là đáng ngạc nhên, nhưng không mới. Đã có những trường hợp tương tự. Và đây là một chỉ dẫn đầu tiên tôi để lại cho anh. Vở kịch Othello. Trong kịch này, có một điển hình như hệt X. Đúng, Iago là tên giết người hoàn hảo. Cái chết của Desdémone, của Cassio rồi của cả Othello nữa, là những tội ác của Iago do hắn trù liệu. Vậy mà không ai chịu nghi ngờ hắn. Lẽ ra hắn còn được "tại ngoại" mãi, cho đến khi người đồng hương vĩ đại của anh - thi hào Shekaspeare - phải dùng đến một biện pháp thô thiển nhất, là đưa chiếc khăn tay ra mới lật mặt được hắn. Phải, án mạng được nâng lên thành nghệ thuật hoàn hảo. Không có một lời kích động trực tiếp nào. Iago còn khéo léo ngăn mọi người chớ dùng bạo lực và gieo mối nghi ngờ vào lòng người khác rồi lại làm bộ gân cổ bác bỏ! Cách làm ấy ta lại thấy trong màn ba tuyệt vời của vở John Fergueson, trong đó chàng ngố Clutie John kích động người khác giết người mà hắn không ưa. Kiểu gợi ý về tâm lý đó là một công trình tuyệt hảo. Anh Hastings, anh cần hiểu điều này: mỗi người chúng ta đều là một hung thủ tiềm ẩn. Trong mỗi chúng ta thỉnh thoảng lại nỗi lên sự muốn giết nhưng không nhất thiết kèm theo sự dám giết. Đã bao lần ta nghe thấy người này người kia nói: "Mụ ấy làm tôi tức lộn ruột, muốn giết mụ ngay lập tức!" - "Tôi sẽ giết nếu nó dám nói thế!" - "Tôi ấy à, tôi sẽ bẻ gẫy cổ hắn!" Nhưng lúc đó, ý của ta thật rõ ràng: muốn giết cho chết. Nhưng ta không làm việc ấy, vì lý trí ta không đồng tình với tình cảm. Ở trẻ nhỏ cái máy hãm lý trí ấy có khi không hiệu quả. Tôi biết một thằng bé bực mình với con mèo, thốt lên: "Nằm im, không tao đập cho một cái vào đầu chết tươi!". Nói rồi làm thật. Để sau đó mới hoảng hồn vì con mèo đẵ chết. Vì thật ra, thằng bé rất yêu con vật ấy. Tóm lại trong mỗi chúng ta đều có một tên hung thủ nằm ngủ. Và nghệ thuật của X không phải chỉ gợi lên ý muốn mà còn thủ tiêu sự kháng cự của lý trí. Nghệ thuật đó được rèn giũa trải qua thực tế lâu dài. Hắn biết dùng một từ chính xác, một câu nói thích hợp, giọng nói tính toán làm sao để gây áp lực liên tục lên một điểm yếu! Trong khi đó, nạn nhân không ngờ vực chút nào. Đây không phải là thôi miên; thôi miên chưa chắc đã ăn. Nó là một cái gì lắc léo hơn, đáng sợ hơn: sự tập hợp tất cả sức lực của một con người để mở rộng một khe hở chứ không bịt nó lại. Anh phải biết điều đó chứ, vì nó đã xảy ra với anh. Có thể anh đã bắt đầu hiểu ý nghĩ một số nhận xét của tôi mà anh cho là lạ. Khi tôi nói có một vụ án sắp xảy ra không phải lúc nào tôi cũng ám chỉ một vụ giống nhau. Tôi nói rằng tôi đến Styles nhằm một mục đích nhất định, vì ở đó sắp xảy ra án mạng. Và anh đã hết sức ngạc nhiên thấy tôi đoán chắc như thế. Nhưng sở dĩ tôi chắc như vậy, vì vụ án mạng đó sẽ do tôi tiến hành. Phải, kỳ lạ thật, anh nhỉ. Và kinh khủng nữa. Tôi là người phản đối tội ác, người luôn luôn tôn trọng cuộc sống con người, thế mà tôi lại kết thúc sự nghiệp của mình bằng gây ra án mạng! Hay bởi tôi quá đạo đức giả, quá ý thức về sự ngay thẳng của mình mà cuối cùng phải đứng trước sự lựa chọn sinh tử đó. Vì, anh Hastings ơi, bao giờ cũng có mặt phải, mặt trái. Nhiệm vụ của đời tôi là cứu người bị oan, ngăn ngừa tội phạm và tôi chỉ có thể làm được việc đó bằng một cách duy nhất. Vì - anh chớ quên điều này - X không thể bị pháp luật trừng trị. Hắn có chỗ trú an toàn. Tôi không nghĩ ra cách nào khác khác để đánh bại hắn, buộc hắn vĩnh viễn không thể tác oai tác quái. Song tôi vẫn do dự. Biết rõ cần làm gì, nhưng chưa dám quyết làm. Giống như Hamlet, tôi cứ trì hoãn mãi giờ phán xét cuối cùng. Thế là xảy ra một mưu toan khác, định làm hại bà Luttrell. Tôi nóng chờ xem anh, vốn thính nhạy với sự thật hiển nhiên, lần này có hiểu ra không. Và anh đã hiểu: phản ứng đầu tiên của anh là nghi cho Norton, dù rất mơ hồ. Anh đã đoán đúng: Norton chính là người chúng ta tìm. Không có bằng chứng gì để xác minh giả thuyết đó, trừ một nhận xét dụt dè của anh rằng hắn là con người vô vị. Song lúc đó chính là lúc anh đã tới gần sự thật. Tôi đã nghiên cứu kỹ lai lịch của hắn. Hắn là con của một bà mẹ độc đoán và áp chế, nên không lúc nào hắn có dịp tự khẳng định hoặc áp đặt tính cách của mình cho ai. Hắn bị tật nhẹ ở chân, nên ngay lúc đi học không tham gia tích cực được vào các trò chơi của bạn học. Một điều có ý nghĩ mà anh kể lại với tôi là hắn bị bạn bè chế nhạo vì buồn nôn khi nhìn con thỏ bị lột da. Tôi cho rằng chuyện ấy đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng hắn. Hắn sợ máu và bạo lực, nên bị "kém thớ". Trong tiềm thức, hắn chờ dịp để tự khẳng định, báo thù lại bằng cách tỏ ra táo bạo, thậm chí tàn ác. Tôi hình dung hắn sớm nhận ra mình có khả năng gây ảnh hưởng tới người khác. Hắn biết bình tĩnh lắng nghe, gợi được cảm tình, mọi người không chú ý hắn lắm, song không ghét bỏ. Hắn nhận ra là nếu dùng những lời thích hợp và nhấn vào đúng chỗ, thì rất dễ gây ảnh hưởng tới người khác. Chỉ cần hiểu họ, nắm được ý nghĩ của họ,lường trước những phản ứng và những ý nghĩ âm ỉ của họ. Anh có thấy không, một sự khám phá như vậy làm cho hắn có cảm giác như thế nào về quyền lực của mình! Hắn là Stephen Norton, người vừa được yêu mến vừa bị coi thường, nay có khả năng thúc đẩy người khác làm những việc họ không muốn làm hoặc tưởng là không muốn làm. Tôi hình dung hắn bắt đầu đem cái sở trường đó ra thực hành, rồi lâu dần thành quen, thích thú với việc thông qua nguời khác để gây ra những hành vi bạo lực, những việc mà hắn không tự làm được vì thiếu sức mạnh thể chất. Và cái trò quỷ đó cứ lên mãi thành niềm đam mê, không làm không được. Như một thứ ma túy, nghiện rồi không thể bỏ. Norton con người vốn bản tính hiền lành, trở thành tên bạo sát dấu mặt. Giống như người nghiện, hắn phải có suất tiêm chích hằng ngày, luôn tìm hết nạn nhân này tới nạn nhân khác. Tôi tin là con nhiều vụ khác, ngoài năm vụ mà ta đã biết. Và trong mỗi vụ, hắn đều có vai trò giống nhau. Hắn quen biết Etherington; hắn đã ở suốt mùa hè ở cái làng Riggs ở,thỉnh thoảng uống rượu với anh này ở quán. Trong một chuyến du ngoạn, hắn làm quen với Freda Clay và làm như nói chuyện bâng quơ, đã gợi ý cho cô ta thấy nếu bà cô chết đi thì nhất cử lưỡng tiện: chẳng những bà già được giải thoát, mà cô sẽ được sống ung dung, thoải mái. Hắn cũng là bạn của Litchfield, và gợi cho Margaret thấy nếu giải thoát được cho các em gái, cô sẽ là người hùng. Tôi tin là, không ai trong số những người đó sẽ giết người, nếu không bị Norton tác động. Bây giờ ta trở lại những sự kiện ở Styles. Tôi đã theo dõi Norton một thời gian. Và khi hắn làm quen với Franklin, tôi thấy ngay mối nguy. Với Norton, vợ chồng Franklin mở ra những khả năng rất thú vị, có thể nói là đủ các loại khả năng. Bây giờ thì chắc anh đã hiểu điều mà bất cứ người nào đầu óc bình thường phải hiểu ngay, đó là Franklin và con gái anh yêu nhau. Cử chỉ bất thường của bác sĩ, cái cách ông ta không bao giờ nhìn thẳng vào Judith, bỏ qua mọi kiểu đối xử xã giao với Judith, tất cả những cái đó phải cho anh thấy là ông ta yêu con gái anh. Nhưng đó là một người có nghị lực và thẳng thắn. Có thể ăn nói hơi cục cằn, nhưng có những nguyên tắc nhất định. Theo ông, người chồng phải chung thủy với người vợ mình đã chọn. Về phía Judith nó mê tít ông bác sĩ. Tôi tưởng anh đã biết chuyện ấy rồi, và Judith cũng tưởng thế, cái hôm anh gặp nó trong vườn hồng. Do đó nó với cáu kỉnh. Tính cách như nó không chịu để ai thương hại, thậm chí thông cảm. Rồi Judith hiểu là anh tưởng nó yêu Allerton, và nó không cần đính chính, cứ để mặc cho khỏi gây lôi thôi. Nó chấp chới với Allerton như để tìm trong đó một niềm an ủi tuyệt vọng, mặc dù biết Allerton là loại người nào. Nó chỉ đùa cợt thế thôi, chứ không hàm ý tình cảm gì. Tất nhiên Norton hiểu tất cả, hắn dự kiến khai thác tình hình đó. Tôi cho là hắn đã tìm cách ảnh hưởng đến Franklin, nhưng thất bại. Bác sĩ là loại người duy nhất không chịu tác động gì từ phía Norton. Ông có trí óc cực kỳ tỉnh táo. Hơn nữa, niềm đam mê lớn nhất đời ông là công việc. Với Judith, Norton thành công hơn bằng cách khéo léo khích cái lý thuyết về những cuộc đời vô dụng. Judith thành thật tin vào thuyết này, và hắn tỏ ra cực kỳ gian manh, làm bộ chủ trương thuyết trái lại và nói khích Judith, cho là cô ta không đủ táo bạo để đưa lý thuyết vào thực hành. "Đó là loại lý thuyết ta hay có lúc trẻ, nhưng không bao giờ dám thực hiện". Cách nói ấy mang tính kích động thô thiển, ấy vậy mà có khi hiệu quả. Bọn trẻ ấy mà, chúng còn non nớt quá! Nếu bà Barbara vô dụng bị loại trừ, con đường với Franklin và Judith sẽ rộng mở. Điều ấy không được nói toạc ra, người ta còn bản rằng lý thuyết này không ám chỉ trường hợp cá nhân nào, vì nếu Judith biết là có ám chỉ, nó sẽ phản ứng quyết liệt. Nhưng với một môn đệ của tội ác như Norton thì một vụ là chưa đủ. Hắn đã tìm ra một chỗ nữa để thử tài, đó là vợ chồng Luttrell. Ta hãy quay trở lại trước nữa. Hastings, anh có nhớ ván bài anh tham gia tối hôm mới đến. Sau ván bài, Norton đã nói mấy câu rất to khiến anh lo là ông đại úy nghe thấy. Nhưng đó là hắn cố tình muốn vậy: Luttrell phải nghe thấy! Norton không bỏ lỡ cơ hội nào để bình phẩm tính cách bà Luttrell, cố tình nhấn mạnh một cách tự nhiên. Và cuối cùng ý đồ của hắn đã thành kết quả. Việc ấy xảy ra ngay trước mũi anh, mà anh không hay biết. Nền móng của sự việc đã được sắp đặt sẵn: sự áp bức quá đáng của bà vợ, sự xấu hổ, bực bõ của ông chồng... Anh hãy thử nhớ chính xác mà xem. Norton kêu khát. Hẳn là hắn biết bà Luttrell đang ở quanh đó và chắc chắn sẽ ra mặt. Ông đại tá đáp ứng ngay, tỏ rõ bản chất chủ nhà rộng rãi của mình. Ông xin đãi một chầu rượu và vào tìm chai. Các anh đều ngồi gần cửa sổ. Bà Luttrell bước vào phòng ăn, thế là xảy ra cuộc cãi vã, chì chiết. Luttrell biết là mọi người nghe thấy hết. Ông ta trở vào. Lẽ ra mọi người phải tìm cách xoa dịu sự việc. Hoặc Boyd Carrington, hoặc chính anh, Hastings có thể làm điều đó. Nhưng Norton đã cướp lời, và khéo léo đổ thêm dầu vào lửa. Hắn nói trở lại về ván bài - làm Luttrell cảm thấy mình bị lấn át - rồi nói chuyện tai nạn đi săn. Thế rồi, cái ông Boyd Carrington đần độn vô tình mắc bẫy, lao ngay vào kể chuyện tên cận vụ giết ông anh của mình. Câu chuyện đó, chính Norton đã để cho Boyd, hắn biết rằng Boyd sẽ kể lại như là của chính mình vào lúc nào có người khéo gợi. Thành ra gợi ý cuối cùng không phải do Norton nói ra! Vậy là mọi thứ đã được dọc sẵn. Và điểm bùng nổ đã tới. Bị sỉ nhục trước mặt mọi người, nghĩ rằng ai nấy đều cho mình là thiếu dũng khí chống lại, ông Luttrell nghĩ cách để thoát ra. Thì đấy - có ngay những chuyện tai nạn đi săn, chuyện anh lính giết anh ruột. Rồi bất thần đằng cuối vườn, sau lùm cây, thấp thoáng cái đầu của bà vợ... không sợ gì cả... coi như tai nạn... Ta phải tỏ cho họ biết ta là ai... cho bà ấy chết cho xong! Nhưng bà ấy không chết. Tôi cho là, lúc bóp cò, ông ta đã bắn trượt bởi trong thâm tâm, ông muốn bắn trượt. Lập tức ý tưởng phản ứng tan ra mây khói. Bởi vì dù thế nào, ông ta vẫn yêu vợ. Đó là một trong những vụ án mạng mà Norton đã dự liệu không thành. Nhưng còn âm mưu tiếp theo! Hastings biết không, lần này hắn nhằm vào anh đó! Hãy nhớ lại đi, ông bạn thật thà ạ. Norton đã thấy ra tất cả các điểm yếu của anh, và cả những tính tốt của anh là ngay thẳng và đạo đức. Allerton thuộc loại người mà anh căm ghét và e ngại một cách tự nhiên, như cólinh tính. Và những điều anh nghĩ về hắn, biết về hắn, đều đúng. Norton liền kể anh nghe một câu chuyện khác - chuyện này có thực, theo như tôi biết - về một con gái bị Allerton tình phụ. Chuyện đó ngay lập tức gây ấn tượng mạnh với anh. Allerton đúng là thằng tồi, thằng đểu chuyên quyến rũ, cưỡng bức con gái, dồn họ đến chỗ phải tự vẫn. Mặt khác, Allerton gợi ý Boyd Carrington nói chuyện với anh về Judith. Và anh cảm thấy cần nói chuyện nghiêm chỉnh với con gái. Và, như anh đã lường trước, nó cãi lại, nói rằng việc đời nó, nó lo. Anh càng cuống. Giờ anh hãy bình tĩnh xem xét Norton đã lợi dụng những gì ở anh: tình yêu con gái, ý thức trách nhiệm của người cha... anh tự nhủ: "Ta phải hành động ngay, kẻo hối không kịp". Anh lại nghĩ đến vợ, thấy không thể lẩn tránh trách nhiệm trông nom con cái mà người vợ yêu quý đã để lại. Còn có cả sự ghen tuông tự nhiên và vô lối của phần lớn các ông bố khi có kẻ địch cướp con gái mình. Thấy chưa, Norton đã nhấn vào những phím đàn nhạy cảm, đúng là một nhạc trưởng bậc thầy. Và anh cứ thế lao vào. Hastings, anh có tật cả tin vào bề ngoài của sự vật. Chẳng suy nghĩ gì, anh tin ngay là Allerton hẹn gặp Judith hôm sau ở London. Nhưng anh không nhìn thấy Judith, không nghe Judith nói. Vậy mà sáng sớm hôm sau, anh vẫn còn tin như thế, và tỏ ý mừng là Judith đã đổi ý. Song nếu anh chịu khó xem xét, anh sẽ thấy ngay là Judith không hề có ý định đi đâu hôm đó. Và anh cũng bỏ qua không thấy một sự việc nhỏ khác; có một người định đi hôm đó, nhưng không đi được, nên tỏ ra vô cùng bực dọc. Đó là cô Craven y tá. Đúng thế! Allerton không chỉ tán tình một phụ nữ. Quan hệ giữa hắn và cô Craven đã tiến triển khá xa, xa hơn nhiều so với việc hắn lơ mơ tí chút với Judith. Và người hắn hẹn gặp ở London chính là cô ta! Một mẹo nữa của Norton. Anh trông thấy Allerton hôn Judith, Norton liền thúc anh đi vòng quanh góc nhà, vì hắn biết Allerton hẹn hò cô Craven gần nhà kính. Sau khi làm bộ níu anh lại, Norton để anh đi. Nhưng hắn đi theo anh. Hắn hiểu câu nói mà anh vừa nghe được từ miệng Allerton góp thêm thuận lợi vào kế hoạch của hắn. Cho nên hắn vội kéo anh đi nhanh để anh không kịp nhận ra rằng người phụ nữ ở đó không phải là Judith. Đúng là mưu mẹo bậc thầy! Phản ứng của anh là tức thời: anh quyết giết Allerton. May thay, anh có một người bạn trí óc còn minh mẫn. Và không chỉ trí óc mà thôi, như anh sắp thấy đây. Ngay ở đầu bản viết này, tôi đã nói anh không tìm ra sự thật, vì tính anh dễ tin quá. Ai nói gì, anh tin ngay. Tôi, tôi nói gì, là anh tin. Song tìm ra sự thật, đâu có khó với anh. Tôi đã đuổi George đi. Tại sao? Thay bằng một anh hầu ít từng trải hơn, và rõ ràng kém thông minh hơn. Tại sao? Tôi vốn là người rất chăm lo súc khỏe, tôi không để bác sĩ nào theo dõi, và từ chối không chịu để bác sĩ nào khám như anh khẩn khoản yêu cầu. Tại sao? Bây giờ thì anh hiểu tại sao tôi cần anh đến Styles chứ? Tôi cần có một người tin như đinh đóng cột tất cả những gì tôi nói. Tôi nói đi dưỡng bệnh ở Ai Cập về, sức khỏe vẫn tồi như trước. Anh tin. Thựa ra là sai: tôi trở về Anh khá hơn rất nhiều. Chịu khó để ý một chút, anh sẽ thấy ngay. Nhưng không, anh đã tin. Sở dĩ tôi chia tay với George, là vì nếu nó ở lại, tôi không thể nói dối với nó rằng chân tôi bị liệt. Hastings, anh hiểu chưa? Tôi giả vờ bị tật, đánh lừa tất cả mọi người, kể cả Curtiss, thực ra tôi vẫn đi lại được. Hơi tập tễnh môt chút. Rồi đến cái tối đáng nhớ đó, tôi nghe tiếng chân anh lên gác, chần chừ một lát rồi lẻn vào phòng Allerton. Tôi cảnh giác ngay, vì đang rất lo cho tâm trạng của anh. Curtiss đang xuống ăn dưới nhà, tôi có một mình. Không bỏ phí một giây, tôi ra khỏi phòng, băng qua hành lang. Tôi nghe tiếng anh làm gì trong buồng tắm của Allerton, và phải dùng cái cách mà anh thường phản đối - quỳ xuống nhìn qua lỗ khóa. May quá, chìa không có trong ổ. Và tôi nhìn thấy anh. Anh mó máy mấy cái lọ, và tôi hiểu ngay anh đang mưu đồ gì. Phải hành động ngay. Tôi trở về phòng mình chuẩn bị các thứ. Lúc Curtiss lên, tôi sai hắn sang tìm anh. Anh vừa vào vừa ngáp, nói là đau đầu. Tôi liền gây chuyện rối tinh, yêu cầu anh phải uống thuốc. Để cho xong chuyện, anh đồng ý uống một tách sôcôla thật ngọt. Anh uống một ngụm hết, vì đang vội về. Có điều là, tôi cũng biết dùng những viên thuốc ngủ! Về phòng, anh đã ngủ ngồi trên ghế. Sáng hôm sau thức dậy, trí óc anh tỉnh táo trở lại, bây giờ anh mới phát hoảng vì chuyện tày đình định làm. Thế là anh thoát hiểm, vì không thể nào lặp lại việc ấy lần thứ hai khi người ta đã lấy lại lý trí. Nhưng điều ấy đã làm tôi, tôi phải quyết định. Vì tất cả những gì tôi biết về những người khác không áp dụng với anh. Anh không phải kẻ giết người, thế mà suýt nữa bị kết tội giết người, vụ giết này do người thứ ba chủ trương, nhưng hắn hoàn toàn vô tội trước pháp luật. Anh người trung thực, thật thà, tận tụy, đáng kính như thế, mà cũng suýt nhúng tay vào tội ác! Vậy tôi phải hành động ngay. Tôi biết mình không còn nhiều thời gian nữa, nhưng xét cho cùng, như thế lại tốt. Vì cái mệt nhất, ấn tượng nhất trong một vụ án mạng là tác động của nó đối với hung thủ. Mọi việc dẫn đến chỗ là tôi, Hercule Poirot tự thấy mình như một người được Thượng Đế chỉ định để trừng phạt những người khác. May thay, điều đó sẽ không xảy ra, vì đã đến lúc tôi cũng sắp phải ra đi. Nhưng tôi sợ Norton lại thàng công nữa cái trò ma quái của hắn khi nhằm vào một người thân của cả anh và tôi. Đó là con gái anh. Và bây giờ, ta nói đến cái chết của Barbara Franklin. Dù anh nghĩ thế nào mặc anh, tôi cho là anh chưa lúc nào ngờ tới sự thật. Vì Hastings ơi, chính anh đã giết Barbara. Phải, chính anh. Vì thực ra, còn một khía cạnh khác của hình tam giác một khía cạnh mà tới lúc đó, tôi chưa quan tâm đúng mức. Cả anh cả tôi đều không phát hiện hành tung của Norton theo hướng đó. Song tôi tin rằng hắn đều đã thực hiện cả. Anh có bao giờ tự hỏi, tại sao bà Franklin lại muốn đến ở Styles? Nơi này đâu phải là chỗ thích hợp với bà. Bà thích tiện nghi, thích ăn ngon, thích chơi bời giao thiệp... ở Styles làm gì có những thứ đó. Nhưng bà lại cố đòi đến nghỉ hè tại đây. Đó là, như tôi đã nói, còn một cạnh khác của hình tam giác: Boyd Carrington. Bà Franklin là một phụ nữ bị vỡ mộng, đó là nguyên nhân khiến bà bi tâm thần. Bà ôm nhiều tham vọng về bậc thang xã hội và về tài chính. Bà lấy bác sĩ Franklin hy vọng ông có tương lại, sự nghiệp xán lạn. Ông đúng là người xuất sắc theo kiểu ông, nhưng không như vợ mơ ước. Ông có tài, nhưng chẳng bao giờ được báo chí nói đến, chẳng bao giờ có nổi một phòng khám bệnh tư ở phố Harley. Ông chỉ được dăm bảy đồng nghiệp biết tiếng, và đăng các công trình khoa học của mình trên những tạp chí thông thái không mấy người đọc. Và ông sẽ không bao giờ giàu có. Nhưng rồi Boyd Carrington từ phương Đông về, lại mới được phong tước hiệu, thừa kế một dinh cơ đồ sộ và gia tài lớn. Ông ta vẫn giữ trong lòng tình cảm thắm thiết với cô gái mười bảy tuổi hồi xưa, mà ông suýt hỏi làm vợ. Ông ta định nghỉ tại Styles - trong khi chờ công việc trùng tu dinh thự Knatton hoàng thành - và gợi ý mới vợ chồng Franklin cùng tới nghỉ. Barbara đồng ý ngay. Hiển nhiên là dưới mắt người đàn ông giàu có và tráng kiện này, bà Franklin vẫn còn đầy xuân sắc và hấp dẫn. Song ông thuộc người của thế hệ trước, không thể xui bà ly dị chồng. John Franklin cũng không chấp nhận ly hôn. Nhưng nếu ông ta chết đi, Barbara Franklin có thể trở thành phu nhân Boyd Carrington hạnh phúc xiết bao. Và tôi hình dung Norton đã nhìn thấy ở bà một công cụ dễ sai khiến. Bây giờ ngẫm lại, sao mà mọi việc rõ ràng quá. Hãy nhớ lại bà Franklin luôn tỏ ra mình gắn bó như thế nào với chồng, còn tô đậm thêm, nói muốn chết để khỏi là gánh nặng cho chồng. Sau đó bà lại dùng chiến thuật khác: giả bộ lo lắng rằng chồng sẽ tự lấy thân mình làm thí nghiệm với các chất độc. Phải, lẽ ra ta phải thấy rõ! Bà ta chuẩn bị tư tưởng để mọi người thấy Franklin chết vì chất physostigmine. Ồ! Không có ai đầu độc ông ấy đâu! Chỉ là thí nghiệm khoa học. Ông ấy dại dột ống thử chất ancalôít đó, rồi tử nạn. Nhưng rồi, dồn dập có diễn biến. Chính anh cho tôi biết bà Franklin rất không bằng lòng thấy lúc họ đi Knatton về, Boyd Carrington để cho cô Craven xem tướng tay. Cô y tá này còn trẻ và khá hấp dẫn, rất khéo làm duyên với đàn ông. Cô đã thử bắt tình với bác sĩ Franklin, nhưng không xong. Vì thế cô ta ghen ghét với Judith. Cô ta lại bắt tình với Allerton, dù biết anh này là người không đúng đắn. Và cuối cùng cô ta xoay sang để ý đến Boyd Carrington, ông này còn đẹp mã lắm. Mà ông ta thì có lẽ sẵn sàng xiêu lòng, vì anh thấy rồi đấy, ông đã từng khen cô y tá là người tươi tắn, đáng yêu. Vì thế bà Barbara sinh lo và quyết định ra tay sớm. Hastings anh biết không, tôi cảm thấy cây đậu calabar thật là đáng nể. Lần này, nó đã thực sự phát huy quyền lực: tránh người vô tội, đánh kẻ ác tâm. Tối hôm đó, bà Franklin mời mọi người lên uống cà phê trong phòng mình, và bà ta đã chuẩn bị sẵn thuốc độc. Theo lời anh nói lại, tách của bà đặt ngay cạnh bà, còn tách ông chồng đặt phía bên kia tủ sách nhỏ. Rồi có chuyện ra xem sao đổi ngôi. Mọi người đổ xô ra ban công. Mình anh ở lại, lúi húi điền ô chữ và ngẫm nghĩ. Và anh xoay cái tủ sách để tìm một câu viết của Shakespeare. Mọi người trở vào. Bà Franklin uống tách cà phê lẽ ra dành cho chồng, còn chồng lại uống tách của bà Barbara. Tôi đã hiểu ngay chuyện gì đã xả ra, nhưng không thể chứng minh. Song nếu người ta cho bà Franklin chết không phải do tự tử, thì mọi nghi ngờ sẽ tập trung vào Franklin và Judith. Nghĩa là vào hai người hoàn toàn vô can. Vì thế tôi nghĩ mình có quyền bịa ra chuyện trông thấy bà Frankin cầm lọ trong tay và nhắc lại những lời bà thường than vãn - dù là vờ vĩnh - muốn chết cho xong. Có lẽ tôi là người duy nhất làm thế được, vì tôi được tiếng là có kinh nghiệm về hình sự, lời chứng của tôi nhất định có sức nặng. Tôi nói là tự tử, mọi người chấp nhận ngay và tỏ vẻ hài lòng. Nhưng, trời ơi, anh không hề nghi vấn gì vì mối hiểm nguy thực sự. Tôi chết đi rồi, anh còn suy nghĩ đến nó nữa không, như con rắn độc thỉnh thoảng ngóc đầu dậy và ton hót: "Hay Judith đã làm việc đó...". Có thể lắm. Vì vậy tôi quyết định phải viết ra. Cần phải để cho anh biết rõ sự thật. Có một ngưới khác không hài lòng về kết luận tự tử; đó là Norton. Vì hắn cảm thấy bị lấy mất "thành tích". Như tôi đã giải thích bên trên, hắn là một tên bạo sát, muốn hưởng tất cả lạc thú của sự kinh hoàng, ngờ vực, khiếp sợ mà vụ giết người gây ra. Đằng này không thế. Vụ giết người mà hắn dự tính đã xoay chuyển một cách thảm hại, không theo ý hắn. Tuy nhiên hắn tính được ngay cách để đền bù. Và hắn lại bắt đầu ton hót, lắt léo. Mấy hôm trước, hắn đã làm bộ nhìn thấy điều gì bất thường qua ống nhòm. Lúc đó hắn định để anh tưởng là Allerton và Judith trong tư thế thân mật nào đó. Nhưng do không nói rõ hắn có thể sử dụng sự việc đó theo cách khác. Ví dụ, hắn sẽ nói đã trông thấy Franklin cặp kè với Judith. Như vậy sẽ chiếu thêm ánh sáng mới - rất thú vị - lên cái chết của Barbara và gây nghi ngờ rằng bà này chết không phải vì tự tử. Vì thế, tôi quyết định ra tay ngay lập tức. Tôi nhờ anh bảo Norton đến gặp tôi tối hôm đó. Bây giờ tôi sẽ kể chuyện gì xảy ra giữa chúng tôi. Hẳn Norton khấp khởi sẽ nói những gì hắn muốn để đánh lừa tôi. Tôi không để hắn kịp nói. Tôi nói toạc không vòng vo, những gì tôi biết về hắn và hành động của hắn. Hắn không chối điều nào. Hắn bình thản ngồi trên ghế, mỉm cười một cách mãn nguyện thách thức. Rồi hắn hỏi tôi định làm gì? Tôi đốp chát trả lởi luôn là tôi muốn chặn tay hắn lại, trừng trị hắn. - A! Hắn ngạo nghễ. Bằng lưỡi dao hay bằng thuốc độc? Lúc đó, chúng tôi đang chuẩn bị uống sôcôla. Hắn vốn nghiện món này mà. - Cách đơn giản nhất, là một chén thuốc độc. Và tôi đưa hắn tách sôcôla vừa rót. Hắn nói: - Nếu vậy, tôi muốn uống tách kia cơ, tách của ông, được không? - Không sao, tôi đáp. Quả là không sao thật. Như đã nói, tôi cũng hay dùng thuốc ngủ. Nhưng vì từ lâu tối nào cũng dùng, nên cơ thể tôi đã quen, liều đối với tôi không nghĩ lý gì, vẫn làm Norton ngủ mệt. Tôi đã cho thuốc ngủ vào liễn sôcôla, cả hai chúng tôi cùng uống. Tách của Norton sau đó sẽ có tác dụng, còn tác dụng rất ít đối với tôi, nhất là sau đó tôi lại uống một thuốc khác để trung hòa. Chúng ta sắp tới chương cuối. Khi Norton đã thiếp đi, tôi đặt hắn lên xe lăn của tôi, đẩy sát vào góc cửa sổ, phủ rèm che. Rồi Curtiss đến, giúp tôi lên giường. Chung quanh yên tĩnh rồi, tôi nhỏm dậy, đẩy Norton về phòng của hắn. Bây giờ chỉ còn trông vào tai mắt của ông bạn hastings nữa là xong. Chắc anh không để ý, tôi đã mang tóc giả từ nhiều năm nay. Và anh càng không biết nữa, là râu mép của tôi cũng giả. (Ngay George cũng không biết việc này). Thật vậy, ngay sau khi mượn Curtiss, tôi đã cố tình vô ý làm cháy râu, và cho thay bằng râu giả y hệt. Tôi liền khoác bộ áo ngủ của Norton, bộ áo này màu sắc đặc biệt không lẫn vào đâu được. Tôi làm cho tóc bù xù lên giống Norton, đi dọc hành lang, đến gõ cửa phòng anh. Đúng như tôi dự đoán, anh mở cửa nhìn ra ngoài, mắt còn ngái ngủ. Và anh nhìn thấy Norton từ phòng tắm đi ra, tập tễnh băng qua hành lang để về phòng. Cửa đóng rồi, anh còn nghe tiếng chìa khóa xoay trong ổ. Tôi liền cởi bỏ bộ áo, mặc lại cho Norton đang ngủ. Sau đó tôi bê hắn lên giường trừng phạt hắn bằng khẩu súng nhỏ tôi có từ khi ở nước ngoài. Từ khi đến Styles tôi đã cất giấu cẩn thận, trừ hai hai lần tôi biết Norton đang đi chơi xa, tôi mang súng cố tình đặt hớ hênh trên bàn của hắn, để cô hầu phòng nhìn thấy mà khai sau này. Tồi tôi bỏ chìa khóa vào túi Norton, lấy lại xe lăn, khóa cửa lại bằng chiếc khóa thứ hai mà tôi đã cho làm từ trước. Từ lúc ấy tôi lo thảo văn bản này dành cho anh. Tôi mệt lắm rồi: bao cố gắng nỗ lực đã làm tôi kiệt sức, và chắc chẳng còn bao lâu nữa tôi sẽ... Tuy nhiên, còn một số chi tiết nữa tôi cần nói rõ. Các vụ giết người do Norton chủ trương là những tội ác hoàn hảo, còn vụ giết người của tôi không được như thế. Cách dễ nhất, tốt nhất để thủ tiêu Norton là làm công khai, ví dụ gây ra một vụ tai nạn với khẩu súng của tôi. Lúc đó tôi sẽ giả bộ hốt hoảng, tiếc nuối, và mọi người sẽ bình phẩm: "Ông già thật lẩm cẩm, không nhớ là súng đã lên đạn." Tôi không muốn làm như vậy, và xin giải thích lý do. Bởi vì tôi muốn "chơi đẹp" như trong thể thao. Đúng, anh không đọc nhầm đâu. Lúc này tôi đang làm tất cả nhưng việc mà anh đã trách tôi không chịu làm. Tôi đang nói toẹt ra với anh. Thực ra anh đã có đủ các quân bài chủ trong tay để khám phá sự thật. Nếu còn chưa rõ, tôi xin kể sau đây những chỉ dẫn mà tôi đã để lại cho anh. Anh biết, vì tôi đã nói với anh là Norton đến đây sau tôi. Anh biết vì tôi đã nói với anh rằng sau khi tôi đến Styles chìa khóa phòng tôi bị mất và tôi phải làm một chìa khác. Vì vậy, khi anh tự hỏi: "Ai có thể giết Norton? Ai có thể đi ra khỏi một phòng đã khóa từ bên trong?" thì câu trả lời là như sau: - Là Hercule Poirot, vì hắn có chiếc chìa khóa thứ hai của một trong hai phòng. Bây giờ tôi nói về người anh trông thấy ngoài hành lang. Tôi đã hỏi anh có chắc là Norton không. Anh tỏ vẻ ngạc nhiên về câu hỏi ấy và hỏi tôi chẳng nhẽ tôi cho là người khác. Tôi đã trả lời đúng sự thật; đó không hề là ý định của tôi (tất nhiên, vì tôi đã phải thi thố nhiều mẹo để làm anh tưởng đó là Norton). Tiếp đó tôi đã nêu vần đề vóc dáng và đưa ra nhận xét rằng tất cả những người ở Styles đều cao hơn hắn. Nhưng có một người thấp hơn đó là Hercule Poirot. Song muốn cao hơn hai ba phân thì quá dễ: chỉ cần độn thêm đế vào giầy. Anh cũng hoàn toàn cho rằng tôi không thể đi lại một mình. Nhưng tại sao? Chỉ tại tôi bảo anh như thế. Cuối cùng, tôi đã cho George về, và để lại chỉ dẫn cuối cùng: "Hãy đi gặp George". Othello và Clutie John nói lên rằng tên X bí mật ấy không ai khác ngoài Norton. Vậy ai là người có thể giết Norton? Chỉ là Hercule Poirot! Chỉ cần anh thoáng ngờ vực như vậy là mọi mảnh sẽ khớp lại với nhau: những điều tôi đã nói và làm, cả những điều tôi dè dặt chưa nói, lời các bác sĩ Ai Cập và bác sĩ London nói là tôi không đi lại được, lời George nói là tôi mang tóc giả, và việc tôi đi tập tễnh hơn cả Norton. Tất cả chi tiết đó lẽ ra phải làm anh hiểu. Cuối cùng, có phát súng tôi bắn: đây là điểm yếu duy nhất của tôi. Tôi thừa biết rằng đáng lẽ phải áp nòng súng vào thái dương Norton. Nhưng tôi khó chấp nhận sự mất cân xứng ấy, cho nên tôi nhắm vào đúng giữa trán. Ôi, chỉ riêng việc đó đủ để làm anh thấy ra sự thật. Nhưng biết đâu anh đã chẳng ngờ ngợ thế rồi. Biết đâu anh đã chẳng biết rõ sự thật trước đọc những dòng này. Song... tôi lại nghĩ là chưa. Bởi vì anh thật thà quá, dễ tin quá, bởi vì bản chất anh quá tốt. Tôi còn nói gì nữa đây? Franklin và Judith - tôi chắc rồi anh sẽ thấy - biết rõ sự thật, nhưng họ không nói với anh đâu. Họ sẽ không giàu có, trước mắt phải lo đối mặt với muỗi và sốt rét, nhưng mỗi người chúng ta đều có những ý kiến riêng về cách quyết định về mình, phải không nào? Thế còn anh, anh Hastings cô đơn, tội nghiệp? Tim tôi đau quặn mỗi khi nghĩ tới anh. Một lần cuối, anh có muốn nghe lời khuyên của Poirot này không? Nếu muốn thì sau khi đọc hết những dòng này, hãy đáp xe lửa - hoặc xe hàng, xe hơi - đi gặp Elizabeth Cole tức Elizabeth Litchfield. Đọc cho cô ấy nghe văn bản này, giải thích cho cô ấy rằng, nếu là anh, anh cũng sẽ làm như Margaret chị cô. Tiếc rằng chị cô ấy không có một người như Poirot để bảo vệ. Nói tất cả cho Elizabeth để cô ấy rũ bỏ hết những ác mộng ám ảnh cô suốt bấy lâu nay. Làm cho cô ấy hiểu là bố cô không chết vì tay con gái lớn, mà là do ông bạn quý hóa của gia đình: Stephen Norton. Vì thật là không công bằng một phụ nữ còn trẻ, đẹp như cô ấy lại không muốn sống chỉ vì nghĩ mình là người có số mệnh đen đủi. Không phải vậy. Hãy nói thế nhé, anh bạn, anh vẫn còn dư sức hấp dẫn với phụ nữ... Thôi, tôi không còn gì để nói. Tôi không biết việc tôi làm có chính đáng hay không. Thực sự không biết. Trong thâm tâm tôi nghĩ là một người không có quyền làm thay pháp luật. Nhưng mặt khác, tôi cũng là một phần của pháp luật. Hồi trẻ, lúc còn phục vụ ở Sở Cảnh sát Bỉ, tôi đã bắn hạ một tên tội phạm, hắn đứng trên mái nhà bắn xuống người qua đường. Trong trường hợp khẩn cấp chí nguy, tôi đã cứu được nhiều mạng người khác... Thôi, vĩnh biệt anh bạn. Tôi đã vứt bỏ những ống thuốc trợ tim trước nay vẫn giữ trong tầm tay đề phòng trường hợp nguy cấp. Tôi muốn buông xuôi, phó mặc đời mình cho Chúa. Mong Người hãy trừng phạt - hay cứu vớt - thật nhanh. Chúng ta sẽ không cùng nhau sát cánh nữa. Anh nhớ không, vụ án đầu tiên mà chúng ta cùng hợp tác để phá, diễn ra tại đây. Và cũng lại ở đây, là vụ án cuối cùng... Ôi, cái thời tươi đẹp!... Mời các bạn đón đọc Thám Tử Rời Sân Khấu của tác giả Agatha Christie.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Bạc Mệnh
Lần đầu tiên sáng tác với bút danh Benjamin Black, John Banville – tác giả từng đoạt giải thưởng Man Booker Prize – giới thiệu với bạn đọc nhân vật Quirke, nhà nghiên cứu bệnh học hay cáu kỉnh đồng thời là một thám tử khó quên của thế giới tiểu thuyết trinh thám. Khoa nghiên cứu bệnh học của Quirke nằm ở tầng hầm của một bệnh viện ngay trung tâm thành phố. Lãnh địa u buồn của ông là đấy: luôn yên tĩnh, tối tăm và chưa bao giờ vượt tầm kiểm soát của ông cho đến một ngày, giữa đêm hôm khuya khoắt, ông tình cờ bắt gặp một xác chết lạ ngay trong khoa của mình. Hơn thế nữa, chính người anh “cột chèo” của ông đang cố tình xuyên tạc nguyên nhân tử vong của nạn nhân… *** Christine Falls (Bạc mệnh) là một cuốn tiểu thuyết pha trộn các thể loại: trinh thám, hình sự, phân tâm học... với những án mạng, ma túy, tình dục... Nhưng đó chỉ là bề mặt, mạch ngầm của tác phẩm là nỗi ưu tư, suy tưởng trước sự xô dạt của thời đại và sự lạnh lùng của con người. Cô y tá Brenad Ruttledge đang chuẩn bị lên đường tới Boston làm việc, một công việc hứa hẹn khiến cho túi tiền của cô rủng rỉnh thì đột nhiên nhận được lời đề nghị hết sức kỳ quái nhưng không thể từ chối từ bà y tá trưởng Moran đáng sợ. Bà ta muốn cô mang theo một đứa trể lên tàu cùng tất cả giấy tờ liên quan đến nó và giao lại cho viên quản lý tàu khi cô tới Southampton. Nhưng ngay cả Brenda cũng không ngờ rằng, cái gật đầu đó đã khiến cô phải sống trong sợ hãi suốt cuộc hành trình. Trong khi đó, tại khoa nghiên cứu bệnh học của Quirket nằm ở tầng hầm một bệnh viện ngay trung tâm thành phố, lãnh địa u buồn của ông là đấy: luôn yên tĩnh, tối tăm và chưa bao giờ vượt tầm kiểm soát của ông. Cho đến một ngày, bữa tiệc chia tay y tá Breanda đã khiến Quirke ghé thăm phòng làm việc của mình giữa đêm hôm khuya khoắt. Tại đó, Quirke tình cờ bắt gặp ông anh cột chèo, người làm việc cùng khoa với ông, đang ở đó với một xác chết lạ, xác chết với bệnh án mang tên Christine Falls. Hơn thế nữa, chính người anh này đang cố tình xuyên tạc và giấu diếm nguyên nhân tử vong của nạn nhân. Sự tò mò đã thôi thúc nhà nghiên cứu bệnh học Quirke tìm hiểu và vô tình bị đẩy vào một thế giới ngầm của ma túy, tình dục, những sự sống bị coi rẻ... thế giới khác xa với thế giới ông đang sống. Có thể nói, Bạc Mệnh là cuốn tiểu thuyết trinh thám đầy tham vọng, mô tả cõi u ám của những bí ẩn và tính cách con người. *** Tài năng của tiểu thuyết gia Benjamin Black trong tiểu thuyết trinh thám 'Bạc mệnh' lại một lần nữa được giới chuyên môn đánh giá là đã phơi bày tội ác đến tận cùng, có thể sánh với mọi bi kịch cổ điển Hy Lạp. Câu chuyện xoay quanh nhân vật chính là Quirke. Ông làm việc tại Khoa nghiên cứu bệnh học nằm ở tầng hầm của một bệnh viện ngay trung tâm thành phố. Lãnh địa u buồn và tưởng như quá đỗi thân quen và chưa bao giờ vượt ra ngoài tầm kiểm soát của ông cho đến một ngày ông bắt gặp một xác chết lạ có tên Christine Falls, một xác chết có nhiều dấu hiệu bất thường ngay trong khoa của mình. Nhưng điều khiến Quirke bất bình hơn khi Mal (Malachy) - người anh em "cột chèo" của ông đang cố tình xuyên tạc nguyên nhân tử vong của nạn nhân bằng cách kết luận vào biên bản khám nghiệm tử thi: "Chết do tắc mạch phổi". Quirke là người làm việc trong ngành y nhiều năm, ông thừa biết rằng đây là căn bệnh rất khó xảy ra ở những người trẻ. Vậy cái chết này rõ ràng có nhiều uẩn khúc. Cuối cùng, Quirke đã hoá thân thành thám tử bất đắc dĩ. Cũng tại thời điểm Quirke đang đau đầu truy tìm thủ phạm thì bà Mogan đã bị sát hại. Thủ phạm muốn giết người bịt đầu mối? Câu chuyện với những "nút thắt" bất ngờ làm cho cuộc truy tìm trở nên hấp dẫn. Khả năng phơi bày đến chân tơ kẽ tóc động cơ u ám và sự bí ẩn của kẻ phạm tội không chỉ cho người đọc thấy tài viết văn trinh thám của Benjamin mà còn cho độc giả thấy tội ác đến tận cùng của kẻ thủ ác. Bạc mệnh là câu chuyện trinh thám viết cuộc sống của con người ở Dublin vào thập niên 1950, nhờ cách xây dựng và cảm thụ cốt truyện thông minh, sâu sắc mà Benjamin đã tái hiện đời sống con người ở cùng đất này với những trải nghiệm và cảm xúc sôi nổi, dữ dội và đầy tham vọng. Nhờ đó, tấn bi kịch trong cuốn tiểu thuyết này đã được bạn đọc... giải mã và đón nhận như một tác phẩm mang tầm cao mới trong văn chương. *** Tác giả Benjamin Black là bút danh của John Banville, nhà văn nổi tiếng người Ailen. Các tác phẩm của ông đã giành được nhiều giải thưởng danh giá, trong đó có giải Man Booker Prize 2005 cho cuốn Biển Cả (The Sea). Hiện ông sống ở Dublin. Bộ 3 tác phẩm: Bạc Mệnh, Thiên Nga Bạc, Vượn Cáo *** Bạc Mệnh Lần đầu sáng tác với bút danh Benjamin Black, John Banville - tác giả từng đoạt giải thưởng Man Booker Prize - giới thiệu với bạn đọc nhân vật Quirke, nhà nghiên cứu bệnh học hay cáu kỉnh đồng thời là một thám tử khó quên của thế giới tiểu thuyết trinh thám. Khoa nghiên cứu bệnh học của Quirke nằm ở tầng hầm một bệnh viện giữa trung tâm thành phố. Lãnh địa u buồn của ông là đấy: luôn yên tĩnh, tối tăm và chưa bao giờ vượt tầm kiểm soát của ông cho đến một ngày, giữa đêm hôm khuya khoắt, ông tình cờ bắt gặp một xác chết lạ xuất hiện ngay trong khoa của mình. Hơn thế nữa, chính người anh "cột chèo" của ông đang cố tình xuyên tạc nguyên nhân tử vong của nạn nhân... *** Thiên Nga Bạc Với Quirke, nhà nghiên cứu bệnh học người Dublin từng xuất hiện trong tiểu thuyết Bạc Mệnh, thời thế đã thay đổi. Khi Billy Hunt, người quen từ hồi học đại học, tìm đến nhờ Quirke đừng mổ xác khám nghiệm tử thi người vợ đã chết của gã, ông biết có điều bất ổn. Cũng như mọi khi, ông nhất định phải tìm cho ra nguyên nhân bất ổn ấy. Dần dà, ông dấn sâu vào một thế giới đen tối của tệ nạn ma túy, của ám ảnh tình dục, của tống tiền vài chết chóc, một thế giới mà ngay cả thanh tra Hackett đáng gờm cũng chỉ có thể cho ông một dúm manh mối. *** Vượn cáo John Glass sống ở New York. Ông bỏ nghề báo để viết tiểu sử cho bố vợ mình là ngài Bill Mulholland hay còn gọi là Bill Lớn. Vốn là cựu nhân viên CIA, giờ Bill Lớn là trùm tư bản trong lĩnh vực truyền thông. Sáng sáng, John Glass đến làm việc tại văn phòng rộng lớn và sang trọng trong tòa nhà văn phòng Mulholland Tower; tối đến thì về nhà với người vợ giàu có và xuân sắc. Dù thỉnh thoảng có hoài nhớ quãng đời trước, nhưng nói chung Glass hài lòng với hiện tại. Để có được thông tin về người bố vợ, Glass đã thuê một tay săn tin trẻ mà ông quen gọi là "Vượn Cáo". Từ lúc ấy, cuộc sống dễ chịu của ông bị đe dọa. Sau đó, "Vượn Cáo" bị sát hại, Glass quyết định đi tìm những gì hắn biết và thủ phạm giết hắn chỉ để đào xới thêm nhiều bí mật và cái chết bí ẩn khác. *** May mà cô đi tàu chở thư lúc chập tối. Với cô, khởi hành lúc sáng sớm chẳng khác cực hình. Trong bữa tiệc tối qua, khi tìm thấy hũ rượu nặng, một sinh viên trường y bèn pha với nước cam ép. Vì uống hai ly nước ấy nên giờ miệng cô khô đắng, đầu nhức như búa bổ. Suốt buổi sáng, cô nằm bẹp trên giường, người vẫn còn ngầy ngật. Cô chỉ muốn thiếp đi một lát nhưng không được, chỉ nằm khóc với chiếc khăn tay nhét đầy miệng ngăn tiếng nức nở vang xa. Nghĩ đến việc buộc phải làm hôm nay, cô run sợ. Không, phải nói là khiếp đảm mới đúng. Đến cầu tàu ở Dun Laoghaire, cô quá kích động, không thể đứng yên một chỗ nên cứ đi tới đi lui hoài. Nghe lời họ dặn, cô cất hành lý trên khoang tàu thủy rồi trở xuống bến tàu đứng đợi. Chẳng biết ma xui quỷ khiến thế nào mà cô lại nhận lời đề nghị của người ta. Trước đó, cô đã nhận được lời mời đến Boston làm việc và bây giờ thêm cả viễn cảnh sẽ có tiền tiêu rủng rỉnh. Tuy nhiên, cô biết trên tất cả là vì cô sợ bà y tá trưởng nên đã không dám chối từ khi bà đề nghị cô mang theo đứa bé. Kiểu nói chuyện của bà khiến người ta phải khiếp hãi, thậm chí ngay cả lúc tiếng bà khẽ khàng nhất. Hôm đó, bà trợn cặp mắt lồi nhìn cô và bảo: - Brenda này, ta muốn cô cân nhắc thật kỹ vì đây là một trọng trách to lớn. Cô gái như lạc vào một thế giới khác: lòng dạ nôn nao, mồm miệng khô đắng... Còn nữa, thứ cô đang mặc không phải bộ đồng phục y tá mà là bộ váy áo bằng len màu hồng cô mua để dành cho chuyến đi xa đặc biệt này. Bộ quần áo mặc lúc khởi hành, nhưng không phải để mặc sau đám cưới. Đồng thời, thay vì đi hưởng tuần trăng mật, cô sẽ dành hẳn một tuần chăm sóc hài nhi, trong lúc bên cạnh không hề có bóng dáng đức lang quân. Nghe cô nhận lời, nữ y tá trưởng cười nửa miệng trông còn kinh khiếp hơn cả cặp mắt như sắp nhảy khỏi tròng của bà. - Cô thật tốt bụng, Brenda ạ. Cầu Chúa phù hộ cho cô. Phải, cô chỉ còn biết cầu khẩn Đấng Tối Cao che chở. Cô thiểu não nhủ thầm: Tối nay, cô cùng đứa bé lênh đênh trên thuyền. Suốt ngày mai, họ sẽ rong ruổi đường trường, đi xe lửa đến tận Southampton. Tiếp theo là năm ngày vượt biển và sau đó, có trời biết còn những gì nữa. Cô chưa bao giờ xa nơi chôn nhau cắt rốn, đến một xứ sở hoàn toàn xa lạ, ngoại trừ có một lần, hồi cô còn bé tí, cha cô có đưa cả nhà đi chơi một ngày tại đảo Man. Chiếc xe hơi đen bóng loáng nhích từng chút giữa đám đông hành khách đang chuẩn bị xuống con tàu nhỏ. Khi còn cách chỗ cô đứng khoảng mười bước chân, xe dừng bánh. Cánh cửa hàng ghế sau bật mở. Một bà tay xách túi bằng vải bạt, tay kia ôm một bọc cuốn chăn kín. Bà không còn trẻ, khoảng sáu mươi tuổi nhưng ăn mặc như người bằng nửa tuổi bà: bộ vest xám bó sát, váy ôm chỉ dài ngang ống chân, chiếc thắt lưng siết chặt ngang eo khiến mỡ bụng phồng lên ngay phía dưới bản rộng của dây lưng. Bà đội chiếc nón nhỏ xíu có mạng màu xanh dương sẫm buông ngang sống mũi. Ngất ngưởng đi ngang qua vỉa hè lát đá trên đôi giày gót nhọn hoắt, bà mím cặp môi tô son đỏ choét trông như đang cố nặn một nụ cười. Cặp mắt đen của người này nhỏ xíu, ánh mắt sắc như dao. Bà mở lời: - Cô là Ruttledge phải không? Tôi là Moran đây. Giọng nói ỏn ẻn cũng giả tạo, y hệt mọi thứ còn lại thuộc về bà. Bà ta trao túi cho cô và nói: - Trong này có đầy đủ tã lót và vật dụng cho đứa nhỏ, kèm cả giấy tờ của nó. Khi lên tàu ở Southampton, cô hãy đưa cho viên quản lý tàu. Ông ta sẽ biết ngay thôi. Bà nheo mắt soi mới nhìn Brenda, biến cặp mắt đen thành hai đường kẻ nhỏ. - Cô làm sao thế? Trông cô xanh lắm. Brenda bèn chống chế, bảo rằng cô khỏe, chỉ tại đêm qua cô thức khuya. Bà Moran cười nhạt, chìa bọc chăn. - Chắc tại "ly sầu tiễn đưa" nên mới ra nông nỗi? Đây, bồng đi. Cẩn thận, kẻo tuột tay đánh rơi nó thì mang họa. (Bà cười sợ sệt, đoạn nhíu mày như tự trách mình đùa quá trớn). Tôi xin lỗi. Điều đầu tiên khiến Brenda ngạc nhiên là cái bọc kia nóng sực, như thể người ta bọc cục than cháy đỏ trong chăn. Chỉ có điều “cục than” này mềm và động đậy. Khi ôm chiếc bọc trước ngực, lòng dạ cô gái nôn nao. - Ôi! Cô kêu lên vì ngạc nhiên, vui sướng. Bà Moran vẫn chưa ngừng nói nhưng cô không còn nghe thấy gì nữa. Có con mắt nhỏ xíu, ươn ướt từ mép chăn nhìn ra với vẻ thờ ơ, không thèm quan tâm chuyện gì đang diễn ra quanh mình. Brenda nghẹn ngào, nước mắt chỉ chực trào tuôn. - Cảm ơn ạ. Cô chỉ nói được có thế dù không biết mình đang cảm ơn ai và vì cái gì. Bà Moran nhún vai, cười nửa miệng. - Chúc may mắn đấy. Đoạn bà bươn bả trở lại xe, gót giày cao gót nện mạnh như muốn chọc thủng mặt đường. Vào xe, sập mạnh cửa xong, bà lẩm bẩm: - Thế là xong việc. Nhìn qua cửa kính, bà thấy Brenda Ruttledge vẫn đứng nguyên chỗ cũ, mê mẩn nhìn xuống bọc chăn, quên hẳn chiếc túi du lịch chơ vơ dưới chân. Bà cay đắng: - Gớm! Cô ta tưởng mình là Đức Mẹ Đồng Trinh chắc! Không bình luận gì thêm, bác tài chỉ khởi động xe trước khi phóng vọt đi. Mời các bạn mượn đọc sách Bạc Mệnh của tác giả Benjamin Black & Vũ Kim Dung (dịch).
Dòng Sông Hắc Ám
“Một ngày nào đó cô sẽ hiểu được thứ gì đang đến với cô. Nó không đến từ tôi đâu. Mà từ một trong số chúng, một trong những người mà cô tin tưởng… Sẽ thú vị lắm đây.” Đó là lời cảnh báo trước khi chết của kẻ sát nhân bệnh hoạn Melvin Royal dành cho Gwen Proctor. Có lẽ hắn nói đúng, nhưng chỉ một phần… Melvin đã nằm sâu dưới nấm mồ, còn Gwen phải tiếp tục đấu tranh để chữa lành những vết sẹo của quá khứ, giải quyết những mối đe dọa ở hiện tại và sẵn sàng cho một tương lai đầy bấp bênh. Liệu những thử thách mới, những âm mưu mới có thể đánh gục được người mẹ giàu lòng trắc ẩn và dũng cảm như sắt đá? Ở thế giới bên kia, liệu Melvin có thể có cơ hội chứng kiến Gwen sụp đổ và vụn vỡ hay không? Tiếp nối thành công của hai tập trước trong series ăn khách Stillhouse - Dòng sông hắc ám không chỉ đem tới cho độc giả những khoảnh khắc hồi hộp, gay cấn, mà còn cả những phút giây lắng đọng, xúc động và giàu chiêm nghiệm. ----- “Và tôi cần phải đối phó với hắn, bởi hắn đang đe dọa đến tính mạng của con tôi. Con tôi. Tôi chưa bao giờ có cảm giác mạnh mẽ như thế này trước đây - cảm giác muốn được bảo vệ Connor bằng mọi giá. Cảm giác ấy, ước muốn ấy, nó không hề mất đi, vẫn luôn chôn sâu bám rễ vào trong máu thịt của tôi.” ----- Tác giả Rachel Caine là một trong những tác giả ăn khách nhất thế giới với hơn năm mươi đầu tiểu thuyết nằm trong danh sách bán chạy, bao gồm hai series truyện dành cho tuổi thiếu niên là Ma cà rồng vùng Morganville và Đại Thư viện. Các dòng sách bà theo đuổi gồm có: tiểu thuyết giật gân, huyền bí, kỳ ảo hiện đại, khoa học viễn tưởng và tiểu thuyết siêu linh dành cho giới trẻ. Bà hiện sống cùng gia đình tại Fort Worth, bang Texas, Mỹ. *** Bốn ngày trước Khi giáo viên của Ellie White, cô Willingham, nói với cô bé rằng tài xế sẽ đến trường học sớm hơn thường lệ để đón cô bé, Ellie biết đó không phải toàn bộ sự thật. Bác Lou chưa bao giờ đến sớm như vậy cả, trừ khi cô bé bị ốm. “Tại sao ạ?” Cô bé hỏi. Cô bé thích đưa ra những câu hỏi mỗi khi có điều chưa rõ. Có thể cô bé chỉ mới sáu tuổi, nhưng bố đã dạy cô bé phải hỏi nếu không hiểu. Mẹ lúc nào cũng có chút xấu hổ bởi cô bé cứ làm theo lời dặn của bố một cách máy móc như vậy. “Cô e rằng… Cô e rằng đó là vì bố con đã nhờ bác ấy làm vậy.” Cô Willingham nói. Cô ấy là một phụ nữ da trắng tử tế với một lọn tóc màu bạc điểm xuyết trên mái tóc nâu, và cô là một giáo viên tốt. Mặc dù bố Ellie rất giàu có, cô chưa bao giờ đối xử với Ellie khác biệt so với những học sinh trong lớp. Kể cả khi Ellie có làn da màu nâu đậm, đậm hơn bất cứ bé gái nào khác ở đây - những cô bé có làn da trắng như những trang giấy. “Bố sẽ không làm vậy…” Ellie nói. “Có điều gì đó không ổn.” Cô Willingham đưa mắt về phía Ellie, nhưng không nhìn thẳng vào cô bé: “Ừ thì, mẹ con bị ốm…” Cô nói. “Vậy nên ông ấy mới điều xe đến đón và đưa con tới bệnh viện nơi ông ấy đang ở cùng với mẹ con. Như vậy được rồi chứ?” Cô giúp Ellie mặc chiếc áo len dài tay. Chiếc áo này Ellie không thích, nhưng cũng không muốn bỏ lại. Tiếp đến là chiếc cặp sách. “Cô Willingham?” Ellie hỏi, ngước lên nhìn cô giáo của mình. “Cô đang khóc đấy ạ?” “Không, bé con ạ. Cô ổn mà. Đi nào. Ra khỏi đây thôi, bác ấy đang đợi.” “Nhưng bố có nhắc đến mật mã nữa chứ ạ?” “Ông ấy có nhắc đến mật mã…” Cô Willingham nói. “Mật mã của hôm nay là chim hét đen, phải không nào?” Ellie gật đầu. Thứ Năm là chim hét đen. Mỗi ngày sẽ là một loài chim nào đó, bởi vì cô bé rất thích chim và mẹ luôn luôn gọi cô bé là chim ruồi nhỏ do cô bé luôn phóng đi rất nhanh. Nhưng Chủ nhật mới là chim ruồi. Trước tiên, cô Willingham bước xuống bậc thềm của trường học để nói chuyện với bác Lou, bác đang đợi trong chiếc xe đậu ở khúc quành nằm giữa những bậc thềm và đài phun nước lớn làm bằng đá cẩm thạch. Nguyên tắc là Ellie không bao giờ được tới chỗ chiếc xe cho đến khi cô Willingham xác nhận rằng mọi thứ đều ổn. Cô và bác Lou nói chuyện rất lâu. Cô Willingham cứ khóc mãi không ngừng. Hôm nay thời tiết nóng và ẩm, nhưng đài phun nước trông rất mát mẻ và đẹp đẽ. Tia nước bắn ra từ những chiếc vỏ sò làm bằng bê tông, rơi vào một chiếc vỏ sò lớn hơn nằm ở chính giữa. Mẹ từng nói với Ellie rằng đã từng có một nàng tiên rất xinh đẹp sống ở trong vỏ sò, nhưng một vài bậc phụ huynh đã buộc nhà trường phải đưa nàng ấy ra ngoài, và giờ đây nàng ấy phải ở trong kho chứa đồ, điều này thật đáng buồn làm sao. Cô Willingham bước trở lại bậc thềm để đón lấy tay cô bé. Ellie ngước lên nhìn cô. “Mọi thứ sẽ ổn thôi…” Cô nói, nhưng giọng cô lạc đi. Đôi mắt cô đỏ lên. “Cô xin lỗi, bé con. Nhưng cô phải làm điều này. Cô cũng có gia đình của mình.” Ellie cảm thấy lo lắng cho gia đình của cô giáo. “Goa đình của cô ổn cả chứ, cô Willingham?” Cô bé không có ý định làm cho người phụ nữ phải khóc. “Ừ, Ellie ạ, họ sẽ ổn thôi. Con có thể giúp cô đảm bảo rằng họ sẽ ổn chứ?” Ellie không rõ mình phải làm điều đó như thế nào, nhưng cô bé vẫn gật đầu. Cô bé thích giúp đỡ mọi người, ngay cả khi cô bé không thực sự chắc chắn tại sao cô Willingham lại nghĩ rằng cô bé có thể giúp. Cô Willingham mở cửa xe và nâng Ellie lên. Đây vốn là công việc của bác Lou. Sau đó, người phụ nữ ôm lấy cô bé. “Hãy mạnh mẽ, Ellie. Con sẽ ổn cả thôi.” “Nhưng còn gia đình của cô thì sao ạ?” Ellie hỏi. “Cô không định đi với con để cùng giúp họ sao?” Cô Willingham bụm miệng, những giọt nước mắt lăn dài trên má, và cô chỉ còn biết lắc đầu. Cô đóng sầm cánh cửa xe, và đó là khi Ellie biết rằng có điều gì đó thực sự không ổn. Cô giáo Willingham đã nói dối, nhưng cô bé không biết tại sao cô phải làm vậy. Và rồi Ellie nhận ra rằng điều này còn tồi tệ hơn những gì cô bé nghĩ, bởi mặc dù chiếc xe trông giống với chiếc xe vẫn thường đưa đón cô bé, nó không hề có mùi dừa mà cô bé vẫn yêu thích. “Bác Lou?” Cô bé cất tiếng gọi người tài xế. Tiếng chốt cửa xe vang lên nặng trịch. Cô bé có thể nhìn thấy người đàn ông đang ngồi ở ghế trước, đó là một người to lớn đội chiếc mũ lưỡi trai. Ngồi ở băng ghế sau, Ellie cảm thấy mình nhỏ bé hơn bình thường, và khi chiếc xe bắt đầu di chuyển, cô bé nhanh chóng thắt dây an toàn; bác Lou không bao giờ cho xe chạy cho đến khi cô bé thắt dây an toàn xong xuôi. “Bác Lou? Có chuyện gì với mẹ cháu vậy? Cô Willingham nói rằng…” Cô bé ngừng lại câu hỏi bởi lẽ người đàn ông đang lái xe không phải bác Lou. Đôi mắt nhìn vào cô bé trong gương chiếu hậu không phải là của bác ấy. “Thắt dây an toàn vào.” Ông ta nói. Còn bác Lou sẽ luôn nói xin hãy. “Cháu đã thắt rồi…” Cô bé nói. Cô bé cảm thấy sợ hãi, nhưng cô bé sẽ không thể hiện điều đó ra ngoài. “Bác có biết mật mã không?” “Chim hét đen.” Ông ta nói. “Phải không?” “Bác là ai?” “Tôi là người sẽ đưa cháu đến một nơi nào đó thật an toàn…” Ông ta nói. “Cũng giống như mong muốn của bác Lou vậy. Được rồi chứ?” “Cháu sẽ gọi cho bố.” Ellie nói, và rồi mở khóa cặp sách để lấy chiếc điện thoại di động. Nó không có ở đó. Cô bé biết rằng mình không được để điện thoại lung tung. Chiếc điện thoại rất đắt tiền, quan trọng, và cô bé luôn luôn để nó ở trong chiếc túi đó. Cô bé cảm nhận được nước mắt đang chực trào ra, nhưng cô bé sẽ không để mình khóc. Họ muốn cô bé phải khóc, bất kỳ ai đã lấy mất chiếc điện thoại. Bất kỳ ai đang chơi trò chơi đểu cáng này. “Bác là ai?” “Không ai cả.” Người lái xe nói. “Giờ thì ngồi im và yên lặng đi.” Ông ta lái chiếc SUV vào trục đường chính. Cô bé cố gắng nhìn xem họ đang đi đâu, nhưng nhanh chóng bị mất phương hướng; cô bé chưa bao giờ phải chú ý đến những điều như thế này trước đây. Ngôi trường đã khuất sau quả đồi, và ông ta rẽ ngoặt nhiều hơn, cô bé hoàn toàn không biết họ đang ở đâu. Cô bé không biết phải làm gì. Bố luôn nói với cô bé rằng có rất nhiều người xấu ở ngoài kia, và cô bé không nên đi với họ nếu họ không biết mật mã. Thế nhưng, ông ta biết nó, và cô bé cũng không thể nhấn nút “cuộc gọi khẩn cấp” nếu không có chiếc điện thoại nào ở đây. “Để cháu đi.” Cô bé nói. Cô bé cố gắng để giọng mình nghe giống với giọng của mẹ: lạnh lùng và tự tin. “Bác có thể dừng xe ở đây.” “Im mồm.” Người lái xe nói. “Giữ yên lặng. Nếu còn ồn ào, tao sẽ dán miệng mày lại.” Điều đó thậm chí còn khiến cô bé hoảng sợ hơn việc phải ngồi trên một chiếc xe lạ hoắc và không có điện thoại ở bên, nhưng cô bé sẽ không để người đàn ông này biết được điều đó. Cô bé sẽ không khóc. Cô bé nhìn xung quanh và cố gắng nghĩ ra việc khác để làm. Cánh cửa không thể mở. Phần kính cũng thế. Chiếc SUV được gắn kính tối màu, cũng giống như chiếc xe của bác Lou; nó có tác dụng chống nắng. Nhưng nó cũng được tạo ra để mọi người không thể nhìn được vào bên trong. Ellie nhận ra một điều cực kỳ tồi tệ. Cô bé là cái bóng ngồi bên trong một chiếc xe màu đen, đằng sau những ô cửa tối màu, không ai có thể nhìn thấy, và cô bé không biết phải làm gì tiếp theo. Khi cô bé bắt đầu gào thét để tìm kiếm sự giúp đỡ từ những chiếc xe chạy qua, người lái xe rẽ vào đường nhánh, đỗ xe dưới một cây cầu nằm giữa những tán cây xanh rì, dán băng dính quanh miệng cũng như quanh tay và chân cô bé. Ông ta đưa cô bé vòng ra phía sau chiếc SUV. Phía sau trống trơn, chỉ có một chiếc túi ngủ có in hình các công chúa Disney. Cô bé hét lên dưới lớp băng dính, ngọ nguậy và cố gắng để thoát ra, nhưng ông ta đặt cô bé lên chiếc túi ngủ và lắc đầu. “Đi ngủ đi…” Ông ta nói với cô bé, rồi quệt mồ hôi trên mặt. “Chúng ta còn một quãng đường dài phía trước. Mày chú ý cách cư xử và tao sẽ cho mày ăn trong một vài giờ tới. Mấy ngày nữa mày sẽ trở về nhà cùng một câu chuyện thật hay ho để kể.” Bố đã luôn dặn cô bé rằng: “Nếu rơi vào tay kẻ xấu, đừng bao giờ tin lời chúng nói.” Cô bé hoàn toàn không tin rằng chúng sẽ đưa mình trở về nhà. Cô bé thật sự sợ hãi khi thấy mình bắt đầu sổ mũi và khó thở với băng dính dán kín miệng. Vì vậy, cô bé nằm yên hít thở, chậm rãi, đều đặn. Cô bé vẫn còn hoảng sợ, lại thêm kiệt sức nữa, và cuối cùng, cô bé nhắm mắt lại và cố gắng giả vờ như mình đang ở một nơi nào đó khác, được trở về nhà với mẹ. Một cách khó nhọc, cô bé giả vờ rằng mình đang ngủ thiếp đi và cuộn người lại trên đùi của mẹ. Khi tỉnh lại, cô bé rất muốn nói với người đàn ông rằng mình muốn đi vệ sinh, nhưng ông ta thì lại đang nói chuyện điện thoại, và họ đang ở trong một khu rừng, vào giữa đêm tối. Ông ta thấy cô bé ngồi dậy. Ông ta quay đầu lại. Và rồi qua tấm kính chắn gió ô tô, cô bé trông thấy tấm biển báo “phía trước có lối ngoặt” cùng với luồng ánh sáng bừng lên xung quanh nó. Luồng ánh sáng đang chiếu thẳng về phía bọn họ. Cô bé cố hét lên về phía ông ta, nhắc ông ta coi chừng chiếc xe, nhưng ông ta chỉ cau mày và nói: “Tao đã nói là im…” Và rồi chiếc xe kia đâm sầm vào họ, tất cả lộn nhào và vỡ vụn; cô bé nghĩ mình đã nghe thấy người đàn ông hét lên. Cứu với, Ellie muốn nói điều đó, nhưng cô bé quá sợ hãi và quá đau đớn, rồi người đàn ông ngưng la hét, mọi thứ đều trở nên im bặt. Mời các bạn mượn đọc sách Dòng Sông Hắc Ám của tác giả Rachel Caine & Yến Nhi (dịch).
Dư Tội
Trung Quốc thập niên 90, làn sóng đóng cửa các quốc xĩ khiến không ít gia đình tan nát, trong đó có cả gia đình Dư Tội. Mẹ hắn bỏ đi khi hắn vẫn còn ắm ngửa, Dư Tội được người cha đặt lên xe bán hoa quả kéo đi khắp nơi kiếm sống. Từ nhỏ Dư Tội đã tiếp xúc đủ thủ đoạn đường phố, thiếu thốn tình cảm từ mẹ, thêm kiểu giáo dục đòn roi từ cha. Dư Tội biến thành kẻ bất trị, từ trộm cắp, đánh nhau, thu tiền bảo kê, không chuyện tệ hại nào không làm. Lo cho tương lai của con, cha Dư Tội dồn hết tiền bạc chạy cho hắn vào trường cảnh sát, mong con thành người tử tế. Dư Tội càng lớn càng hiểu chuyện, biết cha mình nuôi mình không dễ, hắn chỉ có một ước mơ nhỏ bé, được về quê làm cảnh sát để bảo kê cho cha bán hoa quả. Ngày tốt nghiệp sắp tới gần, Dư Tội vô ý đắc tội với hoa khôi trường cảnh sát, rắc rối kéo tới ngay hôm đó khi Dư Tội bị một đám người đột nhập vào trường tấn công. Bằng vào thủ đoạn ranh ma, Dư Tội không những thoát được mà còn truy ra nguồn gốc của chúng, dẫn theo đám anh em được gọi là 13 con sâu hại đánh cho những kẻ này nhập viện. Sự việc bị trường phát hiện, 13 con sâu hại đối diện với nguy cơ đuổi học … đây cũng trở thành bước ngoặt cuộc đời của Dư Tội. *** Tác giả Thường Thư Hân một quái kiệt hiếm có của làng văn học mạng, cái tên anh không được biết tới nhiều ở Việt Nam, nhưng chắc hẳn không ít độc giả biết tới Hắc Oa, Dư Tội, Đối Dịch, Hương Sắc Khuynh Thành... Thứ tự đọc truyện Lão Thường là: Hắc Oa - Dư Tội - Hương Sắc Khuynh Thành - Đối Dịch, tuy đọc riêng bất kỳ truyện nào cũng không hề gì. Mặc dù sau đó đang ở đỉnh cao sự nghiệp, Thường Thư Hân và tập đoàn Văn Duyệt xảy ra tranh chấp bản quyền dữ dội, hai bên kéo nhau ra tòa, phiên tòa kéo dài bốn năm. Kết quả không có gì bất ngờ, một tác giả sao chống nổi tập đoàn lớn như thế, Thường Thư Hân thua, thậm chí tập đoàn Văn Duyệt sở hữu tên Thường Thư Hân tận 15 năm sau khi anh chết, khiến Thường Thư Hân phải đổi tên sáng tác, làm sự nghiệp của anh ảnh hưởng nghiêm trọng. Thế nhưng bộ đôi Hắc Oa, Dư Tội là viên ngọc quý trong giới văn học mạng, Văn Duyệt chẳng thể vùi dập được. Thường Thư Hân từ nhỏ mê tiểu thuyết võ hiệp, anh thích nhất Vi Tiểu Bảo dưới ngòi bút của Kim Dung, vì thế Dư Tội trong lòng anh cũng là người bình thường như vậy, không muốn làm anh hùng, chỉ muốn sống sao cho không hối tiếc, sống hết mình, không thẹn với lòng mà thôi. Đi ra ngoài một chuyến, anh hiểu ra, không bằng cấp tử tế, không dễ tìm việc tử tế. Thường Thư Hân ra tù về Sơn Tây, anh tự học một năm, thi đỗ vào trường đại học địa phương, không thể không nói đây là kỳ tích vì thời đó đại học vẫn có giá lắm, không tràn lan như sau này, thi vào đại học không hề dễ.  -------------o0o------------- Dư Tội, từ truyện ra đời, từ đời vào truyện. (Bài khá dài và khá chi tiết, nên đừng vì thấy dài mà không đọc hết nhé, kẻo bỏ qua một siêu phẩm đấy!) (Đáng lẽ bài này sẽ chia làm 2 phần, nhưng sợ các bạn chờ phần tiếp theo lâu sẽ mất hứng nên gộp luôn) Tác giả Thường Thư Hân một quái kiệt hiếm có của làng văn học mạng, cái tên anh không được biết tới nhiều ở Việt Nam, nhưng chắc hẳn không ít độc giả biết tới Dư Tội. Đây là tác phẩm hiếm hoi đạt thành công lớn ở cả ba mặt, tiểu thuyết mạng, sách in và cả phim truyền hình, một thời độ hot không gì sánh bằng, hãy thử nhìn lại năm xưa Dư Tội từng hot thế nào. Đầu tiên nói tới phim truyền hình, vì nhờ phim mà tên tuổi của anh vang dội khắp cả nước. Ngay từ mùa đầu lên sóng, Dư Tội trở thành hiện tượng, được cư dân mạng Trung Quốc xưng tụng là Hunger Games phiên bản Trung Quốc đạt 600 triệu lượt xem. Tới mùa thứ hai, chiếu chưa được một ngày, lượt xem đột phá 100 triệu, điểm douban lên tới 8.6. Chỉ cần tìm kiếm ở Trung Quốc phim hình sự hay nhất, chắc chắn có cái tên Dư Tội.   Trước khi trở thành bộ phim siêu hot trên mạng, nguyên tác Dư Tội được đăng trên Chuangshi, một trang web đăng truyện thuộc tập đoàn Văn Duyệt giống Qidian. Dư Tội chính là tổng quán quân tuyệt đối hai năm liên tiếp của Chuangshi. Khi truyện mới viết được hết quyển 1 trên 8 quyển, đã được Đằng Tấn mua bản quyền chuyển thể phim truyền hình. Đến lúc sách in phát hành, cơn sốt Dư Tội vẫn chưa hạ nhiệt, chỉ trong vòng 2 tháng, truyện phải in thêm tới ba lần, tới nay lượng tiêu thụ đột phá 100 vạn, trở thành tác phẩm best seller 5 năm liên tiếp của thể loại hình sự điều tra, thành tích này bị chặn lại bởi chính sách khác của anh. Khi Dư Tội đạt được sự thành công rực rỡ đó, nhiều tác phẩm của Thường Thư Hân lọt được vào mắt xanh đông đảo độc giả khắp nơi. Nhiều người nhận ra, Thường Thư Hân thậm chí còn có một tác phẩm xuất sắc hơn, cảm xúc mạnh mẽ hơn Dư Tội, đó chính là Hắc Oa. Ngay trong năm đó, Hắc Oa được in thành sách, Đằng Tấn tuyên bố, bấm máy phim Hắc Oa ( Cảnh sát Oa ca), khiến vô số độc giả thốt lên, đó là năm của Thường Thư Hân. Mặc dù sau đó đang ở đỉnh cao sự nghiệp, Thường Thư Hân và tập đoàn Văn Duyệt xảy ra tranh chấp bản quyền dữ dội, hai bên kéo nhau ra tòa, phiên tòa kéo dài bốn năm. Kết quả không có gì bất ngờ, một tác giả sao chống nổi tập đoàn lớn như thế, Thường Thư Hân thua, thậm chí tập đoàn Văn Duyệt sở hữu tên Thường Thư Hân tận 15 năm sau khi anh chết, khiến Thường Thư Hân phải đổi tên sáng tác, làm sự nghiệp của anh ảnh hưởng nghiêm trọng. Thế nhưng bộ đôi Hắc Oa, Dư Tội là viên ngọc quý trong giới văn học mạng, Văn Duyệt chẳng thể vùi dập được. Trong khuôn khổ bài viết này, mình sẽ chỉ nói tới Dư Tội. Dư Tội kể về một học viên trường cảnh sát có tên vô cùng kỳ lạ Dư Tội, vì tranh chấp nhỏ trong trường, Dư Tội và 12 người anh em trong trường, được gọi là 13 con sâu hại đối diện với nguy cơ đuổi học. Bọn họ không biết rằng đó là cái cớ, cả 13 người được đưa vào chương trình lựa chọn tinh anh, từ đó bắt đầu cuộc đời cảnh sát đầy câu chuyện cảm động, hoang mang, nhiệt huyết cùng kích động. Điều đầu tiên nói về Dư Tội thì y là kẻ sống sót, bất kể hoàn cảnh thế nào, người tồn tại cuối cùng sẽ là y. Dư Tội không phải là nhân vật lương thiện, tử tế gì, vì từ nhỏ đã phải lăn lộn phố phường nhiễm vô số thói hư tật xấu của tiểu thị dân, phải nói là nhân vật khó ưa nhưng đồng thời tính cách đa diện cũng làm người ta khó ghét, tính cách phóng túng tùy tiện, nhưng nhìn rõ bản thân, cũng nhìn rõ đối thủ vì thế y luôn là kẻ sống sót rút lui một cách an toàn nhất. Nhìn bề ngoài tựa một kẻ bất chính, gian xảo, tư lợi, hèn hạ kỳ thực đối với người thân, bạn bè, lại thực lòng chân thành, có sự lương thiện thuần túy. Tuy bị gọi là máu lạnh nhưng biết cảm thông, nhìn tựa kẻ hận đời sống buông thả lại khao khát sống đàng hoàng ... rất nhiều mâu thuẫn tập trung vào một nhân vật, khiến tính cách trở nên chân thực phong phú, cả cãi xấu cái tốt lẫn lộn, khiến Dư Tội thành một cảnh sát ưu tú nhất vươn tới tầm cao khiến tất cả phải ngước nhìn. Dư Tội tuy nổi tiếng là tác phẩm hình sự xuất sắc nhất trong thể loại, nhưng so với việc nói nó là tiểu thuyết trinh thám, không bằng nói nó là tác phẩm tuổi trẻ về lý tưởng và tình yêu. Truyện lấy chuyện vụ án chỉ để nói chuyện đời, truyện không đưa ra bài học cho độc giả, nhưng tin rằng khi đọc Dư Tội, không ít đoạn khiến độc giả bỏ sách xuống mà suy ngẫm. Vì sao Dư Tội thành công lớn như thế, rất nhiều người nói "tiểu thuyết quá chân thật". Làm sao không chân thực cho được, vì nguyên hình của nhân vật Dư Tội chính là tác giả, khi phóng viên liên hệ với Thường Thư Hân người được gọi là "Lão Thường" một ông chú lôi thôi đang ẩn cư ở thành phố nhỏ, người mà không ít cư dân mạng suy đoán là một hình cảnh, năm xưa lại là tên tội phạm cướp của bị bắt vào tù, từng là một tên lưu manh đầu đường xó chợ không hơn không kém. Khi được phóng viên hỏi tới chuyện cũ, Lão Thường ở bên kia điện thoại thoải mái kể lại chuyện năm xưa, chính vì trải nghiệm phong phú đầy vị cuộc sống đó thành chất dinh dưỡng tốt nhất cho tác phẩm của anh. Lão Thường thừa nhận, nguyên hình Dư Tội chính là mình. Phóng viên vốn muốn hẹn tới nhà Lão Thường xin phỏng vấn, Lão Thường gạt đi, nói mình không phải minh tinh, không cần tốn công như thế, huống hồ nhà anh rất xa, vất vả thế là không đáng. Tuy chỉ là cuộc phỏng vấn qua điện thoại, Lão Thường không vì thế mà qua loa, phóng viên hối hận, nếu biết trước được nghe câu chuyện đặc sắc như thế, dù vất vả thế nào cũng phải tới tận nơi, chỉ để tận mắt thấy Lão Thường, so với trong truyện, cuộc đời Lão Thường còn là truyền kỳ hơn nhiều. Anh sinh năm 1975, năm 1993 vừa tròn 18 tuổi, vào cái thời phương nam hừng hực cải cách mở cửa, anh bất chấp người nhà khuyên can, học theo người ta chạy tới Quảng Châu kiếm tiền. Nào ngờ, tiền chẳng kiếm nổi, đến cơm ăn chẳng no, tuổi trẻ kích động, anh sinh ra ý nghĩ nông nổi, đi cướp. Khi đó Lão Thường nấp ở một bến tàu hỏa, nhìn người ra rút NDT từ ví ra, chuẩn bị đưa vào cửa sổ thu phí, anh xông tới cướp ví chạy luôn. Kết quả lần đầu gây án đã thất bại, trả giá bằng 8 tháng tù giam. Lão Thường nói "Đó không phải chuyện hay ho gì, bình thường tôi xấu hổ không nói ra.". Ở trong tù, anh quen đủ loại người từ buôn ma túy, trộm cắp vặt, làm hàng giả, giết người ...v...v...v.. tất cả những người đó là nguyên nhân lớn sau này tác phẩm của Thường Thư Hân luôn sinh động chân thực. "Cảnh sát kể về vụ án thường không tỉ mỉ đôi khi còn phải bảo mật. Nhưng tội phạm thì khác, nhất là ở trong tù, thời gian rảnh nhiều mà." Lần lỡ bước đó làm Thường Thư Hân khi còn rất trẻ đã ý thức được, thì ra người bình thường đi theo hướng tà ác lại chỉ cách một bước mà thôi. Trong những năm tháng trong tù, anh được thấy khát vọng trần trụi nhất của con người, cùng nhân tính nguyên thủy nhất, về sau anh đặt tên tiểu thuyết là Dư Tội ( Tội lỗi che giấu) là vì thế. Thường Thư Hân từ nhỏ mê tiểu thuyết võ hiệp, anh thích nhất Vi Tiểu Bảo dưới ngòi bút của Kim Dung, vì thế Dư Tội trong lòng anh cũng là người bình thường như vậy, không muốn làm anh hùng, chỉ muốn sống sao cho không hối tiếc, sống hết mình, không thẹn với lòng mà thôi. Đi ra ngoài một chuyến, anh hiểu ra, không bằng cấp tử tế, không dễ tìm việc tử tế. Thường Thư Hân ra tù về Sơn Tây, anh tự học một năm, thi đỗ vào trường đại học địa phương, không thể không nói đây là kỳ tích vì thời đó đại học vẫn có giá lắm, không tràn lan như sau này, thi vào đại học không hề dễ.  Tuy quyết tâm thay đổi con người, nhưng thời gian trong tù ảnh hưởng tới anh nhiều hơn anh nghĩ, tính cách nóng nảy, ưa bao lực, vì xích mích nhỏ không nhịn được, anh đánh nhau trong trường, vì thế học được hơn một năm đã bị khai trừ. Không lâu sau khi bị đuổi học anh lại nghe tin dữ, cha qua đời bởi tai nạn giao thông, thành hối tiếc suốt cuộc đời Thường Thư Hân, vì tới tận khi cha mất, anh vẫn là đứa lông bông chưa thể làm cha mẹ yên lòng. Vừa có tiền án, lại bị đuổi học, anh không cách nào tìm được công việc đàng hoàng ngoài xã hội. Vì mưu sinh, anh làm tới ba bốn chục công việc khác nhau, bán rau, bán sách, bán vé số, kéo xe ba bánh, đi khai khoáng, tiếp thị, nấu ăn … "Có những lúc tôi làm liền mấy việc, cái gì kiếm được tiền là tôi làm. Bán rau, nghề này tính thời vụ cao, thu đông kiếm nhiều, mùa hè bình thường. Bán sách, nghề này chỉ được một hai tháng lúc khai trường, còn là bán sách in lậu." Công việc duy nhất anh làm lâu dài làm công nhân cho công ty điện tín đương địa, bắt đầu từ vác thang, kéo dây điện. Mỗi ngày làm việc xong phải viết báo cáo công tác, đó là việc rườm ra phiền phức tốn thời gian mà chẳng ai muốn làm cả, thế nên trong đội đẩy cho anh làm. Kết quả do báo cáo của Thường Thư Hân do gọn gàng đâu ra đó, câu chữ thông thuận, hoàn toàn khác người ta. Dần dà, anh được điều tới văn phòng làm văn thư. Mới đầu anh còn chịu khó học thêm máy tính, một lòng phấn đấu tiến bộ. Đáng tiếc quá khứ lần nữa níu kéo, ngay cả hi vọng ký hợp đồng chính thức cũng vô vọng, không thể tốn thời gian làm việc tạm thời thế này, anh liền từ chức. Có lẽ suốt thời gian đó, chuyện vui duy nhất của anh là trong thời gian đi bán sách lậu, cơ duyên thế nào, anh quen được một cô giáo, rất xinh xắn. Quen nhau ba năm, cô giáo trẻ không chê anh nghèo, chẳng chê anh có quá khứ không tốt, bất chấp cha mẹ ngăn cản, anh có được cái gật đầu của cô, hai người thành vợ chồng. “Có lẽ cô ấy mê món ăn tôi làm.” Lão Thường cười ha hả. Lão Thường không kể nhiều về khó khăn của mình, vì đó thành vốn sống quý nhất của anh, cũng hun đúc cho anh một ánh mắt thấu hiểu cuộc đời. Lại nói rời công ty điện tín, anh chuyển sang bán máy vi tính, ở cửa hàng vi tính, rảnh rỗi anh vào mạng xem tiểu thuyết. Khi đó anh vừa mua nhà để cưới vợ, áp lực khoản vay mua nhà rất lớn, anh không thể dựa vào vợ nuôi được, thấy người ta ở trên mạng viết tiểu thuyết kiếm nhiều tiền lắm, đó là năm 2008 giai đoạn tiểu thuyết mạng bắt đầu bùng nổ, anh muốn thử xem sao. Sau hai tác phẩm sáng tác thử, bộ tiểu thuyết chính thức đầu tiên của anh trên mạng là Hồng Nam Lục Nữ, đề tài đô thị, lượng người mua vip cũng được vài nghìn, mỗi tháng anh viết mấy chục vạn chữ, tiền thù lao là 900 đồng, tuy ít nhưng anh kích động lắm, dù sao anh chỉ tranh thủ sáng tác lúc rảnh rỗi thôi. Khi đó tôi nghĩ "Nghề này sống được đấy." Sang tới tác phẩm thứ hai Hắc Oa nhờ tích lũy được ít độc nhà từ bộ trước, lần này anh yên tâm sáng tác hơn nhiều, thành tích ngày càng tốt, nhiều độc giả thốt lên, té ra tiểu thuyết mạng còn có thể viết tới mức này. Anh chính thức trở thành tác giả toàn thời gian. Đến khi sáng tác Dư Tội, bắt đầu có công ty lớn phát hiện ra viên ngọc bị bỏ quên, mới viết được xong quyển một, người ta đã mua bản quyền truyền hình.  "Khi đó tôi còn chưa có tiếng tăm gì, bản quyền bán quá rẻ, chỉ được 60 vạn, xung quanh biết được, đều bảo tôi ngốc." Thế nhưng ông trời rất công bằng, nhờ thành công lớn của Dư Tội, Thường Thư Hân bán thêm bản quyền truyền hình 3 tác phẩm nữa, trong đó Hắc Oa bán với giá 280 vạn. Quay lại với Dư Tội, Thương Thư Hân hồi ức, khi anh đang Dư Tội trên mạng, rất nhanh anh có được lượng fan cực lớn. Tháng 10 năm đó, có 20 fan hâm mộ vì hợp ý nhau mà tập trung ở Tấn Thành, bọn họ không ngại đường xá xa xôi tới từ khắp nơi trên cả nước lặn lội tới huyện thành nhỏ vùng tây bắc, họ tới tìm Lão Thường. Làm anh bất ngờ là, 12 người trong đó là cảnh sát. Tất nhiên số cảnh sát đó còn bất ngờ hơn, họ nói "Chúng tôi cứ tưởng anh là đồng nghiệp." "Thái độ của tôi với cảnh sát khi đó là kính nhi viễn chi, dù sao tôi từng bị bắt, chẳng may họ tra ra tôi có an thì xấu hổ lắm. Có cả một tạp chí thuộc sở công an liên hệ với tôi, họ tưởng tôi tốt nghiệp trường cảnh sát, mời tôi phụ trách chuyên đề, tôi tất nhiên là từ chối." Rồi Dư Tội xuất bản thành sách, một số hình cảnh trong đại đội hình sự thành phố lái xe mang theo đống sách tới nhờ tôi ký tên, họ nói "Cả đại đội hình sự là fan của anh, chúng tôi đi xin chữ ký thay cho họ."  Từ đó thường có cảnh sát tới tìm Thường Thư Hân trò chuyện, họ tham dự thảo luận tình tiết, còn hiến kế cho anh viết sách, cung cấp tư liệu vụ án, ví như họ nói, "anh bố trí cảnh hàm sai hết rồi, đó là hệ thống của Hong Kong, không phải Đại Lục chúng ta." Vì thế Lão Thường phát hiện sách của mình còn nhiều sai lầm, anh sửa lại không ít tình tiết trong truyện, Dư Tội anh sửa tới 5 lần, Hắc Oa sửa tới lần thứ 3, các truyện khác không có truyện nào anh đăng lên rồi thôi, mà rất chịu khó sửa lại truyện. Vụ án trộm trâu, buôn ma túy v..v..v trong Dư Tội đều là vụ án chân thực mà anh được những người bạn cảnh sát cung cấp tư liệu. Giống Dư Tội, Lão Thường là người sống có phần cô độc kín tiếng, anh không giống tác giả thời đại này, anh không tham gia quảng bá phim, không tổ chức buổi kỳ tên sách, thậm chí còn chẳng mở tài khoản công chúng giao lưu với fan. Bởi thế xung quanh anh, trừ vài người thân và những người bạn cảnh sát, chẳng ai biết được ông chú lôi thôi hay đi dép lê lang thang ngoài đường hay ngậm cọng cỏ hoặc phì phèo thuốc lá như người thất nghiệp lại là tác giả bán được hàng trăm vạn cuốn sách.  Có thể nói Lão Thường thuộc thế hệ cũ rồi, chỉ biết lặng lẽ viết truyện đăng truyện, dùng tác phẩm thay tiếng nói bản thân. Vì vậy tên tuổi anh không nổi tiếng như tác phẩm của anh, nhưng nhờ độc giả yêu thích truyền miệng, tới giờ tác phẩm của anh vẫn luôn được săn tìm. Vì chuyên tâm sáng tác, Thường Thư Hân trong thời gian sáng tác Hắc Oa đã chuyển về nhà cũ ở thôn quê gần thành phố, sống cuộc đời ẩn cư. Mỗi tối trong khói thuốc mịt mù, anh đánh máy đăng truyện, đêm ngủ tới lúc tự nhiên tỉnh, sau đó lên thành phố làm cơm cho vợ và con, cuộc sống thong dong thoải mái. Anh nói đùa anh sáng tác là nghề phụ, nghề chính là ông chồng nội trợ. Trừ đưa đón con, làm việc nhà thì anh đóng cửa đánh máy. sở thích nghiệp dư là xem tiểu thuyết, nghe nhạc, tản bộ, cùng người xung quanh đánh cờ, bốc phét với đám bạn cảnh sát. Vợ anh và con gái đang học cao trung năm thứ hai đều không đọc tiểu thuyết của anh. "Vợ tôi thích xem phim gia đình, không bao giờ xem phim cảnh sát. Con gái tôi à, nó thích xem phim Hàn, thích theo đuổi ngôi sao, nhưng sách của tôi thì nó chả ưa chút nào, tôi thấy ngôi sao duy nhất mà con gái tôi không theo đuổi, chính là tôi." Phóng viên kể, Lão Thường nói câu đó với giọng khoái trá lắm, rõ ràng rất đắc ý về cuộc đời mình.   Mời các bạn mượn đọc sách Dư Tội của tác giả Thường Thư Hân.