Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Hội Chợ Phù Hoa - William Makepeace Thackeray

William Makepeace Thackeray sinh ngày 18 tháng 7 năm 1811 tại Calcutta, Ấn Độ. Ông là con một viên chức của Công ty Ấn Độ, lãnh chức vụ tài phán ủy viên. Năm Thackeray lên 4 tuổi, cha ông từ trần, mẹ ông tái giá. Ông theo mẹ về nước Anh, được gửi theo học trong một trường tư thục ở Chiswich HamSơ. Lối giáo dục nghiệt ngã trong trường này khiến ông không chịu nổi, đã có lần ông phải bỏ trốn. Ta còn thấy dấu vết trường học này trong chương đầu cuốn Hội chợ phù hoa (Vanity Fair). Năm 18 tuổi, ông theo học luật khoa tại Đại học đường Cambridge, nhưng không tốt nghiệp. Ông tỏ ra có khuynh hướng châm biếm ngay từ hồi còn ít tuổi. Trong thời gian theo học tại trường đại học Cambridge, ông dành nhiều thì giờ cộng tác với những tờ báo trào phúng, thí dụ tờ Timbutoo, tờ Người học làm sang (The Snob) hơn là để trau dồi những kiến thức mà ông thấy vô ích. Rời nhà trường, ông chính thức bước vào làng văn với những bài báo và những truyện ngắn có tính chất châm biếm. Nhờ gia sản của cha để lại, được hưởng một món lợi tức đồng niên khá dồi dào, ông có điều kiện du lịch nhiều nơi tại Âu châu. Ông có sống tại Weima (Đức) một thời gian để tìm hiểu phong tục địa phương và nghiên cứu về thi hào Goethe. Rải rác trong tác phẩm của ông, ta còn thấy một số chi tiết miêu tả sinh hoạt của giới quý tộc Đức, thí dụ đoạn tả tiểu triều đình Pumpernickel trong Hội Chợ Phù Hoa. Ông cũng đã sống tại Paris một thời gian khá lâu để theo học nghề hội họa. Trong lĩnh vực văn học cũng như trong lĩnh vực mỹ thuật, sở trường của ông rất thống nhất: ông có biệt tài về loại tranh biếm họa, đã một thời sinh nhai về nghề này tại Paris. Cũng tự tay ông đã vẽ những “vi-nhét” và những tranh minh họa in kèm tác phẩm Hội chợ phù hoa lần xuất bản thứ nhất. Kết quả của những cuộc du lịch ấy là những tập ký sự có tính chất châm biếm như Tập ký họa thành Paris (The Paris Sketch Book, 1840), Tập ký họa xứ Ai len (The Irish Sketch Book, 1843)v.v… Hồi còn thanh niên, Thackeray sống một cuộc đời phong lưu, có dịp tiếp xúc nhiều với những người thuộc tầng lớp tư sản và quý tộc, nhân đó ông đã thu lượm được những tài liệu thực tế rất phong phú về cuộc sống vật chất và tinh thần của những hạng người này để đưa vào tác phẩm của mình. Người ta còn nói rằng vì vợ ông mắc bệnh loạn trí nên ông sinh ra chán đời, việc ấy có thể phần nào cũng ảnh hưởng tới cái nhìn bi quan của ông đối với cuộc sống, và khiến cho ngòi bút châm biếm của ông thêm chua chát, tàn nhẫn; tuy nhiên đó không phải là nguyên nhân chủ yếu. Thackeray sang Mỹ hai lần để diễn thuyết về văn học, đặc biệt là về vấn đề Những nhà văn trào phúng nước Anh thế kỷ thứ 18. Trở về nước, ông ứng cử vào Hạ Nghị viện, nhưng thất bại. Từ 1859 ông làm chủ bút một tờ báo lớn, tờ Tuần báo Cornhin (The Cornhill Magazine) được vài năm. Do làm việc quá nhiều, sức khỏe suy giảm, ông mất năm 1863 vì bệnh xung huyết não thọ 52 tuổi. Văn nghiệp của Thackeray có tính chất khá thuần nhất. Ông viết nhiều loại truyện, cả truyện nhi đồng và truyện lịch sử, nhưng hầu hết văn phẩm của ông đều có tính chất châm biếm, nhằm đả kích xã hội tư sản quý tộc Anh đương thời. Trong số ấy, nổi tiếng nhất là những tác phẩm Cuốn sách của các ông học làm sang (The Book of Snob); Hội Chợ Phù Hoa; Truyện Penđennix (Pendennis)… Những tác phẩm này đã gây ra một dư luận sôi nổi – người tán thưởng nhiều mà kẻ ghen ghét dĩ nhiên cũng lắm – và nâng ông lên hàng những tiểu thuyết gia hiện thực ưu tú nhất trên văn đàn nước Anh. Đó là những tác phẩm bộc lộ đầy đủ nhất bản sắc tư tưởng của tác giả. Tác phẩm đầu tiên rọi ánh sáng vinh quang vào cuộc đời sáng tác của ông là cuốn Truyện các ông học làm sang nước Anh do một người trong bọn kể lại (The Snobs of England by One of themselves) in năm 1846; tác phẩm này gồm những bài tiểu luận có tính chất luân lý và chính trị, nội dung nhằm đả kích một cách cay độc những cái rởm đời và thối nát trong xã hội và chính giới nước Anh đương thời. Năm sau, ông cho xuất bản cuốn Hội Chợ Phù Hoa. Năm 1848 ông lại cho in cuốn Pendennis. Ngay từ cuốn Truyện các ông học làm sang nước Anh do một người trong bọn kể lại… nhiều người đã tỏ ý bất bình vì những nét đen thẫm trên những bức tranh biếm họa của ông; tới khi cuốn Pendennis ra đời, thì sự khó chịu biến thành sự thù ghét, vì rất nhiều người thuộc các tầng lớp trên cảm thấy hình như tác giả muốn ám chỉ chính họ. Thackeray gặp khá nhiều khó khăn trong việc ấn hành những tác phẩm này. Hội Chợ Phù Hoa được coi là một kiệt tác của chủ nghĩa hiện thực trong văn học Anh thế kỷ 19; đó là một trong năm tác phẩm nổi tiếng nhất của văn học Anh-cát-lợi. Mới đầu cuốn truyện được mang tên là Những bức ký họa về xã hội nước Anh (Sketches of English Society) về sau tác giả đổi là Hội Chợ Phù Hoa; cái tên có tính chất tượng trưng này thích hợp với nội dung hơn vì bao hàm cả thái độ phủ định của Thackeray đối với xã hội đương thời. Lần ấn hành thứ nhất, ngoài bìa có ghi câu “Một cuốn truyện không có nhân vật tiêu biểu cho một hạng người, một thói xấu, hoặc một tầng lớp xã hội; toàn bộ tác phẩm là một bức tranh toàn cảnh miêu tả xã hội nước Anh đương thời, do đó các nhân vật có địa vị quan trọng như nhau, không phân biệt chính phụ”. Thật ra cuốn tiểu thuyết vẫn có những nhân vật chính, và một nhân vật trung tâm là Rebecca Sharp. Nội dung chủ yếu của Hội Chợ Phù Hoa xoay quanh việc “làm nên” của Rebecca, một thiếu nữ “con nhà hà tiện”, cha là một họa sĩ trác táng, mẹ là một vũ nữ người Pháp. Thiếu giáo dục từ nhỏ, nhưng nhờ có sắc đẹp, lại thông minh và tài hoa, từ chỗ bơ vơ côi cút, bị khinh rẻ, cô ta trở thành con dâu của gia đình Crawley, một gia đình quý tộc thôn quê. Dựa vào địa vị nhà chồng, và nhờ những mánh khóe xảo quyệt riêng, dần dần Rebecca len lỏi được vào giới thượng lưu quý tộc nước Anh và nước Pháp, trở thành một bậc mệnh phụ, danh vọng lẫy lừng, được triều kiến cả hoàng đế George đệ tứ. Song chính những thủ đoạn đê tiện Rebecca dùng để mưu danh lợi về sau đã làm hại cô ta; Rebecca ngoại tình với một hầu tước để lợi dụng y; việc vỡ lở; cô ta bị quẳng ra khỏi xã hội thượng lưu một cách tàn nhẫn. Cô gái sớm hư hỏng ấy trở lại cuộc đời tăm tối cũ; bị cái giới thượng lưu thanh cao một cách giả dối kia ruồng bỏ, càng ngày cô càng chìm sâu xuống vũng bùn trụy lạc. Khi đã luống tuổi, chán cảnh lăn lộn vô ích, Rebecca đành sống cuộc đời tầm thường như mọi người; và nhờ số tiền kiếm được một cách bất chính, Rebecca cũng được thiên hạ kính trọng như một người có đạo đức. Xen vào câu chuyện lên voi xuống chó của Rebecca là những mẩu phim linh hoạt trình bày cuộc sống và tâm lý của nhiều hạng người khác nhau thuộc giai cấp quý tộc, giai cấp tư sản, tầng lớp trung lưu trong xã hội nước Anh đương thời: gia đình ông Sedley, một người làm nghề buôn cổ phiếu, bị cuộc chiến tranh Napoléon làm cho phá sản, lâm vào cảnh khốn cùng, nhưng vẫn luyến tiếc thời kỳ còn ôm giấc mộng làm giàu, gia đình lão Osborne, nhà tư sản buôn sáp, với một nền luân lý đặc biệt của khu City thành Luân Đôn, lấy đồng tiền làm tiêu chuẩn, gia đình Crawley, một gia đình quý tộc lâu đời ở thôn quê với đủ những cái thối tha lục đục trong nội bộ, gia đình Gôn mà người cầm đầu là hầu tước Xtên, với mâu thuẫn trắng trợn giữa cái bề ngoài đầy uy thế của một nhà đại quý tộc và thực chất bất nhân phi nghĩa của một tên lưu manh… tất cả lồng vào câu chuyện tình vừa lãng mạn vừa tức cười của bộ ba Amelia, George Osborne, và Dobbin. Thế kỷ thứ 19, chế độ tư bản nước Anh đang trong giai đoạn phát triển cực thịnh; năm 1875, tính ra bốn phần năm dân số Anh sống về công nghiệp. Lợi nhuận bóc lột được của công nhân trong nước và vơ vét được tại các thuộc địa tạo điều kiện cho giai cấp tư sản và giai cấp quý tộc tư sản hóa sinh hoạt hết sức xa xỉ. Bề ngoài xã hội Anh đương thời có một bộ mặt phồn vinh; việc kinh doanh dễ đem lại những món lợi lớn; địa vị của giai cấp tư sản trong xã hội được nâng cao; sự cấu kết giữa giai cấp phong kiến và giai cấp tư sản càng chặt chẽ hơn. Giai cấp quý tộc đi vào con đường kinh doanh tư bản để thu lợi nhuận, hoặc liên kết với giai cấp tư sản để lấy tiền mạ vàng lại huy hiệu của dòng họ; ngược lại, giai cấp tư sản cũng muốn quý tộc hóa đồng tiền của mình bằng cách kết liên với giai cấp phong kiến, đồng thời đó cũng là một cách nhờ hơi hướng địa vị của giai cấp này nhằm bước vào lĩnh vực hoạt động chính trị dễ dàng hơn. Trong ngai vàng ngư trị xã hội, có hai thế lực cùng ngồi song song, là đồng tiền và danh vọng. Đó là hai thế lực có tác dụng nhào nặn tâm lý con người đúc theo một cái khuôn chung, và biến cuộc đời thành một cái chợ trong đó mọi thứ quan hệ đều có tính chất “tiền trao cháo múc”. Cuộc chạy đua theo đồng tiền và danh vọng lôi cuốn tất cả các tầng lớp từ bậc trung lưu trở lên. Tôn giáo bị giảm bớt hiệu lực, vì một nền luân lý mới có tính chất thực tiễn hơn đã hình thành: hạnh phúc tối cao của cuộc đời là có địa vị sang trọng và có thật nhiều tiền, vì thiên hạ đang xô nhau vào mà quỳ lụy, bợ đỡ, sợ hãi kính phục kẻ có của và có địa vị. Đạo đức và tài năng trở thành những thứ đồ cổ bị gạt ra bên lề cuộc sống, bởi lẽ trong một xã hội thương mại chỉ có hai thần tượng được người ta phụng thờ là đồng tiền và uy thế của dòng họ; kẻ có tài nhưng nghèo túng và xuất thân tăm tối của mình. Văn hào Stendhal[3] đã có một nhận xét lý thú: “Trí thông minh và thiên tài đặt chân lên nước Anh là mất ngay hai mươi lăm phần trăm giá trị”; ông muốn nói tới cái “Tinh thần chiết khấu” đặc biệt thương mại thấm nhuần trong mọi quan hệ của xã hội Anh. Một mặt khác, đời sống của quần chúng lao động rất cực khổ. Sau chiến tranh chống Napoleon (kết thúc năm 1815), nông thôn tiêu điều xơ xác vì giá lúa mì sụt kinh khủng đến nỗi nhiều nông dân đốt cả cối xay bột; đạo luật khoanh đất cướp ruộng vẫn tiếp tục thi hành; tầng lớp trung gian ở nông thôn giảm đi trông thấy; họ lũ lượt kéo ra thành thị và bị vô sản hóa, hoặc biến thành tá điền làm thuê cho địa chủ. Công nghiệp không dùng hết người, vì kỹ thuật phát triển đòi hỏi tương đối ít nhân công; lại thêm số binh lính quá đông không cần thiết trong thời bình trở thành một gánh nặng cho ngân sách; chính phủ quyết định thải hồi tất cả dân vệ. Do đó thành thị đầy dẫy những đoàn người thất nghiệp; nạn bần cùng lan tràn khắp nơi. Những mâu thuẫn xã hội trầm trọng đến mức sắp nổ ra những vụ bạo động lớn (thí dụ ngày 23-2-1820 sở mật vụ khám phá ra một cuộc âm mưu giết toàn bộ chính phủ, do Thistlewood cầm đầu, tức là: Vụ án phố Ca- tô Chính mâu thuẫn xã hội này giải thích sự phát triển đặc biệt của phong trào “Nghiệp đoàn” (Trade-Unions) và sự ra đời của tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng do Owen đề xướng (1833); về mặt văn học, nó là động lực thúc đẩy sự phát triển của khuynh hướng hiện thực manh nha từ thế kỷ 18, trở thành xu hướng văn học chủ yếu dưới triều đại Victôria thế kỷ 19. Hai đại diện ưu tú của văn học hiện thực thời kỳ này là Thackeray và Đickenx. Tuy cùng chung một thái độ phủ định đối với xã hội đương thời, nhưng đối tượng miêu tả của hai người khác nhau. Thackeray khác Dickens ở điểm ít quan tâm nêu những mâu thuẫn giữa các tầng lớp xã hội đối kháng, cũng như ít chú ý đến vào việc đả kích các tầng lớp thống trị, và có con mắt quan sát tâm lý thấu đáo hơn. Khuynh hướng trào phúng nảy nở trong văn học Anh từ giữa thế kỷ 18. Những người đại diện của khuynh hướng đó là Smolett và Jonathan Swift[4]. Đó là tiếng nói phản kháng lại những sự bất công trong xã hội; khuynh hướng ấy được kết tinh ở Thackeray. Ông đại diện cho tài năng chân chính bị miệt thị; trong tiếng cười cay độc của ông có phần nào sự phẫn nộ của quần chúng. Chủ nghĩa hiện thực ở Thackeray mang mầu sắc luân lý rõ rệt; ông muốn đứng trên quan điểm đạo đức mà soi mói cuộc đời và rút ra những bài học về cách xử thế. Chủ đề của Hội chợ phù hoa – như tên cuốn truyện cũng cho ta rõ một phần – là sự vô nghĩa, sự phù phiếm của cuộc đời, một tấn hài kịch lớn, trong đó mỗi con người sắm một vai trò mà không tự biết, hoặc một cảnh hội chợ hỗn tạp, trong đó chỉ toàn là những sự phô trương mua bán, và mọi thứ đều là những món hàng. Tác giả tự coi vừa là một anh hề sắm vai trò để mua vui cho thiên hạ, vừa là nhà đạo diễn cô lại hình ảnh của cuộc sống trong một màn kịch múa rối. Khuynh hướng vạch những nét “mặt trái đời” toát ra trong toàn bộ tác phẩm từ chương đầu đến chương cuối. Tác giả muốn rút ra một bài học luân lý; tác phẩm có tính chất như một bài ngụ ngôn dài. Tất cả những cái gì gọi là cao quý, tốt đẹp, mà thiên hạ hằng khao khát và thiết tha gắn bó, thực ra chỉ là những chuyện hết sức vô nghĩa, thí dụ như danh vọng, tiền tài, những cái vẫn gọi là những đức tính, và ngay cả những tình cảm thiêng liêng như tình cha con, tình bè bạn, tình vợ chồng… nhiều khi cũng chỉ là câu chuyện khôi hài. Dưới mắt tác giả, đạo đức vẫn khoác tấm áo thêu kim tuyến lộng lẫy như cũ, nhưng lật lên chỉ thấy những tình cảm đê tiện trần truồng: sự tính toán vị kỷ, lòng vụ lợi, thói giả nhân giả nghĩa, tính phô trương rởm đời, sự lường gạt kèn cựa. Mỗi nhân vật trong tác phẩm tiêu biểu cho một thói xấu, một giai cấp; mỗi người mỗi vẻ, nhưng tất cả đều mang trên mình con dấu chính của thời đại, tức là hình ảnh dục vọng hung hãn đè nén và tiêu diệt thiên lương; do đó con người ta ở đời không nên phí sức mà tranh danh đoạt lợi, hãy nên biết tiết chế dục vọng của mình. Nhà luân lý Thackeray đã nhìn xã hội nước Anh – đúng hơn là xã hội thượng lưu trưởng giả nước Anh – với con mắt rất bi quan, hoài nghi, nhưng không thờ ơ, trái lại hết sức soi mói; do đó những chi tiết nêu lên trong tác phẩm có một giá trị hiện thực lớn. Mũi nhọn đả kích của tác giả chĩa thẳng vào những tầng lớp đang chễm chệ ngồi trên cổ quần chúng lao động. Ngòi bút của ông tỏ ra không thương xót đối với giai cấp quý tộc. Khác với giới quý tộc Pháp bị phá sản sau cách mạng, chuyên sống bằng những thủ đoạn bịp bợm, giới quý tộc tư sản nước Anh vẫn giữ được hầu hết những đặc quyền; nhưng không phải vì vậy mà bản chất của chúng khác nhau. Sinh hoạt thối nát, tư cách đê tiện, mâu thuẫn giữa địa vị tôn quý và tâm lý xảo quyệt, bỉ ổi, bất nhân, đó là những nét đặc trưng của giai cấp quý tộc Anh từ nhỏ đến lớn, được nêu bật qua hai nhân vật điển hình là tôn ông Pitt Crawley và hầu tước Xtên. Tôn ông Pitt Crawley đại diện cho tầng lớp quý tộc thôn quê, chúa đất một vùng, nghị sĩ quốc hội, lãnh chức vụ “bảo an đại quan”[5] một quận; lão bóc lột nông dân tàn nhẫn đến mức hầu hết tá điền trong trang trại của lão đều bị phá sản. Lão lại có thói keo cú bủn xỉn: Ở trại, lão khoác bộ áo đài các của ông chúa một vùng, nhưng hễ ra tỉnh là nơi không ai biết mặt biết tên, lão ăn ở bần tiện đến bẩn thỉu: chia đôi củ hành rán với người ở, đòi lại từng xu lẻ tiền tiêu vặt… Nhà nghị sĩ quốc hội ấy có cái đức không thèm đọc thông viết thạo; là đại diện cho dân nhưng lão chỉ thích những chuyện bắt người, đánh người. Lạc thú duy nhất của lão trên đời là rượu, đàn bà và kiện tụng. Con người lấy vật dục làm lẽ sống ấy, hoàn toàn vô tín ngưỡng, coi em ruột như quân thù, đánh vợ như bổ củi, không hề biết giáo dục con cái là gì. Càng già lão càng trác táng một cách trắng trợn; mảnh áo sĩ diện đã rách nát, lúc gần kề miệng lỗ, lão lột vứt bỏ nốt. Tác giả đã phải phẫn nỗ kêu lên: “Hội chợ phù hoa!… Tại đây có một thằng đọc không thông, cũng không chịu tập đọc… có những thói quen và tính xảo quyệt của một thằng biển lận, suốt đời chỉ có một lẽ sống là đi lừa vặt thiên hạ, chỉ biết những sở thích, những tình cảm, những thú vui bần tiện bẩn thỉu; vậy mà không rõ tại sao hắn có đủ cả địa vị, danh vọng và quyền lực, lại là một bậc tai mắt trong xứ, một cây cột trụ của nhà nước!… Trong Hội chợ phù hoa, hắn chiếm một địa vị cao hơn cả những tài năng lỗi lạc nhất hoặc những người đạo đức trong sạch nhất”. Tác giả trình bày cho ta rõ nguyên nhân gây ra tất cả những sự sa đọa của tôn ông Pitt là sự giàu có thái quá. Chính cái sản nghiệp đồ sộ đã đẩy lão tới thói biển lận và sự trác táng. Lại cũng chính sự giàu có cung cấp cho lão đủ mọi thứ khoái lạc vật chất trên đời, cho nên lão không thiết gì đến tôn giáo, mà cũng không thể vươn tới tín ngưỡng được như Chúa trời đã nói: “Kẻ giàu có muốn lên thiên đường, khó như con lạc đà chui qua lỗ kim”. Đó cũng là nguyên nhân gây ra mối mâu thuẫn đặc biệt giữa lão và ông em trai là mục sư Biutơ Crawley. Suốt đời lão đã tự ý bóp nghẹt tất cả những tình cảm cao quý để thay vào bằng những dục vọng hạ cấp; nhưng đến khi bị thần bệnh làm tê liệt thân thể, bất lực không còn hưởng thụ được nữa, lão mới cảm thấy một sự trống trải ghê gớm xâm chiếm tâm hồn; ấy là lúc phần con người của lão sống lại: lão bám lấy người con dâu dịu dàng hiền hậu để cố sống lấy một chút tình cảm đẹp đẽ trước khi từ giã cõi trần, như một kẻ suốt đời làm ác, lúc hấp hối mới thoáng có một phút ăn năn thành thực. Nếu Pitt Crawley tiêu biểu cho hạng quý tộc thôn quê ngu dốt, tục tằn và bần tiện, thì hầu tước Xtên tiêu biểu cho giới đại quý tộc ở triều đình, danh vọng to, quyền thế lớn, nhưng cũng sa đọa một cách lịch sự hơn, có học thức, tế nhị và thông minh, nhưng cũng xảo quyệt và tàn nhẫn hơn. Lão là trụ cột của triều đình, tiền nhiều của nhiều, mà nói đến những dục vọng đê tiện thì cũng không ai bằng lão. Lão vớ được tước hầu trong một canh bạc, lấy thế lực và tiền tài để mua dư luận báo chí, chuyên dùng bả vinh hoa để quyến rũ đàn bà con gái và căn cứ vào kinh nghiệm của mình, coi rẻ nhân phẩm của tất cả những ông chồng có vợ đẹp. Đúng tư cách một nhà quý tộc, lão thù ghét con trai cả, vì hắn là kẻ đang nhòm ngó địa vị hầu tước thế tập và cái gia tài kếch xù của lão. Trước mặt thiên hạ, lão là một nhân vật thượng lưu kiểu mẫu, được giới quý tộc coi là “khuôn vàng thước ngọc” cho cách ăn ở, nhưng trong gia đình, đối với vợ con, lão là “một tên bạo chúa” lão bắt vợ ngồi ăn với bọn đĩ rạc, buộc vợ phải tiếp nhân tình của lão thật lịch sự, diếc móc con dâu một cách thô bỉ tàn tệ; trong cái gia đình tôn quý ấy lại cũng có cảnh “ông ăn chả, bà ăn nem”. Lão không từ cả thủ đoạn cho tay sai giam người chồng lại, để tự do với vợ người ta, và khi bị làm nhục thì phái người đi dàn xếp và bảo vệ danh dự bằng cách chuồn ra nước ngoài?… Hầu tước Xtên thuộc loại người quá nhiều tiền bạc và thế lực, sống chỉ cốt thu hết hương nhụy của cuộc đời; lão là con đẻ của một chế độ tất yếu sản sinh ra những tên bạo chúa. Tác giả đã nêu lên một nét tâm lý đặc sắc của hạng người này là cuộc sống sa đọa đã làm cho con người của chúng biến tính: quen được cuộc đời chiều chuộng quá đầy đủ, chính hầu tước Xtên đâm ra chán ngấy tất cả những lạc thú vật dục nhưng vẫn lao theo những lạc thú ấy do thói quen không cưỡng được như một người trên cái dốc trơn tuột. Lão khuyên Rebecca, nhân tình của lão rằng: “Gặm cỏ tươi ngoài đồng nội lại ngon hơn xơi cỏ khô trong chuồng”, nhưng lão vẫn cứ dùng “mớ cỏ khô lão đã ngấy để làm mồi dử những con bò non ngờ nghệch”; thì ra xã hội thượng lưu đã tạo cho lão thói sáng suốt trong sự phạm tội. Mặt khác, quen chà đạp và làm hư hỏng người khác, dần dần lão thù ghét và khinh bỉ hết thẩy mọi người, và trong tâm hồn lão, những tình cảm tốt đẹp cũng hoàn toàn tê liệt. Lão chỉ có cảm tình với hạng người tồi tệ, phản bội! Lão yêu Rebecca không những vì dục tình, mà còn vì cô ta là hiện thân của người đàn bà lý tưởng xứng đáng với lão. Rebecca cũng có những dục vọng mãnh liệt, cũng thông minh song xảo quyệt, cũng vô tình, vô nghĩa và dám liều lĩnh không kém gì lão. Cho nên chỉ có một lần hầu tước Xtên say sưa hào hứng, tức là lần xem Rebecca đóng vai kịch Clytemnet giết chồng như thật; có thể nói buổi tối hôm ấy lão mới yêu Rebecca thật sự. Một đặc điểm thống nhất giữa Xtên và Pitt Crawley là thái độ vô tín ngưỡng. Pitt vì ngu dốt không hiểu được tôn giáo, và cũng vì không cần tới tôn giáo nên coi rẻ; nhưng Xtên thông minh, có học mà cũng không thiết gì đến Chúa trời. Hắn nuôi hai tu sĩ trong nhà, một mục sư Anh quốc giáo, một linh mục Gia-tô giáo chính thống, để thỉnh thoảng khích bác họ cãi lộn nhau mua vui. Tinh thần vụ lợi của thời đại đã hạ thấp vai trò tín ngưỡng xuống thành một vật trang sức, Xtên là một quan lớn còn cần tới nó phần nào để che mắt thế gian, nhưng Pitt không cần thì vứt xó. Đúng như văn hào Voltaire[6] đã nhận xét: “Điểm khác nhau giữa phái Whig và phái Tory[7] là “phái Wich thì không có tín ngưỡng mà phái Tory thì chỉ có một tí”. Hình ảnh Pitt Crawley (con trai) minh họa cho nhận định này: hắn làm ra vẻ mộ đạo để được lòng mẹ vợ, nhưng hắn cũng sẵn sàng nhảy từ Gia-tô giáo chính thống sang Anh quốc giáo để dễ mưu địa vị trong chính giới, và Pitt là một tay Tory chính cống. Tóm lại, tàn nhẫn, bất nhân, sa đọa, hèn nhát, vô tình vô nghĩa và vô tín ngưỡng… đó là hình ảnh trung thực của giới quý tộc Anh đang phá sản về mặt tinh thần. Đáng tức cười hơn nữa là những nhân vật thượng lưu quý phái ấy vẫn cứ “thành thực” tưởng mình là cao quý hơn người. Chúng tin tưởng vào giá trị của “dòng máu xanh” mang trong người, khinh miệt tất cả các tầng lớp xã hội khác. Chúng bám lấy giai cấp tư sản để làm tiền, nhưng vẫn có thái độ rẻ rúng. Trong khi ấy bọn con cái nhà tư sản lại ra sức leo lên địa vị quý tộc để rồi quay lại miệt thị ngay chính giai cấp mình. Thể hiện những nhân vật vẫn được coi là hạng người tôn quý với những nét tâm lý trên, Thackeray đại diện cho quần chúng muốn phá bỏ cái uy thế đã mọt ruỗng của một giai cấp vẫn cố níu lấy địa vị thống trị xã hội, và đòi tiêu biểu cho cả một dân tộc. Việc làm này của ông hoàn toàn có ý thức; trong Cuốn sách của các ông học làm sang nước Anh, Thackeray có viết: “Bậc thang giai cấp và những sự phân biệt chỉ là một luận điệu lừa bịp, phải đem quẳng nó vào lửa mà đốt. Sắp xếp chỗ ngồi theo thứ bực địa vị, đó là việc của các ông phụ trách nghi thức nào biết tổ chức sự bình đẳng”. Đối với nhà vua, tác giả cũng không nể nang hơn mấy tí. Hãy xem ông miêu tả hoàng đế Georgeđệ tứ ngự xem kịch tại rạp Opera: “Thì người ngồi kia… mặt mũi phương phi rạng rỡ, thân hình thật phì nộn, khắp người la liệt huy chương, mớ tóc giả rậm rạp xoăn tít. Phải, chúng mình đã được chiêm ngưỡng dung nhan của Người. Số mệnh cũng không cướp được của chúng mình kỷ niệm ấy đi… chúng mình có thể khoe với con cháu mà không sợ quá lời rằng đã từng được nhìn mặt hoàng đế George đại từ đại bi, hoàng đế George chí tôn, hoàng đế George vĩ đại”. Lời lẽ kín đáo tưởng như ca tụng, nhưng ý tứ châm biếm tưởng cũng rõ ràng, vì con người thực của George đệ tứ là một kẻ trác táng, mê đánh bạc, công nợ ngập mặt, dối trá và bất hiếu. Sở dĩ ông chưa hạ nhà vua xuống xếp ngang hàng cùng hầu tước Xtên khi đả kích, có lẽ vì ông còn muốn cho tác phẩm được ra mắt công chúng. Đối với giai cấp tư sản, ông cũng tỏ ra không thương xót. Nhân vật đại diện cho giai cấp này là lão Osborne, chủ một hãng buôn sáp lớn ở khu City. Vận mệnh và tâm lý nhân vật này phản ánh rất đúng những đặc điểm của giai cấp tư sản. Xuất thân là một người nghèo, ít học nhờ khôn ngoan và tàn nhẫn, lão leo lên địa vị một đại thương gia, và khi đó tính tình cũng thay đổi theo sự sinh hoạt. Suốt đời chạy theo đồng tiền, lão cam chịu cho đồng tiền chi phối cả tư tưởng và hành động của mình. Lão không ngần ngại trả ơn ân nhân cũ bằng sự vu cáo, sự phản bội, khi tình bạn ấy không còn có lợi gì nữa. Lão tàn nhẫn phá hoại mối lương duyên của con trai, vì bên thông gia đã bị phá sản không còn xứng đáng là chỗ “môn đăng hộ đối”; lão yêu quý đứa con trai độc nhất như vàng, nhưng cũng sẵn sàng từ bỏ và coi con mình như kẻ thù chỉ vì anh ta dám cưỡng lại ý lão, không chịu lấy một cô gái lai da đen triệu phú làm vợ. Về sau, tiếc quá, lão lại đích thân ngỏ lời cầu hôn cho chính mình! Niềm kiêu hãnh duy nhất của lão là sự giàu có; ước vọng duy nhất của lão là được thấy con trai nhờ tiền, nhờ vợ, len lỏi được vào hàng quý tộc, vì đã có “lợi”, lão chỉ còn thiếu có “danh”. Nếu sau này, lão có ý tha thứ cho con trai và đem đứa cháu nội về nuôi, thì một phần vì bản chất con người trong lão chưa tắt hẳn, nhưng chủ yếu là vì đứa trẻ có vẻ mặt dáng điệu của con nhà quý tộc, hứa hẹn rất nhiều sẽ thỏa mãn nguyện vọng của ông nội. Chính sự giằng co gay gắt giữa tình cảm cha con và lòng ham danh lợi trong người lão lại càng cho ta rõ hơn tác dụng phá hoại của đồng tiền đối với bản chất tốt đẹp của con người. Trong xã hội tư bản, những tình cảm thiêng liêng nhất cũng có thể trở thành những món hàng; có thể lấy nhân vật Bơlôc, con rể lão Osborne làm thí dụ. Trước khi lấy vợ, hắn đắn đo cẩn thận, mặc cả rạch ròi về món tiền hồi môn, thận trọng như một thương gia khi hùn vốn vào một công ty. Trước những tai họa xảy đến cho gia đình nhà vợ, hắn có một thái độ điển hình cho “tâm lý lạnh lẽo giá băng của đồng tiền”: hắn coi việc George Osborne bị bố từ là một dịp để kiếm thêm vạn đồng bảng Anh trong phần gia tài của vợ, và khi hay tin bố vợ chết, câu nói đầu tiên của hắn là: “Ông cụ để lại cho thằng bé bao nhiêu tiền đấy hả?… Nhất định không phải là một nửa gia tài chứ? Phải chia làm ba phần đều nhau, dứt khoát thế!” Tóm lại, qua tác phẩm, cái thế lực hung hãn và cái bản chất vô tình vô nghĩa của đồng tiền đã được minh họa bằng những nét đen thẫm. Trong xã hội cũ, loại người to tiếng nhất dạy luân lý cho người ta là mấy vị tu sĩ. Nhưng trong Hội chợ phù hoa, ông mục sư Biutơ Crawley đã không xứng đáng đại diện cho giới mình chút nào. Ông ta đi chơi suốt đêm thứ bẩy sáng sớm chủ nhật mới hối hả mò về nhà thờ giảng đạo; bài thuyết giáo thường do bà vợ soạn sẵn hộ, ông ta cứ lên bục giảng mà không cần hiểu ý nghĩa ra sao. Ông thuộc loại tu sĩ sành thể thao, ham tiệc tùng hơn việc Chúa: đức cha rất thánh lại có đầy đủ những thói xấu của con chiên vẫn được ngài thuyết giáo hàng tuần, nghĩa là tham ăn tục uống, hám lợi, đạo đức giả và thô bỉ. Giáo điều đã mất cả hiệu lực ngay cả đối với những kẻ tự nhận là thay mặt Chúa trời. Lại có thể dẫn thêm một thí dụ khác là ngài “tiến sĩ thần học” bị giam cùng Rawdon vì tội quỵt nợ. Những chi tiết trên rút từ thực tế hàng ngày của giới tu sĩ Anh quốc đương thời. Hồi ấy, giới tu sĩ nước Anh chia làm hai tầng lớp; lớp tu sĩ cao cấp sinh hoạt rất xa xỉ, chuyên việc săn sóc linh hồn cho bọn quý tộc và tư sản lớn, hoàn việc săn sóc linh hồn cho bọn quý tộc và tư sản lớn, hoàn toàn cách biệt với người dân thường; còn tầng lớp mục sư ở nông thôn thì lại quá thiếu thốn, quanh năm lo chuyện ăn mặc và kiếm thêm tiền để dành, nhiều hơn là lo việc Chúa. Cả hai loại giống nhau ở một điểm là coi việc đi tu như một nghề để kiếm miếng sinh nhai. Henry Prentout, sử gia người Pháp, miêu tả họ như sau: “Đó là loại thầy tu giao tế, không hiểu biết mấy về giới thượng lưu chân chính và những phong tục đẹp đẽ, được anh chức sau một cuộc sát hạch qua loa, và chỉ được cung cấp một số vốn liếng kiến thức hết sức sơ sài về thần học trong các trường đại học. Có lợi nhuận kha khá… lấy vợ có của… mang đủ các đức tính cũng như thói xấu của các nhà quý tộc trang chủ, ham săn cầy cáo, thích uống rượu mạnh… quanh năm chỉ hành lễ chừng bốn lần nhân những ngày hội lớn, và nhiều khi cũng hành lễ qua loa tắc trách với một thái độ không đứng đắn lắm”[8]. Cũng theo Prentout, nhiều người vì túng thiếu, lấy cả chị hầu phòng làm vợ để nhờ vả vốn liếng; trong Hội chợ phù hoa cũng có nhắc đến sự thực tức cười này. Vậy thì Biutơ Crawley chưa phải là một hình ảnh phóng đại. Ta không lạ khi thấy tác phẩm vừa xuất bản được một phần, đã bị nhao nhao phản đối, vì Thackeray đã cầy tung cả nền móng tinh thần của xã hội Anh đương thời, là tín ngưỡng và sự tôn trọng giai cấp quý tộc. Nhân vật được tác giả khắc gọt công phu hơn cả chính là Rebecca Sharp, vai trò chính của vở kịch múa rối. Nhân vật này đại diện cho thói xấu chung của người đời: lòng ham danh lợi. Xã hội phong kiến tư sản đã để lại những vết hoen ố trong tâm lý của tất cả mọi người hút thở cái không khí vẩn đục của nó. Tác giả muốn cho thấy con người ta không có một cơ sở đạo đức vững vàng, khi bị lôi cuốn vào cơn lốc của dục vọng, thì bị sa đọa ghê gớm đến thế nào. Thiếu giáo dục từ nhỏ, sớm hư hỏng trong một môi trường vẩn đục, Rebecca đã lấy ngay nhan sắc và những tình cảm đẹp đẽ thiêng liêng nhất ra buôn bán, đánh đổi lấy tiền bạc và danh vọng. Mới mười bảy tuổi, vừa chân ướt chân ráo bước vào gia đình một cô bạn đã tỏ ra rộng lượng che chở cho mình, Rebecca đã trắng trợn “mồi chài” người anh cô bạn vì biết anh ta lắm tiền: thói hám lợi đã làm thui chột mất tính e lệ bẩm sinh của người con gái mới lớn. Đối với Rebecca, lấy chồng không phải vì tình, cũng không phải vì dục, mà cốt để làm một bậc thang leo lên địa vị cao sang, cho nên lấy lão Pitt Crawley đã ngoài bảy mươi, hoặc lấy Rawdon là con trai lão, đối với cô ta không khác gì nhau. Trong đời, chỉ có một lần cô ta rỏ những giọt nước mắt thành thực duy nhất, ấy là khi lão Pít ưa “chơi trống bỏi” tỏ tình với cô ta quá muộn, khi cô ta đã trót ăn ở với Rawdon rồi. Rebecca lợi dụng mọi cơ hội mang ngay cái vốn sắc đẹp và sự thông minh của mình ra đặt lãi: cô ta tán tỉnh Joe Sedley, chiều chuộng lão Pitt, ve vãn Rawdon, mơn trớn ông anh chồng, đóng kịch với bạn chồng để xin tiền, õng ẹo với hầu tước Xtên để bòn xu, và dĩ nhiên phải đi đến kết quả là ngoại tình, đánh đổi tiết hạnh lấy tấm giấy một nghìn đồng. Tính toán và lừa dối, đó là nguyên tắc xử thế của người đàn bà xảo trá này; Rebecca sẵn sàng chà đạp lên tất cả những cái gì cao quý thiêng liêng nhất để đi đến thành công. Ở Rebecca, hầu như không có sự giằng co giữa cái thiện với cái ác, vì cơn bão táp của vật dục quá dữ dội, ngọn lửa le lói của lương tâm vừa lóe lên đã tắt phụt rồi. Cái tiết hạnh trước kia vẫn nâng niu để mang trao đổi dè sẻn và giấu giếm với giá đắt, sau khi bị thất bại thảm hại, Rebecca sẵn sàng đem ra công khai “bán phá giá” cho bất cứ hạng người nào, điều đó ta cũng dễ hiểu, vì nó đã thành một món hàng hết được tín nhiệm. Tác giả vẽ Rebecca với những nét tàn nhẫn như thế, cốt gây một sự ghê tởm đối với con người là hiện thân của lòng ham danh lợi, và qua đó, cho ta thấy hết cái vô nghĩa, cái tác dụng phá hoại của nó. Những thủ đoạn ô uế Rebecca dùng để tiến thủ trong đời đã nhấn nhân phẩm của cô ta sa xuống hố trụy lạc, người đọc mới thấy ghê tởm. Thackeray muốn cho rằng con người xấu xa là do tính bẩm sinh, nhưng khi thể hiện qua hình tượng, ta thấy rõ ràng thói phù hoa đã gạn chơi hết những phần tốt đẹp trong con người của Rebecca, chỉ còn để lại phần cặn đục ngầu. Nhảy múa xung quanh Rebecca là một số nhân vật khác, được xây dựng để nêu bật ý nghĩa sau: xã hội quý tộc đẻ ra sự kiêu ngạo, sự xảo quyệt; xã hội thương mại đẻ ra tính tham lam, thói vị kỷ; những thói xấu ấy thấm vào từng thớ thịt mọi hạng người, khiến cho cha con, anh em thù hằn nhau, chị em khinh rẻ ghen ghét nhau, vợ chồng lừa dối nhau, khiến cho ngay trong nhà trường, những đứa trẻ đang tuổi trong trắng cũng đã tiêm nhiễm thói phân biệt đẳng cấp… Chỗ nào ta cũng thấy bàn tay của sự tính toán xen vào, nó tự do cắt đứt hoặc nối lại mối dây ràng buộc mọi thứ tình cảm. Thói giả nhân giả nghĩa mặc áo đội mũ ngang nhiên đi lại giữa cuộc đời; người ta mặc cả tình nghĩa, mua bán tiếng tăm, thay đổi quan điểm tôn giáo như thay áo để mưu lợi. Tóm lại, cá nhân chủ nghĩa đã thống trị xã hội với những biểu hiện trắng trợn nhất của nó. Với tính chất là một nhà tiểu thuyết miêu tả phong tục, Thackeray còn trình bày cho ta nhiều mẫu người đặc biệt khác của thời đại. Rebecca còn tiêu biểu cho loại đàn bà xảo quyệt đầy dục vọng thấp hèn, đem tai họa cho bất cứ người nào bị cô ta bấu lấy trong đời. Joe Sedley là hình ảnh con người có bản chất tốt song ngốc nghếch và tự mãn, sống ngơ ngác giữa cuộc đời để bị chết chẹt giữa cái xô bồ hỗn độn của mọi sự tranh giành trong cuộc sống; Rawdon thuộc loại quý tộc lưu manh, sống bằng sự lừa bịp thiên hạ, lường gạt cả đầy tớ; George Osborne đại diện cho các cậu công tử bột “giẻ cùi tốt mã” con nhà tư sản quen thói “bốc trời”; Wenham và Wage là hình ảnh của loại nghị sĩ và trí thức đầy dẫy trong xã hội tư sản, đánh đĩ ngòi bút, ca tụng bọn đĩ rạc được bọn quý tộc che chở, bán rẻ nhân phẩm đến mức làm ma cô cho bọn quyền thế để kiếm miếng sinh nhai nhưng vẫn vênh váo với đời… Với con mắt quan sát tinh tế, tác giả lách mũi dao giải phẫu của mình vào tâm lý nhiều hạng người, làm bật ra những nét đặc sắc, khám phá, và nói chung rất tức cười: bà Biutơ săn chồng cho con gái một cách tội nghiệp; bà thiếu tá O’Dowd khoe khoang hợm hĩnh; bá tước phu nhân Xaođao mắc bệnh cứ muốn thống trị hết thảy thiên hạ, cái bệnh khá thông thường của giới phụ nữ; cô Jane Osborne và cô Glorvina lâm vào cảnh “chổng mông mà gào” vì khát chồng; bà quý tộc già Crawley trái tật trái chứng với tư tưởng dân chủ và cách mạng giả hiệu; bà giáo Pinkerton dốt nát nhưng kiêu căng: thói ngồi lê đôi mách của bọn phụ nữ ăn không ngồi rồi v.v… Những nét tâm lý này được trình bày như những thói xấu của con người “muôn thuở”, nhưng xét cho cùng thì đều gắn liền với bản chất của xã hội phong kiến tư sản. Những bóng đen lờ mờ nhảy múa xung quanh cái thần tượng danh lợi ấy được ngòi bút biếm họa của tác giả tô đậm thêm với những nét sắc sảo. Tác giả còn miêu tả phong tục của giới thượng lưu nước Anh, đặc biệt nêu bật cái tẻ nhạt, trống rỗng trong sinh hoạt của họ: những buổi tiếp tân long trọng trong đó người ta – nhất là phụ nữ – tìm mọi dịp gièm pha bới móc lẫn nhau một cách lịch sự, những buổi diễn kịch đố chữ vô vị, thói ham bài bạc, mê săn bắn – săn cầy cáo, và săn cả chuột – thói hay đánh cuộc cả về tình cảm cha con, những chuyện chim chuột lẫn nhau v.v… Tóm lại đó là sinh hoạt của một loại người thừa tiền của và thì giờ, rất giầu có về mặt vật chất, song lại rất nghèo nàn về mặt tinh thần. Họ không có một mục đích cao đẹp gì trong cuộc sống; có một món lợi tức đồng niên kha khá, được tiếp một vị khách sang trọng, được nêu tên trên mặt báo trong một buổi tiếp tân có tiếng, được vào triều kiến trong Hoàng cung, đối với họ là hạnh phúc tối cao của cuộc đời. Thackeray bới vạch cho ta thấy mọi thứ rễ cái, rễ con của thói phù hoa ăn sâu vào mọi ngõ ngách của tình cảm con người một cách hết sức tài tình. Có thể so sánh nhiều đoạn văn trong Hội chợ phù hoa với những trang trong tác phẩm Nhân vật (Les Caractères) của La Bruyere[9]: cũng những bức chân dung biếm họa tài tình, cũng những lời phẩm bình lạnh lùng mà cay độc, và cũng những nhận xét có giá trị như những câu cách ngôn. Viết về Thackeray, nhà phê bình người Pháp Hypôlit Taine có câu: “Để phục vụ cho mục đích châm biếm, Thackeray đã dựa vào một lương tri cao quý, một sự hiểu biết thấu đáo về tâm lý người đời, một ngòi bút khéo léo tuyệt vời, một sự suy luận vững vàng, một thái độ căm thù sâu sắc và ông đã tiêu diệt thói xấu của người đời bằng đủ mọi thứ vũ khí của sự suy tưởng”[10]. Có thể chắc chắn rằng Thackeray chịu nhiều ảnh hưởng của La Bruyere; nhưng ông khác nhà văn Pháp ở điểm chưa có ý thức rõ ràng khi đứng về phía quần chúng để đả kích giai cấp thống trị[11]. Thackeray ít miêu tả những nhân vật thuộc tầng lớp bình dân, có lẽ vì họ không phải là đối tượng miêu tả trong một cuốn truyện mà cảm hứng chủ đạo là thái độ công phẫn trước những sự thật đen tối xấu xa trong cuộc đời. Tuy nhiên, mỗi khi nhắc đến họ, ông Clap, bà Brigơ, người vú nuôi thằng bé Râuđy, bác Ragơnx, đều là những người có tâm địa tốt; họ sẵn sàng giúp đỡ người khác, tỏ ra có tình, có nghĩa, và nhiều khi vì vậy mà chui vào cạm bẫy của các ông bà thượng lưu. Tác giả cho ta thấy trong quan hệ với các vị tai mặt, họ luôn luôn chịu lép vế, thiệt thòi, nhưng tác giả chưa trình bày đầy đủ cảnh sống khổ cực của họ, mặc dầu ông tỏ ra công phẫn trước cảnh giầu nghèo chênh lệch trong xã hội: “Nhưng cũng phải thấy rằng tại sao có người thì lại lụa là gấm vóc, trong khi khối kẻ phải đeo khố tải, chỉ có con chó thương xót cảnh ngộ của họ? Đó cũng là một điều bí mật nhiều khi không giải thích nổi”. Đứng trên quan điểm đạo đức, Thackeray thù ghét chế độ phong kiến và tư sản, vì nó làm cho con người sa đọa nhiều hơn là vì nó áp bức các tầng lớp nhân dân lao động; đó cũng là một điểm hạn chế trong tư tưởng của ông. Trong khi ông miêu tả những nhân vật bình dân, thấp thoáng còn xen lẫn vài nét giễu cợt nhẹ nhàng, do khuynh hướng hài hước cố hữu hơn là do thái độ đả kích cố ý. Riêng đối với giới “cơm thầy cơm cô”, Thackeray tỏ ra đặc biệt nghiêm khắc, điều này có lẽ không phải lỗi hoàn toàn ở tác giả. Nhưng Thackeray không chỉ làm một công việc hoàn toàn có tính chất phá hoại. Trong nhiều đoạn văn đầy nhiệt tình, ông ca tụng những tình cảm cao quý như tình cha con, tình mẹ con, tình bè bạn, lòng chung thủy v.v… Đứng trước cảnh đời xấu xa, ông chưa mất hết lòng tin đối với bản chất tốt đẹp của con người. Điều này được chứng minh qua việc xây dựng hai nhân vật Amelia và Dobbin. Hai nhân vật này có tính chất lý tưởng, khuôn theo ước vọng của tác giả nhiều hơn là dựa vào sự quan sát thực tế. Amelia được tác giả nâng niu hơn cả: cô ta không đẹp lộng lẫy, không thông minh tài giỏi lắm, nhưng thùy mỵ, trung hậu trong trắng, hấp dẫn đàn ông ở chỗ yếu đuối, như luôn luôn muốn được che chở; đó là loại đàn bà lý tưởng của những người muốn có một gia đình ấm cúng bình thường. Dobbin là người có lòng vị tha, tính tình cao thượng, giầu đức hi sinh, thẳng thắn mà tế nhị, bề ngoài mộc mạc vụng về mà thật ra rất giàu tình cảm. Tâm lý của hai nhân vật chính diện duy nhất này đều có những nét lãng mạn vượt quá sự thực, thể hiện sự phản ứng của tác giả đối với những mẫu người đàn ông và đàn bà xấu xa, đầy dẫy trong xã hội đương thời. Sự trong sạch của họ nổi bật trên cái nền đen tối của tác phẩm, nó biểu hiện những ước vọng thầm kín của Thackeray; ông muốn truyền bá một thứ luân lý lấy “thiện tâm” làm gốc, như chính ông đã nói trong Cuốn sách của các ông học hàm sang: khôi hài là việc tốt, sự thực là điều hay hơn, nhưng Tình yêu mới thật là quý hơn cả. Tuy nhiên

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Ân Sủng Của Đời
"Ân sủng của đời" là một trong những tiểu thuyết mới nhất của Daniel, trong đó, tác giả tiếp tục gây ấn tượng với lối viết vừa hài hước vừa ý nhị, duyên dáng. Thông qua câu chuyện về nhân vật chính Geri, tác giả viết về tình cảm cha - con, thể hiện trách nhiệm của Geri với cậu con trai 14 tuổi của mình, cũng như bàn về vai trò của người làm báo trong thế giới đương đại vô vàn áp lực. Mượn góc nhìn của Geri, những vấn đề xã hội như: nhập cư trái phép, tị nạn, thất nghiệp, đói nghèo... được Daniel Glattauer đề cập tới bằng ngòi bút gây cười, cái cười giúp người ta hiểu có thể tiếp cận những vấn đề nóng trong xã hội theo nhiều cách khác nhau. *** Kệ tôi có được không Đời ? (đọc tiếp...) Đời: không :]]] Mình chưa bao giờ có ý niệm về văn học Áo sẽ như thế nào. Rồi lại tình cờ phát hiện ra một trong những cuốn sách hiếm hoi ở Việt Nam đến từ một tác giả Áo. Đây đúng là “ân sủng của đời” ! ---------------------- ????Geri, 43 tuổi, nhà báo hạng "xoàng" viết cho tờ báo lá cải Everyday, một kẻ thất bại. Mà chính ông còn nhận mình là như vậy nữa chứ. Cuộc đời ông lộn xộn như cái căn hộ bừa bộn mà thứ luôn đầy đủ là bia, cuộc sống chỉ xung quanh bia rượu. Mới đầu mình nghĩ? Nhân vật chính cái kiểu gì thế này ? Nhưng cuộc đời đã cho ông một cơ hội để tìm lại con người của mình. Từ một thất bại đến người quan trọng. Tất cả bắt đầu từ những "của nợ" "rơi" từ đâu xuống. Đứa con bất ngờ Manuel(trái ngược hoàn toàn với ông bố rơi- một học sinh được nhiều bạn bè yêu quý, học sinh xuất sắc) đến và thức tỉnh những giá trị tốt đẹp của Geri. Đừng đùa với anh???? Đột nhiên, những bài báo về những hoàn cảnh khó khăn của Geri lại được một nhà hảo tâm để ý. Những nhân vật tổ chức được nhắc đến sẽ được gửi 10.000 euro. Ban đầu với tư tưởng bất cần đời Geri đã mặc kệ vì nghĩ nhưng muốn gây ấn tượng với thằng cu Manuel nên Geri viết tiếp và giúp đỡ nhiều hơn nữa. Hóa ra ông cũng từng là nhà báo viết cho những tờ lớn nhưng do vài chuyện nên quyết định sống vât vờ. Những bài viết của Geri cũng phải có sự đăc biệt riêng trong cách viết thì mới phù hợp với mong muốn của nhà hảo tâm chứ. Được mời làm công tác viên cho cả tờ báo lớn nữa. Xã hội phức tạp lắm ???? Qua những bài báo của Geri, Daniel Glattauer khéo léo đề cập đến những vấn đề nhức nhối của xã hội: Quan hệ của gia đình thời hiện đại, vượt biên, nhập cư trái phép, tị nạn, thất nghiệp, cán cân giàu - nghèo, trách nhiệm của nhà báo,... Geri bị coi thường khi chưa dính dáng đến nhà hảo tâm. Từ khi sự nghiệp đi lên thì mọi người lại bắt đầu để ý đến vì tiền mà ông có thể đem đến cho họ :]]] Trách nhiêm của người bố, của người cầm bút✍️ Bản năng làm bố trong Geri được đánh thức và ông làm bố theo cách riêng. Không bắt ép con cái mà có lúc còn như thông đồng với chúng. Điều này lại khiến con cái dễ trải lòng với Geri. Bây giờ thì báo chí thường đi theo những phong trào và xu hướng đánh mất giá trị thực sự của nghề này. Phản ánh cuộc sống một cách trung thực. Geri từng nghĩ về nhà báo như vậy nhưng nghề này lại quá chú trọng đến những tin tức giật gân, danh tiếng. Ai xé mất đoạn cuối rồi ????????????????☹️???? Hết. Đang gay gấn thì hết. Còn mình thì còn cả đống câu hỏi chưa được giải đáp. Nhà hảo tâm không chịu xuất hiện thứ ông để lại là vài lời nhắn, Geri không biết là có nói ra mình là bố của Manuel không trước khi thằng bé có cha dượng, chuyện giữa Geri và cô nha sĩ sẽ đến đâu, mẹ của Geri có liên quan đến nhà hảo tâm không ??? Nó có thể giống cuốn “Nỗi đau tột cùng”(sách tưởng tượng) trong “Khi lỗi thuộc về những vì sao” Cuộc sống xuất phát từ cuộc sống. Cuộc sống đem lại cuộc sống đem lại cuộc sống đem lại cuộc sống đem lại cuộc sống và cứ tiếp như vậy. [ILEARNED] ????Niềm tin vào bản thân. Đời có lúc lên lúc xuống. Sẽ có lúc ta thấy mình là một thất bại và ngừng nỗ lực. Đó cũng là lúc phải đứng lên tìm lại giá trị của chính mình. ????Đời đập đập ta vô số lần nhưng cũng giúp ta vô số lần. [Myopinion] Lý do mọi người nên đọc quyển này ????Mọi người có thể thử văn học Áo với quyển này. Cách viết của tác giả cực nhiều “muối” . Dí dỏm, hài hước, tự trào. Đố bạn không cười khi đọc luôn. ????Thử một góc nhìn về cuộc sống, về nhà báo và những khía cạnh xung quanh. ????Lối dẫn chuyện tự nhiên, những chi tiết đơn giản mà khi kết hợp vơi nhau lại tạo ra một bức tranh bất ngờ. 9.5/10sao ???? Ommis cellula e cellula Review Đỗ Đắc Hiệp *** Tôi hình dung con trai tôi khác hẳn. Thỉnh thoảng tôi rời mắt khỏi màn hình và làm ra vẻ nghĩ lung. Nhưng thực ra tôi quan sát Manuel - đúng những lúc nó cảm thấy không bị quan sát, và khi ấy cu cậu không ngông ngáo lắm. Thú thực, tôi thấy đặt cho nó cái tên Manuel là xấc xược, đối với nó và cả với tôi. Tại sao tôi không được hỏi ý kiến? Nếu biết thì tôi đã không cho phép, thì tôi đã ngăn Manuel, ít nhất là ngăn cái tên Manuel. Còn con người Manuel thì… nói sao bây giờ, đã ở dưới gầm trời này thì tránh đâu cho khỏi nắng. Ông trời của tôi thường xuyên cao hơn tôi một chút. Kỳ thực cũng chẳng sao, nếu ông ấy cứ ở hẳn trên cao ấy. Nhưng đâu được thế, một lúc nào đó ông lại sà xuống vỗ vai chào hỏi tôi. Lần này dưới dạng thằng cu mười bốn tuổi của tôi. Ngày thứ mười cùng Manuel trôi qua nhàn nhạt, tương tự mọi thứ Hai năm nay. Thực ra các thứ Ba cũng vậy. Thứ Tư thì tôi thường xin nghỉ, mấy ngày còn lại của tuần cứ thế tuần tự trôi qua. Mãi rất lâu sau tôi mới ngộ ra ý nghĩa của ngày thứ Hai này, và quả thực tôi vô cùng khâm phục trí nhớ đã bốn mươi ba tuổi và bị bia rượu làm mờ mịt đáng kể của tôi, vì lâu thế rồi mà nó vẫn đủ khả năng tái hiện vô vàn hình ảnh và câu chữ nguyên bản, đa phần của con trai tôi - lúc này đang ngồi cùng văn phòng và làm bài tập về nhà, hay ít nhất là ra vẻ như thế. “Thế nào, ổn cả chứ?” tôi hỏi. “Có gì mà không ổn chứ?” Hình như tất cả chúng nó đều khinh khỉnh thế chăng, cái bọn nhãi ranh dậy thì mười bốn tuổi với mấy sợi lông măng lún phún và chất giọng nằm đâu đó giữa vĩ cầm chùng dây và còi xe yếu điện, tôi cũng không rõ, nhưng tôi đã thấy nóng mắt. “Bác không muốn biết vì sao không ổn, bác muốn biết có ổn hay không”, tôi đáp. “Ai nói là bác muốn biết tại sao mọi chuyện không ổn?” nó hỏi. Nó hỏi thế vì nó biết tôi chắc chắn không tham gia vào một cuộc tranh luận bại não như vậy và nhờ đó cuộc đối thoại giữa hai chúng tôi chấm dứt. Manuel không ưa tôi - đó là một trong những vấn đề trong quan hệ còn khá mới mẻ giữa tôi và con trai tôi. Biết vậy để hiểu rõ những ánh mắt ngán ngẩm, vô hồn và chán chường trên cả mức ngáp ngủ mà nó dành cho tôi mười hôm nay. Ánh mắt ấy phản ánh cái mà nó nhìn thấy: Tôi. Giá mà nó biết tôi là bố nó thì có lẽ nó cũng chẳng ưa tôi, nhưng có thể nó nhân từ hơn với tôi. Nhưng nó không biết. Còn tôi thì thú thực cũng chỉ mới biết trước đây mấy tuần. Mời các bạn đón đọc Ân Sủng Của Đời của tác giả Daniel Glattauer & Lê Quang (dịch).
Cô Vợ Bướng Bỉnh Của Tôi
Hắn tên Hoàng Lãnh Phong, đúng như cái tên của mình, hắn là một người vô cùng lạnh lùng, nắm trong tay quyền lực khổng lồ của thế giới ngầm, đồng thời cũng là tổng giám đốc công ty Hoàng Phong với những lĩnh vực mở rộng trên thị trường thế giới. Không chỉ có vẻ ngoài đẹp trai, phong độ, mà hắn còn rất giỏi võ, đặc biệt là cực kì thông minh, vì vậy đã thu thút rất nhiều cô gái vây quanh, nhưng hắn vốn không hề để mắt đến bất kì ai. Nó là Nguyễn Ngọc Linh, tuy bản thân là con gái cưng của tập đoàn đá quý ty Renly, tính cách vô cùng bướng bỉnh nhưng thực chất nó là một cô gái tốt bụng, và rất biết quan tâm đến mọi người. Cũng giống với Hoàng Lãnh Phong, nó theo học võ đạo từ nhỏ nên có thể chất rất tốt, IQ cũng không phải ở dạng tầm thường, nhưng chưa bao giờ tỏ ra kiêu ngạo về bản thân giống như những cô tiểu thư nhà giàu khác. Trần Hoàng Thiên là bạn thân của Hoàng Lãnh Phong. Cậu cũng đồng thời là cánh tay trái đắc lực của hắn trong thế giới ngầm, và là người thừa kế tương lai của tập đoàn Hoàng Thiên. Với vẻ ngoài hào hoa, cậu nhanh chóng có xung quanh vô số vệ tinh, tuy được cho rằng là có bản chất phong lưu nhưng thực ra cậu chỉ yêu duy nhất một cô gái là Phạm Thùy Trâm. Nhỏ là bạn thân của Nguyễn Ngọc Linh, cũng là người có hôn ước định sẵn từ bé với Hoàng Thiên. Bên cạnh đó còn là cặp đôi Trinh Minh Anh, và Nguyễn Nhật Minh, hai người này bề ngoài tỏ ra như nước với lửa nhưng mối tình cảm mến của họ thật sự quá dễ thương nha! Truyện chắc chắn sẽ mang lại cho độc giả rất nhiều tiếng cười và những giây phút thư giãn vô cùng thoải mái. Mời các bạn cùng đón đọc Cô Vợ Bướng Bỉnh Của Tôi! *** Tại pari_pháp Trên chiếc giường màu hồng có một cô gái với mái tóc máu hạt dẻ,khuôn mặt baby vô cùng dễ thương không ai khác là nó Cốc *cốc "Ngọc Linh...Ngọc Linh có dạy hay không thì bảo " giọng nói đó là của mẹ nó.Nhưng bên trong không 1tiếng trả lời. "Cạnh" Con có muốn về Việt nam không? Sau khi mẹ nói thế nó liền bật dạy chạy vào VSCN -Mama có thật là mama cho con về Việt Nam không _nó -Đúng nhưng với 1điều kiện _mama nó -là gì ạ_nó -không được bắt nạt ck con _mama nó _mama.. Con gái mama ngoan thế này mà bảo.con đi bắt nạt hắn -hy..Hy mama nói thế" con mà hiền thì..trời nó sụp từ lâu rồi"_mama nó nói thầm -vâng thôi con đi đây_nó -uk_mama nó đây là lần đâu tiên mk viết truyện mong mọi người đóng góp Mời các bạn đón đọc Cô Vợ Bướng Bỉnh Của Tôi của tác giả mummim.
Thành Phố Quốc Tế
Thành phố Quốc tế là cuốn sách khiêm tốn về dung lượng nhưng lại mang dáng dấp của một thiên sử thi bởi nó trình bày những mảnh ghép đa hình sắc của một thế giới vô phương cứu chữa. Don DeLillo không chú trọng về điều gì quá mới mẻ. Tự thân cuốn tiểu thuyết đã mang tính mới lạ với những dòng văn dồn nén, xô đẩy tương lai vào lưỡi dao sắc bén của những phút giây hiện tại. Nếu bạn là người yêu thích khía cạnh trừu tượng của sức mạnh tài chính và công nghệ; đồng thời, trân trọng vẻ đẹp của ngôn từ và tin vào vẻ đẹp nhân bản thì “Thành phố Quốc tế”   chính là cuốn tiểu thuyết đáng lưu tâm dành cho bạn. Với bối cảnh chính là một ngày tháng Tư năm 2000 ở New York, cốt truyện xoay quanh Erick Packer, một tỷ phú hết sức giàu có và chỉ mới 28 tuổi. Nhà tài chính này sở hữu một căn hộ 48 phòng, có bể bơi, có hai thang máy riêng theo nhịp một bản nhạc nổi tiếng, có phòng tranh với những bức tranh mà người xem không biết phải ngắm như thế nào, và có cả cá mập. Sau một đêm mất ngủ, thức trắng với sách và rượu mạnh, Eric quyết định dạo quanh New York trong chiếc limousine sang trọng để tìm chỗ cắt tóc. Chuyến đi của anh kéo dài cả ngày vì gặp phải một đoàn xe hộ tống Tổng thống, một cuộc biểu tình chống toàn cầu hóa và cả đám tang của một nghệ sĩ nhạc rap. Eric quan sát, liên lạc với thế giới bên ngoài thông qua hệ thống media và camera tối tân được trang bị trong xe. Chuyến đi đó có lẽ không khác một ngày làm việc bình thường: Eric vừa khám bệnh định kỳ với bác sĩ, vừa bàn công việc với cấp dưới ngay trong xe. Xen lẫn với các cuộc gặp gỡ về công việc, anh ta có đủ thời gian để gặp gỡ và ăn sáng với bồ, ăn trưa tâm sự với vợ. Khi Eric được vệ sĩ báo tin là có kẻ đang bám theo xe của họ, cốt truyện chuyến hướng sang hồi gay cấn. Một kẻ bất mãn đang bám theo để giết Eric. Điều này thực sự chẳng đáng ngạc nhiên chút nào, bởi vì bản thân nhà tài chính cự phách này tin rằng “logic mở rộng của công việc kinh doanh là án mạng”. Kẻ bám theo Eric là Benno Levin, tác giả của những dòng nhật ký đan xen trong mạch truyện về Eric. Đó là một người từng làm việc dưới quyền Eric, muốn giết Eric vì mối hận thù Eric – con người giàu có với cuộc sống xa hoa, vì hắn muốn trở thành nhà văn nhưng cuối cùng lại ngồi phân tích đồng Baht… Điểm thú vị của cuốn tiểu thuyết này không chỉ nằm ở các hành động; mà chủ yếu là ở lối dẫn dắt tài tình của nhà văn, đưa người đọc đến với thế giới ngoại hiện và nội cảm phong phú, phức tạp của Eric Packer. Bởi thế, có lẽ cách tốt nhất để đọc “Thành phố Quốc tế”   là đừng nhất nhất tâm niệm là mình đang đọc một cuốn tiểu thuyết. Bạn hãy xem như mình đang thưởng thức một áng thơ - văn xuôi về New York. Tác phẩm thiếu đi thứ mà người Mỹ Latinh gọi là “calor humano” (hơi ấm tình người); bởi thế, nó có thể làm một số độc giả nản lòng vì thứ logic lạnh lùng trong cõi lòng sâu hút như vực thẳm của Packer và giọng văn thờ ơ, bằng phẳng, yếm thế. Tuy nhiên, trí tuệ sắc sảo, lối văn kén người đọc của Don DeLillo lại dệt nên vầng sáng bao quanh từng sự kiện, bỏ xa tính gượng gạo và sự ngẫu nhiên. Ẩn đằng sau lớp bề mặt ngổn ngang và những lời bình luận chua cay về thị trường tài chính thế giới cuối thế kỷ XX, DeLillo muốn cảnh tỉnh người đọc về tình trạng mỏng manh, cô độc của con người. Dường như tác giả muốn khơi gợi ý nghĩ rằng, chúng ta đang sống trong thế giới của những đợt thủy triều không ngừng chuyển động, vượt quá tầm kiểm soát của con người. Cảm giác mình thuộc về ai đó hoặc quan tâm đến ai đó là thứ cuối cùng nhắc nhở chúng ta về ý nghĩa của giá trị. Cái nhìn giễu cợt sâu sắc và sự thờ ơ đúng mực, câu văn ngắn ngắt quãng đột ngột chuyển tải rất nhiều nội dung chính là điểm hấp dẫn nhất của “Thành phố Quốc tế”  . Mặc dù cuốn sách khá ngắn, có thể đọc toàn bộ nội dung chỉ trong một ngày nhưng câu chuyện trong đó sẽ kéo dài mãi. “Thành phố Quốc tế”  là sự thử thách, khiêu khích suy nghĩ và hoàn toàn khác biệt. NAM AN Review *** Trong vài thập kỉ trở lại đây, Don DeLillo là một trong những gương mặt ưu tú trên văn đàn Hoa Kỳ. Ông là ứng viên nặng kí cho giải thưởng Nobel văn học. Kế thừa thành tựu của những nhà văn hiện đại lớp trước, Don DeLillo khai mở lối viết hậu hiện đại độc đáo. Tác phẩm của ông, với hình thức ghép nối ngẫu nhiên, với sự tưởng tượng phong phú diệu kì, mang đậm tính khoa học giả tưởng,… đã đưa người đọc vào tâm điểm của sự hỗn mang đương đại trong một thế giới ngột ngạt bởi công việc, bởi tham vọng, sự sống và cái chết… Sự khai phóng ý tưởng táo bạo và tạo tác nên một thế giới mang bộ mặt quái gở song trùng với thế giới thực tại đã khiến những trang viết của Don DeLillo có sức hấp dẫn mãnh liệt đối với nhiều thế hệ người đọc. Những đề tài được DeLillo thường xuyên hướng đến được giới nghiên cứu tập trung trong khái niệm Lí thuyết ngầm đa đề tài (themes-conspiracy theory), bao gồm bạo lực văn hoá, cuồng tín tín ngưỡng, đại biến cố, sự khủng bố của đám đông, bí mật lịch sử, con người cô đơn trong không gian hẹp… Cái nhìn tiên tri nhuốm màu phóng túng của chủ nghĩa hậu hiện đại trong tác phẩm của DeLillo ban đầu bị xem là mang tính chất hoang tưởng (paranoid), nhưng dần người ta hiểu ra giá trị đích thực của nó. Thành phố quốc tế (Cosmopolis, 2003) được viết dưới dạng đa đề tài ngầm ẩn. Xuyên suốt là đề tài về thị trường chứng khoán. DeLillo đề cao vai trò của thị trường chứng khoán trong mối quan hệ với nền kinh tế đương thời. Một tay trùm đầu tư cổ phiếu có thể làm xoay chuyển cán cân kinh tế thế giới. Một lần nữa, DeLillo cho thấy khả năng tiên tri của mình trong sáng tạo nghệ thuật. Phải đến 2008 nền kinh tế thế giới mới thực sự chao đảo mà nguyên do bắt đầu từ việc khủng hoảng tài chính. Câu chuyện ông kể về cái thành phố thế giới trong cơn khủng hoảng tài chính và đó có lẽ là nguyên nhân gây nên sự bạo động. Tình trạng hỗn loạn đến mức bản thân cảnh sát ban đầu cũng không thể nào lập lại trật tự. Đấy là một thế giới hoàn toàn bất an và quyền lực gần như là tuyệt đối khi nó tập trung vào một ai đó. Nhưng ngay cả khi nắm trong tay quyền lực thì người đó vẫn không có khả năng xoay chuyển tình thế của mình. Vẫn luôn tồn tại một thế lực, một quyền năng nào đó ngoài khả năng suy đoán của con người. Nhân vật chính trong truyện là tay trùm kinh doanh tiền bạc xuyên quốc gia, cụ thể là đầu tư vào đồng yên Nhật. Chàng trai ấy năm nay hai mươi tám tuổi. Trước khi kết hôn với một nhà thơ, người sẽ sở hữu một gia sản kếch xù của dòng họ Shifrin, anh ta có mấy người tình tên là Didi Fancher và Kendra Hays… Điều đáng lưu ý ở nhân vật này, tuy được giới thiệu là ông trùm chứng khoán và là một tay có hạng trong quan hệ tình dục với phụ nữ, nhưng cả hai yếu tố đó không phải là đích sống của anh ta. Người kể ở ngôi thứ ba đặt nhân vật vào một hành trình trong vòng một ngày (một ngày tháng tư năm 2000) trong thành phố New York được ngụ ý là Thành phố thế giới. Nơi đó tập trung đủ kiểu người, đủ công việc, đủ những hoạt động đời thường như kinh doanh cổ phiếu, ăn uống ở nhà hàng, đọc sách ở thư viện, vẽ ở xưởng, làm tình… Tất cả những hoạt động này xoay xung quanh nhân vật chính là Eric Packer đang đi trên chiếc xe hiệu limousine sang trọng. Đấy là chiếc xe chuyên dụng, được trang bị đầy đủ máy móc như một phòng làm việc tối tân. Từ trên xe, Eric có thể theo dõi diễn biến của thị trường qua màn hình. Từ trên xe, anh ta cũng có thể quan sát được hết mọi sự việc đang diễn ra trong ngày trên khắp thế giới. Đấy cũng là dạng chiếc xe thế giới, người sử dụng cũng là một dạng con người thế giới, có thể dùng chiếc xe đó vào những việc riêng tư như khám chữa bệnh, làm tình và đưa ra các chỉ thị điều hành kinh doanh… Như một nghịch lí, càng hiện đại, con người càng bị rơi vào nỗi cô đơn và gần như là mất phương hướng hành động. Để khắc hoạ đậm nét hơn bản thể con người trong kỉ nguyên hậu hiện đại, DeLillo đã thực hiện bút pháp mô phỏng đối với kiệt tác Ulysses của James Joyce và xa hơn là với Odyssey của Homer. Hành trình của Eric trên đường đi cắt tóc tương đồng với hành trình của Leopold Bloom lang thang trong một ngày tại thành phố Dublin. So với Bloom, hành động của Eric có mục đích hơn. Eric đang điều hành một tập đoàn kinh tế mà sức mạnh của nó có thể chi phối nền kinh tế toàn cầu. Trong khi đó, Bloom chỉ là một nhân viên chào hàng quảng cáo quèn. Sự tương phản giữa hai nhân vật này chính là sự khác biệt giữa thế giới hiện đại và hậu hiện đại. Một đằng thì lang thang vô mục đích. Một đằng thì vô mục đích ngay trong chính hành động ngỡ như có mục đích của mình. Rốt cuộc cả hai đều giống nhau ở cái kết cục cô đơn và hư vô, nhưng con đường đến đó của họ thì khác nhau. Thành phố quốc tế mở đầu bằng hình ảnh một con người cô đơn: “Anh mất ngủ thường xuyên hơn, không chỉ một, hai lần mà tới bốn, năm lần một tuần. Anh đã làm gì khi điều này xảy ra? Anh không muốn đi dạo trong ánh bình minh lên. Anh không có bạn bè thân thiết để quấy quả bằng một cú điện thoại. Có gì để nói bây giờ? Chỉ là một sự tĩnh lặng, không đối thoại” (1). Điều này quả thực lạ với một nhà kinh tế mà đặc biệt là một ông trùm kinh tế. Sự mất ngủ được giới thiệu ngay từ đầu khiến người đọc nhầm tưởng về chuyện thị trường, nhưng chỉ mấy dòng tiếp theo, ta thấy sự mất ngủ đó có nguyên do chủ yếu từ bản thể hoặc từ những mối quan hệ hầu như không có liên quan gì đến công việc của “anh”. Tính chất hai mặt trong một con người được thể hiện ở đây. Một con người năng nổ hoạt động và một con người chán chường với những hoạt động của mình. Nếu chỉ nhìn trên bề mặt chúng ta sẽ gặp được nỗi bức bối, thúc ép vô cùng to lớn của công việc. Eric trong lúc đi cắt tóc vẫn phải liên tục theo dõi các chỉ số, lắng nghe các chuyên gia cố vấn báo cáo tình hình tài chính và đặc biệt là những báo cáo về tình hình an ninh của bản thân… Cùng một lúc Eric phải xử lí vô vàn các thông tin khác nhau. Đấy là một con người của công việc thực thụ. Con người ý thức được trách nhiệm của mình với công ty, với khối tài sản kếch xù của dòng họ. Có hai yếu tố chủ chốt chi phối mạnh đến hoạt động của Eric là thời gian và lợi nhuận kinh doanh. Lợi nhuận, đặc biệt là kinh doanh tiền tệ phải chịu áp lực rất lớn về phương diện thời gian. Chỉ trong vòng một phần mười giây hay thậm chí thời lượng ngắn hơn cả thế là đủ để xoay chuyển cả cục diện kinh tế của công ty và cả nền kinh tế thế giới. Dưới áp lực của thời gian, con người hiện lên vô cùng kì quặc. Những nghi thức giao tiếp hay nghi thức công việc hầu như không còn chỗ đứng trong cuộc đời. Thay vào đó là những hành động cốt đạt mục đích tức thời. Còn gì khôi hài hơn là trước mặt nhân viên nữ trên chiếc xe, Eric tụt quần ra để bác sĩ khám tuyến tiền liệt. Có thể nói chưa bao giờ con người bị rơi vào sự quẫn bách như lúc này. Nếu lấy tiêu chí tự chủ của con người để làm thước đo hạnh phúc thì một người có quyền uy như Eric chẳng có lấy chút hạnh phúc nào. Trước đây, các hình tượng nhà tư bản tài chính trong giai đoạn chủ nghĩa hiện đại như trong tác phẩm của Dreizer thường tự tại, tự tin vào sức mạnh và khả năng tận hưởng cuộc sống vô tận của mình, thì sang thời hậu hiện đại, những con người càng có khả năng tận hưởng cuộc sống bao nhiêu lại càng cảm thấy sự bức bối, bị chèn ép bởi bao gánh nặng công việc từ bên ngoài bấy nhiêu. Vậy nên, trong họ không còn là cảm giác của sự tận hưởng cuộc đời mà chỉ là sự bị động chạy theo cuộc đời. Trên đường đi cắt tóc của Eric, biết bao biến cố xảy ra. Cái thời điểm một ngày tháng tư đó chất chứa bao nhiêu sự kiện dồn dập. Nỗi ám ảnh về một kẻ khủng bố đang tìm theo dấu vết để tiêu diệt mình trong Eric luôn thường trực. Eric thờ ơ với cuộc sống giàu có. Một phần cũng vì sở thích của anh không giống những người cùng giới. Phần khác vì “tuyến tiền liệt của anh không cân xứng”. Đấy là tất cả các dấu hiệu cho thấy sự bất bình thường ở Eric. Anh là kiểu nhân vật “khiếm khuyết” đặc thù của chủ nghĩa hậu hiện đại. Thực ra kiểu nhân vật này đã xuất hiện trong văn chương chủ nghĩa hiện đại, như ở tác phẩm Kafka chẳng hạn. Nhưng cái cách các nhân vật thể hiện thì có khác. Trên hành trình đi cắt tóc của Eric, dấu hiệu ẩn dụ cho sự khủng hoảng chính trị hay sự xáo trộn cuộc sống là việc xuất hiện xe tổng thống đang đi trong thành phố. Đương nhiên mọi tuyến đường đều bị xoá sổ để dành quyền ưu tiên cho con người đứng đầu quốc gia này. Trong dòng xe dường như là bất tận của sự tê liệt, chiếc limousine của Eric cũng bị tê liệt theo. Tất nhiên, ngồi trên xe Eric vẫn có thể tiếp tục làm việc, nhưng mối nguy hiểm là một khi dừng lại, chiếc xe của Eric dễ dàng bị những kẻ khủng bố tấn công bất cứ lúc nào. Eric có cả một đội bảo vệ, đứng đầu là Torval. Một nhân viên giàu kinh nghiệm và sẵn sàng làm mọi thứ để bảo vệ thân chủ mình. Sự xuất hiện của nhân vật này là tín hiệu báo hiệu mối nguy hiểm thường trực đang rình rập Eric. Và không ít lần nhân vật này phải ra tay. Vụ đầu tiên là với bác sĩ Ingram, người đến chữa bệnh thay cho bác sĩ Nevius. Torval nghi ngờ ông ta nên đã khống chế để Eric nhận diện. Vụ thứ hai thì thật là nghiêm trọng. Chiếc xe của Eric rơi vào tâm điểm của cuộc bạo động khi nó đi đến “nơi giao nhau giữa đại lộ thứ bảy và nhà hát Broadway”, nơi đó gần ngân hàng đầu tư và là nơi đang diễn ra vụ tấn công khủng khiếp. Những người bạo động đến “từ bốn mươi nước” cùng tấn công vào trung tâm chứng khoán New York. Bất chấp sự ngăn cản của cảnh sát họ vẫn chiếm được trụ sở chứng khoán và thay đổi các chỉ số trên bảng điện tử bằng dòng chữ Một con chuột trở thành đơn vị tiền tệ. Con chuột, một loài vật nhỏ bé và gần như vô giá trị lại có khả năng hình thành nên một hệ thống tiền tệ, nơi kết tinh nhất của văn minh nhân loại. Điều này đồng nghĩa với việc nền văn minh tiền tệ đương thời bị xóa sổ, con người quay lại với những hình thức trao đổi hàng hóa trực tiếp sơ khai thưở nguyên sơ của mình. Câu chuyện của DeLillo là một câu chuyện hoang đường nhưng nó vẫn hấp dẫn người đọc bởi những địa điểm và thời gian xác thực. Trong thực tế, làm gì có chuyện trụ sở chứng khoán New York bị tấn công, làm gì có vị sư nào tự thiêu trong tư thế ngồi thiền trên đường phố New York vào cái năm 2000 ấy… Nhưng bầu không khí bạo loạn và cuồng nộ của đám đông luôn rình rập chờ sự nổi dậy khắp mọi nơi thì không phải là hoàn toàn không có cơ sở. Người đọc vẫn theo dõi câu chuyện hoang đường kia là nhờ vào khả năng dự báo của nó. Bởi trong một thế giới còn sự chênh lệch lớn giữa người giàu và người nghèo thì bạo loạn là đều tất yếu, luôn có thể xảy ra. DeLillo dẫn ý (có sửa đổi) một câu trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản để diễn tả điều này: Một bóng ma đang ám ảnh thế giới – bóng ma của chủ nghĩa tư bản. Và sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản là để sản sinh ra một thế lực lật đổ nó. Sẽ luôn có những cuộc bạo loạn mang tầm cỡ thế giới khi vẫn còn tồn tại những cá nhân nắm trong tay những giá trị tiền tệ để có thể xoay chuyển thế giới theo cách của mình. Câu chuyện của DeLillo không dừng ở đó, ông thấy được sự bấp bênh của các giá trị ngay trong chính những con người mang quyền lực nhất trên đời. Eric với khối tài sản của mình là một thế lực. Cũng giống như vị tổng thống mà mọi người phải nhường đường khi xe ông ta đi qua, Eric cũng liên tục được đưa lên màn hình. Vai trò của anh quan trọng gần như vai trò của tổng thống. Một mặt Eric ý thức tầm quan trọng đó, mặt khác anh muốn phá tung nó để sống một cuộc sống bình thường. Chuyện anh ta có tình nhân, không chỉ một mà thậm chí là hai hay ba người là minh chứng rõ ràng cho điều đó. Mặc dù tuyến tiền liệt của anh có vấn đề nhưng nó không ngăn được khả năng và khao khát tình dục trong anh. Kiểu tình dục luôn báo hiệu thảm hoạ. Đấy cũng chính là bản chất cuộc sống của anh. Một trong những thảm hoạ lớn mà anh luôn phải đối đầu là việc tri nhận thế giới xung quanh. Có thể nói nhân vật này nhận thức và hành động trước thế giới một cách ngẫu hứng và cực đoan theo cách của riêng mình. Trong lúc đang theo đuổi đồng yên Nhật Bản trong thế bất lợi, được trợ lí can ngăn đừng đầu tư nhưng anh vẫn phớt lờ và tiếp tục canh bạc cuộc đời với lập luận sẽ đến một giới hạn nào đó đồng yên sẽ suy thoái. Về mặt lí thuyết điều đó hoàn toàn đúng, nhưng cuộc sống tiền tệ có quy luật riêng của nó, đấy là quy luật thặng dư tuyệt đối. Không bao giờ đồng tiền trong đầu tư chịu dừng lại một khi nó đã chiếm được vị trí thượng phong. Trong sự cố chấp của mình, Eric vẫn liều đánh nốt canh bạc, rốt cuộc anh bị cháy túi và phá tán thêm cả chỗ tiền lớn của cô vợ giàu có của mình. Đối với cô vợ, Eric càng gặp rắc rối hơn trong nhận thức. Mối quan hệ vợ chồng của họ thật mỏng manh. Anh không luôn chắc chắn nắm giữ được hình ảnh của vợ. Đây là một trong số ít những lần gặp nhau trong ngày của hai vợ chồng: “Anh hạ cửa sổ xuống và nhìn kĩ một trong những người phụ nữ đứng ngoài đó. Đầu tiên anh cho rằng đó là Elise Shifrin. Thỉnh thoảng anh nghĩ về vợ anh với cái tên đầy đủ khi chợt bắt gặp những người họ hàng danh tiếng của cô trên những chuyên mục xã hội hay sách thời trang. Nhưng rồi anh không biết chắc đó là ai nữa, bởi tầm nhìn của anh bị che khuất và vì người phụ nữ mà anh đặt dấu hỏi đó đang cầm một điếu thuốc lá trên tay” (tr.156). Hoá ra đó chính là vợ anh. Chi tiết điếu thuốc lá này cho thấy hai người tuy là vợ chồng nhưng khoảng cách giữa họ là thật lớn. Bởi hôn nhân của họ chủ yếu được dựa trên tiền bạc, danh tiếng dòng họ mà thôi. Còn đây là lần gặp gỡ cuối cùng trong ngày và cả trong đời của Eric với vợ. Đấy là khi Eric rời xe tham gia vào việc đóng phim tự nguyện. Một nhóm làm phim đang quay cảnh những người khoả thân nằm trên đường. Eric nằm cạnh một cô gái. Hai người trao đổi đôi lời với nhau nhưng không nhận ra nhau. Eric ngờ ngợ đấy là vợ mình: “Chẳng phải Elise cũng có mái tóc màu nâu đỏ sao? Anh không thể nhìn thấy gương mặt của người phụ nữ và cô cũng không thể nhìn thấy anh. Nhưng anh đã nói và hiển nhiên là cô cũng nghe thấy tiếng anh. Nếu đây là Elise, sao cô không phản ứng lại tiếng nói của chồng cô? Nhưng tại sao cô phải làm như vậy? Đó không phải là việc gì thú vị cho lắm” (tr.233). Quả là Elise thật. Cuối cùng hai vợ chồng cũng nhận ra nhau. Tay trong tay, họ đi đến vỉa hè, “nơi đây, anh đẩy cô vào bóng tối hôn cô và gọi tên cô. Cô trèo lên anh, quấn quanh cơ thể anh. Họ đã làm tình giữa đống gạch vụn đổ nát, với tư thế người đàn ông đứng còn người phụ nữ cưỡi phía trên” (tr.236). Tư thế làm tình này thật là bất bình thường đối với một xã hội văn minh, nhưng nó lại hoàn toàn có lí khi con người quay lại với đời sống bản năng của mình. Lần gặp trước đó của hai vợ chồng Eric được kết thúc bằng bữa ăn. Lần nay là một cuộc làm tình. Tại cuộc làm tình đó, Eric cho vợ biết anh đã làm mất toàn bộ chỗ tiền của cô. Phản ứng của cô là “anh thấy cô bật cười. Anh cảm thấy hơi thở bật ra từ miệng cô, toả ra làn hơi ẩm bao trùm gương mặt anh. Lâu nay anh đã lãng quên niềm vui thích trước nụ cười của cô, một cái ho nhuốm mùi khói, một nụ cười có hương vị thuốc lá giống như trong những bộ phim đen trắng kinh điển. – Lúc nào em cũng mất tất cả mọi thứ, – cô nói. – Sáng nay em đánh mất xe rồi. Em đã kể cho anh về chuyện này chưa? Em không nhớ nữa” (tr.236). Toàn bộ hành trình sống của các nhân vật trong truyện như đi trong đám mây mù của số phận. Cái số phận do chính họ đặt ra (hay do chính tác giả đặt ra cho họ). Người ta thực hiện những hành động kì quặc trên đời. Những chuyện được mất dễ dàng xảy ra với họ đến mức mà khi được họ không hề cảm thấy thực sự hạnh phúc và khi mất họ cũng chẳng hề lấy đó làm điều tiếc nuối. Thái độ bàng quang với cuộc sống là nét đặc trưng dễ nhận thấy ở những con người hậu hiện đại. Thái độ đó thoát thai từ việc tranh đấu không ngừng với cuộc sống nhằm khẳng định mình để cuối cùng họ chỉ còn đối diện với một cái thế giới mịt mùng không lối thoát. Bản chất của họ không phải lười biếng hay phó mặc cuộc đời,… nhưng những gì họ nhận được trên cuộc đời sau chuỗi nỗ lực không ngừng nghỉ rốt cuộc cũng chỉ là một sự mất mát vô cùng tận. Sau cuộc làm tình trên phố đó, hai vợ chồng Eric mỗi người đi một ngả vì cả hai còn nhiều việc phải làm. Người đọc không thể đoán định họ đang làm gì. Đây cũng là đặc thù của chủ nghĩa hậu hiện đại. Động cơ hành động của con người không được miêu tả. Nhân vật cứ liên tục hành động theo lối ngẫu hứng, bất chợt, không đầu không cuối. Cuộc sống gia đình vợ chồng Eric dường như được xác lập ngoài đường. Họ không đủ thời gian để có những khoảnh khắc bên nhau trong một căn phòng hay một ngôi nhà tử tế. Ngay đối với những người tình của Eric cũng vậy, anh làm tình với họ trong lúc đang tạt qua trên đường đi làm và bản thân họ cũng đang loay hoay với công việc của mình. Đỉnh điểm của việc thiếu thời gian ở đây là cảnh họ làm tình mà không cởi quần áo. Sự “tranh thủ” lên đến đỉnh điểm của nó và hiện diện khắp mọi nơi. Được xem là người mở đầu cho chủ nghĩa hậu hiện đại, Beckett trong các vở kịch của mình đã miêu tả sự xa lạ của con người với môi trường và với cả chính bản thân mình. Cảm thức đó đến DeLillo vẫn hiện diện. Chỉ có khác là DeLillo đẩy nó lên đến cận đỉnh bằng cách gia tăng các cảnh ghép nối ngẫu nhiên vào với nhau. Thời hiện đại, con người đã ý thức thời gian như một vật cản họ cần phải chinh phục và ít nhiều đã thực hiện được ước vọng, nhưng đến thời hậu hiện đại thời gian không còn là đối tượng chinh phục mà là chủ thể chinh phục con người. Việc đánh mất phương hướng của con người trên cuộc đời đa phần là do không còn tự chủ về mặt thời gian mà để thời gian nhấn chìm bản thân vào công việc và bao thứ lo toan bất thành văn trên cuộc đời. Nguyên nhân cũng chỉ vì những toan tính để được sống tốt hơn, để được hơn người, để được thống trị thế giới từ chính con người gây ra mà thôi. Những yếu tố cá nhân đan xen một cách quái gở với những yếu tố cộng đồng đã tạo cho câu chuyện của DeLillo một không khí khác lạ. Những đề tài chính của truyện cũng xoay quanh những vấn đề này. Đó là vũ khí chiến tranh (Eric sở hữu một chiếc máy bay TU – 160 của Nga, loại máy bay chiến đấu mang tên lửa lắp đầu đạn hạt nhân), là tiền tệ (thị trường chứng khoán), là hôn nhân, làm tình, là khủng bố, là điện ảnh, nhà hàng, bạo loạn… Dường như mọi chuyện thường nhật nhân sinh từ riêng tư nhỏ bé đến những chuyện trọng đại của thời đại đều được DeLillo tái hiện trong sách của mình. Nhà văn hậu hiện đại không đi phân tích bình luận các biến cố, không tập trung truy tìm nguyên nhân – kết quả. Mọi luật nhân quả đều bị phá sản tại đây, con người chỉ còn một mệnh lệnh, một động thái tối thượng là tiến lên phía trước. Nhưng bi đát thay, cái phía trước đó không hề rõ ràng chút nào. Càng tiến lên, họ càng vấp phải sự mù mịt (một trạng thái tương tự ở Kafka) để cuối cùng trong nỗi hoang hoải nhân sinh ấy, họ đối diện với cái chết một cách thờ ơ vô cùng tận. Với họ chết thì chết, điều đó đâu thành vấn đề. Cái chết như một tất yếu. Họ không hề có tham vọng biến cái chết của mình thành một sự kiện cứu thế, không hề cầu mong một chút xúc cảm nào từ phía người chứng kiến. Chết, đơn giản chỉ là chết mà thôi: “Kẻ đã giết anh, Richard Sheets, ngồi đối diện với anh. Anh đã mất đi niềm vui thích đối với người đàn ông này. Bàn tay anh mang nỗi đau cuộc đời, tất cả nỗi đau, cảm xúc và những thứ khác. Một lần nữa, anh khép đôi mắt lại. Đây không phải là kết thúc. Anh chết bên trong bề mặt chiếc đồng hồ nhưng vẫn tồn tại trong không gian và chờ đợi tiếng súng vang lên” (tr.279). Con người anh đã được lập trình. Ngay đến cái chết của anh cũng được trình chiếu cho tất thảy bàn dân thiên hạ và cả chính anh chiêm ngắm. Ý thức chết của anh cũng thật bình dị như những suy nghĩ về mọi vấn đề khác của anh một khi “anh đã tự bão hoà bản thân mình”. Nhưng dẫu thế, anh vẫn hướng suy nghĩ về những chuyện đời thường khác. Về người tình Kendra Hays, “vệ sĩ và cũng là người tình của anh, đang dội rửa nội tạng của anh bằng rượu cọ trong buổi lễ ướp xác”, về “trưởng phòng tài chính và là người tình trong tâm tưởng của anh, Jane Melman, đang thủ dâm một cách lặng lẽ ở hàng ghế cuối cùng của nhà thờ, trong buổi lễ tang”, về “việc anh đã kết hôn và rồi để lại người vợ goá bụa. Anh nghĩ đến việc vợ mình cạo trọc đầu để tang anh và mặc đồ tang trong suốt một năm, rồi việc cô cùng với bà mẹ và các phương tiện truyền thông tham dự lễ an táng anh tại một khu sa mạc biệt lập ở một nơi xa xôi”, về anh “không chôn mà là hoả thiêu” cùng với chiếc máy bay TU – 160 “bay lên với tốc độ siêu âm rồi lao vào cát và nổ tung” nhưng không phải là vĩnh viễn biến mất mà “để lại một tác phẩm nghệ thuật bằng cát, và nó sẽ được lưu giữ bằng niềm tin bất diệt của người thực hiện di chúc và cũng là người tình gắn bó với anh từ rất lâu, Didi Fancher” (tr.278). Khát vọng được bất tử của Eric thật mong manh, bởi hai lẽ: thứ nhất người tình rồi cũng sẽ quên anh như quên bao người tình khác trong đời, may ra thì Didi có thể nhớ anh lâu hơn một vài người khác và sau nữa, cát thì chẳng thể nào lưu giữ được bức tranh nghệ thuật là cái chết của chính anh đó, gió và bụi thời gian sẽ cuốn trôi hết mọi dấu vết của anh trên đời. Như thế ngay trong chính khát-vọng-chết-bất-tử này cũng đan cài yếu tố nghiêm túc và yếu tố bông phèng. Eric nửa như muốn được bất tử, nửa như giễu cợt sự bất tử đó. Ai muốn hiểu thế nào thì tuỳ. DeLillo là nhà văn chuyên viết về đề tài khủng bố. Đặc biệt sau sự kiện ngày 11 tháng 9 năm 2001, thế giới bắt đầu nhìn nhận một cách nghiêm túc về chuyện khủng bố trong tác phẩm của DeLillo. Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc DeLillo sáng tạo tiểu thuyết Người rơi về sự kiện 11-9 thì chẳng có gì đáng ngạc nhiên cả. Thực tế là suốt ba mươi năm sáng tác của mình, DeLillo cũng đã không ngừng viết về đề tài này. Những kẻ khủng bố là gương mặt thường xuyên xuất hiện trong các tiểu thuyết của ông kể từ cuốn Tay chơi (Players, 1977). Tác phẩm tái hiện một bức chân dung biếm hoạ về một đôi vợ chồng có liên quan đến chuyện khủng bố. Người chồng là thành viên của một nhóm khủng bố đang lên kế hoạch cho nổ tung toà nhà Giao dịch Chứng khoán New York nơi anh ta đang làm việc. Người vợ thì làm thuê cho một công ty có cái tên mùi mẫn Uỷ ban Quản lí nỗi buồn, có trụ sở đóng tại toà tháp đôi Trung tâm Thương mại Thế giới. Tại mỗi bữa tiệc trên sân thượng, cô vợ trông thấy một chiếc máy bay bay qua và sợ máy bay va phải toà nhà, cô ta đã kêu toáng lên. Chi tiết này được các nhà nghiên cứu đưa ra như là bằng chứng của sự tiên tri về việc toà tháp đôi bị tấn công sau này bằng máy bay của DeLillo. Nhân vật khủng bố trong truyện là người trước đây từng làm việc cho Eric. Anh ta muốn sát hại Eric nhưng không vì lí do gì cả. Đơn giản anh ta muốn Eric chết. Hành động của nhân vật này mang đậm tính phi lí. Nhưng điều phi lí hơn là Eric gần như không tỏ vẻ gì lo lắng cho tính mạng mình. Eric xem chuyện cảnh báo có kẻ muốn sát hại anh là bình thường như bao chuyện khác. Ngay cả khi đội trưởng đội bảo vệ Torval đưa súng cho anh, anh cũng không hề thoáng chút e ngại cho tính mạng mình. Thay vào đó, khi Torval nói cho anh biết mật mã bằng giọng nói của khẩu súng, anh liền bắn chết Torval. Hành động của Eric mang tính phi lí của chủ nghĩa hiện sinh. Luật nhân quả không còn đúng trong kỉ nguyên hậu hiện đại. Câu chuyện của Eric và Torval đưa ra những phản đề với nhiều hàm nghĩa trái ngược: người bảo vệ bị người được bảo vệ sát hại, vũ khí của cá nhân bị lạm dụng để sát hại cá nhân đó, hành vi con người thật bất ngờ và không thể nào kiểm soát được… Thế nhưng, đằng sau câu chuyện súng ống đó nó cho thấy khả năng sát hại con người ngày một tinh vi của công nghệ vũ khí. Nếu để ý, người đọc có thể liệt kê ra hàng loạt các loại vũ khí có khả năng sát thương con người một cách… hiệu quả. Thống kê sơ bộ ta có dùi cui điện, súng cao su, súng ngắn, thuốc nổ, đầu đạn hạt nhân… những thứ vũ khí con người lạnh lùng mang ra đối phó với nhau. Hậu quả là có nhiều người chết. Một tác phẩm hậu hiện đại thì luôn có nhiều cái chết. Nhưng những cái chết đó không hề có chút bi lụy nào, nó nhại những cái chết mang tính anh hùng ca. Đơn giản các nhà hậu hiện đại xem cái chết cũng giống như sự sống. Chết hay sống đều là quy luật tất yếu của cuộc sống, con người chẳng thể nào làm khác được. Từ quan niệm này, các nhà hậu hiện đại tái hiện cái chết không hề giống những cái chết trước đó. Trong Thành phố quốc tế, nhân vật Eric trước khi đối đầu với phát đạn kết thúc đời mình đã được xem xét toàn bộ tiến trình dẫn đến cái chết của mình thông qua chiếc đồng hồ cá nhân có màn hình theo dõi anh và anh biết cái chết đang diễn ra với mình như thế nào. Tháng 7 năm 2007 tờ New York Time in bài phỏng vấn DeLillo. Nhà văn đã trả lời Mark Binelli trong lần phỏng vấn cho tờ Guernica, về việc viết về cuộc khủng bố kinh hoàng ngày 11 tháng 9, cũng như việc thường xuyên đưa những yếu tố kinh dị chết người như đám mây độc treo lửng lơ trên bầu trời trong tác phẩm Âm thanh trắng… DeLillo cho biết: “Đấy thực sự là nỗi kinh hoàng. Thực tế là việc tôi quyết định viết ngay vào giữa sự kiện đã không khiến nó dễ dàng hơn. Tôi không muốn viết một cuốn tiểu thuyết mà những cuộc tấn công xảy ra vọt qua vai phải của nhân vật và tác động đến một vài sinh mạng theo cách từ xa. Tôi muốn ở trong ngọn tháp và ở trong máy bay. Tôi không bao giờ tư duy về các cuộc tấn công theo cách hư cấu nói chung, chí ít là trong vòng ba năm. Ngày 11 tháng 9 tôi đang viết cuốn Thành phố thế giới và tôi đã phải dừng lại mất một khoảng thời gian và tôi quyết định viết một bài tiểu luận. Về sau, sau khi kết thúc Thành phố thế giới, tôi bắt đầu nghĩ về một tác phẩm khác trong vòng vài tháng khi tôi bắt đầu phác thảo ý tưởng về cuốn Người rơi. Hình ảnh nhân vật hiện lên qua cái nhìn thị giác: một người đàn ông mặc veston và thắt cà vạt, mang túi xách, bước qua cơn bão khói và tro tàn. Tôi chẳng hình dung thêm được gì ngoài những điều đó. Rồi mấy ngày sau, hóa ra là tôi nhận thức được cái túi xách đó không phải của ông ta. Điều đó như thể khởi đầu cho một chuỗi ý tưởng dẫn đến việc xếp đặt những từ ngữ thực sự lên trang giấy”(2). Như thế, dẫu không trực tiếp viết về cuộc khủng bố 11 tháng 9, nhưng dư âm của cuộc khủng bố vẫn in đậm trong tác phẩm của ông. Nạn khủng bố không còn là chuyện viễn tưởng, là sản phẩm của hư cấu đơn thuần. Đấy là một thế giới mà yên bình chỉ là tạm thời, còn bạo loạn và chết chóc là nhân tố thường trực. Dường như, DeLillo không hề có tham vọng lấy cái bất ổn để hướng đến sự bình ổn của cuộc đời. Ông có vẻ như nhìn cuộc hỗn loạn đó bằng con mắt giễu cợt, có phần bi đát khi con người đánh mất đi sự tự chủ, đánh mất đi chính bản thân mình trong cái mớ bòng bong quyền lực và tiền bạc do chính họ tạo nên. Khi được hỏi ông có cảm nghĩ gì về những cách thức hành động bạo lực cực đoan trong thời đại hiện nay, DeLillo đáp: “với những kiểu chủ nghĩa cực đoan như thế, một mặt con người ta phải hiểu nguồn gốc của nó. Mặt khác, đa phần nguyên nhân dường như không được lưu ý và bị làm cho mơ hồ bởi môi trường sống của thời đại. Anh biết, tôi từng tham gia diễu hành phản đối cuộc chiến tranh ở Việt Nam, cùng với hàng ngàn hàng ngàn người khác. Nhưng tôi hoàn toàn không hiểu những quả bom được đặt trong những phòng thí nghiệm khoa học hay trong những tòa nhà văn phòng”(3)1 Lê Huy Bắc Review *** Anh mất ngủ thường xuyên hơn, không chỉ một, hai lần mà tới bốn, năm lần một tuần. Anh đã làm gì khi điều này xảy ra? Anh không muốn đi dạo trong ánh bình minh lên. Anh không có bạn bè thân thiết để quấy quả bằng một cú điện thoại. Có gì để nói bây giờ? Chỉ là một sự tĩnh lặng, không đối thoại. Anh thử đếm cừu để rủ cơn ngủ đến nhưng chỉ thành ra tỉnh táo hơn mà thôi. Anh đọc sách khoa học và thi ca. Anh thích khoảng trống của những câu thơ, và trật tự con chữ nổ bùng trên trang giấy. Thơ ca làm anh ý thức được rằng mình đang còn tồn tại. Trong khoảnh khắc, thơ ca hé lộ ra những điều mà bình thường anh không bao giờ để ý tới. Đây chính là sắc thái của những dòng thơ, chí ít là đối với anh, hàng đêm, hàng tuần dài đằng đẵng, hơi thở này tiếp nối hơi thở khác, trong căn phòng xoay ở tầng trên cùng của ngôi nhà ba căn hộ. Có một đêm anh đã thử ngủ đứng trong phòng thiền, nhưng không đủ điêu luyện, và đắc đạo để làm được như vậy. Anh đành bỏ qua giấc ngủ và đi vòng quanh cho cân bằng, một đêm tĩnh mịch không trăng sao khi mà mọi sức mạnh đều trở nên cân bằng với nhau. Đây là cách tốt nhất để làm giảm căng thẳng, một quãng ngưng nhỏ sau những cảm giác bồn chồn. Một câu hỏi không có lời đáp. Anh cố uống thuốc ngủ và thuốc an thần nhưng chúng khiến anh bị lệ thuộc và đẩy anh vào tâm đường trôn ốc kín. Mọi việc anh làm đều là tự ám ảnh và giả tạo. Những ý nghĩ màu xám phủ một bóng đen đáng sợ. Anh đã làm gì? Trên chiếc ghế bành bọc da, anh đã không tham khảo một nhà phân tích nào. Freud xong rồi, tiếp theo sẽ là Einstein. Đêm nay anh đọc cuốn Học thuyết đặc biệt bằng tiếng Anh và tiếng Đức, nhưng rồi cuối cùng anh lại quăng sách sang một bên, cố gắng dồn mọi quyết tâm để nói ra một lời có thể làm tắt ngấm mọi chân lý. Xung quanh anh không có gì tồn tại. Chỉ có âm thanh văng vẳng trong đầu anh, trong tâm trí anh lúc này. Khi anh chết, đối với anh, đây không phải là tận cùng, chỉ có thế gian này là chấm dứt mà thôi.   Anh đứng cạnh cửa sổ và ngắm nhìn ánh bình minh. Từ đây có thể nhìn ra những cây cầu, những con đường hẹp đang yên giấc và phía xa kia là thành phố, là khu ngoại ô lấp lánh làm thành một đường viền ngăn cách bầu trời và mặt đất, mà chỉ có thể miêu tả rằng đó là một không gian sâu thẳm. Anh không biết mình muốn gì. Đêm vẫn trôi trên sông, chỉ còn một phần của đêm thì đúng hơn, và những làn khói xám đang bốc lên từ ống khói phía bờ xa. Anh tưởng tượng ra cảnh những cô gái điếm rời khỏi những góc phố sáng ánh đèn, rũ rũ mái tóc mỏ vịt, một mánh khóe cũ rích với việc khởi đầu bằng vài động tác quyến rũ, anh tưởng tượng ra những chiếc xe tải lăn bánh ra khỏi khu chợ, những chiếc xe tải ra khỏi bến bốc dỡ hàng. Những thùng xe chở đầy bánh mỳ đang đi qua thành phố và lác đác vài chiếc ô tô tách ra khỏi đám hỗn loạn đó, len lỏi trên những đại lộ, còi xe bấm đến chói tai. Cảnh tượng huy hoàng nhất vẫn là những cây cầu bắc ngang qua sông được viền một vừng đông đang bắt đầu nhô lên. Anh quan sát hàng trăm con mòng biển đang bay theo chiếc xà lan lắc lư dọc dòng sông. Chúng có những trái tim mạnh mẽ và phóng khoáng, anh biết rõ điều này, tương phản với kích thước cơ thể chúng. Đã có lần anh say mê nghiên cứu những chi tiết phong phú về bộ môn giải phẫu loài lông vũ. Những con chim có bộ xương rỗng tuếch. Anh đã tìm thấy những thông tin cực kỳ bất ngờ trong suốt cả nửa buổi chiều. Anh đã không biết mình muốn gì, nhưng giờ thì anh nhớ ra rồi. Anh cần phải đi cắt tóc. Anh còn nấn ná thêm một lúc để ngắm nhìn một chú mòng biển đang chao lên, lượn xuống, để ngưỡng mộ loài chim, để luôn nghĩ về chúng và để cố gắng tìm hiểu, thậm chí để có thể cảm nhận được những nhịp đập rộn rã trong trái tim đói khát của một loài chim ăn xác chết. ❃ Anh khoác bộ com lê lên mình và thắt cà vạt. Bộ com lê cọ vào khuôn ngực nở nang quá mức của anh. Anh bước qua căn nhà có bốn mươi tám phòng. Mỗi khi cảm thấy do dự và phiền muộn, anh lại sải bước qua phòng bơi, phòng khách, phòng tập thể thao, qua bể nuôi cá mập và phòng chiếu phim. Anh dừng lại trước cửa chuồng của chú chó borzoi và trò chuyện với nó. Anh rẽ vào khu nhà sau. Ở đó, anh thường làm công việc khảo sát thị trường tiền tệ và xem xét các bản nghiên cứu. Chỉ sau một đêm, đồng yên tăng hơn cả mong đợi. Anh quay lại khu phòng khách bằng bước chân chậm rãi và dừng lại ở từng phòng, từ từ hấp thụ những gì đang hiện hữu tại đó, quan sát và lưu giữ từng tia, từng sóng hạt năng lượng. Tranh treo trên tường chủ yếu là những mảng màu, những khối hình học lớn thống trị toàn bộ những căn phòng và khiến cho không gian bên trong căn nhà trở nên im lặng lạ thường. Bên trong căn nhà ẩn chứa sự căng thẳng và hồi hộp của một không gian cao ngất ngưởng, nó đòi hỏi sự im lặng ngoan đạo để được nhìn và cảm nhận một cách đúng đắn. Khách đến nhà thường không biết cách thưởng thức những bức tranh yêu thích của anh, đó là những bức họa màu trắng khó hiểu, những vệt màu được phết bằng dao vẽ. Tác phẩm bộc lộ sự lợi hại khi nó không còn mới. Sự mới mẻ không còn ẩn chứa nguy hiểm nữa. Anh đi xuống khu hành lang lát đá cẩm thạch bằng chiếc thang máy cá nhân tự động chơi bản nhạc của Satie1. Tuyến tiền liệt của anh không cân xứng. Anh bước ra ngoài, băng qua đại lộ, rồi quay lại và đứng đối diện với tòa nhà nơi anh sống. Anh cảm thấy mình đang cận kề với nó. Đó là tòa nhà tám mươi chín tầng, một số nguyên tố, được gói gọn trong cái vỏ bọc tầm thường là những tấm kính loang loáng màu ánh đồng. Chúng có chung một cạnh hoặc một ranh giới, tòa nhà chọc trời và con người. Với độ cao chín trăm feet, nó là tòa nhà cao nhất thế giới. Tòa nhà được thiết kế theo hình chữ nhật kiểu cũ mà người ta chỉ có thế biết được kích cỡ của nó qua những bản báo cáo. Ngày này qua ngày khác nó tự bộc lộ vẻ tầm thường đến tột cùng của mình. Vì lý do này mà anh yêu thích nó. Anh thích đứng ngắm nhìn nó mỗi khi cảm giác uể oải và hư ảo xâm chiếm lấy anh. Mời các bạn đón đọc Thành Phố Quốc Tế của tác giả Don Delillo.
La Mã Sụp Đổ
Rời bỏ trường đại học để kiến tạo thế giới riêng cho mình, hai chàng sinh viên Matthieu và Libero những tưởng đã tìm được thế giới hoàn hảo cho riêng mình tại một quán bar ở ngôi làng hẻo lánh trên đảo Corse, nhưng liệu thế giới ấy có khả thể? Bởi phải chăng “… mỗi thế giới chỉ là sự phản ánh méo mó của tất cả các thế giới khác, một tấm gương xa vời trong đó rác rưởi dường như cũng sáng lên như kim cương…” Với giọng văn sâu lắng, giàu cảm xúc, để lại nhiều dư vị, chủ nhân của giải Goncourt 2012 đã xây dựng cho mình một lối viết tiểu thuyết riêng biệt. Những câu văn dài đầy nhịp điệu như một dải lụa bất tận cuốn độc giả vào dòng suy tưởng về số phận con người. Bằng cách đó, Jérôme Ferrari gây dựng một niềm tin sắt đá,‑ rằng khi kết thúc cũng chính là lúc khởi đầu, niềm tin ấy động viên mỗi con người sống trọn vẹn cho thế giới của chính mình. Nhận định “Điều khiến ta choáng ngợp cho đến tận dòng cuối cùng chính là lối viết tuyệt mỹ vô song.”- Elle “Jérôme Ferrari mang đến những giấc mơ, những đớn đau, những đam mê và cả những ảo mộng tan vỡ, rất giống với một huyền thoại.”- Le Soir *** Từ “thế giới” gợi nên một quang cảnh xa xôi và đầy hứa hẹn. Với mỗi con người thế giới rộng đến đâu, họ phụ thuộc vào thế giới của mình như thế nào và làm sao mà thế giới sụp đổ? Những câu hỏi vĩnh cửu đó được khám phá trong cuốn tiểu thuyết gọn gàng và tuyệt đẹp La Mã sụp đổ (*) của Jérôme Ferrari - chủ nhân giải Goncourt năm 2012. Bắt đầu bằng một bức ảnh đen trắng cũ, Jérôme Ferrari ngay lập tức tạo ra một trạng thái bất an về vị trí của mỗi con người đối với thế giới, nó có thể rộng lớn khôn cùng và cũng có thể hết sức hạn hẹp. Marcel - đứa con cuối cùng của một người lính trở về từ Thế chiến thứ nhất - đã ra đời vào thời điểm mà châu Âu tan hoang sau chiến tranh, và lớn lên trở thành một viên chức thuộc địa tại châu Phi trong những ngày tàn của đế chế Pháp. Cuộc đời ông là những lần “lỡ hẹn với những thế giới không còn tồn tại nữa”. Sự ra đời và lớn lên của con, rồi cháu ông là những cơ hội mới, và họ tiếp tục kiên trì bước vào xây dựng những thế giới nhỏ bé khác, bởi ở mọi thời đại, những con người bị bỏ rơi, bị tước đoạt thế giới, vẫn tiếp tục tấn trò của thế hệ và của cái chết... Matthieu - cháu trai của Marcel - cùng người bạn thân Libero đã rời bỏ trường đại học khi những người thầy trên giảng đường không còn khiến họ tin vào thế giới triết học trong thời hiện đại nữa. Tại ngôi làng hẻo lánh trên đảo Corse quê hương, họ quyết định tiếp tục cái ước mơ không bao giờ cũ - xây dựng thế giới hoàn hảo của riêng mình bằng cách tiếp quản một quán bar địa phương. Buổi đầu mọi thứ bao giờ cũng đẹp đẽ. Hai chàng thanh niên đầy nhiệt huyết tập hợp được một bộ sậu, với những cô hầu bàn rộng rãi đáng yêu và một nhạc công guitar lang thang. Họ sống những ngày đầy sôi động trong ảo tưởng rằng thế giới họ xây nên đã bền vững. Nhưng trọng tâm mong manh vô hình của nó mỗi ngày một lệch dần vì tình dục, tiền bạc, nỗi sợ hãi, sự cô lập... Và nếu một ngày nó sụp đổ thì cũng không ai nhận ra. Phải chăng các đế chế thường chết như thế, chẳng ai nghe thấy dù là một tiếng rung rinh? - đó là cảm giác ám ảnh hiện diện, trong từng trang sách cứ vang vọng mãi âm thanh mơ hồ của những nền móng đang dần dần rạn nứt. Ba sự sụp đổ được sử dụng làm nền cho cuốn sách đầy tính biểu tượng: sự sụp đổ của đế quốc La Mã, qua những lời giảng của Thánh Augustin; sự sụp đổ của trật tự thế giới cũ sau chiến tranh thế giới, qua cuộc đời của nhân vật Marcel; sự sụp đổ của quán bar nhỏ bé, thế giới bất toàn mà những người thanh niên thời hiện đại tự xây cho mình - như một lời cảnh báo về văn hóa châu Âu buổi suy tàn. Họ nào phải thần linh, họ chỉ là những kẻ sáng tạo, và chính thế giới mà họ đã tạo ra giờ lại đặt họ dưới ách thống trị độc đoán của nó - tình cảnh mà Matthieu và Libera trải qua gắn với số phận con người, và giờ đây con người nhìn thấu nó hơn bao giờ hết khi những bức màn trang trí của nhiều thế kỷ qua đều đã rơi xuống hết. “...Chúng ta không biết thế giới là gì, sự tồn tại của thế giới phụ thuộc vào cái gì. Hẳn đã được ghi đâu đó trong vũ trụ quy luật bí hiểm đang chi phối sự hình thành, sự lớn lên và sự kết thúc của những thế giới đó. Nhưng chúng ta cũng biết điều này: để một thế giới mới nảy sinh, thế giới cũ phải chết đi đã... Khoảng cách giữa hai thế giới đó có thể vô cùng ngắn ngủi hoặc trái lại, dài lâu đến mức trong nhiều chục năm trời, con người phải học cách sống trong sầu não, đau buồn để cuối cùng tất yếu nhận ra họ không thể sống và xét cho cùng, họ chưa bao giờ sống”. Chỉ dày hơn 200 trang, La Mã sụp đổ là một tác phẩm tiêu biểu cho văn học hiện đại, với dung lượng vừa phải, những câu chuyện gợi mở và lối văn chương đáng thưởng thức. Chỉ có một ngòi bút bậc thầy mới có thể hòa trộn sự phóng túng, châm biếm với những nét lãng mạn thuần khiết trong từng bức chân dung được mô tả sống động, mà vẫn làm nổi bật được tính khái quát và chiều sâu triết học. Những câu văn dài đầy nhịp điệu lôi cuốn người đọc vào nỗi buồn, nỗi cô đơn, cảm giác bất an... nhưng bên dưới là sự điềm tĩnh và niềm hi vọng.   Jérôme Ferrari sinh năm 1968 tại Paris, từng học tại Sorbonne và nhận bằng cử nhân triết học tại Đại học Paris 1 Panthéon-Sorbonne. Hiện ông là giáo viên triết học tại Abu Dhabi, thuộc Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất. Trước khi nhận giải Goncourt 2012 với La Mã sụp đổ, Jérôme Ferrari từng nhận giải thưởng Landerneau của France Télévisions cho tiểu thuyết Un dieu un animal, giải thưởng lớn Poncetton cho cuốn Où j’ai laissé mon âme. (*): La Mã sụp đổ, Jérôme Ferrari. Nguyễn Duy Bình dịch, Nhã Nam và NXB Văn Học ấn hành, tháng 1-2014. THANH VÂN Mời các bạn đón đọc La Mã Sụp Đổ của tác giả Jérôme Ferrari & Nguyễn Duy Bình (dịch).